Kinh Nikāya Giảng Giải - Nghiệp & Quả Báo 12 - Kinh Thiên Sứ 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 12
Kinh Thiên Sứ 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tự hỏi chính mình PAGEREF _Toc150439234 \h 1
II. Chiêm nghiệm về nghiệp PAGEREF _Toc150439235 \h 5
III. Không phóng dật PAGEREF _Toc150439236 \h 9
IV. Địa ngục PAGEREF _Toc150439237 \h 11
I. Tự hỏi chính mình
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa toàn thể các bậc hiền trí nam nữ Phật tử, chúng ta đang chiêm nghiệm bài kinh Thiên sứ nằm trong Trung Bộ Kinh. Sự sanh ra, sự già nua, bệnh tật, chết chóc là bốn chủ đề vĩ đại của nhân loại, trong kinh nói ngắn gọn nhưng chúng ta tổng hợp những lời Đức Phật nói trong tạng Nikāya. Chúng ta là con Phật, là con của bậc giác ngộ thì chúng ta có biết Đức Phật giác ngộ cái gì không?
Chính là giác ngộ sanh, già, bệnh, chết, chúng ta phải chiêm nghiệm về đời sống của mình, mình không thể có mặt một cách trống rỗng, vô tích sự, mình không thể có mặt trên cuộc đời này một cách trống rỗng, luống uổng, hoang phí, không những vô tích sự mà còn có thể gây ra nhiều ác nghiệp, gây ra nhiều sự đau khổ cho mình và cho người. Minh Thành dừng lại ở bài kinh này rất lâu vì bốn chủ đề này có liên hệ đến sự chứng ngộ của Bồ-tát Tất-đạt-đa.
Sự sanh ra của chúng ta ở đây để làm cái gì? Mỗi ngày chúng ta có đặt câu hỏi không? Chúng ta có mặt trên cuộc đời này để làm cái gì? Chúng ta sống để làm cái gì? Chúng ta sinh kế để làm cái gì? Chúng ta sinh tồn để làm gì? Mình có hỏi những câu hỏi đó không? Mình phải thành tựu trí tuệ về sự sanh, mình phải thành tựu trí tuệ về vị ngọt của sự sinh tồn này, mình phải thành tựu trí tuệ về sự nguy hiểm và tác hại của sự sinh tồn này, mình phải thành tựu trí huệ thoát ly khỏi sinh tồn này.
Mình phải hiểu sanh là cái gì, tại sao mình sanh ra, làm sao để chấm dứt sự sanh, vì vô minh, vì tham ái mà có ra sự có mặt của chúng ta, đây là 7 loại trí tuệ Đức Phật dạy chúng ta trong Thánh trí ngũ uẩn, ở đây Minh Thành chỉ nói những cái gần để dễ chiêm nghiệm. Mỗi ngày chúng ta phải tự hỏi mình sanh ra để làm gì, mình sống để làm gì, ngày nào mình cũng phải hỏi ít nhất 10 lần.
Ngày nào cũng hỏi "sống để tìm miếng ăn ngon, để tìm quần áo đẹp, sống để đi tìm dục, những cái thỏa mãn, ham muốn hay còn gì cao thượng hơn? Mục đích của cuộc sống này là gì? Có đi tìm cầu sự tăng thượng trong đời sống này không, mình có hướng đến sự cao thượng trong đời sống này không? Mình có một đời sống hướng thượng hay không?". Mình tác ý tự vấn bản thân thì tự động sự sống, sự hiện hữu của mình sẽ có ý nghĩa lên, có lợi ích, có giá trị, có an lạc, mang lại tầm vóc lớn lao.
Còn mình không biết sanh là gì, mình không biết nhân duyên sanh diệt của nó, mình không biết mục đích, ý nghĩa, giá trị, công năng thì sự có mặt này chỉ thêm khổ đau, thêm nghiệp chướng. Cũng như khi ngồi đây thì chúng ta phải biết lý do tại sao chúng ta có mặt ở đây, chúng ta phải biết lý do tại sao chúng ta có mặt trong pháp hội này, tâm thái chúng ta ra sao và sự tiếp đón chánh pháp, hành trì của chúng ta trong giờ phút này thì lúc đó sự có mặt này tràn đầy ý nghĩa, tràn đầy lợi ích, tràn đầy giá trị, tràn đầy công năng, tác dụng chứ không phải sự có mặt chỉ là cho có mặt, sự có mặt đó chỉ là máy móc, hình thức, không có lợi ích được bao nhiêu.
Chúng ta tu học cũng vậy, đừng chỉ ghi danh vào làm lễ quy y là xong hay chỉ đừng vào cạo tóc đắp y là xong đời tu. Vì pháp có khả năng hướng thượng nên mỗi một ngày, mỗi một giờ mình phải lớn mạnh trong pháp, mình phải trưởng thành trong trí tuệ, giống như mình đi lên tầng lầu, mỗi một bước là mình đi lên một cấp mới, nếu không mình sanh ra rất nhiều đời sống, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp nhưng có khi mình lại đi lùi, không tiến hóa, không hướng thượng, dù cho có sanh ra vô lượng vô biên kiếp nhưng cứ đi lòng vòng, luẩn quẩn, lún chìm sâu xuống đầm lầy của dục vọng, của những biển lửa của sân hận, cứ quờ quạng trong bóng đêm của vô minh, bị đè nặng trên vai rất lớn bởi những khối đá của bản ngã. Mình đi mãi mà mình không tới nơi được vì mình không có tâm hướng thượng, mình không có tâm tăng thượng, mình không tác ý tăng thượng, cũng vì thế nên Đức Phật mới nói tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Niệm là nhớ, chúng ta phải nhớ sự có mặt của mình ở nơi này để làm gì, sự xuất hiện, sự hiện hữu của một con người ngũ uẩn này để làm gì trong đời sống này hay là sự có mặt, sự hiện hữu của một hình tướng đầu tròn áo vuông này để làm gì. Mỗi ngày mỗi giờ đều phải niệm như vậy, chúng ta không thể sanh ra chỉ để ăn, mặc, ngủ, nghỉ, đại tiểu tiện, không phải chúng ta sanh ra chỉ để đi tìm cơm áo gạo tiền mà chúng ta sanh ra còn với mục đích hướng thượng.
Mỗi một đời sống chúng ta là nhiều bậc thang được bước lên, đó là bậc thang của giới đức, bậc thang của thiền định, của trí tuệ, của Thánh giải thoát, chúng ta đặt chuyên đề, chủ đề, đề mục, công án là mình sanh ra để làm gì, sáng ngủ dậy là hỏi, trưa dậy là hỏi, chiều cũng hỏi, tối cũng hỏi như vậy, khi đang tức giận ai cũng tự hỏi "mình sanh ra đây để giận hay sao?", nếu đang tham muốn thì tự hỏi "mình sanh ra để tham hay sao?", mình đang hơn thua thì tự hỏi "mình sanh ra đây để hơn thua hay sao? Mục đích đời sống của mi là sanh ra để hơn thua, để tham, sân, si hay sao?", mình đang buông lung phóng dật thì quay lại hỏi "nhà ngươi đang làm cái gì vậy?". Có như vậy mới làm cho đời sống của mình nâng cấp lên, tăng thượng lên, phát triển lên, cao thượng hơn.
