Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Trang Nghiêm - Tôn Trọng - Cung Kính - Biết Ơn

2026-03-03 00:54:21
PHÁP ĐÀM NIKĀYA

TRANG NGHIÊM - TÔN TRỌNG

CUNG KÍNH - BIẾT ƠN

–Thích Minh Thành–

Thầy Thiện Huệ: Con kính thưa các bậc hiền trí và quý Phật tử, vào giờ phút này chúng ta hãy đem tâm của mình trở về trong giây phút hiện tại, buông bỏ mọi sự lo lắng, suy nghĩ và buồn phiền, những nỗi sợ hãi, tất bật trong cuộc sống đời thường. Chúng ta đem tâm của mình cảm nhận giây phút hiện tại, hãy cảm nhận những luồng gió mát, cảm nhận những tiếng trúc xào xạc, cảm nhận một không gian mát mẻ giữa đại ngàn. Quý Phật tử hít vào thở ra làm cho thân tâm an tịnh, hít vào thở ra làm cho thân tâm lắng dịu, dễ chịu, các cô hãy cảm nhận không gian của Linh Quy Pháp Ấn.

Khi mình biết thực tập đem tâm của mình trở về trong giây phút hiện tại, mình buông bỏ được những sợ hãi, suy nghĩ lo lắng trong cuộc sống đời thường thì mình sẽ có được sự thảnh thơi, tự tại và bình an ngay bây giờ và ở đây. Người Phật tử chúng ta ngoài việc làm ra những sản phẩm, vật chất để phục vụ cho nhu cầu, phục vụ cho đời sống tại gia thì bên cạnh đó chúng ta còn biết tạo ra sản phẩm của sự thảnh thơi, nhẹ nhàng, ung dung tự tại, tạo ra sự bình an, an tịnh, lắng dịu trong mỗi bước chân, trong từng hơi thở, đó là mình biết khôn khéo. Ngoài việc tạo ra vật chất phục vụ cho đời sống thì bên cạnh đó phải biết tạo ra sản phẩm về mặt tinh thần, đó là sự nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu trong nội tâm mình. Nếu không có tam bảo, không có Đức Phật, không có giáo pháp, không có hiền Thánh Tăng thì chúng ta sẽ sống sai chết mộng, khi sống thì chạy theo sự hưởng thụ dục lạc bên ngoài, mình không biết được con đường chấm dứt đau khổ thì mình sẽ ra đi trong bóng đêm, ra đi trong vô minh, không biết đi đâu về đâu, chính vì sự có mặt tam bảo nên chúng ta có chiếc áo tràng để ngồi đây, có giáo pháp để học, có hiền Thánh Tăng để chỉ dạy mình học trong giáo pháp cho nên các cô phải biết ơn đối với chánh pháp, đối với chư Tăng, nhất là sư phụ trụ trì và bậc thiện tri thức đã hướng dẫn, chỉ dạy cho mình thấy được ngũ uẩn là khổ, thấy được nguyên nhân của tham, sân, si, dục, ái, vô minh dẫn đến đau khổ, chỉ cho mình phương pháp, con đường để diệt tận khổ đau.

Con mong các cô hãy phát khởi lòng tin đối với tam bảo, đối với Đức Phật, đối với chánh pháp và đối với chúng Tăng là những vị thầy tu hành chân chánh, những bậc thiện tri thức đã dìu dắt, đã hướng dẫn, chỉ dạy cho mình con đường duy nhất là nhìn lại thân tâm chính mình để đi đến chấm dứt, diệt tận toàn bộ những nguyên nhân gây đau khổ cho mình. Chiều nay được sự hướng dẫn, chỉ dạy của trên sư phụ tạo nhân duyên cho con có buổi pháp đàm, chia sẻ với các cô cho nêy con sẽ chia sẻ, nhắc lại những gì sư phụ rất tâm đắc, đó là sự trang nghiêm, sự tôn trọng, sự cung kính và sự biết ơn. Trong thời gian vừa qua các cô cũng được bậc thiện tri thức, trên sư phụ cũng như quý thầy đã hướng dẫn học hỏi, chia sẻ chánh pháp rất nhiều nên hôm nay chúng ta có buổi chia sẻ sự tu học của mình, những sự tâm đắc trong sự tu học chánh pháp Nikāya. Chúng ta chia sẻ xung quanh chủ đề trang nghiêm, cung kính, tôn trọng và biết ơn, đó là những đề tài mà sư phụ trụ trì ở đây rất tâm đắc, đó là hơi thở, là sự sống của ngài. Tất cả mọi người về Linh Quy Pháp Ấn tu tập đều phải thực hiện sự trang nghiêm, đều phải tôn trọng, cung kính và thực tập hạnh biết ơn, nhớ ơn. Đó là những gì sư phụ rất tâm đắc, con mong các cô trải rộng lòng mình để chia sẻ những gì mình đã học được, đã thực hành được để chúng ta có sự tu học vững vàng hơn để mình có thể đi sâu vào dòng chánh pháp hơn.

