Từ Vô Lượng Tâm 3
Từ Vô Lượng Tâm 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh PAGEREF _Toc77598257 \h 1
II. Chánh Tri Kiến PAGEREF _Toc77598258 \h 3
III. Trình pháp PAGEREF _Toc77598259 \h 7
IV. Hiểu về bài quán tâm từ PAGEREF _Toc77598260 \h 7
I. Vô minh
Thưa đại chúng, chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm và trải tâm từ, từ vô lượng tâm. Trong bài thiền quán Từ vô lượng tâm này rất nhiều hình ảnh cho chúng ta quán chiếu:
Mong tất cả thấu hiểu, vạn vật là vô thường, chúng chỉ là năm uẩn tạo ra mọi vở tuồng
Rất nhiều vở tuồng vợ chồng, vở tuồng anh em, vở tuồng cha con, mẹ con, bi kịch, thảm kịch buồn, vở tuồng máu và nước mắt. Những vở tuồng thù hằn, thù hận hai mươi, ba mươi năm, hay những vở tuồng đến năm trăm đời, năm trăm kiếp sống trong thù hận, những vở tuồng chỉ nhắc đeo khẩu trang là bị nã đạn vào đầu, chết ngay tại chỗ. Những vở tuồng chỉ nhìn nhau bằng ánh mắt khinh thường, nhìn đểu là xảy ra án mạng, những vở tuồng nói qua nói lại đã thương lẫn nhau làm tù tội, mất mạng.
Vở tuồng của những cô gái bị bán năm bảy chủ, những vở tuồng như mẹ giết con, chồng phân xác vợ, vợ chồng đầu độc nhau, bà cháu giết nhau để lấy tiền bảo hiểm. Vở tuồng con thuê giang hồ giết cha, xuất khẩu lao động không trở về, hay bị chết trong những chiếc xe đông lạnh, xe chở hàng hóa. Vở tuồng mà thương nhớ nhau suốt bốn năm mươi năm, mẹ mất con, vợ xa chồng, những vở tuồng điên loạn, điên khùng, điên cuồng vì dục vọng, vì tài sản, vì tình ái.
Những vở tuồng nhảy lầu, nhảy cầu, treo cổ, uống thuốc tự vẫn. Vở tuồng huynh đệ, anh em giết hại nhau vì mấy tấc đất. Những vở tuồng giành giật khách để rồi đâm nhau chết. Những vở tuồng mà vì năm ngàn gửi xe rồi cãi qua cãi lại rồi xảy ra án mạng.
Vô vàn, vô số, vô lượng, vô biên không thể tính kể hết tất cả những vở tuồng của ngũ uẩn dựng nên trong nước mắt, trong sự đau khổ, sự chém giết, trong những ngọn lửa ngùn ngụt bốc cháy trong sân hận. Tất cả những gì mình thấy trước mắt là những vở tuồng của ngũ uẩn, của tham dục, của sân hận, của ngu si, của vô minh. Đầy rẫy những vở tuồng, sắc, thọ, tưởng, hành, thức dựng lên mọi vai tuồng. Mình đã đóng vô số vai trên cuộc đời này rồi, mình từng đóng vai là ông nội, cha, con, cháu, vai vợ, chồng, vai tuồng ngoại tình với vợ người để bị đánh đổ máu, bị đâm chém, giết hại. Những vở tuồng lăn loan, phá gia đình người khác để rồi bị bứt tóc, cạo đầu, lột quần áo, tạt axit. Những vở tuồng vong ân bội nghĩa, mưu mô, xảo quyệt…
Tất cả những vai đó mình đã đóng hết. Những vở tuồng lọc lừa, gian trá, xảo biện, gian manh, đố kị, ganh tị, sát hại, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu tính, mưu độc, mưu ái. Mình đều đã đóng tất cả những vai tuồng đó, trong trăm ngàn vạn kiếp vừa qua, chỉ cần ý niệm suy nghĩ thôi thì đã có thể tạo ra vô số những ác nghiệp, đó là những vai tuồng mà mình cần phải ngồi lại để quán chiếu lại để xem.
Chúng ta ngồi thiền thì chúng ta có thể nhìn hết lại quá khứ của mình, từ lúc nhỏ đến khi lớn lên, những chuyện gì đã xảy ra thì mình xem đó là những vai, vở tuồng mình đã đóng. Quý vị có thấy những vai tuồng mà mình đã đóng không? Như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói láo, lừa đảo, mánh khóe, gian trá, xảo quyệt, ích kỷ, lợi dụng, trước mặt thế này sau lưng thế khác… Đó chính là những vai tuồng của mình, đều là sắc, thọ, tưởng, hành, thức dựng lên những vai tuồng đó.
Nếu mình không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được sự tập khởi, vận hành, an trú và chấm dứt của nó thì mình vẫn tiếp tục đóng những vai tuồng của nó. Nhưng vai tuồng ác hay thiện nhiều? Đóng những vai ác, ngu, tội lỗi. Hàng ngày mình không chánh niệm tỉnh giác, không quán sát thì vẫn đang đóng tuồng, đạo diễn là vô minh, khát ái. Tuồng sân si, tham dục, bản ngã, hơn thua, đó là những tuồng mình đang đóng hàng ngày.
Trong một ý niệm, một tưởng của mình là đang đóng tuồng nên sư cô Nguyên Luận trình pháp thì Minh Thành rất hoan hỷ, đã tu tập bốn, năm tháng trong thất là rất tốt. Trong bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch – Tăng Chi Bộ Kinh – Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: "Như vậy tôi tưởng". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.”
(Bài kinh Một pháp môn quyết trạch – VI. Đại phẩm- III. Phẩm trên tất cả - Chương Sáu pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
Những hình bóng trong tâm của mình là kết quả của thói quen. Những hình bóng thường chập chờn, thường ám ảnh mình, sanh ra là nó có chỗ an trú, tồn tại, chỗ đứng trong tâm mình, là vì mình hợp tác, mình nuôi nó hoài.
Nên khi mình gặp chuyện xảy ra khác với mình suy nghĩ “Tôi tưởng nó là vậy nhưng nó lại không phải vậy!” Chính cái mình tưởng đó chính là thói quen, tưởng theo thói quen đó mà mình không thấy được sự thật, hiện thực của các pháp. Còn mình suy nghĩ theo thói quen, theo tập tánh, tập khí, tập hiện thực của các pháp, mà mình lại suy nghĩ, tưởng tượng theo thói quen, tập tánh, tập khí, tập nghiệp, thói quen.
Tưởng đó đóng tuồng trong tâm mình, đó là việc để cho mình nhận diện được ngũ uẩn. Thực ra sự nhận diện này vi tế và cực kì thâm sâu, càng nhận diện càng để ý nhiều, càng soi rọi nhiều thì mình càng thấy nó đóng tuồng vô số vai, tuồng, vở kịch, từ sáng, trưa, chiều, tối đến cả ban đêm ngủ cũng đóng tuồng. Những tuồng sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau.
Một khi mình không thấy được đúng sự thật thì mình nghĩ khổ là vì người khác, là vì bà kia, cô kia, cậu kia, chú kia, anh kia làm cho mình khổ. Đó là chưa thấy đúng mà là sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau.
Mà mình thấy bên ngoài không đúng căn nguyên gốc rễ, nguyên nhân của khổ đau thì không bao giờ giải quyết được đau khổ. Một khi mình đã nhìn sai về sự thật của khổ, nguyên nhân khổ thì mình không giải quyết được tận gốc rễ.
II. Chánh Tri Kiến
Chính vì vậy người đời không tu nên lúc nhỏ khổ theo nhỏ, lớn khổ theo lớn và trưởng thành khổ theo trưởng thành. Khi trung niên lại khổ theo trung niên, lão niên khổ theo lão niên, đến lúc già, chết cũng khổ theo lúc già, chết. Đó là vì không thấy được cái gì là khổ thật sự, cái gì là nguyên nhân của khổ thật sự và con đường diệt khổ, nên khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau, đây là Chánh Tri Kiến, Thánh Tri Kiến. Sự thấy biết đúng đắn của bậc Thánh, sự thấy biết chính xác nhất mà các bậc Chánh Đẳng Giác đã chứng ngộ.
Một người đã thấy biết được như vậy thì chắc chắn phải tiến tới, không thể nào lùi bước được. Nếu một người thật sự thấy sắc, thọ, tưởng hành thức là khổ thì người này không thể nào cứ ôm nắm chúng tiếp được. Nếu một người thật sự thấy sắc, thọ, tưởng hành thức là khổ mà xác quyết, tuyệt đối trong tâm, không còn nghi ngờ, không còn dao động, tịnh tín bất động thì không quay trở về mà nương dựa trong ngũ uẩn, làm sao người đó có thể bám chấp trong ngũ uẩn. Và nếu như có bám chấp đi nữa thì cũng là dư tàn, sự xót lại của vô minh tham ái và nghiệp quá khứ nên giờ họ phải giải quyết hàng tồn kho đó mà không lấy cái mới nữa, đó là đối với những người thật sự đã thành tựu Chánh Tri Kiến và ngũ uẩn.
Nên thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau, là Thánh tri kiến - sự thấy biết của bậc Thánh. Vậy nên, có khi thấy suy nghĩ, cảm giác này là khổ, tưởng là khổ, thân là khổ nhưng nhiều lúc là mình không thấy được vậy. Một ngày mình như vậy được bao nhiêu tiếng? Chỉ trừ lúc nghe pháp, tinh tấn, chuyên chú tâm vào thì có thể còn ngoài lúc đó ra là cực kì khó khăn.