Từ từ mình sẽ không để tâm vào những chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh, thấp hèn của thế tục, mình không còn muốn hơn thua với ai hết, mình chỉ có một con đường hướng thượng để đi tới, không còn con đường nào khác, nếu không mình sẽ sống sai chết mộng, sống trong sự say mê, say sưa, sai lầm, chết trong mộng ảo, mộng mơ, điên đảo mộng tưởng, hết đời này đến kiếp khác sống sai chết mộng, mình sống mà cũng không biết mình sống, sống với tâm cô hồn vất vơ vất vưởng, sống với tâm buông lung phóng dật, không nhận diện được thân tâm, các pháp diễn ra như thế nào đều không biết, mình bị năm triền cái che đậy, hố thẳm vực sâu kế bên cũng không thấy không biết, người ta đứng ở sau chỉa súng bắn mình cũng không biết, cứ cười hề hề vỗ tay, mình không biết viên đạn, nòng súng, tầm ngắm và mục tiêu đều đang hướng về mình.
Viên đạn đó là gì? Nòng súng đó là gì? Sát thủ đó là ai? Đao phủ đó là ai? Chính là già nua, bệnh tật, là chết chóc. Bất cứ lúc nào tai nạn cũng có thể xảy ra, bệnh tật cũng có thể xảy ra, ngày nào đọc tin tức cũng có tin đụng xe chết, té xe chết, hằng ngày trên tin tức có biết bao nhiêu người bị ung thư, có biết bao người chết, bao nhiêu đứa trẻ bị phá thai, chết trong bụng mẹ hoặc sanh ra rồi bị bỏ rơi, hằng ngày có biết bao người bị ung thư gan, ung thư phổi, ung thư thận…
Tất cả đều nằm trong tầm ngắm của tử thần, tất cả đều biến hoại, đều tan nát, đều đi đến chỗ hoại diệt, sụp đổ, tiêu tan. Chúng ta không nhớ, chúng ta không niệm cho nên chúng ta mới lo gom góp, tích lũy, giành giật, hơn thua, đấu đá, thủ đoạn, mưu mô, xảo quyệt, vì mình không nhớ thân này, không nhớ đời sống này là nằm trong tầm ngắm của tử thần, ác quỷ vô thường đang ở sau lưng mình, đang ở bên phải mình, nó đang ở bên trái, phía trên, phía dưới.
Những người bị tai nạn giao thông không hề biết 5 phút sau, 10 phút sau họ sẽ chết cho nên mình phải lấy chủ đề già nua, bệnh tật, chết chóc nhắc nhở mình liên tục rằng mình đã già rồi, mắt mờ rồi, tai đã điếc rồi, lưng còng gối mỏi rồi, mình không còn là trẻ con nữa, mình không còn là con nít nữa, không còn là thanh niên nữa cho nên xã hội bây giờ làm cho người ta sống ảo. Mua bắp rang mà đem theo cả thùng, cả xô đi đựng, đề xướng những cái không đúng để phát huy tham, sân, si rồi làm cho con người điên loạn, quay cuồng, si cuồng. Chúng ta càng ngày càng bị những cái giả tạo, huyễn hoặc làm cho mình quên mất sự thật hết sức nguy hiểm, hết sức tai họa đang nằm trong cơ thể chúng ta.
Chúng ta không nhớ mình già, có những Phật tử 70 tuổi rồi mà vẫn không thấy mình già, nghe khen trẻ là thích thú, muốn chụp hình. Nhìn những cảnh đó con rất xót xa, tất tội nghiệp, rất thương, tuy rằng con không nói gì cả. Mê cái gì mà mê quá vậy? Si ám cái gì mà si ám quá vậy, vô minh quá vậy? Biết bao lâu mới được lên chùa, biết bao lâu mới được lên núi, biết bao lâu mới gặp được những bậc tu hành vậy mà không cầu pháp, không hỏi pháp, không lo tu tập, bây giờ chụp cho nhiều hình thì mai này thờ cũng chỉ có một tấm.
Cứ sống với những cái điên đảo, sống với những cái dục, quên mất mình già, quên mất mình bệnh, quên mất mình cận kề với cái chết, với khổ đau. Cái quên này đáng trách, đáng quở, chính cái quên này sẽ giết mình chết, đến khi nằm trên gường bệnh là nước mắt chảy ròng, là kinh hãi, hoảng loạn, cứ sống trong buông lung phóng dật không biết mình già, không biết mình bệnh, không biết mình chết, không biết tai họa đang rình rập kế bên mình, cứ lo ăn lo chơi, lo si mê điên đảo, đến khi xảy ra chuyện thì kêu trời kêu đất, kêu thầy, kêu cô.
Nếu giảng pháp mà nói nhẹ nhàng thì ngủ hết vì tâm vô minh, si mê rất nặng nề, phải cho chúng ta nhức nhối, đau đớn, phải cho chúng ta trăn trở, ưu tư không ngủ được với những lời kinh pháp thì chúng ta mới thức tỉnh, chúng ta mới biết mình đang bị vây hãm, mình đang gặp tai họa. Những hình phạt trong địa ngục rất khủng khiếp mà chúng ta không hề hay biết, có khi đọc được lời Phật dạy cũng không tin là thật.
II. Chiêm nghiệm về nghiệp
Ngoài sanh, già, bệnh, chết còn có nghiệp quả, đây là 5 chủ đề mà mình phải nhắc nhở bản thân liên tục, nhắc từ sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm tỉnh dậy cũng phải nhắc mình sẽ chết, phải nhắc cái sanh, già, bệnh, chết, nhắc nghiệp quả để mình lo tu, để mình biết sợ, để mình có sự hướng thượng, tăng thượng, để mình có sự cầu tiến, nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực.
Thân chỉ là tứ đại
Được nghiệp cũ kết thành
Rồi tạo ra nghiệp mới,
Đến thời thì hoại vong.
Nghiệp thì không tan hoại
Thân thì lại hoại vong
Nên thân cũ vừa hoại
Nghiệp lại tạo thân mới.
Thân này chỉ là tứ đại thôi, được kết thành từ nghiệp cũ, đến khi tạo ra thân thì lại làm ra những nghiệp mới, đến 1 lúc nào đó thân thì hoại vong nhưng nghiệp lại không tan hoại. Thân thì rã rời, mục nát nhưng nghiệp lại không tan cho nên thân cũ vừa mất đi là nghiệp đi tìm thân mới, đây mới là chỗ chúng ta phải lo lắng.
Thân mới này tùy nghiệp
Hiện ra các tướng hình
Đẹp xinh, hay xấu xí
Người, quỷ hay súc sanh.
Thân mới này tùy vào nghiệp mà biểu hiện ra các hình tướng, có khi là con chuột cống, có khi là con muỗi, có khi là con rết, con rập, con giòi, có khi là con chó ghẻ, cá sấu, cá mập… đây chỉ mới là loài bàng sanh. Đức Phật nói tất cả các loài thú vật rất đa dạng, đa hình, nhiều hình dáng, nhiều kích cỡ, nhiều màu sắc nhưng tâm thức còn đa dạng hơn cả các loài súc sanh. Tất cả những loài súc sanh, bàng sanh, thú vật đó là từ tâm thức đa dạng của chúng sanh biểu hiện ra.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Tâm ác độc thì sanh ra loài rắn, tâm ác cộng với tâm xảo trá, quanh co và nghiệp ác thì sanh ra con rắn độc, không bao giờ đi thẳng được vì tâm quanh co nên phải cong quẹo. Tâm bẩn thỉu, nhỏ hẹp, nhỏ bé thì sanh ra làm con giòi. Đức Thế Tôn nói các loài súc sanh, bàng sanh, thú vật nhiều hình, nhiều dạng, nhiều kích cỡ, nhiều màu sắc nhưng tất cả những thứ đó đều do tâm thức của chúng sanh tạo ra.
