Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Những Lợi Ích - Thù Thắng - Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 6

2026-03-03 00:54:21
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 12

Những Lợi Ích – Thù Thắng

Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 6

Thích Minh Thành

Ngày 18 tháng 04 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Giảng sinh 1 PAGEREF _Toc139303794 \h 1

II. Giảng sinh 2 PAGEREF _Toc139303795 \h 4

III. Giảng sinh 3 PAGEREF _Toc139303796 \h 6

IV. Giảng sinh 4 PAGEREF _Toc139303797 \h 6

V. Lợi ích thứ 10 PAGEREF _Toc139303798 \h 7

VI. Giáo Pháp ly tham PAGEREF _Toc139303799 \h 10

Tuần này là Minh Thành gặp các Tăng Ni sinh là 2 tuần liên tục, cho nên 2 tuần sau là sẽ vắng. Chúng ta còn lại 3 tuần nữa là nghỉ, an cư rồi. Trong 3 tuần đó có thể Minh Thành gặp các Tăng Ni sinh chúng ta 1, nhiều nhất là 2 lần, có thể có 1 lần nữa thôi. Cho nên là thời gian chúng ta rất là ít, mà những điều trong Nikāya còn rất nhiều. Cho nên chúng ta cố gắng nắm bắt, những trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cốt lỏi trong Nikāya. Còn nếu xong an cư 3 tháng thực tập trở vô, bắt đầu học lại từ đầu nữa là rất uổng. Nãy giờ trong 15 phút, chúng ta đã được cái gì rồi, ai xung phong? Bây giờ con sẽ hỏi – đáp cốt lỏi thôi, không có đi lòng vòng, phải đáp đúng vô trong kinh, hoặc là y như trong kinh.

Còn nếu không là phải giải thích đúng ý nghĩa cái từ đó bằng tiếng Việt, chứ không nói lan man. Mình nhớ học Nikāya nó khác so với học mấy cái lúc trước chúng ta cứ: “Có câu”, rồi xong: “Con nghĩ rằng, con cho rằng”. Học Nikāya không có cái vụ đó, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ hay là trong Nikāya nói, chứ trong có lung tung, lang tang. Rồi bây giờ ai xung phong về trí tuệ về ngũ uẩn. Nãy giờ 15, 20 phút cho lật tài liệu luôn. Bây giờ là 25 phút, không ai xung phong hết. Bây giờ con chỉ hỏi những câu hết sức là bình dị thôi, không có hỏi gì xa hết.

I. Giảng sinh 1

Giảng sinh 1:

“- Thầy: “Sư cô tại sao có cảm giác vậy?”

- “Dạ thưa thầy, có cảm giác tại vì khi căn xúc với trần sanh ra thức, thì có cảm xúc.”

- Thầy: “Cô cho 1 ví dụ cụ thể đi.”

- “Dạ ví dụ như chạm vào con gấu bông con thấy nó mềm, khi chạm vào cục đá con cảm nhận nó cứng.”

- Thầy: “Duyên sanh pháp trong đó nó là cái gì, do có cái gì, rồi nó có cảm giác gì?”

- “Dạ con không biết.”

- Thầy: “Bây giờ cái tay mình là thân căn, cái điện thoại này nó là cái sắc trần. Khi cái tay mình cầm cái điện thoại lên, thì có khởi ra cái gì?”

- “Dạ thân thức.”

- Thầy: “Rồi sanh ra cái gì nữa?”

- “Dạ sanh ra sự tiếp xúc.”

- Thầy: “Đúng rồi, rồi sau đó sanh ra cái gì nữa?”

- “Sanh ra cảm thọ, thọ do thân xúc sanh.”

- Thầy: “Rồi trong cái cảm xúc này có gì trong này? Dễ chịu hay khó chịu?”

- “Dạ thí dụ con xem chương trình nào không thích là thọ khổ, chương trình thích là thọ lạc.”

- Thầy: “Rồi chương trình không thích cũng không ghét?”

- “Dạ chắc lướt quá cái khác.”

- Thầy: “Trong lúc đó cảm thọ có cái gì?”

- “Dạ si, lờ đờ.”

- Thầy: “Trong lúc đó mình có biết mình đang lờ đờ không?”

- “Dạ biết chứ.”

- Thầy: “Biết thì làm sao mình trị?””