Phật tử 1: Mong thầy nhắc lại cho chúng con về nội dung, trang nghiêm là như thế nào là trang nghiêm, tôn trọng, biết ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Xin thầy hãy đưa ra cụ thể ạ.

Phật tử 2: Kính thưa thầy cùng tất cả đại chúng, theo ý hiểu của con thì sự trang nghiêm, cung kính, tôn trọng đối với Phật, pháp, Tăng, tức là tam bảo ạ. Nhóm trưởng của con đã tìm được những bài pháp của sư phụ ở trên mạng và chúng con đã nghe, sau đó xin được kinh của sư phụ về. Chúng con hiểu rằng đây là chánh pháp tối thượng mà Đức Thế Tôn đã truyền lại gần ba ngàn năm nay, nếu không có bậc chân nhân, bậc đạo sư như sư phụ truyền giảng thì những quyển kinh đấy chỉ để trên giá thôi và chúng con cũng không biết đến chánh pháp này, chánh pháp đưa chúng con đến con đường giác ngộ và thực hành nó thì đi đến con đường giải thoát cho nên nhóm chúng con rất cung kính đối với kinh, đối với pháp bảo. Chúng con cùng đọc kinh, cùng kiểm tra bài nhau, cùng nhận diện ngũ uẩn, nghe những lời giảng của sư phụ tập hành trì, chị em cùng nhau tu tập. Chúng con nghĩ rằng đó là rất cung kính đối với Phật, pháp và đối với chúng Tăng, con cũng nghĩ rằng không biết do công đức gì, do hạnh gì, do phước báo gì mà sau một năm chúng con nhận được kinh thầy gửi cho và sư phụ truyền trao cái pháp của Đức Phật thì chị em chúng con mong mỏi được lên đây, bây giờ đã thực hiện được, lên trực tiếp gặp được quý thầy, quý sư cô trên này. Với tất cả sự ân cần của sư phụ, quý thầy, quý sư cô, các cô chú đã nấu cho chúng con ăn thì chúng con rất cảm động và biết ơn ạ. Mô Phật.

Phật tử 3: Con xin chia sẻ một chút về bản thân con. Trước kia con cũng đi tu, tụng kinh, niệm Phật, học được một chút về giáo pháp của Phật để chúng con cải thiện đời sống đỡ khổ đau. Con không đi làm nữa mà con đi tụng kinh niệm Phật, con chấp tác, những như quý thầy nói làm công quả thì cũng được công đức, con cũng nhiệt tâm, chăm chỉ nhưng cả một quá trình thì con thấy tâm không được an, vẫn thấy khổ đau. Khi có công việc gì thì cũng bị bế tắt, không giải quyết được nhưng khi chúng con bước vào dòng pháp này thì thật sự đầu tiên chúng con được Hiền Thanh là nhóm trưởng đã biết một chút trước rồi, chúng con không hiểu gì cả nhưng vẫn cứ học rồi dần dần có một cái duyên gì đó thì chúng con thấy trên Youtube có sư phụ giảng về Tứ Thánh Đế. Chỉ có nhóm chúng con học thôi nhưng con thấy rất vi diệu là chúng con đã thấy được lối thoát, khi con gặp được chánh pháp này thì con thấy có sự cải thiện là cái khổ đến thì con nghĩ rằng đã học Tứ Thánh Đế rồi thì tất cả đều là vô thường, vật chất cũng chỉ ngoài thân nên con thấy có sự cải thiện.

Ngày xưa con rất nóng giận, con đi tụng kinh niệm Phật cả chục năm nhưng vẫn không nhiếp phục được tâm, có chuyện gì là nổi sân, nổi đóa lên, không chịu thua ai và rất chấp trước, không vừa ý là tự ái nổi giận. Bản thân con bước vào dòng pháp này thì chị em đùm bọc nhau, trả bài, học nhóm thì con cũng thấy có sự cải thiện, chúng con tự mò mẫm học xong cái cơ bản thì chúng con lại tìm tòi ra bài của thầy về tứ vô lượng tâm. Lúc bấy giờ tâm nóng giận phải đi sâu vào tứ vô lượng tâm nên con cũng đi sâu vào nó, con thấy rất vi diệu, con thấy bực vì chính người thân lại là người làm mình khổ đau, chính người mình yêu quý nhất lại làm mình khổ đau nhưng nếu là con trước kia thì không biết sẽ xảy ra chuyện gì, thế nhưng khi vào dòng pháp này đi sâu vào tứ vô lượng tâm thì con đã ngộ ra được, biết mở lòng ra để thương họ, con nghĩ rằng ngày xưa mình cũng thế, vì chưa nhận ra ngũ uẩn, chưa nhận ra được tham, sân, si, bản ngã, chưa nhận ra được cái tự cao tự đại của mình, bây giờ họ gặp cái duyên đó nên họ làm cho mình buồn nên hãy tha thứ, thương họ. Lúc trước con tu về pháp môn Tịnh Độ thì con cũng làm nhưng khi bước vào dòng pháp này thì con thấy thay đổi hoàn toàn, thay đổi ngoạn mục về lòng của con.

