Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

MẬT MÃ THẾ GIỚI 3 - NGUYÊN LÝ SANH NGŨ UẨN 2

2026-03-03 00:54:21
Tinh Hoa Nikāya

MẬT MÃ THẾ GIỚI 3

NGUYÊN LÝ SANH NGŨ UẨN 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự tập khởi thế giới PAGEREF _Toc85872288 \h 1

1.Nguyên lý sanh ngũ uẩn PAGEREF _Toc85872289 \h 2

2.Chiếu phá sáu căn PAGEREF _Toc85872290 \h 6

3.Chiếu phá sáu trần PAGEREF _Toc85872291 \h 8

4.Chiếu phá sáu thức PAGEREF _Toc85872292 \h 10

5.Chiếu phá sáu xúc PAGEREF _Toc85872293 \h 13

6.Chiếu phá thọ, tưởng, hành PAGEREF _Toc85872294 \h 14

II.Sự đoạn diệt thế giới PAGEREF _Toc85872295 \h 20

Sự tập khởi thế giới

Chủ đề “thế giới” được nhắc đến trong nhiều bài kinh Nikāya. Nhờ nhân duyên chia sẻ về nguyên lý sanh khởi năm uẩn, mật mã thế giới, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu cẩn thận, kỹ lưỡng về nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn, trí tuệ sanh diệt về ngũ uẩn và sự vận hành của ngũ uẩn trong thế giới ngũ uẩn này. Đồng thời cũng sẽ tìm hiểu những phần trọng yếu trong quyển Tóm Tắt Ngũ Uẩn. Trong kinh Nikāya, khi nói đến từ “thế giới” tức là nói về ngũ uẩn. Dùng từ “mật mã thế giới” nghĩa là nói về những con số bí mật để giải mã sự sâu kín, sự che đậy ngầm của trần gian, của thế gian, của thế giới, của chúng sanh, của nhân sinh và vũ trụ này.

Chúng ta sẽ tìm hiểu bài kinh “Thế Giới”, Tương Ưng Bộ tập IV để thấy rằng những gì chúng ta được học là “nói có sách, mách có chứng”, có y cứ vào kinh điển rõ ràng chứ không phải tự ý muốn nói sao thì nói.

-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về thế giới tập khởi và thế giới đoạn diệt. Hãy lắng nghe.

Phật sẽ giảng về sự tập hợp, sanh khởi ra thế giới và sự chấm dứt thế giới này, tức là nói về sự sanh và sự diệt của thế giới. Chữ “thế giới” này là hành tinh, trái đất, vũ trụ, cũng là nhân sinh, hữu tình, chúng sanh, con người.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới tập khởi?

Phật hỏi cái gì là sự tụ tập, tập hợp, nhóm họp để sanh khởi ra thế giới này?

Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c) Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, bài kinh Thế Giới)

Nguyên lý sanh ngũ uẩn

Chúng ta thấy rằng, những gì mình học đều nhất quán với kinh điển. Do duyên có mắt (căn), có sắc (trần) – là đối tượng của mắt nên sanh khởi sự rõ biết các sắc gọi là nhãn thức (thức). Sự giao thoa, hội tụ của ba pháp: mắt, các sắc và sự rõ biết thức là nhãn xúc (xúc). Do có sự tiếp xúc này nên có cảm thọ, cảm giác, cảm xúc (thọ). Do có cảm thọ, cảm giác, cảm xúc nên có ái, có sự ưa thích, yêu thích, yêu thương, khoan khoái, thích thú, tham muốn (ái). Do có sự ưa thích, khoan khoái, yêu thương đó cho nên có sự nắm giữ - thủ xuất hiện, như vậy do duyên ái nên có thủ. Tức là do yêu thích nên có sự nắm giữ, chấp thủ sanh khởi, cứ muốn nắm giữ, muốn chặt, muốn nắm chắc, muốn nắm cứng, muốn giữ mãi sắc đẹp ấy, đó chính sự chấp thủ sắc uẩn (thủ). Do vì sự nắm giữ nên có hiện hữu (hữu), tức là từ sự yêu thích, muốn nắm giữ nên có món đồ mình muốn nắm giữ. Bên trong là một nội tâm muốn nắm giữ, tức là những cảm giác, nghĩ, tưởng cứ nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc; bên ngoài là món đồ bị nắm chắc. Như vậy, bên trong là sự nắm chặt và bên ngoài là cái bị nắm chặt, chúng ta phải hiểu được chủ thể bên trong và đối tượng ở bên ngoài, từ đó có sự hiện hữu, có cái mà mình muốn nắm chặt.

Trong kinh nói rất sâu sắc về chữ “hiện hữu”, đó là nói về cái thân này, chúng ta nắm chặt vào cái thân này, yêu thích thân này, nắm giữ thân này, muốn có thân này cho nên sự hiện hữu tồn tại. Sự hiện hữu này là sự hiện hữu trong năm uẩn. Sự hiện hữu của sắc – là sự hiện hữu của thân thể, vật chất, tài sản, đồ vật, cảnh vật. Do vì yêu thích, muốn nắm giữ những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác nên có thọ uẩn, có tổ hợp những cảm giác. Do vì ưa thích, muốn nắm giữ những hình bóng trong tâm nên tưởng uẩn hiện hữu, có mặt, tồn tại. Do vì yêu thích, muốn nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc tổ hợp những suy nghĩ, cho rằng suy nghĩ là mình, là của mình, là tự ngã của mình, vì vậy, hành uẩn hiện hữu. Do vì yêu thích, nắm giữ sáu sự rõ biết, hay biết, nhận thức trong: cái nghe, thấy, ngửi, nếm, xúc chạm, rõ biết… cho rằng sự rõ biết đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình nên sáu sự rõ biết này hiện hữu, tồn tại.

Vì yêu thích, muốn nắm giữ sắc nên cái sắc đó hiện hữu, gọi là “sắc thủ uẩn”. Vì yêu thích, muốn nắm giữ tổ hợp của cảm giác nên những cảm giác này hiện hữu, tồn tại, có chỗ đứng, đó chính là “thọ thủ uẩn”. Do yêu thích, muốn nắm giữ những hình bóng trong tâm, cho rằng hình bóng đó là tâm mình, là của mình, là tự ngã của mình nên có ra sự hiện hữu của tưởng uẩn – tổ hợp của những hình bóng trong tâm và được gọi là “tưởng thủ uẩn”. Do yêu thích, nắm giữ tổ hợp của suy nghĩ, suy tư, nghĩ ngợi nên tổ hợp của suy nghĩ có sự hiện hữu, có chân đứng, có chỗ trú, tạo thành gốc rễ, thành căn cứ địa. Vì chúng ta cho suy nghĩ là mình, là của mình, là tự ngã của mình nên nó phải có chân đứng. Khi đã xác định sâu sắc ở bên trong rằng các suy nghĩ đó là tôi, là của tôi, đó là tôi nghĩ, suy nghĩ của tôi thì hành uẩn hiện hữu, có mặt và sự nắm chặt vào trong suy tư, nghĩ ngợi này tạo thành “hành thủ uẩn”. Do yêu thích, khoan khoái, nắm giữ sáu sự rõ biết: thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và sự rõ biết những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong và cho rằng đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình, là ngã, là ngã sở nên thức hiện hữu, nó có chân đứng, có căn cứ địa, có hang ổ, có sào huyệt, vì muốn nắm chặt thức đó nên tạo thành “thức thủ uẩn”. Qua đó chúng ta thấy lời Phật dạy hết sức thực tế, rõ ràng, cụ thể và nhân quả, đó là ý nghĩ của chữ “thủ uẩn”.