Thôi ngồi xuống đi, vậy thì cái trí tuệ đỡ hết lúc mình chưa học rất nhiều đúng không? Lúc mình chưa học có biết giống vậy không? “Dạ không”. Như vậy thì so với lúc trước, là mình cũng có trí tuệ rồi đó. Bây giờ mình nói tiếng Việt cho dễ hiểu nè, do có cái tay rồi có cái điện thoại. Cái tay cầm cái điện thoại thì có cái gì? Sự rõ biết sự đụng chạm của cái điện thoại và cái tay, cái rõ biết đó là thân thức. Cái tay là thân căn, cái điện thoại là sắc trần, sanh khởi ra thân thức, là sự rõ biết sự đụng chạm ở chỗ cái tay. Cái tay mình cầm cái điện thoại, thì cái chỗ đụng chạm thì mình rõ biết cái chỗ đó thôi. Chúng ta hiểu được từ tiếng Việt không ta? Cái này nó rất là vi tế.

Hồi đó chúng ta học chữ nghĩa thôi, giờ thực hành nè. Thì chỗ giữa cái tay và điện thoại chạm nhau đó, thì chỗ đó mình có sự rõ biết sự đụng chạm đó, cái đó gọi là thân thức. Thì như vậy cái tay, điện thoại và sự rõ biết sự đụng chạm đó là thân xúc. Rồi nó sanh ra thọ do thân xúc sanh, có cái cảm thọ, từ chỗ tay và điện thoại chạm với nhau sanh ra cái cảm giác. Đương nhiên cầm cái điện thoại lên là cảm giác thích rồi, muốn rồi, khoái rồi, dục, ái, tham rồi. Thấy chưa? Đó là nói ngắn gọn tới đó thôi. Mà nếu như người mà ao ước được cái điện thoại xịn, mình xài IPhone 10 mà cầm được điện thoại của người ngồi kế bên IPhone 14, thì về như thế nào? Xúc tưởng, xúc tư.

Cái cảm giác được cầm vô cái điện thoại 14 đó, hình bóng đó, suy nghĩ lại, sướng, thích, khoái, đã, rồi nó muốn, nó tưởng. Đó là xúc tưởng, xúc tư đó, thọ do thân xúc sanh. Cái đó là bình thường mình xài liên tục luôn đó, mà mình đâu có biết thì gọi là vô minh, mình biết thì gọi là trí tuệ. Thì đó là cái trí duyên sanh pháp, trí duyên sanh. Mà tại sao mình phải học như vậy? Là tại vì khi mình thấy như vậy. Cái này là cái vòng kết hợp, lắp ráp chứ đâu có 1 cái mà sướng tự động đâu. Phải có cái này, có cái kia, sanh ra cái nọ, rồi tiếp xúc, rồi mới sanh khởi lên. Là mình thấy giống như vô nhà cái, xí nghiệp, mình thấy cả từng công đoạn. Từng ký bột mới làm ra mỳ, rồi nướng chiên gì đó, xong đóng vô gói, bỏ bao bì này nọ kia, rồi ra ngoài.

Xong rồi chế nước sôi vô, chứ đâu có tự động mà nó có gói mỳ đâu, nhiều cái công đoạn như vậy. Cũng vậy, 1 cái cảm giác mà mình sanh khởi lên, mình thích hay là ghét, thì nó trải qua cả chặng đường lắp ráp. Cái chuỗi duyên sanh của nó, các điều kiện đó. Thì mình nhìn vô: “Ờ cái cảm giác này duyên sanh thôi, tự động sao mình có cảm giác này, sao mình tơ tưởng cái điện thoại này. Tại mình thấy, mình sờ vô, mình quẹt quẹt vô rồi mình mới tưởng”. Chứ mình không thấy thì làm sao biết số 14 là gì đâu, nếu mình không từng nghe ai nói như mấy người dân tộc, đồng bào sống sát trong rừng thì người ta có biết Iphone 14 là cái gì đâu. Nhiều khi suốt đời người ta không cầm cái điện thoại nữa, không có biết. Thì do mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc mới sanh ra.

Rồi bây giờ ai xung phong tiếp coi, không là kêu à, mấy gương mặt lạ lạ không bao giờ đứng lên trình bày gì hết, trốn.

II. Giảng sinh 2

Giảng sinh 2:

“- Dạ mô Phật, thưa trên thượng tọa sư con xin hỏi con trả lời câu hỏi gì?

Thầy: Trước khi giờ ra chơi con đã nói rồi, bước vô con cũng đã nói, rồi tự nãy giờ trả bài mà cô hỏi trả lời cái gì? Cô muốn trả lời cái gì thì cô trả lời. Nãy giờ con hỏi cái gì?

Dạ thưa thượng tọa, thượng tọa giảng cho con về duyên sanh pháp. Nhưng mà trước đó nói về trí ngũ uẩn.

Thầy: Rồi vậy nói về trí ngũ uẩn. Cái duyên sanh pháp là nó nằm trong trí ngũ uẩn đó.