Lúc bình thường mình không trú pháp thì chỉ cần mình buông lung một chút thôi là không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, chỉ là cái tôi, ngã uẩn, đại uẩn. Nên làm sao để trú vào cái thấy này thường xuyên và liên tục thì đó là sự tu. Thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau. Thường xuyên thấy là sự thấy của Chánh Kiến, thấy vậy mới hết khổ, thấy cái gì cũng khổ thì cái thấy đó mới đưa đến hết khổ. Còn cái nào thấy là vui thì chính cái đó là khổ.
Cái nào cũng thấy là khổ thì sự thấy đó đi đến chấm dứt khổ, còn bất cứ một cái nào mình thấy đó là vui thì chính cái đó làm cho mình khổ đau. Chỉ có một việc chấm dứt được khổ, chấm dứt được tham, sân, si, vô minh bản ngã thì đó mới là vui, đó là Niết-bàn, là tối thượng, đối với cái nhìn cứu cánh của Đức Phật dạy thì chỉ duy nhất là Niết-bàn, là sự dậm tắt vô minh và khát ái, sự nhàm chán, ly tham, sự từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ, sự diệt tận dục, tham, vô minh, khát ái đối với năm thủ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nên lúc đại chúng quây quần với nhau làm bài tập, đó là lúc nhìn thấy đúng, không phải là lúc trên thiền đường, nên muốn biết được tâm người tu thì chính là lúc bình thường, còn lúc lên thiền đường ngồi trang nghiêm thì khó thấy. Khi đó thấy được sự thật, chân tướng hiển lộ, các pháp lúc đó hiện rõ và mình thấy được mình, thấy được ngũ uẩn hay không, có sức tự chủ chánh niệm tỉnh giác hay không thì chính là lúc đó.
Vậy nên vai tuồng ngũ uẩn này rất ghê gớm, nên mỗi câu mỗi chữ trong đây là chiêm nghiệm, quán chiếu chứ không thể đọc đơn thuần. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức này cứ làm sanh tử không dừng, dựng các vở tuồng tái sanh.
Nếu một người chưa bao giờ nghe Chánh Pháp về ngũ uẩn, Thánh trí và ly tham nhàm chán với ngũ uẩn thì người đó có khả năng làm cho ngũ uẩn này chấm dứt không? Có khả năng nhàm chán muốn thoát ra khỏi ngũ uẩn này không? Sự kiện đó sẽ không thể xảy ra, Trái Đất này có hình thành và tan hoại có hàng triệu lần thì sự kiện đó không thể xảy ra.
Đó cũng là lý do tại sao sự cao quý của bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, là giáo pháp tối thượng được tuyên thuyết, sự cao quý của các bậc Hiền Thánh Tăng bốn đôi tám chúng, họ là các bậc biết, hiểu ngũ uẩn, thấy được tính chất đau khổ, nguyên nhân dẫn tới đời sống đầy rẫy nước mắt và máu. Thấy rõ được các vở tuồng bi thương, sầu não của ngũ uẩn và các vị này chỉ ra cho mình đạo lộ, phương pháp, lối thoát thì nó quý đến cỡ nào, không có gì cao quý trên thế gian này có thể đền đáp được ân đức đó.
Nên người thật sự thấy pháp dù cho thân mạng này có chết đi nữa thì không bao giờ có sự bất kính đối với bậc đạo sư, người còn bất kính đối với bậc đạo sư thì người này chưa thấy pháp. Đạo sư là Đức Phật, Thánh chúng, tối thiểu là người hướng dự lưu chỉ ra cho mình đạo lộ Thánh trí ngũ uẩn và phương pháp nhiếp phục vô minh, tham ái trong ngũ uẩn, thoát ra khỏi ngũ uẩn, đó chính là Thánh đạo.
Một khi người đó đã xác quyết trong tâm, chấp nhận sự thật đó thì người đó tôn quý bậc đạo sư của mình, có thể mình chết chứ không bất kính đối với bậc đạo sư. Không thể có một người thành tựu chánh kiến mà đi tìm đối tượng tôn kính khác ngoài bậc đạo sư đó, tức là ngoài Đức Phật và các bậc thành tựu bốn đôi tám chúng đó. Còn có người đã thành tựu chánh kiến mà tìm đối tượng tôn kính khác mà ngoài Đức Phật và bốn đôi tám chúng thì sự kiện đó không xảy ra. Vì chỉ có Đức Phật và bốn đôi tám chúng chỉ ra ngũ uẩn, mới chỉ ra cho mình được phương pháp để nhìn thấy ngũ uẩn và chính vì mình thấy, mình biết nên tự mình nhàm chán. Chúng ta tu tập trong dòng pháp này thì chúng ta có thấy không? Có thấy sợ không? Có thấy kinh hãi, khiếp đảm đối với dục ái, tham, sân, si vô minh và bản ngã không? Đó chính là đạo lộ, Thánh đạo, Thánh trí, Thánh pháp, là con đường đưa đến Thánh quả.
Nên đó là tại sao các bậc đã thành tựu Chánh Kiến rồi có sự tôn kính tuyệt đối với bậc đạo sư. Vì người chỉ cho mình như vậy thì không thể trên Trái Đất này tìm được dù mình có sống trăm đời, ngàn kiếp vô lượng, vô biên, vô thỉ kiếp, khó có thể gặp được những bậc như vậy xuất hiện ở thế gian này, đó là bậc tối tôn, tối thượng, tối thắng, hiếm có, hy hữu xuất hiện trên thế gian này. Là những vị chỉ cho mình thấy được ngũ uẩn, chỉ cho mình thấy sự thật cấu thành thân tâm này, thế giới này, sự vận hành bên trong con người, nội tâm, chỉ cho mình thấy những thứ đó đang ngày đêm hoạt động, chỉ cho con mắt tâm của mình chứng kiến, không phải chỉ nghe nói.
Lúc trước chúng ta học là vô thường, khổ, vô ngã…mình nghe người khác nói rồi nói lại đến giờ khi đã nhận diện được ngũ uẩn thì chính mình thấy, chính mình biết. Quý vị có thấy dục, thấy sân, vô minh, bản ngã không?
“Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
(Bài Kinh Tất cả lậu hoặc – Trung Bộ Kinh)
Thấy là thấy ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biết là biết về ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay tham dục, sân hận, si mê, bản ngã.
III. Trình pháp
Mời cô Nga trình pháp.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Từ buổi sáng hôm nay đến giờ con tu tập trong tràn ngập hạnh phúc. Từ khi quý thầy và quý sư cô và chúng con tu pháp bảo, con thấy mình thật phước báu. Từng ngày một con được nghe pháp thầy dạy, con nhìn lại thân tâm con, con nhận ra được sắc uẩn để con tẩy rửa. Khi vào lúc ngồi thiền, mỗi sáng con thiền về tâm từ, khi con thực hành ba pháp trong tâm con là một không gian rộng mở thì con cảm thấy đã hạnh phúc lắm rồi. Con cảm nhận được tình thương bao la, rộng lớn của Đức Phật đã chỉ dạy cho con những giáo pháp ly tham.
Khi sư phụ vào, có những lời giúp cho chúng con tác ý, nguồn cảm xúc trong con lại trào dâng lên, con biết ơn Đức Phật, biết ơn Tam Bảo, con biết ơn sư phụ rất nhiều.
Sau đó được sư phụ giảng dạy cho chúng con tường tận về các vở tuồng, trong con cũng hiện lên, con thấy thật đau xót cho con. Chính con từ sáu mươi mấy năm vừa qua, ngũ uẩn của con đã diễn bao nhiêu vở tuồng mà con nào biết. Cũng có lúc sao con khổ vậy, nhưng con hiểu ra là do con không tìm được lối thoát, thật hạnh phúc cho con. Khi sư phụ giảng về sự nhận biết là “Đã thấy được những cái xấu xa, thấy được bản ngã trong mình và sự tôn kính đối với Đức Phật, đối với những bậc Chánh Tri Kiến đã chỉ dạy cho chúng con?” Thật sự là con hạnh phúc, con xin cảm ơn sư phụ.
IV. Hiểu về bài quán tâm từ
Sư phụ giảng giải:
Thương hữu tình chẳng rõ, năm thứ vô thường này, cột với dây tham ái, tạo ra nhiều xác thân.
Bài này chúng ta đã học hôm trước nhưng hôm nay chúng ta tìm hiểu kĩ tới lui những phần mình chưa khai triển, đây là những hình ảnh để chúng ta quán chiếu: bị cháy, bị đốt bởi lòng tham, bị thêu trong lửa hận, bị dìm trong lửa si, thương hữu tình bị trói, bị cột bởi lòng tham, bị giam vì lòng hận, bị mù vì lòng si.
Chúng sanh bị đốt, bị cháy, bị thêu, bị dìm, bị trói, bị cột, bị giam, bị mù mà không biết gì. Cái đau đớn nhất trong tất cả những đau khổ là không biết mình khổ, cái tai họa lớn nhất trong tất cả những tai họa là không biết mình tai họa, cái vô minh nhất trong tất cả các vô minh là không biết mình vô minh, đây mới là cái đau đớn nhất, cái khổ nhất trong tất cả cái khổ là không biết mình khổ, đó mới là đại khổ.
Chúng sanh bị đốt cháy vì lửa dục, lửa tham, ngày đêm hừng hực, phừng phực, bốc lên, cháy lên, nhiều loại trộm cắp, cướp giật, đâm chém, giết hại, ngay cả trong chùa chiền, thần thánh cũng không tha vì lửa tham đốt cháy, thêu, lửa si dìm bên trong đó. Chúng sanh bị trói cột, giam hãm, mở mãi không ra. Chỉ là miếng ăn, căn nhà, chỗ ở, tờ giấy mỏng, những thân xác, máu mủ, xương da giam hãm, ràng buộc, trói cột, thêu đốt… Chúng ta lấy chúng làm đề tài thiền quán.
