Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Tà Hạnh Trong Các Dục - Tướng Chung Tướng Riêng - Lợi Ích Của Giới

2026-03-03 00:54:22
Pháp Đàm Nikāya

Tà Hạnh Trong Các Dục?

Tướng Chung Tướng Riêng?

Lợi Ích Của Giới

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tà hạnh trong các dục PAGEREF _Toc213780794 \h 1

II. Giữ giới PAGEREF _Toc213780795 \h 5

III. Hộ trì căn PAGEREF _Toc213780796 \h 8

IV. Chánh Mạng PAGEREF _Toc213780797 \h 15

V. Khóc khi thiền quán PAGEREF _Toc213780798 \h 17

I. Tà hạnh trong các dục

Sư Phụ: Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta có buổi hỏi đáp, pháp đàm tinh thần tu học kinh tạng Nikāya. Khi ra đây thì có một giới tử đến hỏi con một câu hỏi rất là bình dị mà nghĩa lý của nó rất là thực tế, có khi chúng ta đọc mà chúng ta sẽ không có hiểu, người ta hỏi con câu ý nghĩa của câu "tà hạnh trong các dục", cụm từ này không phải dễ hiểu. Mình giải thích là tà dâm là không có đủ nghĩa, sách vở sau này giải thích là tà dâm, còn kinh tạng Nikāya là tà hạnh trong các dục, cái này cái phạm trù của nó rất rộng. Tà dâm chỉ là cái sự lang chạ, bất chánh trong việc dâm dục thôi, còn tà hạnh trong các dục là trùm rộng rất là rộng,

Chúng ta giải thích chữ tà dâm và tà hạnh trong các dục để chúng ta thấy cái chữ tà là nó không có chánh, cái này mà mình chiêm nghiệm thì rộng lắm, sâu sắc lắm. Thí dụ vợ chồng của người ta vì chuyện chăn gối là chuyện chính đáng nhưng là bạn bè với nhau mà quan hệ bất chánh, cái đó là tà dâm, hay là chủ tớ, đó là tài dâm, huynh đệ, thậm chí là thầy cô, học trò, thì cái này bây giờ chúng ta nhìn sâu sắc là rộng lắm cho nên nếu mình không có chiêm nghiệm thì mình thấy nó đơn giản nhưng mà chiêm nghiệm thì thấy đầy ngập hết. Đó là những mối quan hệ bất chánh không phải là chánh dâm, tức là vợ chồng với nhau là chánh dâm, người cư sĩ tại gia có một vợ một chồng nhưng cũng phải có chừng mực trong những ngày trai giới, cũng phải giữ gìn trong những ngày bát quan trai giới.

Tà dâm ngày hôm nay nó rất rộng, đó là những mối quan hệ bất chánh làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, bề ngoài thì kêu là chị em nhưng mà sinh hoạt như vợ chồng, em nuôi, chị nuôi, hay là kết bạn thì tất cả cái đó đều là tà dâm hết, ngoài hôn thú. Còn đúng pháp luật là phải có cái giấy hôn thú, phải có một cái lễ công nhận giữa cha mẹ hai bên dòng họ, đó là mình nói cái pháp thế gian, pháp luật là có hôn thú. Còn tà hạnh trong các dục này rất là rộng, mình có những cái hành động bất chánh trong các sự ham muốn, thí dụ như mình mong muốn được cái gì đó, mình dùng những thủ đoạn bất chánh để mình đạt được mục đích ham muốn, đó là tà hạnh trong các dục.