Ngày xưa nghe những lời dạy này suốt 15 năm nhưng Minh Thành không hiểu, bây giờ khi đã hiểu ra thì không thể tưởng tượng nổi Thánh trí tuệ của Đức Phật. Ngài trình bày cho chúng ta trí tuệ về ngũ uẩn, sự sanh khởi của ngũ uẩn, sự chấm dứt ngũ uẩn và con đường chấm dứt ngũ uẩn. Tức là Đức Phật đưa ra cách thức phá vỡ cấu trúc, phá vỡ guồng máy vận hành, hoạt động của năm thủ uẩn để không còn tiếp tục sự tái tạo ra những ngũ uẩn, dục vọng, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã nữa. Chính vì vậy, chúng ta càng hiểu lời dạy của Phật thì càng tin Phật, càng tin thì càng kính đối với Đức Thế Tôn, thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật.

Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Ðây là thế giới tập khởi.

Do tâm chấp thủ làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa, làm dinh, làm đồn ở trong năm thủ uẩn, cho nên “năm thủ uẩn” hiện hữu. Do năm thủ uẩn hiện hữu có mặt nên sanh có mặt (sanh). Vì ưa thích, khoan khoái, muốn nắm giữ bên trong nên đương nhiên phải tiếp tục sanh, tức là phải sanh ra để nắm giữ, để có được, vì vậy nên sanh có mặt. Và do duyên sanh nên có già chết, buồn đau, khổ sở, sầu bi sanh khởi. Đó chính là sự tập khởi của thế giới, đó chính là nguyên nhân chúng ta có mặt ở đây, đó là nguyên nhân có tiếng “oa oa” chào đời.

Như vậy, chúng ta đã nói về sự tập khởi của thế giới, tức là nói về những nhân, những duyên tập hợp lại, từ đó sanh khởi ra một con người, một chúng sanh, một hữu tình, sanh khởi ra nhân sinh, vũ trụ này. Do ngũ uẩn có đủ những nhân, những duyên, những điều kiện để hiện hữu, tức là có ái, có thủ, có yêu thích, có nắm giữ trong đó, cho nên ngũ uẩn tiếp tục được sanh ra. Và khi sanh ra rồi thì phải có già, có chết, vì vậy mà sầu, bi, khổ, ưu, não, bất an, lo lắng, sợ hãi, bệnh hoạn, đau đớn, khổ sầu có mặt, xuất hiện, hiện hữu.

Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật về sự tập khởi thế giới. Những thứ tụ tập, tập hợp, nhóm họp để làm sanh khởi ra con người, hữu tình, chúng sanh, vạn loài, ngũ uẩn này. Đó cũng là nguyên nhân chúng ta có mặt ở đây với những tấm thân dơ bẩn, xú uế, máu mủ, phân, nước tiểu, tinh huyết với đầy rẫy những dục vọng, khao khát, thèm khát, bức xúc, nóng nảy, sân hận, thiêu đốt, nhiệt não, hơn thua, ganh tỵ, đố kị, vênh váo, hống hách, kiêu căng, ngã mạn. Đây là nhân, đây là duyên, đây là nguyên nhân, đây là gốc rễ, đây là căn nguyên, đây là nguồn cội cho sự có mặt của đời sống đẫy rẫy những tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã này. Đó gọi là sự tập khởi của thế giới.

Do duyên có lỗ tai (căn) và các âm thanh (trần), các tiếng nên khởi lên sự rõ biết âm thanh, rõ biết các tiếng (thức). Ba pháp này hội họp, tập hợp, hội tụ, giao thoa nên có sự tiếp xúc của lỗ tai, các tiếng và sự rõ biết. Khi có sự tiếp xúc thì sẽ sanh ra cảm thọ, cảm giác, cảm xúc (thọ). Khi sanh ra cảm thọ, cảm giác, cảm xúc thì sẽ có sự yêu thích âm thanh, yêu thích lỗ tai, yêu thích sự rõ biết âm thanh đó (ái). Cho rằng lỗ tai đó là của mình nên yêu thích, muốn nắm giữ trong khi lỗ tai này chỉ là đất, nước, gió, lửa. Cái nào yêu thích cũng muốn nắm giữ từ lỗ tai, âm thanh cho đến sự rõ biết. Do yêu thích nên có nắm giữ (thủ), do nắm giữ nên các pháp có mặt, hiện hữu (hữu). Các pháp ở đây là lỗ tai, tiếng, và sự rõ biết các tiếng, do sự tiếp xúc đó nên sanh khởi ra cảm thọ, cảm xúc rồi yêu thích muốn nắm giữ nên những thứ đó có mặt, hiện hữu. Do những thứ đó có mặt, hiện hữu nên tạo ra đời sống – sanh có mặt, tức là sanh ra những bộ phận đó, đi tìm những âm thanh đó và sanh ra sự rõ biết đó. Do duyên sanh nên có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi, đây là thế giới tập khởi. Cho nên, pháp này hết sức vi diệu, sáng tỏ, phơi bày những gì bị che kín.

Mũi với mùi; lưỡi với vị; thân với sự xúc chạm cũng như trên, tức là cũng ưa thích, muốn nắm giữ nên chúng có mặt, từ đó có đầy đủ tất cả các bộ phận: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Như vậy, nguyên lý của duyên sanh pháp gồm căn – trần – thức. Căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trần: sắc bên ngoài, âm thanh, mùi, vị, sự đụng chạm, tiếp xúc và những hình bóng, nghĩ, tưởng trong tâm. Do có sáu căn bên trong và sáu trần bên ngoài mà sanh khởi ra sáu sự rõ biết, tức là thức. Ba thứ này hội họp, tụ tập, giao thoa với nhau nên sanh ra cảm thọ, ở đây là nói vắn tắt, vì lúc nào có thọ thì tưởng và hành cũng đi theo sau, cho nên, nói đầy đủ là sanh ra thọ, tưởng, hành. Những thọ, tưởng, hành này là những thọ, tưởng, hành về dục, tham, ái, yêu thích, mong muốn, ham muốn. Khi đã yêu thích, ham muốn, mong muốn thì sẽ muốn nắm giữ.

Căn – trần – thức – xúc – thọ, tưởng, hành - ái – thủ - hữu – sanh – già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật trong sự sanh khởi thế giới và sự đoạn diệt thế giới, tức là sự sanh khởi ngũ uẩn và sự chấm dứt ngũ uẩn. Chúng ta cần học thuộc những định lý này, vì đây là những điều rất quan trọng để quán về các pháp. Tùy từng chỗ mà Đức Phật phân tích cho phù hợp nhưng tất cả đều không ra ngoài ngũ uẩn. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là thuộc về sắc uẩn, còn ý thì thuộc về thức uẩn. Những cảm thọ sanh khởi từ sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là thuộc về thọ uẩn. Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp thuộc – sáu tưởng này thuộc về tưởng uẩn. Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư thì thuộc về hành uẩn.

Cho nên, tất cả đều không ra ngoài ngũ uẩn. Nhiều khi học chúng ta cứ tưởng sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, ái, thủ, hữu… là khác với ngũ uẩn nhưng thật ra tất cả đều là guồng máy hoạt động, vận hành của ngũ uẩn. Nếu chúng ta không nắm về ngũ uẩn một cách trong sáng, bằng chánh tri kiến, bằng cái thấy chân xác, chính xác về năm uẩn thì sẽ không thấy được sự vận hành và hoạt động của nó.