Dạ thưa sư phụ 1 trong những trí ngũ uẩn là sắc uẩn, do có duyên của mắt và sắc trần sinh ra nhãn thức. Do duyên của 3 pháp này có nhãn xúc, do có nhãn xúc mà có sắc tưởng, sắc tư.

Thầy: Chưa, nhãn xúc xong rồi tới cái gì?

Dạ thọ do nhãn súc sanh, rồi tới sắc tưởng, sắc tư.

Thầy: Ví dụ cụ thể trong đời sống.

Dạ thí dụ như là con nhìn thấy sư cô Liên Mỹ, là do mắt nhìn thấy cái sắc là sư cô Liên Mỹ. Sau đó nhãn thức là con rõ biết sư cô là hình dáng đó, giọng nói đó. Sau đó khi mà mắt con nhìn thấy sư cô Liên Mỹ và các nhãn thức, thì sinh ra nhãn xúc và các cảm thọ. Tại vì lúc nào con cũng thấy sư cô Liên Mỹ cười rất là vui vẻ, cho nên con cũng hoan hỉ, và con cũng có 1 sự cảm thọ lạc. Sắc tưởng là hình bóng của sư cô là nó in và trong con, và sau đó có những suy nghĩ về sư cô này, là 1 người rất là hòa đồng, dễ thương. Dạ đó là ví dụ.”

Con mời sư cô Liên Mỹ, nãy giờ ngồi cười hoài đó thì cái cảm thọ ra làm sao? Nhận diện cái cảm thọ đó. Bây giờ trình bày cái cảm thọ ngay lúc này nó ra làm sao, khi mà được người ta nhắc đến mình với 1 cách rất là ngọt ngào như vậy. Cho 1 tràng pháo tay đi.

Giảng sinh 3:

“- Dạ mô Phật kính bạch thầy và cùng chư huynh đệ, hồi nãy thì con hơi bị bất ngờ, tại vì con không nghĩ là bạn ví dụ con. Vì lúc đầu thì hơi bất ngờ, lúc kế tiếp trạng thấy là thấy lạc thọ, thấy vui vui, tự nhiên bạn khen mình nên thấy vui.

Thầy: Lúc đó cô có biết cái lạc thọ vui đó nó diễn biến sao không? Nó từ chỗ nào và nó phát khởi như thế nào mình có để ý không?

Dạ nó cảm giác lâng lâng nổi da gà, tại vì con cũng có suy nghĩ không biết con được cỡ đó không mà bạn ví dụ, hơi sợ sợ và hơi vui vui.

Thầy: Nó lâng lâng chỗ nào nhiều nhất trong cơ thể của mình? Ở lòng ngực, trên đầu hay là toàn bộ cơ thể luôn. Phải nhận diện được trong tâm và cảm giác trên thân luôn. Thân thọ và cái tâm thọ.

Dạ nó ở lòng ngực, xong rồi nó diễn ra toàn thân. Rồi kế đó là lạc thọ, xong rồi mình cảm thấy mình chìm vô đó. Rồi mình cảm thấy mình có tham, cái tai mình nghe được mình khoái khoái. Kế đó mình nhận biết được mình rõ hơn, mình không nên như vậy.

Thầy: Lúc đó mình phải kêu cảm thọ của mình an tịnh, lắng dịu.

Dạ lúc đó trạng thái mình rõ biết mình đang lạc thọ, mình hãy an tĩnh và trú tâm lại.

Thầy: Rất là tốt, cho tràng pháp tay.”

Khi mình thấy cảm thọ của mình nó lâng lâng, nó dâng dâng lên thì mình kêu: “An tịnh, lắng dịu”, để cho cảm thọ lâng đó nó lắng xuống, nó dịu xuống. Rồi bât giờ mình đặt trường hợp là cái lúc mình nghe, cảm thọ nó dâng như vậy đó. Thì mình quay ngược tình thế lại: “Ví dụ mình đang bị chửi rồi làm sao?” Lật ngược tình thế lại liền. “Thí dụ ngay lúc này mình bị người đó chỉ trích, nói nặng mình, thì lúc đó cảm thọ mình làm sao?” Cái này là pháp hành đó, suốt cuộc đời mình đi cầu đạo không có ai chỉ cho mình cái này.

III. Giảng sinh 3

Giảng sinh 3:

“Dạ mô Phật kính bạch trên thầy là khi mình tiếp xúc với âm thanh mà khởi lên cho mình khổ thọ, thì mình kêu nó an tịnh, lắng dịu. Sau đó mình trải tâm từ, đối trị với cảm thọ sân là tâm hiền, tâm từ.”