Các dục là các sự ham muốn mà các dục ở đây gồm có năm dục trưởng dưỡng, đó là sắc do mắt nhận thức, tiếng do rồi tai nhận thức, mùi do mũi nhận thức, vị do lưỡi nhận thức, sự xúc chạm do thân nhận thức, đây gọi là năm cái thứ làm nuôi lớn lòng ham muốn của chúng sanh, gọi là năm dục trưởng dưỡng. Thế Tôn nói năm thứ này không phải là dục nhưng mà nuôi lớn lòng ham muốn của con người, mà cái dục thật sự là cái suy nghĩ ham muốn ở bên trong, thành ra kinh Nikāya mới giải thích cho chúng ta rất là kỹ, các vị sau khóa tu về nghe loạt bài con có chia sẻ, quý vị nghe kỹ trí tuệ về dục Đức Phật giải rất là thâm sâu.

Dục ở đây là cái ý thích, tham muốn năm cái thứ hồi nãy và năm thứ đó là thức ăn cho dục, tức là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon và sự đụng chạm êm ái, năm cái đó là thức ăn nuôi lớn lòng ham muốn và cái ý niệm suy nghĩ dục ở bên trong, ham muốn ở bên trong thì cái đó là dục. Như vậy tà hạnh trong các dục là những cái hành động bất chánh để đạt được năm cái đó, thí dụ bây giờ mình coi nhà bếp ở trong chùa, mình thấy người đó mình có thiện cảm, mình thương rồi mình đem đồ chùa cho người đó, muốn lấy lòng người đó, cái này cũng phạm tội vì cái đó không phải là cái tâm từ, không phải là lợi hòa đồng quân chia điều mà mình có thiện cảm, tình cảm riêng với người đó thì mình lấy đồ nhiều cho người đó gấp năm lần, mười lần người khác mình đem cho để lấy lòng người đó. Mình thấy người đó dễ thương, người đó có thiện cảm, người quen, bà con gì của mình đó, thành ra suy xét ra thì nhiều lắm.

Mình có những lời nói khéo léo, ngon ngọt, dụ dỗ, lời tà để cho người ta siêu lòng, người ta làm việc sai quấy, đó là tà hạnh trong các dục. Mình có những cái hành động, cử chỉ, ánh mắt, lời nói, cái cách mình thể hiện ra có sự câu dẫn, thu hút người khác, đó là tà hạnh trong các dục. Chúng ta thấy cái này nó sâu sắc không? Khi chúng ta đọc chúng ta có hiểu không? Đọc câu đó có hiểu không? Tình thương của mình không có đồng điều với đại chúng, người mình thương, người mình thấy dễ thương thì mình đặt rất là nhiều thời gian vô lo lắng, còn mấy người mà mình không thương, mình không nhìn tới, mình có những cái hành động hay là những cái lời nói, những việc làm không có chân chánh.

Ở ngoài đời cũng vậy, trong công ty, xí nghiệp mình làm, mình muốn đạt được mục đích, cái lòng ham muốn thì bất chấp thủ đoạn, ngoài đời người ta nói chỉ cần đạt được mục đích bất chấp thủ đoạn, làm mọi cá việc bất chánh, bất minh, gian xảo, lừa đảo, mưu sĩ, mưu mô để đạt mục đích, đó là tà hạnh trong các dục. Vì thế không phải mình giải thích chữ tà hạnh trong các dục là chữ tà dâm không là không có đủ nghĩa, bởi vì từ trong kinh Nikāya sâu sắc lắm, hay là chữ "từ bỏ lấy của không cho" nó khác với chữ trộm cắp, từ bỏ lấy của không cho nghĩa cũng rất rộng lớn. Trộm cắp là đồ của người ta mình lấy, còn giờ mình đi ngang mà có trái cây ở ngoài đường nhưng mà mình không xin phép mà mình bẻ cái đó cũng là lấy của không cho, thành ra những cái từ của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác sử dụng rất là sâu sắc, bảo vệ cho mình rất là tốt. Cho nên chữ tà hạnh trong các dục mình chiêm nghiệm nhiều cái góc độ lắm.