Mỗi khi sân sanh khởi thì mình quán “tự mình đang đốt mình”, nhưng đó là lúc sân lên mới quán, có thể không kịp nên bình thường hãy quán trước khi sân, trong khi sân, sau khi sân quán. Quán xa, quán gần, quán trước, quán sau, quán trên quán dưới, quán ngoài, quán dọc tứ phía, tám bề, dùng Bát Chánh Đạo diệt được. Nó rất khủng khiếp, mình không thể nói “Bỏ qua, đừng giận!” là nó hết, nó vẫn tồn bên trong cảm thọ, rồi đến một lúc nó bùng nổ lên, bùng cháy lên thì lúc đó đã muộn.
Chúng ta phải giải phóng, giải phá trong từng cảm thọ, tưởng, suy nghĩ nhỏ nhỏ đó, là nhổ tận gốc rễ, chặt nó không cho nó mọc trở lại được nữa, không cho tái sanh. Còn nếu mình thấy “Chuyện này nhỏ nhỏ, bỏ qua đi, không sao!” thì nó sẽ cứ nằm đó, tích tụ, chất chứa ở đó qua ngày qua tháng thì tới một lúc sẽ bùng ra. Đó gọi là nghiệp quả dị thục, tức là quả của nghiệp đã biến đổi chính mùi ra.
Vậy nên mới giải quyết từng cái nhỏ nhỏ, đó là tại sao các quý thầy nhắc nhở mình từng chút, vì nếu không có cái chút đó thì không có cái nhiều và nếu không có cái nhiều thì làm sao đến được cái lớn, cái đại sự?
Chúng ta thấy từng chén cơm của mình, từng hạt gạo, mình nghĩ “hạt gạo nhỏ quá không cần” thì mình có được chén cơm không? Tô mì của mình là từ từng sợi mì, mình nói “sợi mì nhỏ quá không lấy, chỉ thích lấy nguyên miếng thôi” vậy thì từ đâu làm sao có nguyên miếng ngoài sợi mì. Cũng như làm sao có chén cơm ngoài các hạt gạo. Nhưng do mình không muốn, “Tại sao cứ những cái nhỏ nhặt, chút chút cứ bị nhắc hoài?” mà chỉ muốn thành Thánh quả, chỉ muốn “Chỉ cho tôi cái nào mà tôi thành Thánh quả”. Đó chính là cái vô minh, ngu si, tham dục của mình.
Chính từ những cái nhỏ đó mới trở thành đức hạnh. Hay chỉ muốn “Giờ tôi muốn uống nguyên ly nước chứ không muốn uống từng giọt”, vậy không có từng giọt thì làm sao có được ly nước? Đó chính là cái ngu mê của chúng ta, chúng ta không học, xem thường các hạnh nhỏ, bỏ qua, cẩu thả những hạnh đức, nết nhỏ, đức nhỏ, tánh nhỏ… gọi là tế hạnh, là những hành động nhỏ nhiễm, oai nghi tế hạnh. Những cử chỉ, hành động đó có chánh niệm tỉnh giác trong đó hay không, có tu tập, trong đó hay không thì ta nhìn sẽ thấy.
Vì bản ngã, tham ái của mình không chịu sửa, mà trái lại mình lại trách hờn người bằng tình thương, bằng từ tâm muốn giúp đỡ, tác thành mình sân hận trở lại với người đó. Chúng ta thấy như vậy là thông minh? Đó là vô minh mà cứ tưởng là mình thông minh. Rồi người ta sẽ không dạy dỗ mình nữa, bỏ mặt, không nói tới nữa. Chỉ dạy không nghe mà còn sân hận, bản ngã. Nên mình thiếu tâm hiền, thiếu tâm từ, thiếu cả diệt ngã là mình không học đạo được.
Tại sao chúng ta học tâm từ này cả một tuần lễ? Ngày nào thầy cũng mở bài tâm từ, thiền quán, đó chính là những nhỏ nhiễm cần học nếu không mình sẽ bị đốt, bị cháy, bị thêu, bị dìm, bị cột, bị giam, bị mù.
Thương hữu tình lệ thuộc, bị các nghiệp buộc ràng. Mang các thân tạm bợ, vừa trả nợ vừa vay.
Các câu này mình cần nhớ, mỗi khi tham sân, hơn thua, bực bội, cộc cằn, cau có, gay gắt, ta đây hiện lên thì mình phải quán “Đó chính là vừa trả nợ vừa vay thêm!”
Mình phải tự hỏi “Nợ đã trả xong chưa mà sân lên để muốn vay thêm, tham lên là muốn vay thêm phải không? Hơn thua là muốn vay thêm phải không? Thị phi là muốn vay thêm phải không?”
Câu vừa trả nợ vừa vay này là công án, là đề mục quán chiếu, đề tài tu tập. Mỗi khi mình muốn tranh đấu, hơn thua, phải quấy với ai thì đọc câu này lên “Muốn vay phải không? Vậy nợ cũ đã trả xong chưa? Hãy an tịnh, lắng dịu đi. Trú xả, buông xuống, bỏ xuống đi!”
Với thiện pháp, với tâm bình an, tâm từ thì mình nói, còn nếu đây là bất thiện pháp, là hơn thua, nhân ngã, phải quấy thì xả đi, như “xe chở quá tải rồi, tội xe quá xe ơi!” Trong suy nghĩ của mình cũng vậy, mình suy nghĩ đúng sai, suy nghĩ phải quấy thì mình nói “Thôi, xả đi, quá tải rồi, chồng chất lên thêm tội xe quá xe ơi, tội tâm quá tâm ơi. Tâm giờ sao nặng quá. Tâm chất chứa quá nhiều rồi. Thương tâm giờ nặng quá. Thôi buông xả đi tâm.” Phải quán như vậy nên trong tâm từ có Tứ vô lượng tâm bên trong, có bi, hỷ, xả và trong mỗi tâm có đủ bốn tâm trong đó hết, có cả Chánh Kiến, Bát Thánh Đạo, Tứ Thánh Đế trong đó, Tứ Niệm Xứ trong đó, là trong mỗi bài thiền quán chúng ta đang học đây, trong quyển Cửa vào bất tử, đều có Thánh đạo trong đó, mình cố gắng học, cố gắng thực tập.
Thương hữu tình chìm nổi trong sanh tử đắng cay, trong những thân vô thường, trong các đường tái sanh.
“Thương hữu tình chìm nổi trong sanh tử đắng cay” thật là đắng cay, thật cay đắng trong vòng sanh tử oan nghiệt này, vòng sống chết, ác độc, tàn nhẫn, vòng luân hồi nghiệt ngã. Cảm thấy kinh sợ, khiếp sợ, ghê sợ, run sợ, hoảng sợ, sợ hãi vòng sống chết, hơn thua, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh này, thấy những ngọn lửa bên trong hừng hực, phừng phực bốc cháy. Dù là hình thức của người đời hay thậm chí người tu hành cũng là những ngọn lửa phừng phực, hừng hực tham, sân, si, không phải chỉ cạo đầu rồi đắp y lên là xong.
Nếu không có sự thực hành Chánh Đạo, Chánh Pháp, không có sự tu tập chân chánh, nghiêm túc đúng pháp thì bên trong là những ngọn lửa phừng lên, bốc cháy suốt ngày đêm. Danh lợi, tham lam, nói đến đây cảm thấy ngao ngán, nhàm chán, rã rời, tê tái, nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, thoát ra. Nên tuyệt vời cho chúng ta ở núi ở rừng, khả ái thay núi rừng, nơi người phàm không ưa thích nhưng bậc ly tham ưa thích, vị không tìm dục lạc, đẹp là đời sống ít muốn biết đủ, đẹp làm đời sống nhàm chán ly tham, từ bỏ chấm dứt, rất cao thượng, thánh thiện là đời sống viễn ly, xả ly, xuất ly của bậc Đa văn Thánh đệ tử.
Tuyệt vời, thanh cao, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện, chúng ta hãy hướng đến đời sống đó, hãy sống, hãy chứng nhập, hãy làm viên mãn đời sống phạm hạnh đó. Tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất trên thế giới này là đời sống viễn ly, ít muốn, biết đủ, thiểu dục, tri túc, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, xả ly, xuất ly, thoát ly, giải thoát, cao thượng, thánh thiện, vi diệu là phạm hạnh cứu cánh này.
Tác ý như vậy để chúng ta ngày đêm siêng năng, nỗ lực tu tập các thiện pháp.
Thương thay trò sanh tử, thương thay nẻo tái sanh, thương thay cảnh nhân quả, chúng sanh đáng thương thay.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Rất thấm thía, thấm nhuần thân tâm của mình. Hãy suy ngẫm, nghiền ngẫm, thưởng thức những cảm thọ vi diệu, ngọt ngào, thấm thía này, hãy thưởng thức một các trọn vẹn, sâu sắc bằng tất cả trái tim, tấm lòng, toàn thân của mình. “Thương thay trò sống chết này”, buổi chiều còn nói còn cười, lúc chiều đã nằm trong áo quan, hôm qua còn khỏe mạnh, hôm nay đã là một người nhiễm dịch bệnh, hôm trước còn là ông này bà kia, hôm nay đã nằm dưới lòng đất lạnh. Thành quả của cuộc đời là một tấm bia đá.