Đấy là sự tu học của con, còn về sự tôn kính, kính trọng thì thực lòng con không biết lấy gì đền đáp ơn của Đức Thế Tôn, hằng ngày nhóm của con tu từ 1h cho đến 4h, ở nhà con phải chăm cháu nhưng con vẫn cố gắng tu tập, đi sâu vào tứ vô lượng tâm. Con không biết đúng hay không nhưng khi con trải tâm của con thì lúc đó tâm con rỗng lặng, có sự hoan hỉ, nó tràn ngập lên, con muốn có khoảng trống nào đó để hô to lên "sư phụ ơi, đúng là sư phụ đã thay đổi cuộc đời con", cho nên cái ơn này con cũng không bao giờ quên được. Đức Thế Tôn đã phơi này sự thật ra, sự thật này con không thể nào tưởng tượng ra được nó vi diệu đến thế, từ cuộc đời con rất nóng giận thế mà con thay đổi được. Những người nào làm con khổ đau thì con thay đổi là con thương họ nhiều hơn bao giờ hết, đó là sự tu học của con, thay đổi từ pháp môn Tịnh Độ sang pháp môn Nikāya này. Con xin chia sẻ như vậy, xin thầy và đại chúng dạy bảo con thêm, con xin hết.

Thầy Thiện Huệ: Các cô đã về Linh Quy tu học thì các cô cũng thấy thời khóa của đạo tràng rất trang nghiêm, cung kính.

Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính thưa thầy, kính thưa tất cả các bạn đạo tràng Nikāya. Đây là lần thứ hai con được về Linh Quy Pháp Ấn để tu học, trong cảm thọ của con vẫn như lần đầu, con nhận thấy trên Linh Quy Pháp Ấn là cả một sự thanh tịnh, một sự trang nghiêm, chắc chắn không phải riêng một mình bản thân con cảm nhận mà tất cả ai về Linh Quy cũng cảm nhận được như vậy. Con cảm nhận ở nhà và ở đây là hai thế giới khác nhau, đấy là về không gian ở nơi này, đối với bản thân con và trong tâm con là một sự trang nghiêm, thanh tịnh, tôn kính tam bảo, với một lòng biết ơn đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni đã để lại giáo pháp cách đây gần ba ngàn năm, một nhân duyên phước báo cho chúng con, chúng con đã gặp được chánh pháp. Với lòng biết ơn Đức Thế Tôn và lòng biết ơn sư phụ đã dìu dắt chúng con trên bước đường tu, đã giảng dạy cho chúng con biết thế nào là ngũ uẩn, chúng con một lòng cung kính, tôn trọng và biết ơn Đức Phật, biết ơn giáo pháp của ngài, biết ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.

Sư Phụ đã dạy cho chúng con biết ơn Thánh giới, thật sự chúng con cũng gọi là biết tu nhưng cái tu của chúng con không hiểu một cái gì cả. Đi chùa lễ Phật nhưng giáo pháp lại không hiểu cho nên sự tôn trọng, cung kính trước kia không được thấu đáo, vì không hiểu nên chỉ biết lễ Phật thôi chứ không biết sự cung kính, tôn trọng giáo pháp Phật để lại cho tất cả chúng sanh và quay vào nhìn thân tâm, soi rọi thân tâm, tẩy rửa thân tâm cấu uế. Đó là một sự trang nghiêm, cung kính, biết ơn đối với Đức Phật, đối với chánh pháp và đối với chư hiền Thánh Tăng và đối với tất cả các giới. Mình phải biết giữ giới mà Phật đã giảng cho chúng sanh, đối với tại gia chúng con là giữ năm giới: không trộm cắp, không tà dâm, không, không sát sanh, không nói láo, không uống rượu. Nhưng để đi sâu vào năm giới ấy thì chúng con chỉ là người nghe, còn để thực tập thì chúng con dẫn bị dính mắc, nhưng khi học vào dòng chánh pháp Nikāya thì chúng con đã hiểu về năm giới ấy phải như thế nào và sự cung kính, tôn trọng, biết ơn Đức Thế Tôn cũng như biết ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô và tất cả bạn đạo trong này, một sự trang nghiêm thanh tịnh là ngay tâm chúng ta phải có sự trang nghiêm, tâm chúng ta phải có sự thanh tịnh và tâm chúng ta phải có sự biết ơn, cung kính thì đó chính là trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính còn vẻ bên ngoài nhìn vào thấy trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính thì con thấy chỉ là vẻ bề ngoài, quan trọng nhất là trong tâm. Con hiểu là như vậy, con mong thầy chỉ dạy cho con ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Con xin thưa các cô, sư phụ ở đây rất chú trọng về oai nghi, lễ kính cũng như quý thầy ở đây. Phần lớn, đại đa số chúng ta tu học hay bỏ quên những bước căn bản, mình đòi học những cái cao siêu nhưng để quên những bước căn bản rất quan trọng, đó là oai nghi, đạo hạnh, đức hạnh của một người Phật tử khi đến chùa, cần phải có sự trang nghiêm trong đó. Về oai nghi, hành động của mình cần phải để ý, đó là phần niệm thân trong Thân Hành Niệm, con chia sẻ những điều rất căn bản để mọi người đều nhìn thấy. Khi bước vào thiền đường, chánh điện thì phải có sự quan sát trước sau, phải trái, vào hàng lối cũng vậy, phải xem coi đã đứng ngay hàng chưa, cái kệ để trước mặt mình xem đã thẳng chưa, phải xem quyển kinh để lên có ngay ngắn không hay là muốn để sao là để, những điều này rất vi tế, nhỏ nhiệm nhưng cần thực tập.