Nhiều khi mình đi đến chùa tu nhưng mà không phải mục đích chính là tu mà trong đó có những cái hướng của cái tâm bất chánh. Cái này con ở chùa ba mươi mấy năm nên con nhìn thấy nhiều lắm, đó là tà hạnh trong các dục, thậm chí còn có những lời nói, hành đông, cử chỉ, ánh mắt, ánh nhìn đối với người tu. Chúng ta thấy cái này sâu sắc không? Đó là tà hạnh trong các dục, cho nên kinh Nikāya không phải dễ hiểu, không phải đọc vô là hiểu được liền đâu, ở ngoài thấy làm vậy chứ chưa chắc là mục đích là vậy, bên trong là một cái tâm bất minh, bất chánh, tâm tà cho nên nó thể hiện ra những cái lối tẻ, tà bất chánh ở trong khẩu hành và cái thân hành, các bậc trí tuệ nhìn sẽ thấy mà bản thân người đó nhiều khi cũng không thấy. Đó là tà hạnh trong các dục, nhiều người có khi vô chùa để được ăn ngon, được thoải mái, được thảnh thơi, khỏi ở nhà đi làm cực quá, đó là tà hạnh trong các dục, vô đây được ăn, được ngủ, được chơi, khỏi cần làm gì hết, ẩn dương nương Phật, mượn đạo tạo đời, đó là tà hạnh trong các dục.

Chúng ta đọc cụm từ tà hạnh trong các dục có hiểu được vậy không ạ? Nó sâu sắc lắm, đó là những hành động bất chánh để đạt được năm cái mình yêu thích là sắc; thanh; hương; vị; xúc. Lúc đó bậc đạo sư có kể cho con một sự việc hết sức là nhỏ nhưng mà mình nhìn thấy trí tuệ của ngài, người bạn thân đem đồ ăn lại tặng cho ngài, ngài nói một câu khen ngợi người ta, khen ngợi món ăn nhưng sau đó ngài về quán sát sâu sắc vô thì ngài nói thấy xấu hổ, nhục nhã vì mình nói câu đó để mai này người ta cho nữa. Đó là không có chánh ngữ, qua đó chúng ta mới thấy những bậc tu hành thâm sâu trí tuệ là bậc nhìn thấy được tất cả những cái vi tế, nhỏ nhiệm, cái tâm lạng lách, nó khéo léo, nó xảo trá đó từng chút, từng chút. Mình hay có thói quen người ta cho gì hỏi ăn được không "ngon dữ lắm, món này ngon lắm" mà nhiều khi là chưa chắc là nói thật, khi mình ăn mình cũng thấy được vậy thôi nhưng mà cứ nói "ngon quá". Đó là tà ngữ, nói để người ta cho nữa.

Tức là lời nói không có chánh ngữ mà mình nói để lấy lòng người ta, nói để mình có một cái ý đồ trong đó là mai mốt có nhớ đem cho nữa nha, sâu sắc như vậy, đó là hạnh trong các dục. Lời nói đó có mục đích gì? Cái động cơ rồi mục đích của nó là gì? Chính là "nhớ lần sau có đem cho nữa nha", qua đây chúng ta thấy được sự tu học của chúng ta vi tế lắm, chính như vậy mà nhiều khi con đâu có dám nói ai đâu, thấy lỗi cũng không dám nói, chạm vô cái bản ngã là sân si lên bỏ tu, chừng nào nghiêm trọng dữ lắm con mới phải góp ý, mà góp ý cái người nào chứ không phải người nào cũng góp ý. Khi mình hiểu được ngũ uẩn rồi mình sợ lắm, ngán lắm, ớn lắm, đụng vô là gai góc giống như con nhím xù lông lên bắn ra, không phải dễ cho nên cái sự tu của mình là cả một sự chiến đấu, sự quay trở lại nhìn thân tâm từng chút của mình, kiểm soát, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán, kiểm điểm, rà soát.