Chiếu phá sáu căn

Chúng ta phải phân biệt thật kỹ rằng sắc là vô tri, chỉ là đất, nước, gió, lửa không biết gì cả. Ngày xưa khi Minh Thành học ở trường được dạy nhãn thức là cái biết của con mắt, nhĩ thức là cái biết của lỗ tai… nhưng bây giờ nhìn lại mình thấy không đúng, bởi vì mắt, tai, mũi, lưỡi là những thứ vô tri, không biết gì hết. Cho nên, sắc chỉ là một đống vô tri, ví dụ như bị đụng xe thì ngã xuống thành một đống bầy nhầy, không có gì ngoài đất, nước, gió, lửa, đó chính là bản chất của sắc. Đây là chỗ quan trọng cần phải nhận diện cho thật kỹ về năm uẩn. Đừng tưởng trước nay học bấy nhiêu là đã biết hết năm uẩn, thật ra là chúng ta lẫn lộn rất nhiều.

Thế nên, trong những lúc tu, trong khi thiền tập, trong khi công phu và trong khi sinh hoạt, chúng ta phải nhận diện và tác ý từ từ thì trí tuệ về sắc uẩn mới được rạch ròi, trong sáng. Bằng không, học thì học nhưng khi bình thường vẫn thấy thân này là tôi chứ không phải thấy nó là sắc, vì vậy mà chúng ta yêu thích con mắt, yêu thích lỗ tai, cho rằng nó là mình và đó chính là ái. Trong kinh chỉ viết có mấy dòng, không dài đến một trang, tuy nhiên, khi chiêm nghiệm những lời đó thì thấy được nguyên nhân sinh tử luân hồi của cả nhân sinh, vũ trụ, thế giới. Còn nếu chỉ đọc lướt qua, không hiểu không thấy được gì thì cứ yêu thích và muốn nắm giữ cái thân này, ai đụng một chút là không được.

Chúng ta không thấy rằng mắt này chỉ là cục thịt, lỗ tai chỉ là miếng da giống như lá sen non cuộn lại, lỗ mũi là một cục thịt trước mặt, cái lưỡi là miếng thịt, thân này cũng toàn phèo, phổi, ruột, gan. Vì không nhận diện được chúng là sắc nên cứ thích, cứ khoái, cứ thương, cứ yêu thân này, cho nó là mình, là của mình đó chính là ái. Bốn uẩn phía sau: tổ hợp của cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đều nhất trí, liên minh với nhau, chúng đồng lòng, xác quyết trong tâm 100% cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, đó chính là thủ.

Thành ra, mỗi uẩn đều có chữ thủ trong đó: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, mà Đức Phật có dạy: “Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ”. Năm tên giặc này rất ác độc, nếu không nhìn thấy được bộ mặt của nó thì mình chết dài dài chứ không phải chỉ trong đời này, sẽ chết trong vô lượng vô biên kiếp. Chính vì vậy, chúng ta phải từ từ vạch mặt chúng ra, sỉ vào mặt nó: “Tao thấy mặt của mày rồi, đồ ác độc, đừng hại tao nữa, đừng giết tao nữa, đừng dụ hoặc tao nữa. Ngươi là bè lũ ác độc, đã hãm hại ta từ vô lượng vô biên kiếp”.

Chúng ta ái tất cả những thứ trong sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì chúng ta yêu thích, khoan khoái, nắm giữ, nắm chặt, nắm chắc như vậy nên sáu căn hiện hữu, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý có mặt. Khi hiện hữu như vậy thì sẽ có sự sanh ra. Như vậy, “sanh” ở đây nghĩa là tướng biểu hiện, sự biểu lộ tướng trạng, hình dáng của sự yêu thích và nắm giữ bên trong tâm. Tức là bên trong là động lực hết sức mạnh mẽ của thọ, tưởng, hành, thức và sắc là cái biểu lộ ở bên ngoài. Ghê gớm nhất ở chỗ nếu chúng ta không phá sắc thủ uẩn thì thọ, tưởng, hành, thức cứ chạy vòng vòng hoài trong sắc mà không đi ra được.

Cho nên, công trình tu học của chúng ta là phá được sắc thủ uẩn. Đó là lí do phải chú trọng vào Thân Hành Niệm: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi, niệm bộ xương, niệm cát bụi, niệm chết, niệm vô thường, niệm sắc thân này là khổ não, trống rỗng. Tất cả những trí tuệ Đức Phật đã dạy đó đều nhằm đánh vào sắc uẩn này. Thế nên, chúng ta không được xem thường sắc uẩn, nó rất ác độc, nguy hiểm, tai hại vô cùng. Đức Thế Tôn đưa ra rất nhiều phương pháp: niệm sắc là khổ, niệm tính chất của sắc là vô thường, niệm tính chất bất tịnh của sắc và luôn nhớ rằng sắc là ổ dịch bệnh, là ung nhọt, là tật bệnh, là bất hạnh, là lửa than, là hố than hừng, là gai nhọn, là rắn độc, là mũi tên… Tất cả những phương pháp, hình ảnh Đức Phật đưa ra như vậy đều nhằm phá được sắc thủ uẩn. Bởi lẽ, chính vì sắc thủ uẩn này mà thọ, tưởng, hành, thức cứ chạy vòng vòng trong đó, không đi ra được. Tất cả những cảm giác yêu thương đều nằm trong tổ hợp sắc uẩn, đây chính là hang ổ để cảm giác có chân đứng, để suy nghĩ chạy lòng vòng và những cái tưởng của chúng ta đều chạy vòng quanh hình sắc. Cho nên, trí tuệ về ngũ uẩn rất thâm sâu, không đơn giản như định nghĩa số 1 và định nghĩa thứ 2 mình thường đọc.

Qua đó chúng ta thấy rằng, bước đầu tiên, tức là phá được sáu căn là cả một vấn đề. Nếu tu mà muốn nghe giảng vui vui, khỏe khỏe, quán chiếu nhẹ nhẹ, thường thôi thì làm sao đánh phá được những thứ này. Mặc dù chúng ta tuđến mức ràng rụa nước mắt, dập đầu khóc sám hối thường xuyên mà xong rồi vẫn ta đây, dục, ái, sân, si không thay đổi, cho nên, đâu phải tu đơn giản là được.

Chiếu phá sáu trần

Kế tiếp là sáu trần, chúng ta thấy sắc đẹp thì khoái; tiếng hay thì thích; mùi vị hấp dẫn thì có ái, có dục; sự đụng chạm, xúc chạm thì cũng khoái, cũng mê; đối với những cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm cũng ái, cũng thích. Sáu trần làm mình khao khát, thèm thuồng, đau đớn, khổ sở, ràng buộc, trói trăn, sai khiến, hành hạ mình.