Tốt, cho 1 tràng pháo tay nữa, mời thầy tiếp theo đi. Cảm thọ của thầy khi hồi nãy kêu cô đó đưa micro qua, rồi kêu thầy đưa ngược trở lại thì cảm thọ sanh khởi như thế nào, thầy có nhận diện được không?

IV. Giảng sinh 4

Giảng sinh 4:

“A di đà Phật, bạch trên thầy là đại chúng. Thật ra cảm thọ của bản thân con lúc đó không nhận diện sâu sắc, tuy nhiên cảm giác lúc đó khi thấy bạn mình dừng lại hơi lâu. Nên con muốn giúp bạn mình thoát ra khỏi cảm giác khó chịu ấy thôi, chứ con cũng không có cảm nhận được nhiều về cảm giác lúc đó. A di đà Phật, thưa thầy hoan hỉ.

Rồi bây giờ thầy muốn chia sẻ về phương diện nào trong 5 uẩn?

Dạ mô Phật bạch thầy, theo con hiểu mà cũng không nhớ bằng ngôn từ của Nikāya mà thầy truyền đạt. Với sự nhận diện về trí duyên sanh 5 uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thứ nhất là sắc uẩn, khi mà các căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, thức tiếp xúc với các trần. Thì lúc đó ý thức rõ biết nó bằng các nhãn thức, nhĩ thức, thân thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức. Ba cái yếu tố đó được tập hợp lại gọi là xúc, và thông qua xúc sanh ra thọ. Như vậy là thọ do nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc sanh, sanh ra cảm thọ. Từ cảm thọ sanh ra tưởng, là những hình bóng khi căn tiếp xúc với trần, khi chúng ta về chúng ta nhớ tưởng lại, cái đó là tưởng.

Hành là khi những ý hành nó được chứa trong tâm thức, ý hành tức là khi 1 hình bóng, ví dụ như con thấy 1 bông hoa đẹp thì có tiếp xúc. Khi về thì con cứ nhớ thường bông hoa đó, và những ý thường thêu dệt lên là hành muốn chiếm hữu cái đó, muốn có được cái đó thì gọi là hành. Tiếp theo là thức, là rõ biết thọ, tưởng, hành.”

V. Lợi ích thứ 10

Lợi ích thứ 10: “Tuệ đã khai mở, đạo sẽ thành tựu.

Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, ngay giờ phút hân hoại mạng chung, nếu chẳng may do bệnh tật hay do duyên nghiệp cũ trước khi tu đã tạo, hay do tâm chưa thành tựu trong thiền định. Hành giả bị thất niệm, tâm không tĩnh giác lúc ra đi. Thì lúc đó nhờ vào các thiện duyên đã kết, gieo đối với kinh Nikāya trước đây. Tâm của hành giả sẽ nghiêng nhiều vào việc học hỏi, hành trì lời dạy của Đức Phật trong Nikāya. Chánh tri kiến được đầy đủ giới đức, giới hạnh, nên khi tái sanh đời sau, lúc đầu không nhớ được đạo pháp, Nhưng sau đó sẽ có nhân duyên đưa đến giúp cho tâm trí từ từ nhớ lại. Hành giả tiếp túc tu tập, và tối đa 7 lần sanh tử, sẽ đi đến sự chứng đạt, được tâm hoàn toàn tịch lặng. Giải thoát mọi khổ đau phiền não, mệt mỏi, ràng buộc và dính mắc đối với 5 thủ uẩn”.

Cái này hôm trước chúng ta có học rồi, cho nên bây giờ không cần phải giảng lại nữa. Bây giờ chúng ta qua điều nên tránh, con mời 1 thầy đọc tới điều thứ 8 đi.

“- Thứ 1: Tránh sân hận, khi thấy điều sai lệch trong đạo Phật ngày nay.

Người tu học nên tránh sự phản kháng, đả kích, công kích, sân hận, bực tức khi phát hiện sự sai lệch trong đạo Phật hiện nay so với những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Vì sao? Vì công kích, sân hận, phẫn nộ, không mang đến lợi ích cho mình hay cho người, không đem lại an lạc cho mình và người. Không giúp người thấy được pháp mà Đức Phật chỉ dạy, và chỉ đem lại mệt mỏi, phiền não cho mình và cho người mà thôi. Hiểu biết và chấp trước sự hiểu biết, điều đó không phải là lời dạy của Đức Phật. Chánh kiến và hành trì theo Chánh kiến, mang đến lợi ích và an lạc cho mình và cho người. Đi đến sự phá sạch phiền não, diệt tâm vô minh, chấm dứt luân hồi sanh tử, đó mới là điều Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta.