Thậm chí thường thấy các chùa để trên chánh điện bốn chữ "đại hùng bửu điện" tức là cái điện báo thờ bậc đại anh hùng. Sư Phụ đã nói Đức Thế Tôn là bậc đại anh hùng, mình bước vào điện để thờ một bậc đại anh hùng như vậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc anh hùng muôn thuở thì chúng ta phải có sự trang nghiêm trong đó, từ cách ngồi, cách đi đứng, cách nói chuyện, cách đi vào thiền đường, những nơi chánh điện mà mình cứ nói chuyện, mỗi người nói vài câu thì nhiều người sẽ tạo nên tiếng ồn trên thiền đường, làm mất sự trang nghiêm của đại chúng, của khóa tu. Cái đó rất căn bản nhưng nhiều khi mình lại quên vì có khi mình nghĩ mình đến những ngôi chùa rộng lớn, trang nghiêm nhiều tầng, trang trí lộng lẫy thì mình cung kính, còn khi đến những ngôi chùa hẻo lánh, trang trí đơn giản thì mình lại không để ý. Nhưng con xin thưa các cô, dù cho ngôi chùa đó được xây trang nghiêm, lộng lẫy hay chỉ là ngôi chùa không ai biết đến, đơn sơ nhưng miễn sao trong đó có hình tượng Đức Thế Tôn để tôn kính, đảnh lễ thì những nơi đó đều là đại hùng bửu điện, đều là những nơi thờ bậc đại anh hùng cho nên chúng ta phải trang nghiêm, cung kính.

Vấn đề thứ hai là trong lúc đọc kinh phải thử nhìn lại mình có sự cung kính với pháp không, đó là những dòng lệ máu huyết, xương tủy của Đức Thế Tôn, là tâm huyết của ngài và các bậc Thánh Tăng để lại cho mình đọc. Nếu mình có tâm cung kính thì khi mở từng trang kinh sẽ rất cẩn thận, thận trọng, nếu không sẽ đọc qua loa, đọc cho xong để kết thúc chứ không có tấm lòng tha thiết, chân thành, cung kính, những dòng kinh này đều là tâm huyết, là xương máu của Đức Phật và các bậc Thánh Tăng A-la-hán truyền thừa lại cho mình cho nên mỗi lần đọc kinh phải đọc với tâm cung kính chứ không phải đọc với tâm dã dượi, ngủ gục. Đức Thế Tôn là bậc đại anh hùng, mình chưa là bậc đại anh hùng nhưng ít ra mình phải là tiểu anh hùng, ở trên sư phụ giảng pháp âm vang dội vậy mà ở dưới ngồi ngủ, những cái này cần phải để ý rồi tác ý vượt qua, khơi gợi cảm thọ lên để tỉnh táo, mạnh mẽ, thích thú, khoan khoái khi được học, được nghe, được tu trong chánh pháp và phải biết cung kính, tôn trọng đối với những vị thầy đã hướng dẫn mình tu đúng chánh pháp, nhất là khi vào thiền đường chánh điện thì các cô phải để ý, không được nói chuyện, đứng hai hàng đối diện trang nghiêm cung thủ chờ các thầy lên thì mọi người chắp tay xá xuống. Đó là thể hiện sự trang nghiêm, cung kính.