Thương thay trò sống chết, thương thay nẻo tái sanh, vì không phải chết rồi là xong, là còn đi vào đường nào, vào thế giới nào, khổ thú, … sư 58:13, khổ cảnh. Chết là đi về đâu? Hoảng loạn, tham ái, hơn thua, sân hận hay ta đây, vênh váo, cống cao, ngã mạn như vậy thì chết rồi đi về đâu? Đầy rẫy những ác nghiệp như vậy thì chết rồi đi về đâu? Tràn ngập những bất thiện pháp, những xú uế, cấu uế của một tâm thức thì như vậy, chết sẽ đi về đâu?
Đường trước lờ mờ chẳng biết về đâu, thương thay tâm mờ tối, ngu si, mê muội, hôn ám, bao trùm, bao phủ là một bóng đêm mà không tìm ngọn đèn, thương thay tâm mờ tối, thương thay tâm vô minh, thương thay nội tâm si ám, mê muội, thật đáng thương thay cho chúng ta, cho chúng sanh, cho hữu tình, cho muôn loài, vạn loại. Chẳng rõ khổ của nhau, không thấy được sự thật của khổ đau, không thấy được sự thật mình đang đau khổ và những người chung quanh mình đang khổ đau, còn bày thêm đau khổ, sân si, kiếm chuyện, gây sự thêm nữa.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Thật thương thay, tội nghiệp cho mình, cho hữu tình, cho chúng sanh.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Hai chị em cùng tu tập với nhau nhưng người này lại sân hận với người kia là tại sao? Thương thay tâm của mình mờ tối, chẳng biết mình đang khổ, chị em của mình đang khổ mà mình còn bày thêm đau khổ, để thêm khổ buồn cho nhau. Thật tội nghiệp, đáng thương cho mình, “Quay về, giận để làm gì, sân để làm cái gì? Tội nghiệp cho nhà mi quá đi!” Không biết rằng sư huynh của mình đang khổ, mình cũng khổ, rồi mình bày thêm khổ, để thêm khổ buồn cho huynh đệ với nhau để làm gì? Hay không biết thầy mình đang khổ, mình cũng đang khổ, mình kiếm chuyện ra để làm gì? Để thầy trò thêm khổ buồn cho nhau. Hay không biết cha mẹ mình đang khổ, không biết mình đang khổ, mình kiếm chuyện thêm cho đau khổ, để cho cha mẹ mình cùng cả gia đình khổ buồn thêm? Thương thay tâm mờ tối, tâm mờ tối đáng thương thay.
Mình không biết thương mẹ mình, thương cha mình nên vào chùa mình lại sân si, mình không biết thương anh em mình nên mới vào chùa buông lung phóng dật, mình không biết thương mình, không biết thương đàn na tính thí, nên mình vào chùa mới đầy rẫy sự hơn thua, tham dục. Mình không biết thương những người thân thương đang tựa cửa trông ngóng đợi chờ, cha mẹ, ông bà, cô bác, anh em mình đợi mình từng ngày, đợi mình đem kết quả tu hành trở về mà mình không nghĩ tới.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Mẹ mình đang khóc ở nhà nhớ mình, đang khoe, đang hãnh diện, vinh dự khi con mình đang đi tu. Mình không chịu tu mà lại kiếm chuyện, bày thêm chuyện này kia, chạy theo những tâm buông lung, phóng dật, đi theo thế sự, tạp sự, bỏ quên mất bổn phận, sắc nhiệm của tu sĩ, người xuất gia, của một người tu. Có thấy nhục nhã, tội lỗi, xấu hổ, có lo lắng, sợ hãi không?
Từ đó mình mới khanh khởi một tình thương cho chính mình và tình thương cho hữu tình chúng sanh. Mình nói với cha mẹ, ông bà mình là mình đi tu mà thật sự thì mình có tu hay không? Tự mình tự kiểm điểm lại nội tâm của mình, tra vấn, trách vấn tự tâm của mình mỗi thời ngồi thiền, mỗi khi mình ở một mình “Mình đang làm cái gì đây?” Đó là tâm từ, đó chính là tình thương chính mình.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu và cảm thông những nỗi khổ của nhau, đừng tạo thêm đau khổ.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu và cảm thông những nỗi khổ của nhau, đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, đừng tạp thêm khổ ải cho kiếp người của nhau.
“Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu và cảm thông những nỗi khổ của nhau”, Minh Thành xin, cầu xin đừng tạo thêm oan trái, xin cho chính Minh Thành và xin tất cả chúng sanh đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm khổ ải, đắng cay cho kiếp người của nhau. Dập đầu xuống lạy và nước mắt tuôn rơi đầy mặt, khi mở bài lên nghe trong sự giàn giụa nước mắt, nghe trong sự trào dâng, sự chấn cảm, chấn động cả toàn thân, để gội rửa những cảm xúc vô ơn, bất kính, vô tình, vô nghĩa, trắng trợn, phản phúc, phản trắc, những cảm xúc sân hận, bực bội, cộc cằn, ngã mạn, cho rửa hết, tẩy hết, làm sạch hết, tẩy uế hết tất cả những tâm ngu si, mê muội, hôn ám, chấp thủ, hơn thua, sân hận, cho dòng nước thánh thủy này, đại bi, đại từ này gội rửa, tẩy sạch.
Đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, đừng tạo thêm khổ ải cho kiếp người của nhau.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu khổ của nhau, cùng nhau vượt qua khỏi dòng sanh tử khổ đau.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu khổ của nhau, cùng nhau vượt qua khỏi dòng sống chết khổ đau này. Làm cho cảm giác xót thương, từ tâm này thấm đượm từ đảnh tóc đến gót chân, từng tế bào, từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông của mình, thấm đượm vào tủy não của mình bằng tất cả tấm lòng, tất cả trải tim. Phải hành trì sự trải tâm từ vô lượng này đến tự thân, đến cha mẹ, họ hàng, bà con cô bác, đến hữu tình chúng sanh vô biên và vô lượng. Biết bao là đau khổ trong cõi sanh tử này, đừng bày thêm đau khổ cho mọi loài chúng sanh.
Mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu, những đau khổ trong nhau.
Bài này thật sự là một Thánh trí huệ đại bi tâm. “Mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau”, hai câu này là phát xuất từ bậc thiên thủ thiên nhãn, ngàn tay ngàn mắt. Đối với chúng sanh thì mỗi người một nỗi khổ và mỗi loài mang một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu những đau khổ trong nhau. Biết bao là đau khổ trong cõi sanh tử này, trong dòng sống chết này, đã bao nhiêu là đau khổ, đừng bày thêm khổ nữa cho mọi loài chúng sanh.
“Đừng bày thêm, tạo thêm, đừng gây thêm khổ nữa!” hãy nói với chính mình như vậy khi tham, sân si, vô minh khởi lên.
“Đừng bày thêm khổ, đừng tạo thêm oan trái, đắng cay, khổ ải cho kiếp người của nhau. Đừng bao giờ tham, sân, si lên để làm cái gì? Tạo thêm khổ ải nữa ư? Tạo thêm oan trái nữa ư? Tạo thêm đắng cay nữa ư? Đau khổ như vậy còn chưa đủ nữa hay sao? Thiêu đốt như vậy còn chưa vừa lòng nữa hay sao? Dục vọng như vậy còn chưa thỏa mãn nữa hay sao? Bản ngã như vậy còn chưa vừa ý nữa hay sao mà còn tạo thêm đau khổ nữa?” Hãy nói với tâm mình như vậy, nói với lòng mình như vậy, nói với chính mình như vậy, nói hằng ngày, hằng giờ.
Để cho nước mắt giàn giụa đầy mặt, để cho con tim này trào dâng một niềm xót thương vô hạn, máu rỉ ra, nước mắt tuôn xuống rồi mình làm chết hết các tham ái, chấp thủ, sân si, vô minh, bản ngã đi, diệt tận một cách hoàn toàn để không bao giờ sanh khởi trong tương lai nữa. Để cho ta trào dâng lên một suối nguồn của đại bi, của tình thương, từ tâm vô tận, rộng mở, rộng lớn khắp trời đất, khắp vạn loài này.
Khởi động, khởi phát, khơi nguồn, “Ta khơi dậy trong ta, tình thương và từ tâm. Ta khơi dậy trong ta từ tâm và tình thương.” Ta khơi dậy trong ta lòng xót thương, thương cảm cho chính mình, nỗi khổ cho chính mình, cho người thân của mình, cho những người chung quanh mình, nỗi khổ của hữu tình chúng sanh. Khơi nguồn, khơi phát, khơi gợi mạch nguồn của tình thương này để lan tỏa cùng khắp vạn loài, muôn loài.
Đừng trở thành một kẻ vô cảm, ngu si, sân hận, hãy làm một người đại bi của tình thương dào dạt khắp vũ trụ bao la này, vô tận này, vô lượng, vô biên của cùng khắp hư không giới này là tình thương của ta.
Tâm hiểu này hiền thiện, tâm hiểu này hiền hòa, tâm hiểu mang yên ổn, tâm hiểu mang yên vui. Yên vui là tâm hiểu, rọi khổ của chúng sanh. Nghiệp lành là tâm cảm nỗi khổ của hữu tình. Mong manh là sự sống, an ổn là tâm từ, như hư không rộng lớn, tâm từ này bao la.