Vì vậy con hay nói cả cuộc đời người tu là đi tìm lỗi của mình, mình không có thấy lỗi của mình, mình thấy lỗi của người ta không à, nhiều khi mình phạm lỗi mà ta chỉ lỗi cho mình là mình sân si, mình ngã mạn lên, mình muốn tìm một cái gì đó phải trả đũa cho hả dạ, như vậy là không có tu được. Cho nên chúng ta thấy tâm hiền quan trọng không? Nói cái gì cũng trở về tâm hiền hết, không có tâm hiền là không tu được, rành rành là có lỗi vậy đó mà nhắc một cái là phùng mang trợn mắt lên, sân si, bản ngã lên, đó là biết nhận diện ngũ uẩn, biết tu tâm hiền đó, còn vô văn phàm phu không biết ngũ uẩn, không biết tu tâm hiền, không có tu tâm từ thì thôi rồi, không ai dám đụng vô hết, các bậc thánh sợ lắm, các bậc thánh, các bậc hiền giả, hiền trí thấy sợ lắm, không dám lại gần bởi vì xù lông nhím lên bắn ra. Thành ra mình tu phải để ý từng chút, từng chút, nhiều khi con ngồi chia sẻ pháp mà có những vị ngồi dưới một cái ánh mắt nhìn lên là con sợ, con cúi xuống liền, không dám, sợ quá, đó là ngay trong thời chia sẻ pháp nhìn cặp mắt là hết hồn, có nhiều vị lên ngồi thăm con nhìn ánh mắt thôi là con cúi xuống liền, không dám nhìn ánh mắt nữa, giống như con dao mài bén tới mức độ ánh nắng chiếu vô là lóe lên, nó chói lên vô mắt mình, sáng đến mức độ chói, bén quá bén.

Thành ra mình nhìn ra rồi thấy sâu sắc lắm, trí tuệ của đức Phật sâu sắc lắm, lúc đó con đi hoằng pháp ở bên Mỹ thì các vị chở đi tới đoạn đường đó có một cái mùi khủng khiếp lắm, không biết chỗ đó người ta làm cái gì mà cái mùi kinh khủng, kinh hoàng. Lúc đó con mới lấy cái tay bấm cho cái kính đóng lại thì mấy cô nói:

thầy tu vậy là tu giỏi

Dạ con có tu cái gì đâu.

À, bữa hổm có mấy vị đi ngang đây la lên quá trời quá đất

Thành ra mình thấy rằng thật sự mình tu với sắc; thanh; hương; vị; xúc, năm cái món làm cho mình sanh khởi lòng tham. Khi đối diện với sắc đẹp tâm mình có hôn mê không? Có mù mắt không? Có chột mắt không? Có bị chụp thuốc mê, chụp thuốc tê không? Khi đối diện với sắc đẹp và sắc cái này không phải chỉ con người cả nữa, rồi đồ nữa, nó cũng như cái ngày mình xuất gia thọ giới, các vị Phật tử ngồi phía sau đang trong buổi lễ nhưng thấy biển mây là đứng lên lấy điện thoại quay chụp thì con mới nhắc đang hành lễ. Có khi một cảnh đẹp thôi là làm cho mình không biết gì nữa hết, không biết là mình đang hành lễ, mình đang trong buổi lễ trang nghiêm thanh tịnh. Cho nên mình tu là để mình đối diện với sắc; thanh; hương; vị; xúc, nghe tiếng nhạc, lời ca rồi mình coi cảm giác mình ra sao, sáng này mình mới vừa thiền quán xong là có nhạc ở dưới dội lên liền, đó là thử lòng chiến sĩ, lúc đó có nhìn vô cảm thọ không? May sao mấy chú cũng hay quá, mấy chú mở nhạc khác lên trị cái nhạc kia, mấy chú này cũng có pháp khí, tức là dùng cái này để trị cái kia.