Sư phụ rất chú trọng, để ý vào oai nghi, cử chỉ, phép tắt. Bên cạnh đó phải biết tôn trọng mọi người, thực tập tâm khiêm hạ, nhu hòa thì những hình ảnh đó rất đẹp, hai huynh đệ, hai bạn đạo có sự tôn kính, khiêm hạ lẫn nhau sẽ rất đẹp, đẹp về cử chỉ, oai nghi, hành động, đẹp trong mọi việc làm của mình. Trong mỗi buổi lễ trai Tăng đều chưng bông, chưng hoa, tuy rằng những hông hoa đó là vật vô tri nhưng nó cũng làm đẹp cho đạo tràng, cho pháp hội, cũng biết làm đẹp cho chánh điện, khi nhìn những cái đó thì mình cũng học được ở nơi hoa, hãy tập làm đẹp cho mình đối với mọi người về thân, về lời nói, về suy nghĩ bên trong cho nên gặp nhau thì thân làm những điều ý, miệng nói lời thiện, ý suy nghĩ thiện và kết hợp với những cử chỉ, oai nghi, hành động bên ngoài nữa sẽ rất đẹp.

Khi con xuống thất sư phụ thì có một cây tre ngã nghiêng qua thất nhưng sư phụ không cho các thầy đốn. Sư phụ mượn hình ảnh cây tre ngã nghiêng đó nhằm ngụ ý ai muốn vào thất đều phải cúi đầu xuống, hạ thấp người xuống mới vào được thất của sư phụ, đây là điều vi tế ở sư phụ mà mình cần phải học, trong sự tu của mình cũng phải như vậy, phải có sự khiêm cung, khiêm hạ để diệt bản ngã của mình. Sư phụ hay nhắc nhở pháp mà Thế Tôn dạy là pháp vô ngã nhưng mình lại đem bản ngã vào để học thì làm sao đạt được pháp, cho nên muốn học được pháp này phải phá ngã, diệt ngã, hạ thấp mình xuống. Vì vậy, trang nghiêm, cung kính và tôn trọng là mình đang học hạnh diệt ngã, còn nhớ ơn thì sư phụ dạy đó là địa vị của bậc chân nhân, một người đúng thật sự là một con người, thật sự là một vị chân nhân, là một người thật sự thì người đó phải biết ơn và nhớ ơn. Mình hãy nhớ ơn những người đã có ơn với mình là ông bà, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, những người gần nhất trong gia đình mình và xa ra là bạn bè, những điều này sư phụ dạy rất nhiều và con mong quý cô phải nhớ để thọ trì. Như vậy phải có trang nghiêm, cung kính, tôn trọng, biết ơn, đây là những điều mà sư phụ rất tâm đắc cho nên phải cố gắng nhớ để thực tập.

Các bậc Thánh Tăng trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai thường có tâm tôn kính tam bảo, các vị đệ tử Thánh Tăng thường ca ngợi Đức Thế Tôn, tán thán công đức Thế Tôn, mình đã nghe quý thầy, quý cô tán thán Đức Thế Tôn và các vị nam nữ cư sĩ cũng ca ngợi, tán thán đức hạnh, trí tuệ của Thế Tôn nhưng các cô đã nghe vua khen Phật chưa? Để liên hệ đến sự trang nghiêm, cung kính, tôn trọng và biết ơn thì con trích dẫn một đoạn ngắn trong bài kinh Kosala để mọi người thấy một vị vua đem cả tấm lòng, trái tim của mình để tôn kính, biết ơn Thế Tôn, đây là một tấm gương cho chúng ta học hỏi.

"Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala, từ một trận chiến trở về, thắng trận, mục đích đã đạt được. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến khu vườn. Xa cho đến đất có thể đi xe được, vua đi xe, rồi xuống xe đi bộ và vào khu vườn.

Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo:

- Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trú ở đâu? Thưa các Tôn giả, chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Tâu Ðại vương, đây là ngôi tịnh xá, có cửa đóng. Ngài hãy đi đến ngôi nhà ấy, đừng có tiếng động, đừng có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ nơi then cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Đại vương.

Rồi vua Pasenadi nước Kosalà, đi đến ngôi tịnh xá cửa đóng ấy, đi đến không có tiếng động, không có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ vào then cửa" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, III. Phẩm Lớn, X. Kosalà)