Sắc đẹp gồm nhiều thứ: cái chùa, ngôi nhà, căn phòng, cái giường, cái đơn, chiếc xe, mắt kính, túi xách, sổ tiết kiệm, miếng đất, miếng vườn, tài sản, vợ con, chồng con, anh chị em… tất cả đều nằm trong sắc. Cho nên, Đức Thế Tôn nói sự tập khởi thế giới và sự chấm dứt thế giới là vậy, vì thế giới chính là sắc, sắc bao trùm hết cả trái đất này. Còn trước giờ chúng ta học cứ nghĩ rằng sắc chỉ là sắc đẹp, sắc là phụ nữ, sắc là phụ nam nhưng không phải vậy. Mà chữ sắc này bao trùm hết tất cả các hình tướng, hình sắc, những tổ hợp của sắc chất, tứ đại. Chúng ta yêu thích sắc – đó là ái, muốn có được sắc – đó là dục, đã có rồi nhưng không thỏa mãn – đó là tham. Có rất nhiều những trận đồ ác ma tung ra như vậy nhưng chúng sanh không thấy không biết gì về những thứ này nên không thể giải thoát được

Tất cả các pháp đều có vô minh lồng ở bên trong. Ngày xưa chúng ta học hoài nhưng không biết đúng về vô minh, cứ tưởng vô minh là ở quá khứ từ đời kiếp nào nhưng không phải. Khi không biết con mắt này là tứ đại, là vô thường, là pháp duyên sanh thì đó chính là vô minh. Khi không biết lỗ tai, lỗ mũi này là vô thường, là duyên sanh, là tứ đại, là bất tịnh thì đó chính là vô minh. Khi không biết cái lưỡi, cái thân này là vô thường, là bất tịnh, là khổ đau, là lo lắng, là sợ hãi, là bất an, là ổ bệnh thì đó chính là vô minh. Khi không biết ý căn vận hành ra sao, duyên sanh thế nào, không biết nó yêu thích, nắm giữ, si mê ra sao và tự thân nó là gì mình cũng không biết thì đó chính là vô minh. Cho nên, trong mỗi chữ, mỗi pháp đều có vô minh trong đó, vì không học nên chúng ta không thấy, không hiểu, không biết sự cấu tạo, vận hành và cách để chấm dứt ngũ uẩn.

Chính vì vậy, sự chánh niệm và tỉnh giác là hết sức quan trọng. Chánh niệm tỉnh giác là sau khi đã học, đã nghe, đã hiểu, đã thấy, đã biết về ngũ uẩn thì chúng ta mới chánh niệm tỉnh giác được. Còn nếu không biết đâu là thọ, tưởng, hành, thức thì làm sao chánh niệm tỉnh giác. Người không thấy, không biết, không hiểu, không thực thấy, thực biết, thực chứng thì không thể nhận diện được ngũ uẩn, hoặc nhận diện được thì cũng không chính xác. Như vậy thì sẽ không thấu hiểu được guồng máy hoạt động của ngũ uẩn, không thể nhiếp phục, đoạn tận và thoát ra khỏi ngũ uẩn.

Tu mà không chứng ngộ, không chứng đắc là bởi vì không đi đúng Thánh đạo, không thấy biết các pháp trong chính thân tâm mình. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều dính chùm vào một cái tôi. Ví dụ đơn giản, khi nhìn thấy con mắt ở trong gương thì chúng ta đều nhận đó là “con mắt của tôi”, hoặc khi nhìn lỗ tai, lỗ mũi, gương mặt thì chúng ta cũng cho nó là tôi, là của tôi. Đối với tấm thân này cũng vậy, khó có khi nào chúng ta nghĩ rằng “thân này không phải tôi, không phải của tôi, thân này là tứ đại” trừ những lúc nghe pháp, thiền quán, còn bình thường đều nhận nó là tôi và đó chính là vô minh, tà kiến. Chúng sanh ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ như vậy biết đến ngày nào mới thoát ra được nếu không có bậc thiện tri thức, không có Đức Thế Tôn và đệ tử của Ngài truyền dạy sự thấy biết của bậc Thánh.

Chiếu phá sáu thức

Kế đến là thức, gồm sáu sự rõ biết: rõ biết sắc, rõ biết các tiếng, rõ biết các mùi, rõ biết các vị, rõ biết sự đụng chạm của thân và rõ biết thọ, tưởng, hành bên trong.

Chúng ta yêu thích sáu sự rõ biết này, tất cả đều cho là do tôi thấy, tôi nghe, tôi ngửi, tôi nếm, tôi tiếp xúc… và có sự nắm giữ sáu cái biết này, cho nên gọi là “thức thủ uẩn”. Đức Thế Tôn dùng chữ nào thì chữ đó xem như là đinh đóng cột, thể hiện sự thấy biết của bậc Chánh Đẳng Giác, chứ không phải đơn giản nói là “thức thủ uẩn”, “năm thủ uẩn” rồi đọc phớt qua trong khi mỗi chữ đó là cả một bầu trời trí tuệ chứng ngộ bên trong. Tất cả những gì ở trong sáu thức mình cũng đều nắm giữ, yêu thích, tức là ái, thủ, hữu trong đó. Chúng ta yêu thích, nắm giữ như vậy mà lại không biết nên đó gọi là vô minh.

Cho nên, trong sáu thức này vẫn có vô minh trong đó nhưng mình không biết. Tức là sáu thức này dồn cục, nhập chung lại với nhau trong suy nghĩ nên chúng ta cho rằng tôi có một cái biết hoàn chỉnh mà không thấy sáu cái riêng biệt. Khi đó, chúng ta không thấy sự rõ biết sắc là nhãn thức; sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức; sự rõ biết mùi là tỷ thức; sự rõ biết vị là thiệt thức; sự rõ biết sự đụng chạm của thân là thân thức; sự rõ biết những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong là ý thức. Như vậy, chúng ta không có sự nhận diện rạch ròi về ranh giới của sáu thức, Đức Phật gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới và ý thức giới. Chữ “giới” nghĩa là ranh giới, giới mức, phạm trù, phạm vi, mỗi một sự rõ biết có giới hạn của nó. Thế nhưng, do vì vô minh, không được tu tập, không được học hỏi, không được quán chiếu nên chúng ta không biết, không thấy, không nhận diện được sáu thức, chính vì vậy mà sáu thức này hòa chung lại với nhau và chúng ta tưởng có một cái biết trọn vẹn, tất cả đều cho là “tôi biết”.

Thậm chí, nhiều người tu lại nhận sự rõ biết đó là tâm, là tự ngã của mình. Có người lại hiểu nhầm thức là suy nghĩ phân biệt, lúc trước Minh Thành cũng học như vậy, cho nên pháp bị nhiễu loạn, lẫn lộn và tu không đạt được kết quả. Cho nên, suy nghĩ phân biệt là hành, còn thức chỉ là sự rõ biết, không có nói gì trong đó. Thành ra, để nhận diện sâu sắc sáu thức này thì phải thực tập thiền quán, thường xuyên nhận diện, có thời gian thì phải nhận diện chứ đừng nghĩ tào lao, nói phù phiếm. Hãy dành thời gian yên lặng, tĩnh lặng nhìn vào tâm để xem từng pháp vận hành, như vậy thì chúng ta mới thực thấy, thực biết, thực chứng đối với pháp đó. Bằng không vô minh vẫn còn trong đó mà mình không thấy được thức sanh khởi và hoạt động như thế nào.

Qua đó, chúng ta mới thấy được độ thâm sâu và trí tuệ chứng ngộ của Đức Phật trong sự tu học này. Trong khi đó, tất cả chúng ta vô minh đối với sáu thức này, đừng nói chi người không biết tu, ngay cả người tu, người ngồi thiền nhiều năm có khi còn không biết được ý thức là gì. Tu học không đúng thì sẽ không biết được thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Ngày xưa Minh Thành cũng vậy, tu suốt hơn hai mươi năm nhưng không biết thức là gì, chỉ biết chung chung thức là nhận biết, chứ không biết sự rõ biết thọ, tưởng, hành chính là ý thức. Khi không biết như vậy tức là mình vô minh, không thành tựu trí tuệ, không có sự thấy biết, sự thấu hiểu đối với pháp đó, như vậy thì pháp đó sẽ qua mặt mình, lậu hoặc sanh khởi.