Chúng ta có khiếp sợ cái tâm này không? Thật kinh sợ cái tâm này nhưng chúng ta lại không nhìn tâm nhiều, cứ nhìn ra bên ngoài, chúng ta không hề hiểu gì về tâm, không thấy biết gì về tâm, không nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những cái ác bất thiện pháp, đến khi thân này rã ra rồi kiếp sau lại không được thân người nữa thì sao?
Thân hình đẹp hay xấu
Là do nghiệp kết thành
Sanh trong cảnh giàu, nghèo
Là do nghiệp kết gieo.
Làm người may hay rủi
Là do nghiệp vẽ bày
Thừa tự nghiệp của mình
Là cuộc đời chúng sanh.
Các chúng sanh chính là
Là chủ nhân của nghiệp,
Là thừa tự của nghiệp,
Là nơi sanh ra nghiệp,
Là liên quan với nghiệp,
Là chỗ dựa của nghiệp,
Là chỗ hiển lộ nghiệp.
Chúng ta thấy nhiều câu như vậy để nhấn mạnh nhiều khía cạnh, góc độ của nghiệp. Tất cả chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là người thừa kế nghiệp, là chỗ dựa của mình, là liên quan đến nghiệp, là chỗ hiển lộ của nghiệp vậy mà chúng ta lại không quan trọng cái nghiệp. Ngoài cái sanh, già, bệnh, chết ra thì cái thứ 5 phải quán chiếu về nghiệp.
Nghiệp là những lời nói, ý nghĩ và hành động của chúng ta. Chúng ta phải cẩn trọng, cẩn thận, phải tỉnh táo, tỉnh giác, tỉnh thức trong những ý nghĩ, những lời nói phát ra, những hành động cư xử của mình với mọi người. Chúng ta thường quán sát, theo dõi, soi rọi, kiểm tra, kiểm điểm, cảnh giác, canh chừng, đề phòng, bảo vệ thân – miệng – ý của mình, đó là một công án vĩ đại của người tu. Chúng ta đã học nhận diện ngũ uẩn thì phải để ý trong từng ý niệm, trong từng cái thọ; tưởng; hành của mình. Nếu mình không để ý thì sao?
"Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ ba, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ tư: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ tư hiện ra không?' Người ấy đáp: Thưa Ngài, không thấy. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, các vua chúa sau khi bắt được tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy... họ lấy gươm chặt đầu?'. Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Thật sự những ai làm các ác nghiệp, họ phải chịu những hình phạt sai khác, ngay trong hiện tại như vậy, huống nữa là về đời sau! Ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với nó: 'Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu, ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Thật sự những ai làm ác nghiệp đều phải chịu những hình phạt như vậy, trong năm cái thiên sứ đều quy kết do buông lung phóng dật. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về buông lung phóng dật vì nó là chúa tể của các ác và bất thiện pháp. Một khi có tâm buông lung phóng dật, thả lỏng các căn là không tu được thiện pháp nào cả, tất cả thiện pháp dù cho có cũng đưa đến đổ vỡ. Đó là một cái tâm không cẩn thận, không cẩn trọng thâu nhiếp, bảo hộ, gìn giữ, quán sát, nó cũng là một trong những pháp đóng cửa Dự Lưu Thánh quả.
III. Không phóng dật
Đức Phật nói như một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui mè, kèo cột đều hướng về nóc nhọn, tất cả đều lấy nóc nhọn làm chỗ tối cao, làm chỗ quy hướng về đó, cũng vậy với những ác bất thiện pháp đều lấy buông lung phóng dật làm chỗ quy hướng, tất cả 10 ác nghiệp, thân 3 miệng 4 ý 3 đều do buông lung phóng dật, xem thường.
"- Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vật ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật..." (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI). Không Phóng Dật)
Chúng ta xem thường từ những cái nhỏ cho đến những cái vừa rồi tới những cái lớn cho nên buông lung phóng dật là vua của tất cả ác và bất thiện pháp, là chúa tể của tất cả tội ác. Không phải giết người là tội nặng nhất mà do người này sống buông thả cái tâm của họ, họ buông thả cơn sân hận đó, buông thả bản ngã không kiềm chế lại cho nên mới dẫn ra những chuyện kinh hoàng, khủng khiếp.
Tu cái pháp không phóng dật là vua của tất cả thiện pháp công đức, một người có tâm cẩn thận, cẩn trọng thì người này từ từ thành tựu các thiện pháp, công đức, còn một người không cẩn thận, tâm cẩu thả, buông lung, tâm thả lỏng, xem thường thì những thiện pháp chưa sanh sẽ không sanh khởi, còn những thiện pháp đã sanh sẽ đi đến giảm thiểu và hoại diệt, cho nên tu không phóng dật là cực kì quan trọng.
"Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ðây là một pháp, này Bà-la-môn, được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai" (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI). Không Phóng Dật)
Diêm Vương nói một đứa trẻ sanh ra ở chỗ dơ bẩn như vậy để lo sợ, để lo làm các thiện pháp thì lại bảo do buông lung phóng dật nên không làm, Diêm Vương lại hỏi có thấy già, bệnh, chết không thì bảo cũng thấy nhưng vẫn không làm các thiện pháp là do buông lung phóng dật, Diêm Vương lại hỏi có thấy những người khổ không, tại sao không siêng năng làm điều thiện thì người này trả lời do buông lung, thả lỏng các căn nên không làm cho nên tu pháp không buông lung là rất quan trọng, đó là chủ đề lớn của người tại gia và xuất gia.
Chúng ta không được buông lung phóng dật, không được xem thường, không được làm cho qua loa, có khi mình hại người ta mà mình không biết, biết bao cây cầu bị sập gây chết người, người thầy thuốc mà ẩu tả, có trường hợp người bệnh ở não phải mà bác sĩ lại mở hộp sọ bên trái, sau đó phải đứng lên xin lỗi. Mở hộp sọ ra đâu phải chuyện đơn giản, chỉ nghe nói thôi đã rùng mình vậy mà mở nhầm bên, không chỉ riêng ngành y mà trong tất cả ngành nghề chỉ cần lẫn lộn đều có thể gây chết người.
Đối với sự tu hành càng thâm sâu, vi tế, nhỏ nhiệm, cùng cực trong thọ; tưởng; hành, làm sao có thể qua loa được, làm sao có thể xem thường được, nếu cứ thả lỏng, buông lung phóng dật thì làm sao tu, làm sao thành tựu được Thánh pháp, nếu là những thiện pháp nhân thiên thì có thể thành tựu nhưng Thánh pháp thì không được vì Thánh pháp là đi đến chỗ đoạn tận tất cả các lậu hoặc là rất khủng khiếp, phải nhìn ra hết để đi đến lậu tận vì lậu tận là chấm dứt hết tất cả các lậu hoặc.
IV. Địa ngục
"Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (Pancavidhabandhanam), họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực, Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị đóng cọc vào năm chỗ như vậy, kêu tha thảm thiết, đau đớn mà vẫn không chết được, cứ sống hoài để chịu cảm thọ đó, khi nào nghiệp của người này hết thì mới chết được.