Có một cô Phật tử tu cũng lâu năm, cô hỏi con kế nhà con mở karaoke dội sang nhà cô, bây giờ cô không biết cách làm thế nào mà cô giận quá nên cô lấy xe chạy ra đường. Con nói cô mở thiền quán lên, ở bên đó mở nhạc thì bên đây mình mở thiền quán, lấy gai lễ gai, dùng độc trị độc, thì cũng vậy ở dưới mở nhạc tình nhạc tứ thì ở đây mình mở nhạc đạo nó áp cái tiếng đó. Mình tu là để đối diện với sắc, tiếng, mùi, vị, với xúc chạm, chúng ta để ý chữ tà hạnh trong các dục để chiêm nghiệm.

II. Giữ giới

Có vị hỏi là "xin sư phụ từ bi dạy chúng con hiểu rõ thêm về lợi ích của việc giữ giới và tác dụng cũng như quả báo của việc không giữ giới và lách luật như là tôi không sát sanh, chỉ để con vật bị trói bên cạnh ao nước nó tự rơi xuống chết tôi mới ăn, không thì thôi. Tôi không tự uống rượu do có việc không thể từ chối, bị ép buộc…". Bây giờ có thêm có vụ lách luật nữa, mượn cớ, ở trong bài sám hối diệt ngã mình có câu "ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm", thấy được cái câu này là trí tuệ lắm. Cái tâm mình nó ngụy biện lắm, cái hành của mình nó xảo trá lắm, mà đừng có nói người ta xảo trá, mình coi cái suy nghĩ của mình nó rất gian xảo, nó rất xảo trá, nó rất là xảo biện, xảo ngụy, nó viện cớ hết. Thí dụ mình làm sai cái gì là mình biết trước chứ, mình phải biết trước cái chuyện sai đó nhưng bên trong tâm nói "cái này cũng đâu có sao đâu, đâu có gì đâu, nhỏ mà" rồi lần sau cũng vậy "cái này cũng nhỏ thôi", lần sau cũng vậy "cái này cũng nhỏ thôi", làm hoài như vậy là nó thành một cái thật là to thành ra cái này quý vị về nghe thêm, con có giảng trong cái chuyên đề về nghiệp gần mấy chục buổi.

Cái này sâu sắc lắm, tất cả những trí tuệ về nghiệp của Đức Phật ở trong kinh Nikāya đã giảng ra gần cả trăm buổi, tất cả những cái trí tuệ về nghiệp của Đức Phật mà đặc biệt lắm. Chúng ta học bất cứ một cái lãnh vực nào, một cái đề tài nào, một cái trí tuệ nào của Đức Phật mà chỉ cần mình học kỹ, tu kỹ chỗ đó là đủ chứng để thánh quả A-la-hán luôn chứ không phải là học hết tất cả mới chứng, mới tu, mới đạt, chỉ cái nghiệp đó không là Đức Phật chỉ cho tới cái chỗ là đoạn tận tất cả nghiệp, bất động tâm giải thoát luôn cho nên chịu khó nghe, ở đây thời gian không có nhiều chỉ nói gọn. Lợi ích của việc giữ giới và tác hại cũng như là quả báo thì ví dụ như mình giết chúng sanh, hôm trước mình có sám hối rồi đó, mình giết chúng sanh như vậy thì hiện tại và đời sau mình sanh ra là một cái thân bệnh hoạn, một cái thân đầy rẫy những bệnh tật, nhiều khi tứ chi, lục phủ ngũ tạng bệnh hết, đó là quả báo của sự sát sanh.

Con có ở chung với hai ông thầy già ở chùa Bửu Liên, một ông qua đời rồi, một ông coi như mười năm cũng không thấy đi bác sĩ. Hai ông ở kế bên mà không hợp nhau, ông kia cứ năm ba bữa là đi vô bệnh viện lần, một ngày uống thuốc chục lần, có một chút gì đó là run hết trơn phải đi uống thuốc, bị đủ bệnh hết trơn, còn ông thầy bên đây là khỏe thật là khỏe, chục năm chưa thấy đi bác sĩ lần nào hết. Mình nhìn hai vị đó là mình thấy cái một người đời trước ít cái sát sanh và một người đời trước phạm vô cái nghiệp sát sanh nhiều, mình thấy được vậy là mình thấy pháp chứ không phải thấy con người, phải tập thấy pháp chứ đừng thấy người, cái pháp hiển lộ ra cho mình thấy.