Cũng như làm ăn chung với người khác, mình là sếp lớn nên không biết những công đoạn ở dưới là gì, vì vậy người ta ở dưới tính toán rồi qua mặt mình để hốt bạc, rút tỉa. Ví dụ trong xây dựng, họ lấy sắt rồi đổi tre vào thế là sập cầu, sập nhà, đó là do người chủ không hiểu biết, không có kiến thức chuyên môn, không có sự để ý, tìm hiểu những công đoạn của khâu phía dưới nên bị người ta qua mặt và xảy ra tai nạn. Cũng vậy, chúng ta không thấy, không biết gì về căn, trần, thức, thọ… không biết các pháp ở bên trong chính mình, từ đó tạo thành một khối vô minh uẩn to lớn, đó là một tổ hợp của vô minh vĩ đại chứ không phải vô minh nhỏ.

Vô minh như vậy mà kêu học không học, kêu tu không tu, kêu quán không quán, kêu trình pháp cũng không trình… Khi không chịu trình pháp cho mọi người biết thì vô minh càng làm hang ổ bên trong mà mình không biết. Chúng ta được mời trình pháp là sự vinh dự, là lòng thương, là sự tác thành, được thầy bạn giúp đỡ để soi chiếu vô minh cho mình, vậy mà không đồng ý thì vô minh còn hoài. Đó chính là bản ngã, vô minh, chấp thủ không chịu nói. Thầy có gọi cũng không muốn nói, đó là tâm ương ngạnh, cứng đầu, tâm không nhu nhuyến, mềm mại, không dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, dễ học, dễ nghe pháp Thánh hiền, tâm như vậy là không hiền, tâm cứng cỏi, chống đối, làm theo ý nó không nghe ai, nhiều khi biết điều đó là tốt, là thầy thương, thầy giúp nhưng cũng không muốn. Cho nên, đi càng sâu vào bên trong chúng ta thấy vô minh càng khủng khiếp. Chúng ta yêu thích sáu thức này, do yêu thích nên nắm giữ sáu thức chặt cứng không buông, vì nắm giữ nên sáu thức hiện hữu và vì sáu thức có mặt như vậy nên có sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Vì vậy, chúng ta phải thường xuyên tập nhận diện sáu thức, rõ biết tiếng chim đang hót là nhĩ thức; rõ biết chữ viết, người đang đứng viết là nhãn thức. Khi ăn chúng ta phải luôn nhớ nhận diện thiệt thức, tỷ thức. Thường xuyên để ý, xem thân mình có đang đụng chạm không, đó là thân thức. Cho nên, phải thường xuyên nhận diện sáu thức, thấy đơn giản như vậy nhưng ngày xưa Minh Thành học nhãn thức là biết của con mắt, nhĩ thức là biết của lỗ tai, học như vậy là không đúng. Cần phải nhớ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân không biết gì cả, nó là vô tri, còn cái biết được sắc, tiếng, mùi, vị, xúc chạm là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, còn ý thức chúng ta cần phải học kỹ hơn nữa. Người tu chúng ta phải học thật kỹ và nắm thật vững phần mật mã thế giới này.

Sáu thức này là sáu phần rời rạc, mỗi thức có mỗi phạm trù riêng, ví dụ, nhãn thức chỉ thấy chứ không nghe, không ngửi được, cái mà nghe được là nhĩ thức. Cho nên, sáu cái biết này là riêng biệt chứ không phải giống nhau. Thế nhưng, đối với một người không tu học, không nhận diện được thì tất cả mọi thứ đều cho là “tôi thấy”, “tôi nghe”, “tôi ngửi”, “tôi nếm”, “tôi biết” làm cho sáu thức này hỗn độn, dồn cục, lẫn lộn với nhau và người ta nghĩ rằng “tôi có một cái biết hoàn chỉnh”, như vậy là vô minh, là thức thủ uẩn, là sự chấp ngã. Nếu chúng ta không có sự chánh niệm tỉnh giác để nhận diện sáu thức thì dù có tu học thì cũng như mọi người, cũng cho rằng những gì thấy, nghe, ngửi, nếm mình cũng đều biết hết, mà không nhận rõ rằng sáu thức này rời rạc, riêng biệt.

Cho nên, Đức Phật mở từng cánh hoa sen cho chúng ta thấy rằng không có bông hoa nào là chắc chắn. Đức Phật mở từng bộ phận của chiếc xe: đây là bánh xe, trục xe, cán xe, gọng xe, dây sên, cổ xe, máy xe, bình xăng con… để chúng ta thấy không có chiếc xe nào hết, tất cả chỉ là sự lắp ráp, kết hợp chứ không có một cái gì chắc chắn, kiên cố. Trí tuệ của Đức Phật soi chiếu cho chúng ta thấy guồng máy vận hành, hoạt động của năm tổ hợp: căn; trần; thức; xúc; thọ, tưởng, hành trong thân tâm mình. Sáu thức gồm sáu thứ rời rạc; căn cũng gồm sáu thứ rời rạc; trần cũng là sáu thứ khác nhau ở bên ngoài; xúc cũng gồm sáu loại xúc; thọ, tưởng, hành mỗi uẩn cũng gồm sáu cái.

Chiếu phá sáu xúc

Sáu xúc hết sức vi tế, nếu không có sự thiền tập, thiền định, nhận diện một cách sâu sắc, bén nhạy thì không thể nào biết lúc ba pháp căn – trần – thức tập hợp, hội họp, giao thoa thì sanh khởi ra xúc. Sự tiếp xúc diễn ra nhanh hơn thần thông, nhìn một cái là là đơ ra, ngơ ra, ngáo ra, ngu ra, tức là lúc đó xúc sanh thì thọ, tưởng, hành cũng sanh ngay lập tức.

Ví dụ, khi nhìn vào một bông hoa thì con mắt thấy bông hoa, rõ biết đó là bông hoa – ba pháp này hội tụ, giao thoa sanh khởi nhãn xúc. Sau đó cảm thọ sanh khởi, thích bông hoa đó và muốn hái nó, khi đó vô minh, tham ái trùm hết ngũ uẩn, không cần hỏi ai mà đã nhổ lên liền. Chuyện này chúng ta thường xuyên chứng kiến, kể cả là người tu cũng không hỏi không xin mà nhổ bông lên liền, khi hỏi sao không xin thì nói quên, chỉ thấy đẹp rồi muốn nhổ đem về trồng, nghĩ rằng chuyện nhỏ, người ta sẽ cho nên không sao. Sau đó, ông chủ vườn hoa ra nói đó là giống bông quý, từ nước ngoài nhập về rất mắc tiền, người ta thấy mình không hỏi mà cứ hái nên sân lên, thế là sầu, bi, khổ, ưu, não.