Thứ 2: Tránh học pháp chỉ để khoái khẩu, biện luận.

Người tu học nên tránh việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya chỉ để đem ra khoái khẩu, biện luận, tranh luận, ta đây, hơn thua với đời. Cách học pháp này chỉ làm tăng trưởng bản ngã, tăng trưởng kiến chấp, tăng tưởng tánh hơn thua. Làm giảm thiện pháp trong mình, và tăng trưởng bất thiện pháp trong tự thân. Làm những người chưa biết Chánh pháp mất cảm tình, cảm hứng, cảm xúc và lòng tin với kinh Nikāya. Cách học pháp này là vô minh, là hại mình, hại người.

Thứ 3: Tránh học pháp chỉ để giảng nói, không phải để tu.

Người tu học nên tránh việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya chỉ để đem ra giảng dạy chọ người, nhưng xao lãng việc tu học tự thân. Ví như người giúp người chăn con bò của họ, nhưng lại không chăm sóc con bò của mình. Ví như uống canh, vị này không thưởng thức được hương vị thực sự của giáo pháp. Cách học pháp này là vô minh, chỉ mang lại lợi ích cho người, nhưng không đem lại lợi ích cho tự thân, Đức Phật không khuyến khích cách học pháp này.

Thứ 4: Tránh mê học pháp, xao lãng thiền định.

Người tu học nên tránh việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, nhưng suốt ngày chỉ biết miệt mài trong các bài kinh, không học tập thiền định, không làm cho tâm an tịnh, tịnh chỉ. Không nhiếp phục trạng thái phòng động, ngủ ngầm trong tâm. Cách học pháp này là không đúng pháp, Đức Phật nói đó là không đúng pháp, không sống đúng pháp.

Thứ 5: Tránh học pháp nhưng không áp dụng trong thực tế cuộc sống.

Người tu học nên tránh việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya nhưng suốt ngày chỉ thích nghe, thích học Nikāya. Không đem những ý nghĩa đã nghe, đã học áp dụng, quán sát, xem xét tự thân, phát hiện ngũ uẩn trong tự thân, phát hiện tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Điều chỉnh tự thân, nhiếp phục tự ngã. Cách học pháp này là cạn cợt, hời hợt, không thể đi sâu vào dòng pháp, không thể thể nhập thâm sâu, ý nghĩa của các pháp trong lời Phật dạy.

Thứ 6: Tránh việc dịch câu kinh quá xa so với ý nghĩa thực tế của câu kinh.

Người tu học nên tránh việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, nhưng diễn dịch câu kinh đi quá xa so với ý nghĩa thực tế của câu kinh. Các pháp trong kinh Nikāya có ý nghĩa luôn minh bạch, xác thực, rõ ràng. Vì vậy học giả hay hành giả, phải cố gắng theo sát ý nghĩa thực tế của bài kinh. Đừng diễn dịch xa vời, hư ảo làm nhiễu loạn pháp, góp phần làm diệt tận Chánh pháp. Cách học này mang tội phỉ báng Phật pháp, xuyên tạc Phật pháp, góp phần làm Chánh pháp sớm ngày diệt vong.

Thứ 7: Tránh học hiểu sơ sài, thực hành sơ sài.

Người tu học nên tránh việc nghiên cứu, học hỏi kinh Nikāya, nhưng đọc bài kinh, đọc câu kinh 1 cách sơ sài, rồi nắm hiểu ý nghĩa 1 cách sơ sài, thực hành 1 cách sơ sài. Làm lệch lạc ý nghĩa thâm sâu lời dạy của bậc Chánh đẳng chánh giác. Cách học này là vô minh, không nắm được cốt tủy lời dạy của Đức Phật, không đạt được lợi ích của người học pháp.

Thứ 8: Tránh học hiểu hời hợt, rồi diễn giảng lại theo vô minh và bản ngã.

Người tu học trong việc nghiên cứu và học hỏi kinh Nikāya, nhưng đọc bài kinh, đọc câu kinh 1 cách hời hợt, không để tâm vào câu kinh, không để tâm vào pháp. Rồi lại diễn giảng câu kinh theo hiểu biết trong vô minh, và ngã mạn của bản thân mang tội xuyên tạc Phật pháp. Cách học pháp này là vô minh và rất tai hại, hại mình, hại người, làm tiêu diệt Chánh pháp. Mở cửa vào 3 đường ác đạo là địa ngục, súc sanh, ngạn quỷ.”

VI. Giáo Pháp ly tham

Mời thầy chia sẻ về trí 5 uẩn luôn, từ hồi đầu cái môn học này cho tới bây giờ, thầy hiểu như thế nào về trí tuệ năm uẩn.