Có nhiều vị chưa bước vào cổng chùa là ở trong chùa đã nghe tiếng, chính vì vậy các thầy Tỳ-kheo căn dặn nhà vua đừng gây ra tiếng động cũng đừng hấp tấp. Qua đoạn kinh này mình thấy rằng chưa vào cửa thất của Thế Tôn đã có chất thiền trong đó, tức là một sự trang nghiêm, an tịnh, lắng dịu cho nên các cô thấy thực tập bốn chữ "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào" rất tuyệt vời. Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, trầm lặng cho nên trong nghi thức sám hối oan gia trái chủ có câu "Cúi đầu đảnh lễ các ngài, các bậc an tịnh, trầm lặng. Vâng lời dạy của các ngài con xin tập tâm trầm lặng", cho nên muốn yết kiến Thế Tôn thì phải thực tập sự an tịnh, lắng dịu, trầm lặng, đây là pháp hành rất quan trọng trong sự tu. Nhà vua đến thăm Đức Phật cũng phải thực hiện theo tất cả những nghi thức thông thường đó chứ không phải vua đến rồi muốn làm gì là làm, nhà vua cũng phải như tất cả những người khác, phải có sự an tịnh, lắng dịu, trầm lặng trong đó, đây là sức mạnh của chánh pháp. Ví dụ thiền đường của mình hôm nào ngồi thiền khoảng 30 vị, từ quý thầy, quý sư cô cho đến các vị Phật tử đều ngồi thiền trong sự trang nghiêm im lặng, không một tiếng động thì người ngoài đi vào thấy như vậy làm sao dám làm ồn ào, sức mạnh của chánh pháp chính ở chỗ này, bước vào thấy cả một hội chúng ngồi trang nghiêm, thanh tịnh thì có đi họ cũng bước nhẹ nhàng, không dám làm gì có tiếng động.

Đây là pháp hành để mình thực tập, khi đi bất cứ nơi nào, bất cứ chùa nào cũng phải giữ sự trang nghiêm, an tịnh, lắng dịu đó, nếu không khéo thì đại đa số đều đến chùa rồi nghĩ mình là người hộ pháp vào chùa nhiều hoặc là mình nghĩ mình là những tín thí có công lao với chùa nhiều rồi muốn nói gì là nói, muốn làm gì là làm, không giữ ý tứ, không có sự trang nghiêm, cung kính rồi thích người ta chiều theo bản ngã của mình nhưng Thế Tôn không phải như vậy. Cho nên khi đi đến với tâm thái dao động, lăng xăng, bản ngã thì mình sẽ không gặp được Đức Thế Tôn, trong đoạn kinh này có hai điều các cô cần nhớ, muốn gặp được Đức Thế Tôn bậc đại giác ngộ thì thứ nhất phải có sự bình đẳng trong đó chứ không phải là đại gia, giàu có đến thì Thế Tôn tiếp khác, hay là người nghèo đến thì ngài tiếp khác. Vấn đề thứ hai muốn gặp Phật thì đừng gây ra tiếng động, mình học từ ngài sự an tịnh, lắng dịu, đến bất cứ đâu cũng an tịnh, lắng dịu, đừng gây ra tiếng động, đừng làm ồn ào. Chỉ có nhân duyên nhà vua đến gặp Thế Tôn thôi mà mình phải học rất nhiều pháp hành trong đây, khi bước vào thiền đường, đi đến đạo tràng hay đến bất kì ngôi chùa nào phải lắng lặng thân tâm, phải có sự thu nhiếp, phòng hộ sáu căn, ba nghiệp của bản thân.

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc nói, nín, đứng, đi

Tâm không động theo cảnh,

Tâm không chạy theo trần.

(Nghi Thức Tu Học Nikāya)

Tâm ngài không động theo cảnh, ba nghiệp sáu căn của Thế Tôn là thanh tịnh, vắng lặng. Nhìn lại bản thân thấy xấu hổ, đi đâu cũng lăng xăng, vội vàng, tâm dao động không yên được, nói năng huyên thuyên. Mọi người phải để ý sư phụ, chỗ nào đông đảo, ồn ào, không trang nghiêm, nói chuyện nhiều là sư phụ không đến, trong những buổi giảng pháp cũng vậy, trước buổi giảng pháp phải ngồi trang nghiêm, thanh tịnh, thực tập ba pháp đặt niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, mình ngồi đó thở vào thở ra để an tịnh, lắng dịu thân tâm rồi từ từ sư phụ mới bước vào giảng pháp, còn nếu một hội chúng dao động, lăng xăng, nói chuyện nhiều là sư phụ không hài lòng, sư phụ cần sự an tịnh, lắng dịu của đại chúng.

"Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi, nước Kosalà đi vào tịnh xá, đầu cúi rạp xuống trước chân Thế Tôn, miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay xoa bóp, và nói lên tên mình:

- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, III. Phẩm Lớn, X. Kosalà)

Ngay chỗ này mình cũng cần phải học hỏi, có nhiều vị đến phòng các thầy rồi gõ cửa mà làm các thầy trong phòng giật mình. Khi gõ cửa phải gõ nhẹ nhàng, trong việc gõ cửa đó cũng thực tập được sự an tịnh, lắng dịu, tập tâm hiền trong đó, còn gõ cửa mà ai cũng giật mình là tâm chưa hiền. Trong gia đình cũng vậy, phải gõ cửa nhẹ nhàng, từ từ chứ đừng hấp tấp.