Thế nên, các pháp diễn ra vô cùng nhanh, con mắt chỉ cần nhìn thấy sắc là một loạt các pháp diễn ra liên tục mà mình không kịp nhận diện. Đó là chúng ta chỉ mới ví dụ nhỏ về một bông hoa, cao hơn nữa là món đồ quý, khi vừa nhìn thấy là thọ, tưởng, hành sanh khởi lên là muốn nhặt đem về, muốn ăn cắp. Nghiêm trọng hơn là đến con người, chỉ đụng vào một chút là tai họa chờ sẵn, theo sau đó là sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, bất an, khổ sầu, hối tiếc, hối hận trong tù, hối hận cả cuộc đời hoặc là hối hận cả một đời tu. Đó chính là thế giới đang vận hành, là guồng máy hoạt động của ngũ uẩn, của thân tâm này. Chúng ta hiểu những điều này được bao nhiêu, có khi thầy dạy nhiều lần, rõ ràng như vậy mà còn không hiểu, không thấy, vậy thì nhìn sâu vào trong tâm thấy được mấy phần?

Chính vì vậy, sự chánh niệm tỉnh giác là hết sức quan trọng, cần được thực tập mọi lúc mọi nơi và đòi hỏi sự trầm tĩnh. Thế nên, sự hộ trì căn là rất thực hành xuyên suốt, vì khi có sự hộ trì căn, sự thu nhiếp sáu căn thì bên trong sẽ có độ trầm tĩnh, có sự an tịnh lắng dịu của các thọ, tưởng, hành. Bình thường chúng ta lăng xăng, tất bật vì thọ, tưởng, hành bên trong dao động quá mạnh, không có sự an tịnh, lắng dịu. Cho nên, lúc mình có sự an tịnh, lắng dịu thì độ chánh niệm tỉnh giác mới được sâu sắc. Và khi độ chánh niệm tỉnh giác sâu thì vô minh, tham ái mới yếu lại và giảm bớt, bằng không, bên trong chúng ta chỉ toàn vô minh. Trên thực tế, các chuỗi duyên sanh pháp diễn ra tích tắc, cụ thể là những cái xúc, thọ, tưởng, hành, ái, thủ diễn ra cực kỳ nhanh, hoạt động siêu tốc, nhanh chóng hơn cả thần thông của chư Thiên.

Chiếu phá thọ, tưởng, hành

Tiếp theo là sáu thọ, tự nó không biết nó là thọ. Chúng ta để ý kỹ chỗ này, cái thọ chỉ là một cảm giác: khó chịu, dễ chịu, hoặc là không khó chịu không dễ chịu, thọ chỉ là một cảm giác như vậy thôi, ngoài ra nó không nói bất cứ cái gì, nó không biết nó là thọ, những lời nói chuyện theo cảm giác là hành.

Ví dụ, khi đi đến cảnh đẹp, mình có cảm giác dễ chịu và nói rằng “chỗ này đẹp quá, phải biết sớm thì mình đi đến đây nhiều hơn”, lời nói đó là hành, còn cái thọ thì không nói gì cả, nó chỉ là một trong ba cảm giác. Tuy rằng chúng ta đã học những điều này nhưng khi nhận diện tâm mà không được tỉnh táo, sáng tỏ, bị vô minh che đậy thì sẽ nhầm lẫn hết. Nhiều người trình pháp nói một hồi là lộn xộn ngũ uẩn hết dù đã học ba năm rồi, hơn nữa mời trình pháp có khi còn không trình, lúc trình thì thọ, tưởng, hành, thức lộn hết bởi vì cứ nghĩ mình đã hiểu. Cho nên, đại chúng nhớ rằng, khi mời mọi người trình pháp nghĩa là kêu trình bày xem lúc đó thọ, tưởng, hành như thế nào. Chúng ta phải phân biệt rạch ròi cho thật đúng, nếu những điều căn bản như vậy mà không nắm vững thì khi học đến những pháp sâu hơn sẽ không nhận diện được, sẽ bị vô minh.

Như vậy, cảm thọ không biết nó là thọ; lời nói lầm thầm, suy nghĩ, phê phán, phân biệt, tính toán là hành; còn thức đơn thuần chỉ là sự rõ biết, không có so đo, suy tính trong đó, mà cái so đo là hành. Ví dụ, khi nhìn những hàng trúc thì thức chỉ rõ biết đó là trúc, còn suy nghĩ “những hàng trúc đẹp mắt, mát mẻ, màu sắc xanh vàng hài hoà, phong cảnh thiên nhiên” thì đó là hành. Vì vậy, chúng ta ta cần phân biệt rõ ràng, đừng nhầm lẫn giữa hành và thức, hoặc nhầm lẫn hành và tưởng. Hành uẩn bao trùm rất nhiều thứ, nó cứ nói chuyện, rồi phê phán, suy tư, tính toán, mưu sĩ hết chuyện này đến chuyện khác. Thế nên, trong việc tu tập sự tác ý vô cùng quan trọng là do vậy, chúng ta phải Như lý tác ý để hành uẩn không được nghĩ bậy, không được nói tào lao.

Chúng ta cần nhớ tưởng chỉ là hình bóng trong tâm, đừng lẫn lộn tưởng với suy nghĩ. Tuy chỉ là hình bóng nhưng cái tưởng cũng rất nguy hiểm, vì thọ, tưởng, hành thường dính chùm với nhau, vì hễ có hình bóng là có suy nghĩ kèm theo, mà có suy nghĩ, hình bóng thì có cảm giác đi theo. Có một Phật tử hỏi Minh Thành, khi ngồi nhớ quê hương, lúc đó chỉ liên hệ đến một pháp là thọ, hoặc tưởng, hoặc hành, như vậy có đúng không? Câu trả lời là không, vì hễ có hình ảnh là có âm thanh, suy nghĩ, mà khi có hình ảnh, âm thanh, suy nghĩ thì có cảm thọ đi theo. Thế nên, thọ, tưởng, hành dính chùm, đi theo nhau liên tục, không có hình bóng nào mà không có suy nghĩ đi theo. Ví dụ đang nghĩ “không biết mẹ mình ở dưới đang làm gì” thì tự nhiên có hình bóng của mẹ hiện lên và có cảm giác đi kèm theo. Cho nên, thọ, tưởng, hành không đi rời nhau, trừ những vị tu hành cao cấp, đạt được định lớn thì mình không nói đến. Còn thông thường, thọ, tưởng, hành của phàm phu chúng ta đều dính chùm hết vào nhau.

Ví dụ, khi nhớ đến một người nào đó, thấy ghét người đó thì hình bóng của người đó hiện ra, cảm giác khó chịu lập tức có và suy nghĩ về người đó cũng xuất hiện liền. Lúc đó chúng ta phải có tâm yên, tâm tịnh, độ chánh niệm tỉnh giác rõ ràng thì mới rõ biết thọ, tưởng, hành ra sao, sự rõ biết đó chính là ý thức. Sau khi có thọ, tưởng, hành số một thì thọ, tưởng, hành số hai tiếp tục sanh khởi. Một khi chúng ta bị dính chùm vào đó thì thọ, tưởng, hành cứ liên tục sanh khởi, mình không nhận diện được thọ, tưởng, hành thứ nhất hay thứ hai, thứ ba gì cả mà cứ bị dính vào đó, như vậy gọi là vô minh.

Khi chúng ta để ý vào trong tâm, thấy hiện khởi lên hình bóng, cảm giác khó chịu, suy nghĩ về người mình giận, lúc ấy, chúng ta rõ biết mình đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ đó (thọ, tưởng, hành thứ nhất). Sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc thứ nhất. Chúng ta phải thiền tập, nhận diện thường xuyên mới thấy rõ những thọ, tưởng, hành này, bằng không chúng dính chùm lại mình không biết gì hết. Như vậy, ý căn là sự để ý vào trong và khi để ý thì mình thấy thọ, tưởng, hành.