Mình thấy trong nhà, trong gia đình hay trong công ty, xí nghiệp, trong đạo tràng, trong chùa, mình nhìn thấy được liền, có người khỏe không có bệnh gì hết, có người cứ bệnh rề rề hoài. Cái này nhớ bậc đạo sư, cái bệnh của ngài và tất cả của ngài là dồn chung hết tất cả vô lượng kiếp là để trả một lần, cái này nó đặc biệt hơn phàm phu của chúng ta. Tại vì sao? Đời này ngài đâu còn ở đây nữa cho nên cộng chung hết tất cả vô lượng kiếp trả một lần. Giờ mình ví dụ cái thứ hai là người đó từ sanh ra cho tới ngày chết không bị mất cái đồ gì hết, làm đâu thắng đó, làm gì được nấy, phát triển thành đạt, còn một người vài bữa bị mất cái này, vài bữa bị mất cái kia, vài bữa bị người ta lừa đảo rồi phá sản, thậm chí vô tù thì mình nhìn hai người đó mình thấy được một cái người là nhiều đời người ta giữ giới từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ trộm cắp, còn một người phạm cái giới đó cho nên bị người ta lấy cắp, phá lừa gạt, lừa đảo, thậm chí là hỏa hoạn đốt hết tài sản, thiệt hại về người, không thôi là lũ lụt cuốn hết tài sản, thổi bay nhà luôn, banh nóc luôn, tan bể, bể nát hết, hoặc là động đất chết người, vừa rồi ở miền tây sụt lở hoặc ở trong vùng chiến tranh.

Tất cả những cái đó không phải tự nhiên, có gia đình tan vỡ, đổ nát hết, chồng thì đi lấy vợ khác, vợ thì đi lấy chồng khác, ngoại tình, tà hạnh, tà dâm, con cái cũng vậy, người năm bảy đời chồng, thậm chí bị người ta bán như một cái món hàng, như một món đồ chơi, như một công cụ giải trí cho người khác cả một cuộc đời. Tất cả những cái đó là do đời trước tà hạnh trong các dục, tà dâm, không phải tự nhiên mà tất cả những cái đó là thành quả, cái kết quả, cái nghiệp quả, cái quả báo của người đó mà đời này họ phải nhận lãnh lấy hậu quả của chính họ làm.

Có người nhìn cái tướng phúc hậu, nhân đức, trang nghiêm, mình thấy có sự tôn trọng, hiền thiện, còn có những người mình nhìn thấy họ hung dữ mà họ thấp hèn, lẳng lơ, tất cả những cái hình tướng đó là nó biểu hiện cái nghiệp quá khứ của người đó. Có người nhìn thấy cái mặt hết sức là ác, hết sức là dữ, có người thì gương mặt hết sức là hiền từ, phúc đức, nhân hậu, mọi người cái tướng mình thấy là cao sang, sang trọng, cao quý, một người mình nhìn thấy họ thấp hèn, hạ liệt, không có sĩ diện, không có liêm sĩ, một người thì đứng đắng, đàng hoàng, nghiêm trang, còn một người thì lẳng lơ, buông lung phóng dật, gian tà, xảo trá, mình thấy nó biểu hiện ra hết chứ nên đó là cái thành quả của nghiệp, cái kết quả của nghiệp, cái quả báo của nghiệp, cái thành tích mà cái bào thai của nghiệp đẻ ra.