Bao la cùng khắp, lan tỏa cùng khắp phía trước mặt, bên phải, bên trái, bề ngang, bề dọc, trên dưới cùng khắp hư không giới, cùng khắp mười phương, như hư không rộng lớn, tâm từ này bao la.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh PAGEREF _Toc77598257 \h 1
II. Chánh Tri Kiến PAGEREF _Toc77598258 \h 3
III. Trình pháp PAGEREF _Toc77598259 \h 7
IV. Hiểu về bài quán tâm từ PAGEREF _Toc77598260 \h 7
I. Vô minh
Thưa đại chúng, chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm và trải tâm từ, từ vô lượng tâm. Trong bài thiền quán Từ vô lượng tâm này rất nhiều hình ảnh cho chúng ta quán chiếu:
Mong tất cả thấu hiểu, vạn vật là vô thường, chúng chỉ là năm uẩn tạo ra mọi vở tuồng
Rất nhiều vở tuồng vợ chồng, vở tuồng anh em, vở tuồng cha con, mẹ con, bi kịch, thảm kịch buồn, vở tuồng máu và nước mắt. Những vở tuồng thù hằn, thù hận hai mươi, ba mươi năm, hay những vở tuồng đến năm trăm đời, năm trăm kiếp sống trong thù hận, những vở tuồng chỉ nhắc đeo khẩu trang là bị nã đạn vào đầu, chết ngay tại chỗ. Những vở tuồng chỉ nhìn nhau bằng ánh mắt khinh thường, nhìn đểu là xảy ra án mạng, những vở tuồng nói qua nói lại đã thương lẫn nhau làm tù tội, mất mạng.
Vở tuồng của những cô gái bị bán năm bảy chủ, những vở tuồng như mẹ giết con, chồng phân xác vợ, vợ chồng đầu độc nhau, bà cháu giết nhau để lấy tiền bảo hiểm. Vở tuồng con thuê giang hồ giết cha, xuất khẩu lao động không trở về, hay bị chết trong những chiếc xe đông lạnh, xe chở hàng hóa. Vở tuồng mà thương nhớ nhau suốt bốn năm mươi năm, mẹ mất con, vợ xa chồng, những vở tuồng điên loạn, điên khùng, điên cuồng vì dục vọng, vì tài sản, vì tình ái.
Những vở tuồng nhảy lầu, nhảy cầu, treo cổ, uống thuốc tự vẫn. Vở tuồng huynh đệ, anh em giết hại nhau vì mấy tấc đất. Những vở tuồng giành giật khách để rồi đâm nhau chết. Những vở tuồng mà vì năm ngàn gửi xe rồi cãi qua cãi lại rồi xảy ra án mạng.
Vô vàn, vô số, vô lượng, vô biên không thể tính kể hết tất cả những vở tuồng của ngũ uẩn dựng nên trong nước mắt, trong sự đau khổ, sự chém giết, trong những ngọn lửa ngùn ngụt bốc cháy trong sân hận. Tất cả những gì mình thấy trước mắt là những vở tuồng của ngũ uẩn, của tham dục, của sân hận, của ngu si, của vô minh. Đầy rẫy những vở tuồng, sắc, thọ, tưởng, hành, thức dựng lên mọi vai tuồng. Mình đã đóng vô số vai trên cuộc đời này rồi, mình từng đóng vai là ông nội, cha, con, cháu, vai vợ, chồng, vai tuồng ngoại tình với vợ người để bị đánh đổ máu, bị đâm chém, giết hại. Những vở tuồng lăn loan, phá gia đình người khác để rồi bị bứt tóc, cạo đầu, lột quần áo, tạt axit. Những vở tuồng vong ân bội nghĩa, mưu mô, xảo quyệt…
Tất cả những vai đó mình đã đóng hết. Những vở tuồng lọc lừa, gian trá, xảo biện, gian manh, đố kị, ganh tị, sát hại, mưu sĩ, mưu mô, mưu toan, mưu tính, mưu độc, mưu ái. Mình đều đã đóng tất cả những vai tuồng đó, trong trăm ngàn vạn kiếp vừa qua, chỉ cần ý niệm suy nghĩ thôi thì đã có thể tạo ra vô số những ác nghiệp, đó là những vai tuồng mà mình cần phải ngồi lại để quán chiếu lại để xem.
Chúng ta ngồi thiền thì chúng ta có thể nhìn hết lại quá khứ của mình, từ lúc nhỏ đến khi lớn lên, những chuyện gì đã xảy ra thì mình xem đó là những vai, vở tuồng mình đã đóng. Quý vị có thấy những vai tuồng mà mình đã đóng không? Như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói láo, lừa đảo, mánh khóe, gian trá, xảo quyệt, ích kỷ, lợi dụng, trước mặt thế này sau lưng thế khác… Đó chính là những vai tuồng của mình, đều là sắc, thọ, tưởng, hành, thức dựng lên những vai tuồng đó.
Nếu mình không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy được sự tập khởi, vận hành, an trú và chấm dứt của nó thì mình vẫn tiếp tục đóng những vai tuồng của nó. Nhưng vai tuồng ác hay thiện nhiều? Đóng những vai ác, ngu, tội lỗi. Hàng ngày mình không chánh niệm tỉnh giác, không quán sát thì vẫn đang đóng tuồng, đạo diễn là vô minh, khát ái. Tuồng sân si, tham dục, bản ngã, hơn thua, đó là những tuồng mình đang đóng hàng ngày.
Trong một ý niệm, một tưởng của mình là đang đóng tuồng nên sư cô Nguyên Luận trình pháp thì Minh Thành rất hoan hỷ, đã tu tập bốn, năm tháng trong thất là rất tốt. Trong bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch – Tăng Chi Bộ Kinh – Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: "Như vậy tôi tưởng". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.”
(Bài kinh Một pháp môn quyết trạch – VI. Đại phẩm- III. Phẩm trên tất cả - Chương Sáu pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)
Những hình bóng trong tâm của mình là kết quả của thói quen. Những hình bóng thường chập chờn, thường ám ảnh mình, sanh ra là nó có chỗ an trú, tồn tại, chỗ đứng trong tâm mình, là vì mình hợp tác, mình nuôi nó hoài.
Nên khi mình gặp chuyện xảy ra khác với mình suy nghĩ “Tôi tưởng nó là vậy nhưng nó lại không phải vậy!” Chính cái mình tưởng đó chính là thói quen, tưởng theo thói quen đó mà mình không thấy được sự thật, hiện thực của các pháp. Còn mình suy nghĩ theo thói quen, theo tập tánh, tập khí, tập hiện thực của các pháp, mà mình lại suy nghĩ, tưởng tượng theo thói quen, tập tánh, tập khí, tập nghiệp, thói quen.
Tưởng đó đóng tuồng trong tâm mình, đó là việc để cho mình nhận diện được ngũ uẩn. Thực ra sự nhận diện này vi tế và cực kì thâm sâu, càng nhận diện càng để ý nhiều, càng soi rọi nhiều thì mình càng thấy nó đóng tuồng vô số vai, tuồng, vở kịch, từ sáng, trưa, chiều, tối đến cả ban đêm ngủ cũng đóng tuồng. Những tuồng sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau.
Một khi mình không thấy được đúng sự thật thì mình nghĩ khổ là vì người khác, là vì bà kia, cô kia, cậu kia, chú kia, anh kia làm cho mình khổ. Đó là chưa thấy đúng mà là sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau.
Mà mình thấy bên ngoài không đúng căn nguyên gốc rễ, nguyên nhân của khổ đau thì không bao giờ giải quyết được đau khổ. Một khi mình đã nhìn sai về sự thật của khổ, nguyên nhân khổ thì mình không giải quyết được tận gốc rễ.
II. Chánh Tri Kiến
Chính vì vậy người đời không tu nên lúc nhỏ khổ theo nhỏ, lớn khổ theo lớn và trưởng thành khổ theo trưởng thành. Khi trung niên lại khổ theo trung niên, lão niên khổ theo lão niên, đến lúc già, chết cũng khổ theo lúc già, chết. Đó là vì không thấy được cái gì là khổ thật sự, cái gì là nguyên nhân của khổ thật sự và con đường diệt khổ, nên khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau, đây là Chánh Tri Kiến, Thánh Tri Kiến. Sự thấy biết đúng đắn của bậc Thánh, sự thấy biết chính xác nhất mà các bậc Chánh Đẳng Giác đã chứng ngộ.
Một người đã thấy biết được như vậy thì chắc chắn phải tiến tới, không thể nào lùi bước được. Nếu một người thật sự thấy sắc, thọ, tưởng hành thức là khổ thì người này không thể nào cứ ôm nắm chúng tiếp được. Nếu một người thật sự thấy sắc, thọ, tưởng hành thức là khổ mà xác quyết, tuyệt đối trong tâm, không còn nghi ngờ, không còn dao động, tịnh tín bất động thì không quay trở về mà nương dựa trong ngũ uẩn, làm sao người đó có thể bám chấp trong ngũ uẩn. Và nếu như có bám chấp đi nữa thì cũng là dư tàn, sự xót lại của vô minh tham ái và nghiệp quá khứ nên giờ họ phải giải quyết hàng tồn kho đó mà không lấy cái mới nữa, đó là đối với những người thật sự đã thành tựu Chánh Tri Kiến và ngũ uẩn.
Nên thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau, là Thánh tri kiến - sự thấy biết của bậc Thánh. Vậy nên, có khi thấy suy nghĩ, cảm giác này là khổ, tưởng là khổ, thân là khổ nhưng nhiều lúc là mình không thấy được vậy. Một ngày mình như vậy được bao nhiêu tiếng? Chỉ trừ lúc nghe pháp, tinh tấn, chuyên chú tâm vào thì có thể còn ngoài lúc đó ra là cực kì khó khăn.