Cụ thể, khi để ý vào bên trong thấy gương mặt của người mình ghét, mình cảm thấy bực bội, suy nghĩ “tối ngày bà này kiếm chuyện hoài” (tức là có thọ, tưởng, hành 1) và sự rõ biết những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó là ý thức 1. Sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc 1. Khi ý xúc như vậy tiếp tục sanh ra thọ, tưởng, hành 2. Khi có thọ, tưởng, hành 2 thì thức rõ biết chúng – tức là ý thức 2, ba pháp này giao thoa là ý xúc 2. Khi có ý xúc 2 thì lại tiếp tục sanh khởi thọ, tưởng, hành 3, sự rõ biết thọ, tưởng, hành này là ý thức 3, ba pháp này hội tụ là ý xúc 3…

Đây là chỗ vận hành rất vi tế trong tâm. Minh Thành nhắc chậm lại, ý căn là sự để ý; khi để ý hiện lên mặt của người mình giận là tưởng, cảm thọ khó chịu sanh khởi là thọ, suy nghĩ về người đó là hành (thọ, tưởng, hành về người đó là pháp trần); thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Sự hội tụ của ba pháp này là sự tiếp xúc của ý lần thứ nhất, khi đó lại tiếp tục sanh khởi thọ, tưởng, hành thứ hai. Ý thức lúc này rõ biết đang có cảm giác, nghĩ, tưởng thứ hai đó. Cứ như vậy mà tiếp tục xúc, tiếp tục sanh khởi thọ, tưởng, hành; tiếp tục xúc rồi tiếp tục có cảm giác, nghĩ, tưởng…

Nếu chúng ta cứ suy nghĩ hoài thì sẽ chìm trong đó, còn mình nhận diện chúng và tác ý: “Không, giận cái gì, ngu! Giận hoài, đốt hoài, cháy hoài, sân hoài để được cái gì? Thôi an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đi” là chúng ta đang đánh phá những dòng thọ, tưởng, hành tiếp theo. Cho nên, tác ý chính là để đánh phá những dòng suy nghĩ của vô minh, tham ái, sân hận, bản ngã, chấp thủ và phá vỡ tất cả những dòng tư duy, những dòng suy tư ác, bất thiện pháp.

Vì vậy, mỗi khi có hình bóng, nghĩ, tưởng và mình rõ biết chúng thì ba pháp này tiếp xúc sanh ra cảm giác, nghĩ, tưởng tiếp tục. Khi đó thức rõ biết nó thì có ý xúc thứ hai, sau đó lại sanh khởi thọ, tưởng, hành tiếp tục. Nếu cứ để tiếp diễn như vậy thì chúng ta cứ đi theo chúng hoài hoài, nhiều khi cứ ngồi suy nghĩ cả tiếng đồng hồ, biết bao thọ, tưởng, hành sanh khởi liên tục mà mình không thể đếm được. Đó chính là dòng chảy của suy tư, tức là cứ có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ rồi rõ biết chúng… sau đó lại sanh khởi hình bóng, cảm giác, suy nghĩ… cứ tiếp tục như vậy rồi buồn, rồi khóc. Ví dụ, lâu lâu ngồi suy nghĩ buồn con cái không ai lên thăm, mỗi lần như vậy thì phải tác ý: “Không, đây là cơ hội quý báo để tu hành, đâu phải dễ mà có được”. Chúng ta phải tác ý như vậy để ngắt những dòng suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó, bằng mọi cách cố gắng phá vỡ, chặn đứng nó lại.

Đối với những suy nghĩ về dục, tham, ái cũng vậy, mỗi lần nhớ những lúc còn ở nhà được tiếp xúc với vợ con, bạn bè thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ cứ sanh khởi. Khi đó phải tác ý: “Không, giờ mình đã tu rồi, những thứ này chỉ đem lại phiền não, khổ đau, đem lại sự ràng buộc, trói trăn, sai khiến, không giúp ích gì cho mình. Nếu cứ suy nghĩ về những hình bóng, nghĩ, tưởng này thì chúng chỉ đưa mình đến chỗ thối đọa, rớt núi, rớt xuống vực sâu. Phải dẹp bỏ chúng, không được suy nghĩ nữa. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi. Đồ ác độc muốn hãm hại ta sao, ta đã nhìn thấy bản mặt của ngươi rồi, ngươi đừng tưởng sẽ dụ hoặc ta được nữa. Bây giờ ta phải sát tặc, giết hết những tên giặc này, làm cho tất cả tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta, thành mây, thành khói, thành hư không”.

Khi tác ý như vậy là chúng ta cắt đứt những dòng suy nghĩ và đưa vào tâm mình những dòng trí tuệ. Hãy quán tâm bi để thấy thương xót cho tự thân này: “Vì dục, tham, ái, vô minh, bản ngã mà ta đã đau khổ vô lượng vô biên kiếp. Bây giờ lại chìm trong dục, tham, ái để tiếp tục khổ nữa hay sao? Khổ như vậy là đủ rồi, khóc như vậy là vừa rồi, tham dục, tham ái, sân hận, bản ngã, chấp trước như vậy là quá đủ rồi! Hãy nhàm chán, từ bỏ, vứt bỏ, tẩy sạch, diệt tận một cách hoàn toàn”. Tác ý như vậy là để chúng ta phá vỡ dòng hoạt động của thọ, tưởng, hành, đây chính là diệu dụng, công năng của tác ý, của sự quán chiếu.

Như vậy, chúng ta thấy rằng, Đức Phật đã trình bày về mật mã thế giới, về sự vận hành, guồng máy hoạt động của ngũ uẩn một cách hết sức tuyệt diệu, rõ ràng, minh bạch, sáng tỏ, đến để mà thấy, không có thời gian, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Không cần phải đợi đến một lúc nào đó mới thấy được kết quả, chỉ cần mỗi khi nhìn thấy là chúng ta tác ý, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch để chúng tan biến ngay lúc đó. Chúng ta đừng để bị đồng hóa với thọ, tưởng, hành, phải nhận diện được thọ, tưởng, hành và biết chúng là pháp duyên sanh, vô thường.

Ví dụ, khi nói đến sáu tưởng: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng thì chúng chỉ là những hình ảnh chập chờn, mờ ảo, không rõ ràng, vậy tại sao mình lại nhận những thứ đó là mình rồi bị cuốn vào đó. Những lúc đó phải mở mắt sáng ra, chánh niệm trước mặt, an trú cảm giác toàn thân, tác ý, quán chiếu đánh phá các tưởng. Như vậy là chúng ta làm tan biến được những hình ảnh mờ ảo, sương khói đó, bằng không là sẽ rơi vào ma trận của sáu tưởng.

Chẳng hạn, khi nghĩ đến cảnh đẹp hay một người nào đó thì sẽ có sắc tưởng về người, về cảnh đó; có âm thanh của người đó hoặc cảnh đó. Ví dụ nghĩ đến Quán Chiếu Đường thì nhớ đến tiếng phong linh, tiếng chim hót, nhớ hình ảnh hàng trúc xanh, gương mặt Đức Phật, nhớ đến cổng trời. Khi nhớ nghĩ như vậy thì sẽ có sắc tưởng, thanh tưởng, mùi, vị đã tiếp xúc ở đó. Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó cứ như vậy mà tiếp tục và chúng chỉ là những ảo tưởng, vọng tượng, hư tưởng không có thật.