Giảng sinh 5:

“Dạ mô Phật, thưa thầy cũng toàn thể đại chúng. Ví dụ hiểu biết trí tuệ năm uẩn về sắc, thì con có 1 cái ví dụ giống như là trưa nay, con có thọ dụng bữa ăn chung với đại chúng. Thì ở trên bàn có rất là nhiều nón ăn, mà trong đó chỉ có vài món là con thích. Cho nên khi mắt thấy qua những món mình thích, lập tức là trong tâm khởi lên ý niệm rất là vui. Hôm nay có những món mình thích, cho nên mình ý niệm trong đầu sẽ ăn rất là nhiều. Sau khi nhìn qua những món mình không thích, thì tay lại không muốn đụng vào, thì lúc đó lại khởi lên 1 cảm giác không thích.

Cái đũa đầu tiên gắp vào món mình thích, khi mắt thấy hình sắc món ăn khởi lên ý niệm là thích, thì khi xúc chạm với lưỡi qua món ăn đó thì khởi lên niềm vui. Và khi thỏa mãn trong món ăn đó, lại muốn gắp thêm đũa thứ 2 vẫn diễn ra như vậy. Thì trước khi lại muốn gắp thêm đũa thứ 3, thì ngày giờ phút đó con dừng lại, con quán niệm lại chính mình. Là nếu như mà mình tiếp tục hưởng cái lạc thọ trong đũa thứ 3 này, chắc chắn sẽ có đũa thứ 4, 5. Thì chắc chắn việc mình tham món ăn này sẽ không dừng lại, mà không ý thức được việc dừng lại trong việc nhỏ là ăn uống hàng ngày, mà mình không kiểm soát được việc này thì đừng nói chi lớn hơn.

Thì trong đũa thứ 3 này con đã dừng lại, và quán sát được cái thọ trong mình đang khởi lên. Thứ nhất là cái thọ rất vui khi được ăn, cái thọ khác không vui là khi mình dừng lại, không được tiếp tục hưởng cái vị đó. Nhưng mà khi khởi lên cái tâm muốn tu tập, thì cái ý nghĩ dừng lại, không ăn, lần lượt lấn áp đi cái ý nghĩ tham muốn thưởng thức cái vị đó. Cho nên chính trong giờ phút đó, thì những hình ảnh kia con thấy được và con dừng lại tu tập trong miếng ăn đó. Cho nên sau khi con ý thức được việc đó, tâm lại khởi lên cảm giác rất là vui, vì trong giờ phút đó mình đã dừng lại việc tham muốn của mình. Con xin hết.”

Đó là ý nghĩa của chữ “giáo pháp ly tham”, “nhiếp phục dục tham” và “đoạn tận dục tham”, sự tu của mình nó nằm chỗ đó. Khi mắt mình thấy, tai nghe, mũi ngửi. Thí dụ hồi nãy con đi ngang con ngửi được mùi dầu thơm bay ra, thì lúc đó phải lập tức chánh niệm liền. Khi đó có 2 cảm giác sanh khởi, 1 cái là kho chịu: “Tại sao xuất gia lại đi xài dầu thơm”. Một cái nhiếp phục cái khó chịu đó, 1 cái là nhiếp phục sự thích cái mùi đó. Tức là nó lạc thọ, đương nhiên dầu thơm thì ai cũng dễ chịu mà. Thì mình coi trong tâm mình có thích cái đó không, là mình phải nhiếp phục. Thành ra tu Nikāya là nó vi tế lắm, không ai biết được hết trơn á.

Đầu tiên khi mình tiếp xúc cái mùi nó thơm như vậy là mình dễ chịu, mình thích. Cái tham nó thẫy rõ luôn, thích thích, khoái khoái là ái. Muốn đứng lại để nghe thêm cái mùi đó nữa là dục, thấy chưa? Ghê gớm chưa? Chỉ cần nghe 1 cái mùi thôi. Rồi xong bữa đó bác tài ghé vô cây xăng, mình mới đi vô nhà vệ sinh, mình mở cách cửa ra 1 cái, nó bốc ra 1 cái mùi kinh khủng, khủng khiếp. Thì mình phải coi trong chỗ này nó có sân không, có bực bội, khó chịu không? “Dạ có”. Đó là cái cảm thọ, còn cái suy nghĩ mình thì làm sao? “Ai mà để như vầy đây? Tại sao không biết vệ sinh mà để như vầy đây? Thì cái đó là cái thọ sân, còn suy nghĩ đó là cái hành sân.