"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Khi nãy là bị đóng năm cọc, còn giờ là bị lấy búa chặt. Bị chặt ra từng khúc máu văng tung tóe, đau đớn, kêu gào thảm thiết, phải lãnh thọ những cảm giác thống khổ, khốc liệt, kinh hoàng mà vẫn không chết, chỉ khi nào ác nghiệp tiêu trừ thì người này mới có thể chết.
Chết mới hết được nghiệp ở địa ngục, nếu ở địa ngục nặng thì chuyển lên địa ngục nhẹ hơn, cứ luân phiên ở các địa ngục cho đến chừng nào hết hoàn toàn rồi sanh lên làm ngạ quỷ chứ không phải xuống địa ngục một lần rồi được lên làm người, làm ngạ quỷ, súc sanh rồi lên từ từ chứ không phải xuống làm súc sanh rồi chết là được làm người, phải qua nhiều lớp rồi tiến hóa từ từ mới lên làm người.
Khi mới lên làm người là một người ngu ngơ, khùng điên chứ không phải mới lên làm người mà được thông minh, có trí tuệ nghe được Phật pháp cho nên trong nhân gian thấy người khù khờ, ngáo ngơ thì thường hỏi "ở dưới mới lên hả", còn người thông minh, sáng sủa thì được hỏi "ở trên mới xuống hả", đây là hỏi chơi nhưng có thật, ở dưới lên sẽ biểu hiện cái mặt xám xịt, đen đúa, khờ khạo, bệnh tật, xấu xí, dị dạng chứ không phải từ địa ngục mới lên mà được gương mặt thông minh, sáng sủa, được đắp y hậu thọ trì được Thánh pháp Nikāya.
"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ.. chưa tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Khi nãy là để nằm chặt từng khúc, còn giờ là trồng chuối ngược, chổng đầu xuống đưa chân lên để chặt, kêu la thảm thiết mà vẫn không chết, chặt ra hết rồi dính liền lại thế là chặt tiếp như vậy hết năm này qua năm kia, hết trăm năm này qua trăm năm khác, hết ngàn năm này qua ngàn năm khác cũng không chết.
"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị kéo lê, kéo qua kéo lại trong khi dưới đất cháy đỏ rực chứ không phải mặt đất bình thường thì còn đỡ, đó là mặt đất của hỏa ngục, mặt đất đó làm bằng đồng nung cháy đỏ cho nên cứ buông lung phóng dật rồi xuống dưới địa ngục tham, sân, si với những ngục tốt, xuống dưới này rồi phân bua đúng sai với đầu trâu mặt ngựa.
"Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị đẩy xuống rồi kéo lên trong một cái núi lửa, phải chịu cảm giác kinh hoàng, thống khổ như vậy mà không thể chết.
"Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị quăng vào vạc dầu sôi lửa bỏng, cứ chìm xuống nổi lên trong vạc dầu sôi ấy, nếu cứ trộm cắp, nói láo, tà dâm, nói đâm thọc, mắng chửi, ly gián người ta rồi chịu những cảnh như vầy. Đầy rẫy sự hách dịch, hung hăng, ngạo mạn, dối trá rồi cuối cùng phải đi vào trong vạc dầu sôi lửa bỏng cháy đỏ như vậy. Cái vạc dầu này lớn khủng khiếp chứ không phải như cái chảo nấu ăn của mình, thật là kinh khủng, kinh hoàng khi phải chịu đựng những cảm giác của ác nghiệp.
"Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỳ-kheo, Ðại địa ngục ấy có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, chảy đỏ rực, đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỳ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Đại địa ngục rộng 180 cây số, từ bên này lửa tạt qua đến tường phía bên kia thì ngọn lửa đó kinh hãi như thế nào, nó khủng khiếp còn hơn cả núi lửa ở thế gian vậy mà cũng không chết được, cho đến khi nào ác nghiệp chấm dứt mới có thể chết được.
"Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Chen chúc với nhau để chạy thoát ra khỏi đó đến nỗi da trong da ngoài đều bị cháy, thịt cũng cháy, gân cũng cháy, đen cả vào trong xương, dù đã cố hết sức ra gần tới nơi nhưng cánh cửa đóng trở lại.
"Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Tây được mở ra... cửa phía Bắc được mở ra... cửa phía Nam được mở ra. Người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dầu cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi các ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông được mở ra, người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ... sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Người ấy đi ra khỏi cửa Ðịa ngục ấy" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Khi cánh cửa phía tây hay phía đông mở ra cũng chen chúc nhau chạy ra để trốn thoát nhưng cũng bị cháy từ da vào trong xương, đau đớn quằn quại la hét mà vẫn không chết. Cho đến một lúc cũng lọt ra khỏi địa ngục ấy để vào Ðại Phấn nị Ðịa ngục.
"Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục là Ðại Phấn nị Ðịa ngục (Guthaniraya). Người ấy rơi vào Ðịa ngục này. Này các Tỳ-kheo, tại Phấn nị Ðịa ngục ấy, các chúng sanh với miệng như mũi kim cắt đứt da ngoài; sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong; sau khi cắt dứt da trong, chúng cắt đứt thịt; sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân; sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương; sau khi cắt đứt xương, chúng cắt đứt xương tủy. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Ở đây cái miệng như mũi kim cắt đứt da đi vào trong tủy, phải chịu những cảm giác đau đớn, khốc liệt mà vẫn không thể chết.
"Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Phấn nị ấy là Ðại địa ngục Nhiệt khôi (Than hừng - Kukkulaniraya). Người ấy rơi vào ở đấy. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Nhiệt khôi là Ðại Châm thọ lâm (Sambalivanam) cao một do tuần, với những gai nhọn dài mười sáu ngón tay, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Họ bắt người ấy leo lên, leo xuống. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Châm thọ lâm là Ðại Kiếm diệp lâm (Rừng lá gươm - Asipattavanta). Người ấy vào trong ấy. Ở đấy, các lá cây, do gió lay động, cắt đứt tay của người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt tay chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt tai mũi. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Kiếm diệp lâm là Ðại Khôi hà (Sông vôi - Kharodakanadi). Người ấy rơi vào trong ấy. Tại đấy, người ấy bị trôi thuận theo dòng nước, người ấy bị trôi ngược lại dòng nước, người ấy trôi thuận theo, ngược lại dòng nước. Tại đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi khát nước'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy ra, và đổ vào miệng người ấy nước đồng nấu sôi, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi ngươi ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo ruột lớn, ruột nhỏ, nước đồng sôi ấy chảy ra ngoài từ phía dưới. Người ấy ở đấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lại quăng người ấy vào Ðại địa ngục.
Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: 'Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, và Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng'" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Ở một thời xa xưa, vua Diêm Vương có suy nghĩ được sanh ra làm người để được gặp Đức Phật, để Đức Phật thuyết pháp cho nghe, để được hầu hạ bên cạnh Đức Phật và thông hiểu được giáo pháp.
"Này các Tỳ-kheo, điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Những gì Như Lai nói không phải Như Lai nghe từ một ai khác, điều mà Như Lai nói chỉ Như Lai biết mà thôi, chỉ Như Lai thấy mà thôi, chỉ Như Lai hiểu mà thôi.
Chúng ta giữ lại những cảm thọ này để quán chiếu, giữ lại những cảm thọ này để cẩn thận đối với những ác nghiệp và tinh tấn trong những thiện pháp.
./.