Lúc bình thường mình không trú pháp thì chỉ cần mình buông lung một chút thôi là không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, chỉ là cái tôi, ngã uẩn, đại uẩn. Nên làm sao để trú vào cái thấy này thường xuyên và liên tục thì đó là sự tu. Thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nguồn của khổ đau. Thường xuyên thấy là sự thấy của Chánh Kiến, thấy vậy mới hết khổ, thấy cái gì cũng khổ thì cái thấy đó mới đưa đến hết khổ. Còn cái nào thấy là vui thì chính cái đó là khổ.
Cái nào cũng thấy là khổ thì sự thấy đó đi đến chấm dứt khổ, còn bất cứ một cái nào mình thấy đó là vui thì chính cái đó làm cho mình khổ đau. Chỉ có một việc chấm dứt được khổ, chấm dứt được tham, sân, si, vô minh bản ngã thì đó mới là vui, đó là Niết-bàn, là tối thượng, đối với cái nhìn cứu cánh của Đức Phật dạy thì chỉ duy nhất là Niết-bàn, là sự dậm tắt vô minh và khát ái, sự nhàm chán, ly tham, sự từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ, sự diệt tận dục, tham, vô minh, khát ái đối với năm thủ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nên lúc đại chúng quây quần với nhau làm bài tập, đó là lúc nhìn thấy đúng, không phải là lúc trên thiền đường, nên muốn biết được tâm người tu thì chính là lúc bình thường, còn lúc lên thiền đường ngồi trang nghiêm thì khó thấy. Khi đó thấy được sự thật, chân tướng hiển lộ, các pháp lúc đó hiện rõ và mình thấy được mình, thấy được ngũ uẩn hay không, có sức tự chủ chánh niệm tỉnh giác hay không thì chính là lúc đó.
Vậy nên vai tuồng ngũ uẩn này rất ghê gớm, nên mỗi câu mỗi chữ trong đây là chiêm nghiệm, quán chiếu chứ không thể đọc đơn thuần. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức này cứ làm sanh tử không dừng, dựng các vở tuồng tái sanh.
Nếu một người chưa bao giờ nghe Chánh Pháp về ngũ uẩn, Thánh trí và ly tham nhàm chán với ngũ uẩn thì người đó có khả năng làm cho ngũ uẩn này chấm dứt không? Có khả năng nhàm chán muốn thoát ra khỏi ngũ uẩn này không? Sự kiện đó sẽ không thể xảy ra, Trái Đất này có hình thành và tan hoại có hàng triệu lần thì sự kiện đó không thể xảy ra.
Đó cũng là lý do tại sao sự cao quý của bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, là giáo pháp tối thượng được tuyên thuyết, sự cao quý của các bậc Hiền Thánh Tăng bốn đôi tám chúng, họ là các bậc biết, hiểu ngũ uẩn, thấy được tính chất đau khổ, nguyên nhân dẫn tới đời sống đầy rẫy nước mắt và máu. Thấy rõ được các vở tuồng bi thương, sầu não của ngũ uẩn và các vị này chỉ ra cho mình đạo lộ, phương pháp, lối thoát thì nó quý đến cỡ nào, không có gì cao quý trên thế gian này có thể đền đáp được ân đức đó.
Nên người thật sự thấy pháp dù cho thân mạng này có chết đi nữa thì không bao giờ có sự bất kính đối với bậc đạo sư, người còn bất kính đối với bậc đạo sư thì người này chưa thấy pháp. Đạo sư là Đức Phật, Thánh chúng, tối thiểu là người hướng dự lưu chỉ ra cho mình đạo lộ Thánh trí ngũ uẩn và phương pháp nhiếp phục vô minh, tham ái trong ngũ uẩn, thoát ra khỏi ngũ uẩn, đó chính là Thánh đạo.
Một khi người đó đã xác quyết trong tâm, chấp nhận sự thật đó thì người đó tôn quý bậc đạo sư của mình, có thể mình chết chứ không bất kính đối với bậc đạo sư. Không thể có một người thành tựu chánh kiến mà đi tìm đối tượng tôn kính khác ngoài bậc đạo sư đó, tức là ngoài Đức Phật và các bậc thành tựu bốn đôi tám chúng đó. Còn có người đã thành tựu chánh kiến mà tìm đối tượng tôn kính khác mà ngoài Đức Phật và bốn đôi tám chúng thì sự kiện đó không xảy ra. Vì chỉ có Đức Phật và bốn đôi tám chúng chỉ ra ngũ uẩn, mới chỉ ra cho mình được phương pháp để nhìn thấy ngũ uẩn và chính vì mình thấy, mình biết nên tự mình nhàm chán. Chúng ta tu tập trong dòng pháp này thì chúng ta có thấy không? Có thấy sợ không? Có thấy kinh hãi, khiếp đảm đối với dục ái, tham, sân, si vô minh và bản ngã không? Đó chính là đạo lộ, Thánh đạo, Thánh trí, Thánh pháp, là con đường đưa đến Thánh quả.
Nên đó là tại sao các bậc đã thành tựu Chánh Kiến rồi có sự tôn kính tuyệt đối với bậc đạo sư. Vì người chỉ cho mình như vậy thì không thể trên Trái Đất này tìm được dù mình có sống trăm đời, ngàn kiếp vô lượng, vô biên, vô thỉ kiếp, khó có thể gặp được những bậc như vậy xuất hiện ở thế gian này, đó là bậc tối tôn, tối thượng, tối thắng, hiếm có, hy hữu xuất hiện trên thế gian này. Là những vị chỉ cho mình thấy được ngũ uẩn, chỉ cho mình thấy sự thật cấu thành thân tâm này, thế giới này, sự vận hành bên trong con người, nội tâm, chỉ cho mình thấy những thứ đó đang ngày đêm hoạt động, chỉ cho con mắt tâm của mình chứng kiến, không phải chỉ nghe nói.
Lúc trước chúng ta học là vô thường, khổ, vô ngã…mình nghe người khác nói rồi nói lại đến giờ khi đã nhận diện được ngũ uẩn thì chính mình thấy, chính mình biết. Quý vị có thấy dục, thấy sân, vô minh, bản ngã không?
“Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
(Bài Kinh Tất cả lậu hoặc – Trung Bộ Kinh)
Thấy là thấy ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biết là biết về ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay tham dục, sân hận, si mê, bản ngã.
III. Trình pháp
Mời cô Nga trình pháp.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Từ buổi sáng hôm nay đến giờ con tu tập trong tràn ngập hạnh phúc. Từ khi quý thầy và quý sư cô và chúng con tu pháp bảo, con thấy mình thật phước báu. Từng ngày một con được nghe pháp thầy dạy, con nhìn lại thân tâm con, con nhận ra được sắc uẩn để con tẩy rửa. Khi vào lúc ngồi thiền, mỗi sáng con thiền về tâm từ, khi con thực hành ba pháp trong tâm con là một không gian rộng mở thì con cảm thấy đã hạnh phúc lắm rồi. Con cảm nhận được tình thương bao la, rộng lớn của Đức Phật đã chỉ dạy cho con những giáo pháp ly tham.
Khi sư phụ vào, có những lời giúp cho chúng con tác ý, nguồn cảm xúc trong con lại trào dâng lên, con biết ơn Đức Phật, biết ơn Tam Bảo, con biết ơn sư phụ rất nhiều.
Sau đó được sư phụ giảng dạy cho chúng con tường tận về các vở tuồng, trong con cũng hiện lên, con thấy thật đau xót cho con. Chính con từ sáu mươi mấy năm vừa qua, ngũ uẩn của con đã diễn bao nhiêu vở tuồng mà con nào biết. Cũng có lúc sao con khổ vậy, nhưng con hiểu ra là do con không tìm được lối thoát, thật hạnh phúc cho con. Khi sư phụ giảng về sự nhận biết là “Đã thấy được những cái xấu xa, thấy được bản ngã trong mình và sự tôn kính đối với Đức Phật, đối với những bậc Chánh Tri Kiến đã chỉ dạy cho chúng con?” Thật sự là con hạnh phúc, con xin cảm ơn sư phụ.
IV. Hiểu về bài quán tâm từ
Sư phụ giảng giải:
Thương hữu tình chẳng rõ, năm thứ vô thường này, cột với dây tham ái, tạo ra nhiều xác thân.
Bài này chúng ta đã học hôm trước nhưng hôm nay chúng ta tìm hiểu kĩ tới lui những phần mình chưa khai triển, đây là những hình ảnh để chúng ta quán chiếu: bị cháy, bị đốt bởi lòng tham, bị thêu trong lửa hận, bị dìm trong lửa si, thương hữu tình bị trói, bị cột bởi lòng tham, bị giam vì lòng hận, bị mù vì lòng si.
Chúng sanh bị đốt, bị cháy, bị thêu, bị dìm, bị trói, bị cột, bị giam, bị mù mà không biết gì. Cái đau đớn nhất trong tất cả những đau khổ là không biết mình khổ, cái tai họa lớn nhất trong tất cả những tai họa là không biết mình tai họa, cái vô minh nhất trong tất cả các vô minh là không biết mình vô minh, đây mới là cái đau đớn nhất, cái khổ nhất trong tất cả cái khổ là không biết mình khổ, đó mới là đại khổ.
Chúng sanh bị đốt cháy vì lửa dục, lửa tham, ngày đêm hừng hực, phừng phực, bốc lên, cháy lên, nhiều loại trộm cắp, cướp giật, đâm chém, giết hại, ngay cả trong chùa chiền, thần thánh cũng không tha vì lửa tham đốt cháy, thêu, lửa si dìm bên trong đó. Chúng sanh bị trói cột, giam hãm, mở mãi không ra. Chỉ là miếng ăn, căn nhà, chỗ ở, tờ giấy mỏng, những thân xác, máu mủ, xương da giam hãm, ràng buộc, trói cột, thêu đốt… Chúng ta lấy chúng làm đề tài thiền quán.