Rồi cái tưởng lờ mờ là có 1 người nào mà làm như vầy, có không? Tưởng sân. Phải nhận diện được, và ngay lập tức phải tác ý, dẹp mấy cái này, làm cho lắng dịu mấy cái này. Cái này mình tu tập hàng ngày, mình lên mình gặp món ăn, mùi thơm, gặp mùi hôi thối. Lúc đó con đi qua Mỹ hoằng pháp cách đây cỡ 7, 8 năm trước. Tự nhiên người tài xế chở ngang chỗ đó có cái mùi rất là lạ, tuy là xe đóng của kín để mở mái lạnh, nhưng mà tới chỗ đó thì cái mùi đó hết sức là khủng khiếp. Mà con ngồi không có phản ứng gì hết, có thể có nhưng rất là nhẹ thôi.

Khi đi qua rồi thì người tài xế họ mới nói: “Thầy như vầy là người tu giỏi đó”. Con nói: “Con có gì đâu mà giỏi”. Ổng mới nói: “Bữa hôm có mấy vị đi ngang qua đây, là la lên quá trời quá đất luôn. Sao mà thúi quá vậy, cái mùi gì vậy. Rồi họ bấm mở cửa kiếng hết ra, làm khủng khiếp lắm. Sao thầy ngồi im ru vậy?” Hồi lúc đó là chưa có tu Nikāya. Thì mình thấy rằng người ta có quán sát mình dữ lắm à nha, Phật tử đó, chứ không phải không đâu. Hồi lúc đó là chưa có tu Nikāya, thì mình mới thấy được mình tu là nó nhỏ nhiệm. Mình phải nhìn được cái thọ, tưởng, hành của mình, như lúc nãy thầy trình bày rất là tốt.

Như vậy là mình hướng đến sự ly tham, con xin thưa với các ngài rằng, một nhóm vị Tỳ-kheo đến gặp Đức Thế Tôn, xin Thế Tôn: “Chúng con xong mùa an cư, chúng con muốn đi du hành các quốc độ”. Thì chúng ta biết Ấn Độ hồi xưa có 1 giai đoạn gọi là ngũ Thiên Trúc, chia làm 5 nước nhỏ. Giống như bây giờ mình qua Úc cũng là 4, 5 tiểu bang vậy đó, qua Mỹ là năm mươi mấy cái tiểu bang. Thì lúc đó các thầy muốn du hành các quốc độ. Thế Tôn nói: “Các thầy có trình, có đi thưa chào Xá-lợi-phất chưa? – Dạ chưa”. Thế Tôn nói các thầy đi chào tôn giả Xá-lợi-phất rồi hãy đi, sẽ được lợi ích.

Thì các ngài này đi đến thì Xá-lợi-phất mới hỏi: “Các ngài đi du hành như vậy, có những nhà triết gia, những người phàm triết, những vị Sa môn tu hành người ta hỏi: Thầy của các ngài dạy cái gì, thì các ông trả lời như thế nào?” Câu chuyện này rất quan trọng. Bây giờ như vầy, có 1 Phật tử hay những nhà nghiên cứu người ta tới hỏi thầy: “Đạo Phật thầy dạy cái gì?” thì thầy nói làm sao? Nói ngắn gọn thôi.

Giảng sinh 6:

“Dạ thưa thầy con xin trả lời là: Đạo Phật của chúng tôi dạy từ bi và hỷ xả.”

Bây giờ thời gian hết mà đang gay cấn.

Giảng sinh 7:

“Bạch thầy theo con Đức Phật dạy con đường xóa bỏ ngã mạn.”

Giảng sinh 8:

“Thưa thầy giáo thọ, con sẽ trả lời là: Đức Phật dạy tìm ra con đường thoát khổ.”

Không ai trả lời đúng, thì các Tỳ-kheo mới trả lời: “Bạch tôn giả, xin tôn giả chỉ dạy”. Thì ngài Xá-lợi-phất mới nói, còn mình bây giờ mình giỏi hơn mấy vị Thánh Tăng, mấy vị Tỳ-kheo hồi xưa hết trơn rồi, hỏi là mình nói liền ào ào. Còn các ngài không có dám trả lời, “bạch Xá-lợi-phất xin ngài giảng thuyết cho chúng con”. Chúng ta thấy dễ sợ không? Chỉ có vậy thôi mà mình học tới chết, chứ nói là cái gì “tôi cũng biết hết trơn, tôi nói à”. Cái này trong kính nói nhiều lắm nè, lúc đó ngài Xá-lợi-phất mới nói: “Này các vị, khi có người hỏi, các vị hãy nói là: Thế Tôn, bậc đạo sư của chúng tôi dạy nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.”