Nghiệp & Quả Báo 12
Kinh Thiên Sứ 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tự hỏi chính mình PAGEREF _Toc150439234 \h 1
II. Chiêm nghiệm về nghiệp PAGEREF _Toc150439235 \h 5
III. Không phóng dật PAGEREF _Toc150439236 \h 9
IV. Địa ngục PAGEREF _Toc150439237 \h 11
I. Tự hỏi chính mình
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa toàn thể các bậc hiền trí nam nữ Phật tử, chúng ta đang chiêm nghiệm bài kinh Thiên sứ nằm trong Trung Bộ Kinh. Sự sanh ra, sự già nua, bệnh tật, chết chóc là bốn chủ đề vĩ đại của nhân loại, trong kinh nói ngắn gọn nhưng chúng ta tổng hợp những lời Đức Phật nói trong tạng Nikāya. Chúng ta là con Phật, là con của bậc giác ngộ thì chúng ta có biết Đức Phật giác ngộ cái gì không?
Chính là giác ngộ sanh, già, bệnh, chết, chúng ta phải chiêm nghiệm về đời sống của mình, mình không thể có mặt một cách trống rỗng, vô tích sự, mình không thể có mặt trên cuộc đời này một cách trống rỗng, luống uổng, hoang phí, không những vô tích sự mà còn có thể gây ra nhiều ác nghiệp, gây ra nhiều sự đau khổ cho mình và cho người. Minh Thành dừng lại ở bài kinh này rất lâu vì bốn chủ đề này có liên hệ đến sự chứng ngộ của Bồ-tát Tất-đạt-đa.
Sự sanh ra của chúng ta ở đây để làm cái gì? Mỗi ngày chúng ta có đặt câu hỏi không? Chúng ta có mặt trên cuộc đời này để làm cái gì? Chúng ta sống để làm cái gì? Chúng ta sinh kế để làm cái gì? Chúng ta sinh tồn để làm gì? Mình có hỏi những câu hỏi đó không? Mình phải thành tựu trí tuệ về sự sanh, mình phải thành tựu trí tuệ về vị ngọt của sự sinh tồn này, mình phải thành tựu trí tuệ về sự nguy hiểm và tác hại của sự sinh tồn này, mình phải thành tựu trí huệ thoát ly khỏi sinh tồn này.
Mình phải hiểu sanh là cái gì, tại sao mình sanh ra, làm sao để chấm dứt sự sanh, vì vô minh, vì tham ái mà có ra sự có mặt của chúng ta, đây là 7 loại trí tuệ Đức Phật dạy chúng ta trong Thánh trí ngũ uẩn, ở đây Minh Thành chỉ nói những cái gần để dễ chiêm nghiệm. Mỗi ngày chúng ta phải tự hỏi mình sanh ra để làm gì, mình sống để làm gì, ngày nào mình cũng phải hỏi ít nhất 10 lần.
Ngày nào cũng hỏi "sống để tìm miếng ăn ngon, để tìm quần áo đẹp, sống để đi tìm dục, những cái thỏa mãn, ham muốn hay còn gì cao thượng hơn? Mục đích của cuộc sống này là gì? Có đi tìm cầu sự tăng thượng trong đời sống này không, mình có hướng đến sự cao thượng trong đời sống này không? Mình có một đời sống hướng thượng hay không?". Mình tác ý tự vấn bản thân thì tự động sự sống, sự hiện hữu của mình sẽ có ý nghĩa lên, có lợi ích, có giá trị, có an lạc, mang lại tầm vóc lớn lao.
Còn mình không biết sanh là gì, mình không biết nhân duyên sanh diệt của nó, mình không biết mục đích, ý nghĩa, giá trị, công năng thì sự có mặt này chỉ thêm khổ đau, thêm nghiệp chướng. Cũng như khi ngồi đây thì chúng ta phải biết lý do tại sao chúng ta có mặt ở đây, chúng ta phải biết lý do tại sao chúng ta có mặt trong pháp hội này, tâm thái chúng ta ra sao và sự tiếp đón chánh pháp, hành trì của chúng ta trong giờ phút này thì lúc đó sự có mặt này tràn đầy ý nghĩa, tràn đầy lợi ích, tràn đầy giá trị, tràn đầy công năng, tác dụng chứ không phải sự có mặt chỉ là cho có mặt, sự có mặt đó chỉ là máy móc, hình thức, không có lợi ích được bao nhiêu.
Chúng ta tu học cũng vậy, đừng chỉ ghi danh vào làm lễ quy y là xong hay chỉ đừng vào cạo tóc đắp y là xong đời tu. Vì pháp có khả năng hướng thượng nên mỗi một ngày, mỗi một giờ mình phải lớn mạnh trong pháp, mình phải trưởng thành trong trí tuệ, giống như mình đi lên tầng lầu, mỗi một bước là mình đi lên một cấp mới, nếu không mình sanh ra rất nhiều đời sống, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp nhưng có khi mình lại đi lùi, không tiến hóa, không hướng thượng, dù cho có sanh ra vô lượng vô biên kiếp nhưng cứ đi lòng vòng, luẩn quẩn, lún chìm sâu xuống đầm lầy của dục vọng, của những biển lửa của sân hận, cứ quờ quạng trong bóng đêm của vô minh, bị đè nặng trên vai rất lớn bởi những khối đá của bản ngã. Mình đi mãi mà mình không tới nơi được vì mình không có tâm hướng thượng, mình không có tâm tăng thượng, mình không tác ý tăng thượng, cũng vì thế nên Đức Phật mới nói tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Niệm là nhớ, chúng ta phải nhớ sự có mặt của mình ở nơi này để làm gì, sự xuất hiện, sự hiện hữu của một con người ngũ uẩn này để làm gì trong đời sống này hay là sự có mặt, sự hiện hữu của một hình tướng đầu tròn áo vuông này để làm gì. Mỗi ngày mỗi giờ đều phải niệm như vậy, chúng ta không thể sanh ra chỉ để ăn, mặc, ngủ, nghỉ, đại tiểu tiện, không phải chúng ta sanh ra chỉ để đi tìm cơm áo gạo tiền mà chúng ta sanh ra còn với mục đích hướng thượng.
Mỗi một đời sống chúng ta là nhiều bậc thang được bước lên, đó là bậc thang của giới đức, bậc thang của thiền định, của trí tuệ, của Thánh giải thoát, chúng ta đặt chuyên đề, chủ đề, đề mục, công án là mình sanh ra để làm gì, sáng ngủ dậy là hỏi, trưa dậy là hỏi, chiều cũng hỏi, tối cũng hỏi như vậy, khi đang tức giận ai cũng tự hỏi "mình sanh ra đây để giận hay sao?", nếu đang tham muốn thì tự hỏi "mình sanh ra để tham hay sao?", mình đang hơn thua thì tự hỏi "mình sanh ra đây để hơn thua hay sao? Mục đích đời sống của mi là sanh ra để hơn thua, để tham, sân, si hay sao?", mình đang buông lung phóng dật thì quay lại hỏi "nhà ngươi đang làm cái gì vậy?". Có như vậy mới làm cho đời sống của mình nâng cấp lên, tăng thượng lên, phát triển lên, cao thượng hơn.