Mỗi khi sân sanh khởi thì mình quán “tự mình đang đốt mình”, nhưng đó là lúc sân lên mới quán, có thể không kịp nên bình thường hãy quán trước khi sân, trong khi sân, sau khi sân quán. Quán xa, quán gần, quán trước, quán sau, quán trên quán dưới, quán ngoài, quán dọc tứ phía, tám bề, dùng Bát Chánh Đạo diệt được. Nó rất khủng khiếp, mình không thể nói “Bỏ qua, đừng giận!” là nó hết, nó vẫn tồn bên trong cảm thọ, rồi đến một lúc nó bùng nổ lên, bùng cháy lên thì lúc đó đã muộn.
Chúng ta phải giải phóng, giải phá trong từng cảm thọ, tưởng, suy nghĩ nhỏ nhỏ đó, là nhổ tận gốc rễ, chặt nó không cho nó mọc trở lại được nữa, không cho tái sanh. Còn nếu mình thấy “Chuyện này nhỏ nhỏ, bỏ qua đi, không sao!” thì nó sẽ cứ nằm đó, tích tụ, chất chứa ở đó qua ngày qua tháng thì tới một lúc sẽ bùng ra. Đó gọi là nghiệp quả dị thục, tức là quả của nghiệp đã biến đổi chính mùi ra.
Vậy nên mới giải quyết từng cái nhỏ nhỏ, đó là tại sao các quý thầy nhắc nhở mình từng chút, vì nếu không có cái chút đó thì không có cái nhiều và nếu không có cái nhiều thì làm sao đến được cái lớn, cái đại sự?
Chúng ta thấy từng chén cơm của mình, từng hạt gạo, mình nghĩ “hạt gạo nhỏ quá không cần” thì mình có được chén cơm không? Tô mì của mình là từ từng sợi mì, mình nói “sợi mì nhỏ quá không lấy, chỉ thích lấy nguyên miếng thôi” vậy thì từ đâu làm sao có nguyên miếng ngoài sợi mì. Cũng như làm sao có chén cơm ngoài các hạt gạo. Nhưng do mình không muốn, “Tại sao cứ những cái nhỏ nhặt, chút chút cứ bị nhắc hoài?” mà chỉ muốn thành Thánh quả, chỉ muốn “Chỉ cho tôi cái nào mà tôi thành Thánh quả”. Đó chính là cái vô minh, ngu si, tham dục của mình.
Chính từ những cái nhỏ đó mới trở thành đức hạnh. Hay chỉ muốn “Giờ tôi muốn uống nguyên ly nước chứ không muốn uống từng giọt”, vậy không có từng giọt thì làm sao có được ly nước? Đó chính là cái ngu mê của chúng ta, chúng ta không học, xem thường các hạnh nhỏ, bỏ qua, cẩu thả những hạnh đức, nết nhỏ, đức nhỏ, tánh nhỏ… gọi là tế hạnh, là những hành động nhỏ nhiễm, oai nghi tế hạnh. Những cử chỉ, hành động đó có chánh niệm tỉnh giác trong đó hay không, có tu tập, trong đó hay không thì ta nhìn sẽ thấy.
Vì bản ngã, tham ái của mình không chịu sửa, mà trái lại mình lại trách hờn người bằng tình thương, bằng từ tâm muốn giúp đỡ, tác thành mình sân hận trở lại với người đó. Chúng ta thấy như vậy là thông minh? Đó là vô minh mà cứ tưởng là mình thông minh. Rồi người ta sẽ không dạy dỗ mình nữa, bỏ mặt, không nói tới nữa. Chỉ dạy không nghe mà còn sân hận, bản ngã. Nên mình thiếu tâm hiền, thiếu tâm từ, thiếu cả diệt ngã là mình không học đạo được.
Tại sao chúng ta học tâm từ này cả một tuần lễ? Ngày nào thầy cũng mở bài tâm từ, thiền quán, đó chính là những nhỏ nhiễm cần học nếu không mình sẽ bị đốt, bị cháy, bị thêu, bị dìm, bị cột, bị giam, bị mù.
Thương hữu tình lệ thuộc, bị các nghiệp buộc ràng. Mang các thân tạm bợ, vừa trả nợ vừa vay.
Các câu này mình cần nhớ, mỗi khi tham sân, hơn thua, bực bội, cộc cằn, cau có, gay gắt, ta đây hiện lên thì mình phải quán “Đó chính là vừa trả nợ vừa vay thêm!”
Mình phải tự hỏi “Nợ đã trả xong chưa mà sân lên để muốn vay thêm, tham lên là muốn vay thêm phải không? Hơn thua là muốn vay thêm phải không? Thị phi là muốn vay thêm phải không?”
Câu vừa trả nợ vừa vay này là công án, là đề mục quán chiếu, đề tài tu tập. Mỗi khi mình muốn tranh đấu, hơn thua, phải quấy với ai thì đọc câu này lên “Muốn vay phải không? Vậy nợ cũ đã trả xong chưa? Hãy an tịnh, lắng dịu đi. Trú xả, buông xuống, bỏ xuống đi!”
Với thiện pháp, với tâm bình an, tâm từ thì mình nói, còn nếu đây là bất thiện pháp, là hơn thua, nhân ngã, phải quấy thì xả đi, như “xe chở quá tải rồi, tội xe quá xe ơi!” Trong suy nghĩ của mình cũng vậy, mình suy nghĩ đúng sai, suy nghĩ phải quấy thì mình nói “Thôi, xả đi, quá tải rồi, chồng chất lên thêm tội xe quá xe ơi, tội tâm quá tâm ơi. Tâm giờ sao nặng quá. Tâm chất chứa quá nhiều rồi. Thương tâm giờ nặng quá. Thôi buông xả đi tâm.” Phải quán như vậy nên trong tâm từ có Tứ vô lượng tâm bên trong, có bi, hỷ, xả và trong mỗi tâm có đủ bốn tâm trong đó hết, có cả Chánh Kiến, Bát Thánh Đạo, Tứ Thánh Đế trong đó, Tứ Niệm Xứ trong đó, là trong mỗi bài thiền quán chúng ta đang học đây, trong quyển Cửa vào bất tử, đều có Thánh đạo trong đó, mình cố gắng học, cố gắng thực tập.
Thương hữu tình chìm nổi trong sanh tử đắng cay, trong những thân vô thường, trong các đường tái sanh.
“Thương hữu tình chìm nổi trong sanh tử đắng cay” thật là đắng cay, thật cay đắng trong vòng sanh tử oan nghiệt này, vòng sống chết, ác độc, tàn nhẫn, vòng luân hồi nghiệt ngã. Cảm thấy kinh sợ, khiếp sợ, ghê sợ, run sợ, hoảng sợ, sợ hãi vòng sống chết, hơn thua, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh này, thấy những ngọn lửa bên trong hừng hực, phừng phực bốc cháy. Dù là hình thức của người đời hay thậm chí người tu hành cũng là những ngọn lửa phừng phực, hừng hực tham, sân, si, không phải chỉ cạo đầu rồi đắp y lên là xong.
Nếu không có sự thực hành Chánh Đạo, Chánh Pháp, không có sự tu tập chân chánh, nghiêm túc đúng pháp thì bên trong là những ngọn lửa phừng lên, bốc cháy suốt ngày đêm. Danh lợi, tham lam, nói đến đây cảm thấy ngao ngán, nhàm chán, rã rời, tê tái, nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, thoát ra. Nên tuyệt vời cho chúng ta ở núi ở rừng, khả ái thay núi rừng, nơi người phàm không ưa thích nhưng bậc ly tham ưa thích, vị không tìm dục lạc, đẹp là đời sống ít muốn biết đủ, đẹp làm đời sống nhàm chán ly tham, từ bỏ chấm dứt, rất cao thượng, thánh thiện là đời sống viễn ly, xả ly, xuất ly của bậc Đa văn Thánh đệ tử.
Tuyệt vời, thanh cao, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện, chúng ta hãy hướng đến đời sống đó, hãy sống, hãy chứng nhập, hãy làm viên mãn đời sống phạm hạnh đó. Tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất trên thế giới này là đời sống viễn ly, ít muốn, biết đủ, thiểu dục, tri túc, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, xả ly, xuất ly, thoát ly, giải thoát, cao thượng, thánh thiện, vi diệu là phạm hạnh cứu cánh này.
Tác ý như vậy để chúng ta ngày đêm siêng năng, nỗ lực tu tập các thiện pháp.
Thương thay trò sanh tử, thương thay nẻo tái sanh, thương thay cảnh nhân quả, chúng sanh đáng thương thay.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Rất thấm thía, thấm nhuần thân tâm của mình. Hãy suy ngẫm, nghiền ngẫm, thưởng thức những cảm thọ vi diệu, ngọt ngào, thấm thía này, hãy thưởng thức một các trọn vẹn, sâu sắc bằng tất cả trái tim, tấm lòng, toàn thân của mình. “Thương thay trò sống chết này”, buổi chiều còn nói còn cười, lúc chiều đã nằm trong áo quan, hôm qua còn khỏe mạnh, hôm nay đã là một người nhiễm dịch bệnh, hôm trước còn là ông này bà kia, hôm nay đã nằm dưới lòng đất lạnh. Thành quả của cuộc đời là một tấm bia đá.