Khi gặp Thế Tôn lúc này nhà vua cũng đã 80 tuổi, Đức Thế Tôn của chúng ta cũng 80 tuổi. Một vị là đế vương là vua của thế gian đi đến yết kiến một vị pháp vương, là vua của pháp xuất thế gian. Đức vua dùng đỉnh đầu là nơi cao nhất để lạy xuống chỗ thấp nhất là bàn chân Thế Tôn, sau đó lại lấy tay xoa chân Thế Tôn, hôn lên bàn chân Thế Tôn, nhà vua thể hiện sự cung kính đối với Phật đến như vậy, hình ảnh này giúp mình được học hạnh diệt ngã, hạ thấp bản ngã xuống. Các cô dùng thọ; tưởng; hành của mình để đi theo lời kinh, những hình ảnh này rất thực, giống như mình chứng kiến cảnh tượng vua pháp và vua của thế gian gặp gỡ, tiếp xúc nhau nhưng vẫn có sự cung kính, tôn trọng trong đó.

"- Thưa Ðại vương, do Ðại vương thấy ý nghĩa lợi ích gì mà Ðại vương lại làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ lộ lòng kính mộ đối với cái thân này?" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, III. Phẩm Lớn, X. Kosalà)

Khi đọc bài kinh này con rất xúc động, cảm thọ ở nơi lồng ngực cứ dâng lên. Đức Phật hỏi nhà vua lý do gì nhà vua tỏ lòng kính mộ đối với tấm thân tứ đại ngũ uẩn này chứ Đức Phật không hỏi lý do gì nhà vua tỏ lòng kính mộ đối với tấm thân của ngài, đây là sự khác biệt. Đức Phật dùng từ tấm thân này, tấm thân bất tịnh, hôi dơ, ung nhọt này, cái thân mong manh, vô thường chứ Đức Phật không dùng thân tướng của Như Lai, nghĩa là Thế Tôn đang phá bỏ cái ngã, không chấp vào cái ngã. Trong những nghi thức tụng niệm, đầu tiên đều phải đảnh lễ tam bảo, kết thúc thời khóa tu học thì mình có ba pháp quy y, đó là quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng, đó là mình học hạnh biết ơn, cung kính, đó là mình đang thực tập pháp cung kính. Mình học được sự an tịnh, lắng dịu, học được sự trang nghiêm, cung kính, tôn trọng, biết ơn, nhà vua biết ơn đến Đức Phật đến tột cùng.

Các cô nên nhớ rằng mỗi khi lạy Phật, không phải thấy người ta lạy rồi mình lạy theo cũng không phải lạy vì số lượng hoặc lạy cho xong, chúng ta lạy trước tôn tượng của ngài để thể hiện sự cung kính, biết ơn đối với Đức Thế Tôn và lạy để học cái hạnh diệt ngã. Mỗi lần lạy không cần tụng niệm nhiều mà hãy tác ý "con lạy để cho con xả bỏ bản ngã này", "con lạy Thế Tôn để cho con xả bỏ bản ngã xấu xa, tồi tệ này", tác ý như vậy rồi lạy xuống, "con lạy Thế Tôn để cho con học được cái hạnh khiêm cung, khiêm hạ, để con xả bỏ cái tâm khen mình chê người". Khi lạy Phật mà tác ý diệt ngã như vậy là mình đã đánh thẳng vào hồng tâm cho nên càng lạy thì càng phải có năm khiêm: khiêm hạ, khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm nhã, chúng ta càng lạy thì càng phải hiền thiện, càng dễ thương, càng lạy càng dễ mến, càng hiền từ, càng lạy thì tâm càng nhúng nhường, đó là mình đang thực tập diệt bản ngã xấu xa, tồi tệ này.

"Bạch Thế Tôn, để nêu rõ lòng biết ơn của con, để nói lên lòng cảm tạ của con đối với Thế Tôn, mà con làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ bày lòng từ ái đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, là vị đã an lập Thánh chánh lý cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp tánh. Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp tánh; vì con thấy ý nghĩa lợi ích này nên con đã làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ bày lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới; bạch Thế Tôn, vì con thấy ý nghĩa lợi ích này, mà con đã làm những cử hạ liệt quá mức như vậy và bày tỏ lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào được cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay là phước điền vô thượng ở đời. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng, khai mở tâm trí, ví như câu chuyện về ít dục, câu chuyện biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến, các câu chuyện như vậy, Thế Tôn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Vì rằng, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng... có được không phí sức; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Vì rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền... có được không phí sức; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn tùy niệm nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời... nhớ lại nhiều đời với các nét đại cương và các chi tiết. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhớ lại nhiều đời quá khứ, như một đời, hai đời... nhớ lại nhiều đời sống với các nét đại cương và các chi tiết; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân...đều do hạnh nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn với thiên thanh nhãn tịnh siêu nhân, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vì rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; vì con thấy ý nghĩa lợi ích này nên con đã làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ lòng kính mộ đối với Thế Tôn" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, III. Phẩm Lớn, X. Kosalà)

Lúc này vua Ba-tư-nặc đưa ra một số lý do vì sao nhà vua lại cung kính, kính trọng, biết ơn Đức Thế Tôn đến tột cùng như vậy. Cuối cùng vua Ba-tư-nặc nói với Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều công tác, có nhiều công việc phải làm.

- Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.

Rồi vua Pasanadi nước Kosalà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, III. Phẩm Lớn, X. Kosalà)

Nhà vua đi đánh trận trở về rồi nhớ Thế Tôn nên ngài đến thăm Thế Tôn rồi cung kính lạy Thế Tôn sát đất và nêu ra một số lý do tại sao lại cung kính đến như vậy, sau đó Đức Phật nói nhà vua nên làm những gì mà đại vương nghĩ là đúng. Câu này các cô phải học hỏi theo, khi mình về gia đình đối đãi với chồng con mà mình nói mãi không ai nghe, bây giờ không lẽ cự cãi qua lại mãi nên mình cứ học theo câu nói của Thế Tôn "thôi được rồi, ông cứ làm những gì ông thấy là hợp thời", "con cứ làm những gì con thấy là hợp lý, hợp thời", như vậy là an tịnh, lắng dịu, trong nhà không có cự cãi. Đây là bài kinh Kosala, qua bài kinh này chúng ta học được pháp hành an tịnh, lắng dịu, thứ hai là học được sự trang nghiêm, cung kính, tôn trọng, biết ơn, thứ ba là học được hạnh diệt ngã từ hình ảnh nhà vua lạy Thế Tôn, đây là những pháp hành rất cần thiết và quan trọng để chúng ta thực hành để càng ngày mình càng tinh tấn tu học, đi sâu vào dòng chánh pháp này nhiều hơn.

Cuối lời, con xin chân thành tri ân trên sư phụ đã tạo nhân duyên, điều kiện cho con để con ngồi đây chia sẻ cho các cô để con cố gắng tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học và con thành kính tri ân trên sư phụ cùng quý thầy cũng như quý Phật tử đã lắng nghe con chia sẻ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Phật tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính trên sư phụ, con kính trên quý thầy, quý sư cô cùng tất cả đại chúng, thật sự là một duyên lành. Kính thưa thầy đây là ước nguyện của chúng con cũng là ước nguyện của bản thân con một năm nay, lần trước con lên đây chỉ có ba chị em chúng con thôi. Chưa lên đây thì ước nguyện của con là được lên đây, đúng với tâm nguyện được lên đây để học được sự trang nghiêm, thanh tịnh này vì con nhận thấy rằng khi chưa vào pháp này thì chúng con vẫn còn tháo động, tâm chúng con lăng xăng, nói chuyện rất nhiều, phóng dật rất nhiều và ước nguyện của con là tất cả chị em trong nhóm được lên đây và thật sự hôm nay đã đạt được ước nguyện đó.

Sư phụ đã cho chúng con được học sự trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn này qua sự chia sẻ của thầy. Đây là ước nguyện của bản thân con và đến giờ phút này con đã được nhận, con rất mong nhưng con chưa biết pháp hành là như thế nào để chỉ dạy cho mọi người học cùng nhau và ước nguyện con là tất cả cùng nhau lên đây để học, phải đến để mà thấy thì lúc về mới thực hành được. Thật sự đây là ước nguyện rất là lâu mà ngày hôm nay đủ duyên lành, có rất nhiều ước nguyện mà sư phụ và quý thầy đều giúp để thành tựu, đó là được nghe, được học và được biết để về nhà thực hành. Chúng con cảm thấy thật hạnh phúc khi lên đây, sự trang nghiêm, thanh tịnh ở nơi này, lòng biết ơn Đức bổn sư, sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng ở nơi đây đã tạo điều kiện cho chúng con, giúp đỡ chúng con trong bước đường tu học. Ước nguyện của con đã thành công, con xin tri ân sư phụ, con xin tri ân quý thầy, quý sư cô cùng tất cả đại chúng. Con xin cám ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Lành thay! Lành thay! Kính thưa các bậc hiền trí, con cũng đang trên bước đường tu học, cũng đang hướng đến nhiếp phục bản ngã, nhiếp phục tham, sân, si của chính mình, cũng đang tu học Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ cho nên trong lúc con chia sẻ cũng không tránh khỏi những dục nói hay bản ngã thể hiện. Con mong rằng các cô hoan hỉ để con thực tập hạnh diệt ngã này.

Lạy người cho con được xả bản ngã này.

Lạy người cho con xả bản ngã tồi tệ, xấu xa này.

Lạy người cho con được xả bản ngã hư ảo này vào lòng đất.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.