Khi mình học trí huệ về nghiệp thì mình giải mã hết cả hành tinh này, hết tất cả con người, sự vật, sự việc, hoàn cảnh, tất cả những cái người bị cái gì, tại sao họ bị vậy, mình dùng thánh trí tuệ chiếu vô, mình soi vô là nó sáng rõ ra hết, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng, không có cái gì mà khó hiểu hết. Thánh trí ngũ uẩn này giải mã hết, tại sao họ như vậy, có người nói ra người ta tin tưởng, nghe theo, có người nói ra người ta khinh thường, không thèm nghe giống như là gió thoảng vậy đó, người ta không thèm để ý gì hết thì người này đời trước nói những lời phù phiếm. Thành ra nói riết rồi cái lời nói không có giá trị gì hết, người ta nghe nói cũng như là không nghe, người ta coi không ra gì, cái lời nói không có trọng lượng, không có ký lô, không có sức nặng cho nên tất cả đều từ giới hạnh hết, đều từ giới hết.

Có người thì khờ khạo, đờ đẫn, ngơ ngáo, dại dại, si si, còn người nhìn vô mình thấy sáng suốt, tinh anh, thông minh, trí tuệ thì người này đời trước từ bỏ rượu men, rượu nấu, những chất say xưa, nghiện ngập, người ta sống đời chánh niệm tỉnh thức cho nên là người ta sáng suốt, tinh anh, trí tuệ, tất cả đều từ giới hành đưa tới hết. Còn cái chuyện lách luật này thì ráng chịu thôi, đó là mượn cớ, ngụy biện, khổ ráng chịu thôi.

Có vị này hỏi "không nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng nghĩa là sao con không hiểu, kính mong sư phụ nói để con được rõ". Mình nhìn một người rồi để ý lông mày của người ta, để ý con mắt, để ý lỗ mũi, để ý cái miệng, để ý cái tóc, để ý ngón tay, ngón chân… mình để ý những cái chi tiết như vậy. Khi mình để ý như vậy nếu mà cái thân tướng đó là đẹp, là khả ái, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục hấp dẫn thì cái tâm có nắm giữ không? Như vậy là nhớ mắt, nhớ mũi, nhớ miệng, nhớ tay, nhớ chân, nhớ móng tay, nhớ bàn tay, nhớ tóc, nhớ giọng nói, đó là nắm giữ tướng riêng. Nắm giữ tướng chung là cái tổng thể trắng cao, mập ốm gì đó, da ngăm, đó là tướng chung và tại sao mình nắm giữ tướng chung nắm giữ tướng riêng là tại vì mình không có hộ trì căn. Chư Tăng thời Đức Phật còn tại thế thì cái pháp hộ trị căn rất quan trọng, đây là cái hàng rào bước đầu đó, lúc nào người ta cũng giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của họ. Còn người tu bây giờ nói hộ trì căn lại không biết gì hết, còn bên Phật giáo nguyên chất thì còn có học, người ta có hành trì, còn hồi xưa thời Đức Phật cái này rất quan trọng.

III. Hộ trì căn

Trong những bài kinh đọc vào hôm mình thọ giới thì trong đó Đức Phật có dạy mình hộ trì căn, năm cái pháp mà hôm trước thầy Thiện Huệ đọc quý vị đó. Để không nắm giữ tướng chung và tướng riêng thì mình phải như lý tác ý, khi nhìn thấy cái đó là sắc là tứ đại, mình phải tập giải phẫu cơ thể của chính mình và của mọi người. Mình phải rạch một cái đường ở chỗ lòng ngực rạch xuống rồi mình mở nó ra cho phèo, phổi, gan, ruột đổ ra, lột cái da đầu xuống và cưa cái sọ này, mở cái hộp não ra, phải tập quán như vậy, tập nhìn thấy bộ xương, tập nhìn thấy đống tro, tập nhìn thấy phân, nước tiểu, máu, mủ, tập nhìn thấy ba mươi hai thể trược. Khi có một cái ý niệm ham thích thì lập tức mình lấy cái hình ảnh này hiện lên liền, đó là mình dùng tưởng trị tưởng, dùng hình bóng này để đánh đuổi hình bóng kia, phá cái ý niệm cho là đẹp, đó là tịnh tướng, đó là thức ăn của tham dục tức là tịnh tướng, là cho là đẹp, là hấp dẫn.