Thương thay trò sống chết, thương thay nẻo tái sanh, vì không phải chết rồi là xong, là còn đi vào đường nào, vào thế giới nào, khổ thú, … sư 58:13, khổ cảnh. Chết là đi về đâu? Hoảng loạn, tham ái, hơn thua, sân hận hay ta đây, vênh váo, cống cao, ngã mạn như vậy thì chết rồi đi về đâu? Đầy rẫy những ác nghiệp như vậy thì chết rồi đi về đâu? Tràn ngập những bất thiện pháp, những xú uế, cấu uế của một tâm thức thì như vậy, chết sẽ đi về đâu?
Đường trước lờ mờ chẳng biết về đâu, thương thay tâm mờ tối, ngu si, mê muội, hôn ám, bao trùm, bao phủ là một bóng đêm mà không tìm ngọn đèn, thương thay tâm mờ tối, thương thay tâm vô minh, thương thay nội tâm si ám, mê muội, thật đáng thương thay cho chúng ta, cho chúng sanh, cho hữu tình, cho muôn loài, vạn loại. Chẳng rõ khổ của nhau, không thấy được sự thật của khổ đau, không thấy được sự thật mình đang đau khổ và những người chung quanh mình đang khổ đau, còn bày thêm đau khổ, sân si, kiếm chuyện, gây sự thêm nữa.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Thật thương thay, tội nghiệp cho mình, cho hữu tình, cho chúng sanh.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Hai chị em cùng tu tập với nhau nhưng người này lại sân hận với người kia là tại sao? Thương thay tâm của mình mờ tối, chẳng biết mình đang khổ, chị em của mình đang khổ mà mình còn bày thêm đau khổ, để thêm khổ buồn cho nhau. Thật tội nghiệp, đáng thương cho mình, “Quay về, giận để làm gì, sân để làm cái gì? Tội nghiệp cho nhà mi quá đi!” Không biết rằng sư huynh của mình đang khổ, mình cũng khổ, rồi mình bày thêm khổ, để thêm khổ buồn cho huynh đệ với nhau để làm gì? Hay không biết thầy mình đang khổ, mình cũng đang khổ, mình kiếm chuyện ra để làm gì? Để thầy trò thêm khổ buồn cho nhau. Hay không biết cha mẹ mình đang khổ, không biết mình đang khổ, mình kiếm chuyện thêm cho đau khổ, để cho cha mẹ mình cùng cả gia đình khổ buồn thêm? Thương thay tâm mờ tối, tâm mờ tối đáng thương thay.
Mình không biết thương mẹ mình, thương cha mình nên vào chùa mình lại sân si, mình không biết thương anh em mình nên mới vào chùa buông lung phóng dật, mình không biết thương mình, không biết thương đàn na tính thí, nên mình vào chùa mới đầy rẫy sự hơn thua, tham dục. Mình không biết thương những người thân thương đang tựa cửa trông ngóng đợi chờ, cha mẹ, ông bà, cô bác, anh em mình đợi mình từng ngày, đợi mình đem kết quả tu hành trở về mà mình không nghĩ tới.
Thương thay tâm mờ tối, chẳng rõ khổ của nhau, còn bày thêm đau khổ, thêm khổ buồn cho nhau.
Mẹ mình đang khóc ở nhà nhớ mình, đang khoe, đang hãnh diện, vinh dự khi con mình đang đi tu. Mình không chịu tu mà lại kiếm chuyện, bày thêm chuyện này kia, chạy theo những tâm buông lung, phóng dật, đi theo thế sự, tạp sự, bỏ quên mất bổn phận, sắc nhiệm của tu sĩ, người xuất gia, của một người tu. Có thấy nhục nhã, tội lỗi, xấu hổ, có lo lắng, sợ hãi không?
Từ đó mình mới khanh khởi một tình thương cho chính mình và tình thương cho hữu tình chúng sanh. Mình nói với cha mẹ, ông bà mình là mình đi tu mà thật sự thì mình có tu hay không? Tự mình tự kiểm điểm lại nội tâm của mình, tra vấn, trách vấn tự tâm của mình mỗi thời ngồi thiền, mỗi khi mình ở một mình “Mình đang làm cái gì đây?” Đó là tâm từ, đó chính là tình thương chính mình.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu và cảm thông những nỗi khổ của nhau, đừng tạo thêm đau khổ.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu và cảm thông những nỗi khổ của nhau, đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, đừng tạp thêm khổ ải cho kiếp người của nhau.
“Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu và cảm thông những nỗi khổ của nhau”, Minh Thành xin, cầu xin đừng tạo thêm oan trái, xin cho chính Minh Thành và xin tất cả chúng sanh đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm khổ ải, đắng cay cho kiếp người của nhau. Dập đầu xuống lạy và nước mắt tuôn rơi đầy mặt, khi mở bài lên nghe trong sự giàn giụa nước mắt, nghe trong sự trào dâng, sự chấn cảm, chấn động cả toàn thân, để gội rửa những cảm xúc vô ơn, bất kính, vô tình, vô nghĩa, trắng trợn, phản phúc, phản trắc, những cảm xúc sân hận, bực bội, cộc cằn, ngã mạn, cho rửa hết, tẩy hết, làm sạch hết, tẩy uế hết tất cả những tâm ngu si, mê muội, hôn ám, chấp thủ, hơn thua, sân hận, cho dòng nước thánh thủy này, đại bi, đại từ này gội rửa, tẩy sạch.
Đừng tạo thêm oan trái, đừng tạo thêm đắng cay, đừng tạo thêm khổ ải cho kiếp người của nhau.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu khổ của nhau, cùng nhau vượt qua khỏi dòng sanh tử khổ đau.
Mong tất cả chúng sanh thấu hiểu khổ của nhau, cùng nhau vượt qua khỏi dòng sống chết khổ đau này. Làm cho cảm giác xót thương, từ tâm này thấm đượm từ đảnh tóc đến gót chân, từng tế bào, từng làn da, thớ thịt, từng lỗ chân lông của mình, thấm đượm vào tủy não của mình bằng tất cả tấm lòng, tất cả trải tim. Phải hành trì sự trải tâm từ vô lượng này đến tự thân, đến cha mẹ, họ hàng, bà con cô bác, đến hữu tình chúng sanh vô biên và vô lượng. Biết bao là đau khổ trong cõi sanh tử này, đừng bày thêm đau khổ cho mọi loài chúng sanh.
Mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu, những đau khổ trong nhau.
Bài này thật sự là một Thánh trí huệ đại bi tâm. “Mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau”, hai câu này là phát xuất từ bậc thiên thủ thiên nhãn, ngàn tay ngàn mắt. Đối với chúng sanh thì mỗi người một nỗi khổ và mỗi loài mang một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu những đau khổ trong nhau. Biết bao là đau khổ trong cõi sanh tử này, trong dòng sống chết này, đã bao nhiêu là đau khổ, đừng bày thêm khổ nữa cho mọi loài chúng sanh.
“Đừng bày thêm, tạo thêm, đừng gây thêm khổ nữa!” hãy nói với chính mình như vậy khi tham, sân si, vô minh khởi lên.
“Đừng bày thêm khổ, đừng tạo thêm oan trái, đắng cay, khổ ải cho kiếp người của nhau. Đừng bao giờ tham, sân, si lên để làm cái gì? Tạo thêm khổ ải nữa ư? Tạo thêm oan trái nữa ư? Tạo thêm đắng cay nữa ư? Đau khổ như vậy còn chưa đủ nữa hay sao? Thiêu đốt như vậy còn chưa vừa lòng nữa hay sao? Dục vọng như vậy còn chưa thỏa mãn nữa hay sao? Bản ngã như vậy còn chưa vừa ý nữa hay sao mà còn tạo thêm đau khổ nữa?” Hãy nói với tâm mình như vậy, nói với lòng mình như vậy, nói với chính mình như vậy, nói hằng ngày, hằng giờ.
Để cho nước mắt giàn giụa đầy mặt, để cho con tim này trào dâng một niềm xót thương vô hạn, máu rỉ ra, nước mắt tuôn xuống rồi mình làm chết hết các tham ái, chấp thủ, sân si, vô minh, bản ngã đi, diệt tận một cách hoàn toàn để không bao giờ sanh khởi trong tương lai nữa. Để cho ta trào dâng lên một suối nguồn của đại bi, của tình thương, từ tâm vô tận, rộng mở, rộng lớn khắp trời đất, khắp vạn loài này.
Khởi động, khởi phát, khơi nguồn, “Ta khơi dậy trong ta, tình thương và từ tâm. Ta khơi dậy trong ta từ tâm và tình thương.” Ta khơi dậy trong ta lòng xót thương, thương cảm cho chính mình, nỗi khổ cho chính mình, cho người thân của mình, cho những người chung quanh mình, nỗi khổ của hữu tình chúng sanh. Khơi nguồn, khơi phát, khơi gợi mạch nguồn của tình thương này để lan tỏa cùng khắp vạn loài, muôn loài.
Đừng trở thành một kẻ vô cảm, ngu si, sân hận, hãy làm một người đại bi của tình thương dào dạt khắp vũ trụ bao la này, vô tận này, vô lượng, vô biên của cùng khắp hư không giới này là tình thương của ta.
Tâm hiểu này hiền thiện, tâm hiểu này hiền hòa, tâm hiểu mang yên ổn, tâm hiểu mang yên vui. Yên vui là tâm hiểu, rọi khổ của chúng sanh. Nghiệp lành là tâm cảm nỗi khổ của hữu tình. Mong manh là sự sống, an ổn là tâm từ, như hư không rộng lớn, tâm từ này bao la.
Bao la cùng khắp, lan tỏa cùng khắp phía trước mặt, bên phải, bên trái, bề ngang, bề dọc, trên dưới cùng khắp hư không giới, cùng khắp mười phương, như hư không rộng lớn, tâm từ này bao la.