Từ từ mình sẽ không để tâm vào những chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh, thấp hèn của thế tục, mình không còn muốn hơn thua với ai hết, mình chỉ có một con đường hướng thượng để đi tới, không còn con đường nào khác, nếu không mình sẽ sống sai chết mộng, sống trong sự say mê, say sưa, sai lầm, chết trong mộng ảo, mộng mơ, điên đảo mộng tưởng, hết đời này đến kiếp khác sống sai chết mộng, mình sống mà cũng không biết mình sống, sống với tâm cô hồn vất vơ vất vưởng, sống với tâm buông lung phóng dật, không nhận diện được thân tâm, các pháp diễn ra như thế nào đều không biết, mình bị năm triền cái che đậy, hố thẳm vực sâu kế bên cũng không thấy không biết, người ta đứng ở sau chỉa súng bắn mình cũng không biết, cứ cười hề hề vỗ tay, mình không biết viên đạn, nòng súng, tầm ngắm và mục tiêu đều đang hướng về mình.
Viên đạn đó là gì? Nòng súng đó là gì? Sát thủ đó là ai? Đao phủ đó là ai? Chính là già nua, bệnh tật, là chết chóc. Bất cứ lúc nào tai nạn cũng có thể xảy ra, bệnh tật cũng có thể xảy ra, ngày nào đọc tin tức cũng có tin đụng xe chết, té xe chết, hằng ngày trên tin tức có biết bao nhiêu người bị ung thư, có biết bao người chết, bao nhiêu đứa trẻ bị phá thai, chết trong bụng mẹ hoặc sanh ra rồi bị bỏ rơi, hằng ngày có biết bao người bị ung thư gan, ung thư phổi, ung thư thận…
Tất cả đều nằm trong tầm ngắm của tử thần, tất cả đều biến hoại, đều tan nát, đều đi đến chỗ hoại diệt, sụp đổ, tiêu tan. Chúng ta không nhớ, chúng ta không niệm cho nên chúng ta mới lo gom góp, tích lũy, giành giật, hơn thua, đấu đá, thủ đoạn, mưu mô, xảo quyệt, vì mình không nhớ thân này, không nhớ đời sống này là nằm trong tầm ngắm của tử thần, ác quỷ vô thường đang ở sau lưng mình, đang ở bên phải mình, nó đang ở bên trái, phía trên, phía dưới.
Những người bị tai nạn giao thông không hề biết 5 phút sau, 10 phút sau họ sẽ chết cho nên mình phải lấy chủ đề già nua, bệnh tật, chết chóc nhắc nhở mình liên tục rằng mình đã già rồi, mắt mờ rồi, tai đã điếc rồi, lưng còng gối mỏi rồi, mình không còn là trẻ con nữa, mình không còn là con nít nữa, không còn là thanh niên nữa cho nên xã hội bây giờ làm cho người ta sống ảo. Mua bắp rang mà đem theo cả thùng, cả xô đi đựng, đề xướng những cái không đúng để phát huy tham, sân, si rồi làm cho con người điên loạn, quay cuồng, si cuồng. Chúng ta càng ngày càng bị những cái giả tạo, huyễn hoặc làm cho mình quên mất sự thật hết sức nguy hiểm, hết sức tai họa đang nằm trong cơ thể chúng ta.
Chúng ta không nhớ mình già, có những Phật tử 70 tuổi rồi mà vẫn không thấy mình già, nghe khen trẻ là thích thú, muốn chụp hình. Nhìn những cảnh đó con rất xót xa, tất tội nghiệp, rất thương, tuy rằng con không nói gì cả. Mê cái gì mà mê quá vậy? Si ám cái gì mà si ám quá vậy, vô minh quá vậy? Biết bao lâu mới được lên chùa, biết bao lâu mới được lên núi, biết bao lâu mới gặp được những bậc tu hành vậy mà không cầu pháp, không hỏi pháp, không lo tu tập, bây giờ chụp cho nhiều hình thì mai này thờ cũng chỉ có một tấm.
Cứ sống với những cái điên đảo, sống với những cái dục, quên mất mình già, quên mất mình bệnh, quên mất mình cận kề với cái chết, với khổ đau. Cái quên này đáng trách, đáng quở, chính cái quên này sẽ giết mình chết, đến khi nằm trên gường bệnh là nước mắt chảy ròng, là kinh hãi, hoảng loạn, cứ sống trong buông lung phóng dật không biết mình già, không biết mình bệnh, không biết mình chết, không biết tai họa đang rình rập kế bên mình, cứ lo ăn lo chơi, lo si mê điên đảo, đến khi xảy ra chuyện thì kêu trời kêu đất, kêu thầy, kêu cô.
Nếu giảng pháp mà nói nhẹ nhàng thì ngủ hết vì tâm vô minh, si mê rất nặng nề, phải cho chúng ta nhức nhối, đau đớn, phải cho chúng ta trăn trở, ưu tư không ngủ được với những lời kinh pháp thì chúng ta mới thức tỉnh, chúng ta mới biết mình đang bị vây hãm, mình đang gặp tai họa. Những hình phạt trong địa ngục rất khủng khiếp mà chúng ta không hề hay biết, có khi đọc được lời Phật dạy cũng không tin là thật.
II. Chiêm nghiệm về nghiệp
Ngoài sanh, già, bệnh, chết còn có nghiệp quả, đây là 5 chủ đề mà mình phải nhắc nhở bản thân liên tục, nhắc từ sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm tỉnh dậy cũng phải nhắc mình sẽ chết, phải nhắc cái sanh, già, bệnh, chết, nhắc nghiệp quả để mình lo tu, để mình biết sợ, để mình có sự hướng thượng, tăng thượng, để mình có sự cầu tiến, nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực.
Thân chỉ là tứ đại
Được nghiệp cũ kết thành
Rồi tạo ra nghiệp mới,
Đến thời thì hoại vong.
Nghiệp thì không tan hoại
Thân thì lại hoại vong
Nên thân cũ vừa hoại
Nghiệp lại tạo thân mới.
Thân này chỉ là tứ đại thôi, được kết thành từ nghiệp cũ, đến khi tạo ra thân thì lại làm ra những nghiệp mới, đến 1 lúc nào đó thân thì hoại vong nhưng nghiệp lại không tan hoại. Thân thì rã rời, mục nát nhưng nghiệp lại không tan cho nên thân cũ vừa mất đi là nghiệp đi tìm thân mới, đây mới là chỗ chúng ta phải lo lắng.
Thân mới này tùy nghiệp
Hiện ra các tướng hình
Đẹp xinh, hay xấu xí
Người, quỷ hay súc sanh.
Thân mới này tùy vào nghiệp mà biểu hiện ra các hình tướng, có khi là con chuột cống, có khi là con muỗi, có khi là con rết, con rập, con giòi, có khi là con chó ghẻ, cá sấu, cá mập… đây chỉ mới là loài bàng sanh. Đức Phật nói tất cả các loài thú vật rất đa dạng, đa hình, nhiều hình dáng, nhiều kích cỡ, nhiều màu sắc nhưng tâm thức còn đa dạng hơn cả các loài súc sanh. Tất cả những loài súc sanh, bàng sanh, thú vật đó là từ tâm thức đa dạng của chúng sanh biểu hiện ra.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Tâm ác độc thì sanh ra loài rắn, tâm ác cộng với tâm xảo trá, quanh co và nghiệp ác thì sanh ra con rắn độc, không bao giờ đi thẳng được vì tâm quanh co nên phải cong quẹo. Tâm bẩn thỉu, nhỏ hẹp, nhỏ bé thì sanh ra làm con giòi. Đức Thế Tôn nói các loài súc sanh, bàng sanh, thú vật nhiều hình, nhiều dạng, nhiều kích cỡ, nhiều màu sắc nhưng tất cả những thứ đó đều do tâm thức của chúng sanh tạo ra.