Cho nên, chúng ta cần phải chánh niệm tỉnh giác biết những hình bóng đó chỉ là tưởng và thoát ra khỏi nó. Khi đó chúng ta “chánh niệm trước mặt ta trở về, cảm giác toàn thân an trú vững, nội tâm soi chiếu rực Thánh trí” để thoát ra được những thọ, tưởng, hành đó. Còn không chánh niệm thì những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó cứ bày ra những ma trận rồi mình ở trong đó không ra được. Chúng ta cứ sống với những hình ảnh hư ảo, còn hiện thực trong pháp mình không thấy được. Huynh đệ, thầy bạn ở kế bên quan tâm không thèm để tâm mà cứ sống với những tư tưởng u u, mê mê, si si, dại dại. Cuối cùng chỉ còn lại khổ đau, si mê, vô minh, nắm chặt, tham ái, chấp thủ, sầu bi, ưu não. Như vậy, chúng ta chọn sống quanh quẩn trong những hình bóng mờ ảo, hư tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng, mộng tưởng, dục tưởng, sân tưởng, si tưởng, ngã tưởng hay sống với trí tuệ sáng suốt, trong tâm rộng mở thênh thang, bao la cùng khắp vô lượng? Vì vậy, phải thoát ra khỏi những ảo tưởng đó để sống một cách “đầu đội trời, chân đạp đất”, tự do tự tại, không bị những thứ mờ ảo trong suy tưởng ám ảnh mình nữa.

Những từ “tư tưởng”, “nghĩ tưởng”, “suy tưởng” người ta hay dùng chứa đựng tận 12 pháp trong đó, chúng ta phải thoát ra khỏi chúng. Tập cho những hình bóng lắng dịu, những suy nghĩ được an tịnh, những cảm giác được lắng dịu. Như vậy, đó chính là mật mã của thế giới, đó là nguyên lý sanh ngũ uẩn, đó là tâm lý học tối thượng của Phật giáo.

Sự đoạn diệt thế giới

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới đoạn diệt?

Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c) Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, bài kinh Thế Giới)

Đức Phật dạy rằng do duyên mắt và các sắc khởi lên sự rõ biết các sắc. Ba pháp: con mắt, các sắc và sự rõ biết các sắc hội họp lại nên có xúc. Do duyên tiếp xúc nên sanh khởi ra cảm thọ, cảm giác. Do duyên cảm thọ nên có ái, có yêu thích. Đoạn đầu giống như phần thế giới tập khởi, nhưng khác ở chỗ do có sự ly tham, đoạn diệt ái một cách hoàn toàn nên thủ diệt.

Như vậy, chánh kiến chính là sự ly tham đối với các pháp. Bậc Đa văn Thánh đệ tử Nhập Lưu hay Hướng Nhập Lưu là vị hướng tâm đến sự ly tham đối với các pháp, hướng đến sự không ưa, không thích, không muốn nữa. Tâm hướng về sự ly tham hoài thì gọi là Hướng Dự Lưu, nghĩa là tuy chưa chắc chắn 100% nhưng vị này luôn hướng đến sự ly tham những cảm giác, hướng đến lìa xa những hình bóng, xem chúng chỉ là những ảo tưởng, ảo ảnh, hư tưởng và hướng đến lìa xa mọi sự yêu thích. Tức là lúc trước cứ thích, muốn, khoái, tham, dục, nắm chặt, muốn nó hiện hữu, còn bây giờ không còn thích, muốn, khoái, ưa, chỉ muốn rời xa, chấm dứt.

Do sự ly tham, đoạn diệt ái một cách hoàn toàn, tức là phá vỡ sự ưa thích, khoan khoái một cách hoàn toàn nên thủ diệt, sự nắm giữ bị chấm dứt, phá hủy. Khi nhất hướng ly tham, tâm hướng đến sự lìa tham muốn đối với các pháp, lìa tham đối với những hình sắc, những cảm giác, những nghĩ, tưởng, những sự rõ biết, nhận thức; hướng đến sự nhàm chán, không tham muốn; hướng đến sự đoạn diệt lòng khao khát, ưa thích, thèm muốn một cách hoàn toàn thì thủ diệt. Chỉ một câu “Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt” là nói về sự đoạn diệt thế giới, đây là Thánh trí tuệ được Đức Phật để lại, chỉ một câu này là Hướng Dự Lưu, là Nhập Lưu, là Bất Lai, là vô sanh A-la-hán. Cho nên, phải xác quyết trong tâm rằng sự tu là hướng đến ly tham, rời xa yêu thích đối với ngũ uẩn.

Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt.

Do sự nắm giữ bị phá vỡ, diệt tận nên sự hiện hữu không có mặt. Do sự hiện hữu bị diệt tận nên không có sự sanh. Do sanh diệt nên già, chết, buồn đau, lo lắng, bất an, khổ sầu đoạn diệt, chấm dứt.

Như vậy, đây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c) Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, bài kinh Thế Giới)

Như vậy, đó là con đường đoạn diệt, chấm dứt tất cả tổ hợp đau khổ to lớn này.

Cũng vậy, tai đối với tiếng; mũi đối với với mùi; lưỡi đối với vị; thân đối với với sự đụng chạm; ý đối với những hình bóng, nghĩ, tưởng bên trong… dù cũng sanh khởi lên sự ưa thích nhưng do sự ly tham, đoạn diệt cảm thọ yêu thích, xa lìa cảm giác khoái khoái, thích muốn, thèm khát, khát ái một cách hoàn toàn nên thủ được đoạn diệt. Chúng ta cứ tu tập thì dần dần sẽ đạt đến sự ly tham, đoạn diệt được sự ưa thích, ham muốn một cách hoàn toàn và khi diệt được ái một cách hoàn toàn như vậy thì sự nắm giữ bị tiêu diệt. Do sự nắm giữ bị tiêu diệt nên sự hiện hữu chấm dứt. Sự hiện hữu ở đây nghĩa là sự hiện hữu của tham ái. Khi không còn hiện hữu sự yêu thích, nắm giữ nữa thì không còn sanh ở trong những tấm thân tham, sân, si, bất tịnh, vô thường, khổ não, ung nhọt, tai họa, tật bệnh. Khi không sanh ra những thân già, bệnh, chết, ung nhọt, bất an, lo lắng, sợ hãi nữa thì tất cả sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ được chấm dứt, đoạn diệt. Như vậy, toàn bộ tổ hợp đau khổ to lớn được chấm dứt, đó chính là con đường chấm dứt thế giới, chấm dứt ngũ uẩn, tham, sân, si, vô minh, bản ngã và phiền não, khổ đau.

Có rất nhiều những thí nghiệm tối tân của các nhà khoa học, có rất nhiều công trình nghiên cứu cách thức ra khỏi thế giới. Mặc dù có rất nhiều phát minh khoa học, kỹ thuật tiến bộ như vậy nhưng mãi mãi vẫn không tìm ra được cách thức đi ra khỏi thế giới này. Thế nhưng, Đức Phật đã chỉ ra con đường ra khỏi thế giới và Ngài truyền trao lại cho chúng ta, đó chính là giải thoát, là sự xuất ly khỏi ngũ uẩn, xuất ly khỏi thế giới, xuất ly khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy, chúng ta đã biết được mật mã của thế giới, trí tuệ của mình được sáng tỏ thêm và thấy biết nhiều hơn về các pháp, về sự vận hành của ngũ uẩn, của thân tâm này. Tất cả đều nhờ ân đức của Thế Tôn, nhờ ánh sáng của Đức Phật và nhờ lợi ích của Thánh Pháp.

./.