Thì ngài Xá-lợi-phất mới hỏi thêm: “Nếu người ta hỏi đối với cái gì mà các ông nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham”. Dục là dục cái gì? Tham là tham cái gì? Thì cá vị Tỳ-khèo mới xin ngài Xá-lợi-phất chỉ dạy. Thì ngài Xá-lợi-phất mới nói: “Năm thủ uẩn”. Tức là nhiếp phục dục tham đối với sắc, đối với thọ, tưởng, hành, thức. Ngài mới hỏi thêm là: “Nếu người ta hỏi: Tại sao phải nhiếp dục lòng tham dục đối với năm uẩn thì các ông trả lời làm sao? Thì ngài Xá-lợi-phất tiếp tục chỉ dạy: “Mình dục, tham, muốn đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, khi sắc, thọ tưởng, hành, thức nó biến đổi, tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt thì mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não.”

Bài kinh này nó thâm sâu lắm, về học thuộc bài kinh này. Bài kinh này là đại biểu cho toàn bộ thánh giáo của Đức Phật. Nếu mà các ông tham muốn sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, mà sắc, thọ, tưởng, hành, thức này nó vô thường, biến đổi, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Thì lúc đó các ông sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên Thế Tôn dạy là: “Đừng có tham ngũ uẩn nha con, nó là vô thường, khổ mà con tham nó, mai mốt khổ lắm à, nước mắt đầm đìa đầy mặt à”, dạy như vậy đó. Rồi bây giờ: “Nếu như các ông nhiếp phục được dục tham rồi, không còn tham muốn, mà ngũ uẩn này có thay đổi, biến họa, hủy hoại, hoại diệt, thì các ông đâu có sầu, bi, khổ, ưu, não. Các ông được giải thoát, an lạc, hạnh phúc, tâm được bất động.”

Thì đó là toàn bộ Thánh giáo của Đức Phật gói gọn trong bài kinh đó, phải năm thật là vững. Cho nên không biết 5 uẩn làm sao mà tu, tại vì mình dục, tham, ái đối với 5 uẩn. Mà bây giờ mình không biết 5 uẩn, thì mình lấy gì mình tu. Mà mình không thấy cảm thọ thì làm sao biết dục, tham, ái. Cho nên hồi nãy con mời sư cô nhận diện thật là kỹ lúc cảm thọ dâng lên như thế nào, ở đâu, diễn biến nó ra làm sao. Phải thấy được hết sự sanh, sự trú và sự đoạn diệt của các cảm thọ. Đức Phật định nghĩa chữa tĩnh giác và chánh niệm ở trong Nikāya đó.

Thế nào là tĩnh giác? Là rõ biết khi gặp thọ sanh khởi lên, rõ biết khi cảm thọ an trú, rõ biết khi cảm thọ chấm dứt. Khi tưởng khởi lên phải biết, khi tưởng an trú phải biết, khi tưởng chấm dứt phải biết. Khi hành sanh khởi lên phải biết, là những suy nghĩ của mình an trú, vận hành và chấm dứt phải biết. Mà cái đó là 1 trong những cái pháp bất cộng, của bậc Chánh đẳng chánh giác, các bậc Thánh, người thường không có. Nếu như không học ngũ uẩn đi, khi cảm thọ mình nó sanh khởi mình có biết không? Rồi khi nó quậy, nó xâm chiếm, nó tan biến thì mình đâu biết cái đó là thọ đâu. Thì chỉ có bậc Thánh mới thành tựu cái Thánh trí ngũ uẩn này, cho nên chúng ta để ý thật là kỹ cái này.

Cho nên con nói các thầy, các cô về phải ôn bài, thực tập và viết bài trình pháp gửi qua zalo. Lấy bài đó cộng điểm cho bài thi, biết bài gửi qua zalo, không cần đợi vô lớp. Hay gửi qua email linhquyphapan@yahoo.com đó, viết gửi qua, thì sẽ được cộng điểm cho bài thi. Từ hồi đầu khi mình học cho tới bây giờ, mình hiểu được cái gì ở trong trí tuệ 5 uẩn, đó là cái bài thu hoạch. Nhất trí không? Sao yếu xìu vậy? Nhất trí bao nhiêu phần trăm? Ai viết bài thì cộng điểm vô điểm thi, ai không viết thì khỏi cộng. Cố gắng viết đặng mình mới học lại, mới đọc lại, mới tìm tư liệu lại, rồi mình mới có suy tư, nghiền ngẫm, rồi mình mới có, mới viết cái bài được. Đó là cơ hội để mình học tập, nghiên cứu, thực hành, được chưa.