Chúng ta có khiếp sợ cái tâm này không? Thật kinh sợ cái tâm này nhưng chúng ta lại không nhìn tâm nhiều, cứ nhìn ra bên ngoài, chúng ta không hề hiểu gì về tâm, không thấy biết gì về tâm, không nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những cái ác bất thiện pháp, đến khi thân này rã ra rồi kiếp sau lại không được thân người nữa thì sao?
Thân hình đẹp hay xấu
Là do nghiệp kết thành
Sanh trong cảnh giàu, nghèo
Là do nghiệp kết gieo.
Làm người may hay rủi
Là do nghiệp vẽ bày
Thừa tự nghiệp của mình
Là cuộc đời chúng sanh.
Các chúng sanh chính là
Là chủ nhân của nghiệp,
Là thừa tự của nghiệp,
Là nơi sanh ra nghiệp,
Là liên quan với nghiệp,
Là chỗ dựa của nghiệp,
Là chỗ hiển lộ nghiệp.
Chúng ta thấy nhiều câu như vậy để nhấn mạnh nhiều khía cạnh, góc độ của nghiệp. Tất cả chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là người thừa kế nghiệp, là chỗ dựa của mình, là liên quan đến nghiệp, là chỗ hiển lộ của nghiệp vậy mà chúng ta lại không quan trọng cái nghiệp. Ngoài cái sanh, già, bệnh, chết ra thì cái thứ 5 phải quán chiếu về nghiệp.
Nghiệp là những lời nói, ý nghĩ và hành động của chúng ta. Chúng ta phải cẩn trọng, cẩn thận, phải tỉnh táo, tỉnh giác, tỉnh thức trong những ý nghĩ, những lời nói phát ra, những hành động cư xử của mình với mọi người. Chúng ta thường quán sát, theo dõi, soi rọi, kiểm tra, kiểm điểm, cảnh giác, canh chừng, đề phòng, bảo vệ thân – miệng – ý của mình, đó là một công án vĩ đại của người tu. Chúng ta đã học nhận diện ngũ uẩn thì phải để ý trong từng ý niệm, trong từng cái thọ; tưởng; hành của mình. Nếu mình không để ý thì sao?
"Này các Tỳ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ ba, vua Yama mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ tư: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ tư hiện ra không?' Người ấy đáp: Thưa Ngài, không thấy. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người kia: 'Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, các vua chúa sau khi bắt được tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy... họ lấy gươm chặt đầu?'. Người ấy nói: 'Thưa Ngài, có thấy'.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với người ấy: 'Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: 'Thật sự những ai làm các ác nghiệp, họ phải chịu những hình phạt sai khác, ngay trong hiện tại như vậy, huống nữa là về đời sau! Ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý'. Người ấy đáp: 'Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài'. Rồi này các Tỳ-kheo, vua Yama nói với nó: 'Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu, ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy'". (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Thật sự những ai làm ác nghiệp đều phải chịu những hình phạt như vậy, trong năm cái thiên sứ đều quy kết do buông lung phóng dật. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về buông lung phóng dật vì nó là chúa tể của các ác và bất thiện pháp. Một khi có tâm buông lung phóng dật, thả lỏng các căn là không tu được thiện pháp nào cả, tất cả thiện pháp dù cho có cũng đưa đến đổ vỡ. Đó là một cái tâm không cẩn thận, không cẩn trọng thâu nhiếp, bảo hộ, gìn giữ, quán sát, nó cũng là một trong những pháp đóng cửa Dự Lưu Thánh quả.
III. Không phóng dật
Đức Phật nói như một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui mè, kèo cột đều hướng về nóc nhọn, tất cả đều lấy nóc nhọn làm chỗ tối cao, làm chỗ quy hướng về đó, cũng vậy với những ác bất thiện pháp đều lấy buông lung phóng dật làm chỗ quy hướng, tất cả 10 ác nghiệp, thân 3 miệng 4 ý 3 đều do buông lung phóng dật, xem thường.
"- Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vật ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật..." (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI). Không Phóng Dật)
Chúng ta xem thường từ những cái nhỏ cho đến những cái vừa rồi tới những cái lớn cho nên buông lung phóng dật là vua của tất cả ác và bất thiện pháp, là chúa tể của tất cả tội ác. Không phải giết người là tội nặng nhất mà do người này sống buông thả cái tâm của họ, họ buông thả cơn sân hận đó, buông thả bản ngã không kiềm chế lại cho nên mới dẫn ra những chuyện kinh hoàng, khủng khiếp.
Tu cái pháp không phóng dật là vua của tất cả thiện pháp công đức, một người có tâm cẩn thận, cẩn trọng thì người này từ từ thành tựu các thiện pháp, công đức, còn một người không cẩn thận, tâm cẩu thả, buông lung, tâm thả lỏng, xem thường thì những thiện pháp chưa sanh sẽ không sanh khởi, còn những thiện pháp đã sanh sẽ đi đến giảm thiểu và hoại diệt, cho nên tu không phóng dật là cực kì quan trọng.
"Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ðây là một pháp, này Bà-la-môn, được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai" (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI). Không Phóng Dật)
Diêm Vương nói một đứa trẻ sanh ra ở chỗ dơ bẩn như vậy để lo sợ, để lo làm các thiện pháp thì lại bảo do buông lung phóng dật nên không làm, Diêm Vương lại hỏi có thấy già, bệnh, chết không thì bảo cũng thấy nhưng vẫn không làm các thiện pháp là do buông lung phóng dật, Diêm Vương lại hỏi có thấy những người khổ không, tại sao không siêng năng làm điều thiện thì người này trả lời do buông lung, thả lỏng các căn nên không làm cho nên tu pháp không buông lung là rất quan trọng, đó là chủ đề lớn của người tại gia và xuất gia.
Chúng ta không được buông lung phóng dật, không được xem thường, không được làm cho qua loa, có khi mình hại người ta mà mình không biết, biết bao cây cầu bị sập gây chết người, người thầy thuốc mà ẩu tả, có trường hợp người bệnh ở não phải mà bác sĩ lại mở hộp sọ bên trái, sau đó phải đứng lên xin lỗi. Mở hộp sọ ra đâu phải chuyện đơn giản, chỉ nghe nói thôi đã rùng mình vậy mà mở nhầm bên, không chỉ riêng ngành y mà trong tất cả ngành nghề chỉ cần lẫn lộn đều có thể gây chết người.
Đối với sự tu hành càng thâm sâu, vi tế, nhỏ nhiệm, cùng cực trong thọ; tưởng; hành, làm sao có thể qua loa được, làm sao có thể xem thường được, nếu cứ thả lỏng, buông lung phóng dật thì làm sao tu, làm sao thành tựu được Thánh pháp, nếu là những thiện pháp nhân thiên thì có thể thành tựu nhưng Thánh pháp thì không được vì Thánh pháp là đi đến chỗ đoạn tận tất cả các lậu hoặc là rất khủng khiếp, phải nhìn ra hết để đi đến lậu tận vì lậu tận là chấm dứt hết tất cả các lậu hoặc.
IV. Địa ngục
"Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (Pancavidhabandhanam), họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực, Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị đóng cọc vào năm chỗ như vậy, kêu tha thảm thiết, đau đớn mà vẫn không chết được, cứ sống hoài để chịu cảm thọ đó, khi nào nghiệp của người này hết thì mới chết được.
"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Khi nãy là bị đóng năm cọc, còn giờ là bị lấy búa chặt. Bị chặt ra từng khúc máu văng tung tóe, đau đớn, kêu gào thảm thiết, phải lãnh thọ những cảm giác thống khổ, khốc liệt, kinh hoàng mà vẫn không chết, chỉ khi nào ác nghiệp tiêu trừ thì người này mới có thể chết.
Chết mới hết được nghiệp ở địa ngục, nếu ở địa ngục nặng thì chuyển lên địa ngục nhẹ hơn, cứ luân phiên ở các địa ngục cho đến chừng nào hết hoàn toàn rồi sanh lên làm ngạ quỷ chứ không phải xuống địa ngục một lần rồi được lên làm người, làm ngạ quỷ, súc sanh rồi lên từ từ chứ không phải xuống làm súc sanh rồi chết là được làm người, phải qua nhiều lớp rồi tiến hóa từ từ mới lên làm người.
Khi mới lên làm người là một người ngu ngơ, khùng điên chứ không phải mới lên làm người mà được thông minh, có trí tuệ nghe được Phật pháp cho nên trong nhân gian thấy người khù khờ, ngáo ngơ thì thường hỏi "ở dưới mới lên hả", còn người thông minh, sáng sủa thì được hỏi "ở trên mới xuống hả", đây là hỏi chơi nhưng có thật, ở dưới lên sẽ biểu hiện cái mặt xám xịt, đen đúa, khờ khạo, bệnh tật, xấu xí, dị dạng chứ không phải từ địa ngục mới lên mà được gương mặt thông minh, sáng sủa, được đắp y hậu thọ trì được Thánh pháp Nikāya.
"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ.. chưa tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Khi nãy là để nằm chặt từng khúc, còn giờ là trồng chuối ngược, chổng đầu xuống đưa chân lên để chặt, kêu la thảm thiết mà vẫn không chết, chặt ra hết rồi dính liền lại thế là chặt tiếp như vậy hết năm này qua năm kia, hết trăm năm này qua trăm năm khác, hết ngàn năm này qua ngàn năm khác cũng không chết.
"Này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị kéo lê, kéo qua kéo lại trong khi dưới đất cháy đỏ rực chứ không phải mặt đất bình thường thì còn đỡ, đó là mặt đất của hỏa ngục, mặt đất đó làm bằng đồng nung cháy đỏ cho nên cứ buông lung phóng dật rồi xuống dưới địa ngục tham, sân, si với những ngục tốt, xuống dưới này rồi phân bua đúng sai với đầu trâu mặt ngựa.
"Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị đẩy xuống rồi kéo lên trong một cái núi lửa, phải chịu cảm giác kinh hoàng, thống khổ như vậy mà không thể chết.
"Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Bị quăng vào vạc dầu sôi lửa bỏng, cứ chìm xuống nổi lên trong vạc dầu sôi ấy, nếu cứ trộm cắp, nói láo, tà dâm, nói đâm thọc, mắng chửi, ly gián người ta rồi chịu những cảnh như vầy. Đầy rẫy sự hách dịch, hung hăng, ngạo mạn, dối trá rồi cuối cùng phải đi vào trong vạc dầu sôi lửa bỏng cháy đỏ như vậy. Cái vạc dầu này lớn khủng khiếp chứ không phải như cái chảo nấu ăn của mình, thật là kinh khủng, kinh hoàng khi phải chịu đựng những cảm giác của ác nghiệp.
"Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỳ-kheo, Ðại địa ngục ấy có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, chảy đỏ rực, đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỳ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Đại địa ngục rộng 180 cây số, từ bên này lửa tạt qua đến tường phía bên kia thì ngọn lửa đó kinh hãi như thế nào, nó khủng khiếp còn hơn cả núi lửa ở thế gian vậy mà cũng không chết được, cho đến khi nào ác nghiệp chấm dứt mới có thể chết được.
"Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Chen chúc với nhau để chạy thoát ra khỏi đó đến nỗi da trong da ngoài đều bị cháy, thịt cũng cháy, gân cũng cháy, đen cả vào trong xương, dù đã cố hết sức ra gần tới nơi nhưng cánh cửa đóng trở lại.
"Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Tây được mở ra... cửa phía Bắc được mở ra... cửa phía Nam được mở ra. Người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dầu cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi các ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông được mở ra, người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ... sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Người ấy đi ra khỏi cửa Ðịa ngục ấy" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Khi cánh cửa phía tây hay phía đông mở ra cũng chen chúc nhau chạy ra để trốn thoát nhưng cũng bị cháy từ da vào trong xương, đau đớn quằn quại la hét mà vẫn không chết. Cho đến một lúc cũng lọt ra khỏi địa ngục ấy để vào Ðại Phấn nị Ðịa ngục.
"Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục là Ðại Phấn nị Ðịa ngục (Guthaniraya). Người ấy rơi vào Ðịa ngục này. Này các Tỳ-kheo, tại Phấn nị Ðịa ngục ấy, các chúng sanh với miệng như mũi kim cắt đứt da ngoài; sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong; sau khi cắt dứt da trong, chúng cắt đứt thịt; sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân; sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương; sau khi cắt đứt xương, chúng cắt đứt xương tủy. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Ở đây cái miệng như mũi kim cắt đứt da đi vào trong tủy, phải chịu những cảm giác đau đớn, khốc liệt mà vẫn không thể chết.
"Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Phấn nị ấy là Ðại địa ngục Nhiệt khôi (Than hừng - Kukkulaniraya). Người ấy rơi vào ở đấy. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Nhiệt khôi là Ðại Châm thọ lâm (Sambalivanam) cao một do tuần, với những gai nhọn dài mười sáu ngón tay, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Họ bắt người ấy leo lên, leo xuống. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Châm thọ lâm là Ðại Kiếm diệp lâm (Rừng lá gươm - Asipattavanta). Người ấy vào trong ấy. Ở đấy, các lá cây, do gió lay động, cắt đứt tay của người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt tay chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt tai mũi. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Nhưng này các Tỳ-kheo, cận sát Đại Kiếm diệp lâm là Ðại Khôi hà (Sông vôi - Kharodakanadi). Người ấy rơi vào trong ấy. Tại đấy, người ấy bị trôi thuận theo dòng nước, người ấy bị trôi ngược lại dòng nước, người ấy trôi thuận theo, ngược lại dòng nước. Tại đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi khát nước'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy ra, và đổ vào miệng người ấy nước đồng nấu sôi, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi ngươi ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo ruột lớn, ruột nhỏ, nước đồng sôi ấy chảy ra ngoài từ phía dưới. Người ấy ở đấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lại quăng người ấy vào Ðại địa ngục.
Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Yama suy nghĩ như sau: 'Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, và Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng'" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Ở một thời xa xưa, vua Diêm Vương có suy nghĩ được sanh ra làm người để được gặp Đức Phật, để Đức Phật thuyết pháp cho nghe, để được hầu hạ bên cạnh Đức Phật và thông hiểu được giáo pháp.
"Này các Tỳ-kheo, điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi" (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Những gì Như Lai nói không phải Như Lai nghe từ một ai khác, điều mà Như Lai nói chỉ Như Lai biết mà thôi, chỉ Như Lai thấy mà thôi, chỉ Như Lai hiểu mà thôi.
Chúng ta giữ lại những cảm thọ này để quán chiếu, giữ lại những cảm thọ này để cẩn thận đối với những ác nghiệp và tinh tấn trong những thiện pháp.
./.