Khi mình cho nó là đẹp, là đáng yêu, là thích thì không thể nào mình không tham, không thể nào mình không muốn hết, không thể nào mình không ái, không dục hết. Phải nhìn thấy được mà mình thấy đây không phải là không có mà mình làm cho nó có, không phải là mình ảo tưởng mà sự thật là như vậy nhưng vì cái lớp da bao phủ ở bên ngoài nên mình không thấy. Cho nên trong cái bài thân trong rỗng của bậc đạo sư có câu:

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tim gan, máu, thịt xương

Phủ ngoài một lớp da trơn láng

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.

Mình phải có tác ý vì nếu không có tác ý là mình sống với tâm hôn mê, vô minh, dục ái, khi mình có tác ý mình thấy nó là sắc, là tứ đại, là bất tịnh, là nhớp nhơ, như vậy thì cái mình không có nắm giữ tướng chung tướng riêng nữa. Còn mình không thấy nó như vậy, mình thấy nó bình thường thì làm sao không nắm được? Cái tâm hôn mê này sao không nắm được? Nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng là tưởng thủ uẩn, là ở trong tâm mình sẽ ám ảnh cái hình bóng đó. Ví dụ đơn giản dễ hiểu thôi, mấy bà già lên tu ở đây mà lâu lâu nhớ cháu ngoại, cháu nội, hay là chồng con thì hình ảnh đó ám ảnh ở trong tâm, còn người yêu thương thôi khỏi nói rồi, ám ảnh trong tâm, làm cho tâm mình bất an lắm, tâm mình không có an tịnh. Nếu không an tịnh được thì làm sao thiền định? Cho nên phá cái tướng đó, phá cái hình ảnh đó, dùng cái thánh kiếm, thần đao chém cái hình ảnh đó, bằm nó ra, làm cho cái hình ảnh đó tan biến trong tâm.

Mình không còn nắm giữ tướng chung, tướng riêng gì nữa hết, "mày nắm cái gì? Nắm cái hũ cốt, nắm đống tro, nắm bộ xương, đem cái bộ xương đó thế vô". Mình đem những cái hình ảnh tu tập thế vô những hình ảnh đó, đó là cái pháp quán dùng hình ảnh để trị hình ảnh, dùng tưởng diệt tưởng. "Con thấy trong kinh Nikāya có câu khi thời đã đến nghĩa là gì?", khi thời đã đến nghĩa là sắp chết, ở ngoài đời người ta nói thời tới rồi tức là ngon lành lắm nhưng trong kinh nói thời tới là sắp chết. Tại vì sao? Vì Đức Phật và các bậc thánh, tất cả sự tu hành của người tu là để đối diện với lúc đó cho nên lúc sắp chết là cái lúc rất quan trọng và tất cả sự tu hành của mình là để đối diện với lúc đó. Còn người đời là ham mê dục lạc cho nên người ta đợi tới lúc được này cái được cái kia, người ta quý cái đó cho nên chú trọng cái từ đó "trời, ông này tới thời đó nha, thời tới là hốt bạc", đó là người ta chú trọng dục lạc, chú trọng cái dục, còn trong đạo là chú trọng thoát ly sanh tử cho nên cũng chữ đó mà hai nghĩa khác nhau.

Bữa nào mà nói thời tới là coi chừng rồi đó, tới thời rồi, thành ra mình tu là để là mình đối diện với cái chết. Vừa rồi ra ngoài Hà Nội vì có khóa tu, đêm đầu tiên con chia sẻ với đại chúng ở ngoài đó là "Đời người cái gì quan trọng nhất" chính là con nói về cái chữ "thời tới" này. Thật sự mình sống cuộc đời đáng thương lắm, mình sống cuộc đời lãng quên lắm, mình sống cuộc đời hết sức là hoang phí, phung phí, lãng phí, hao phí, mình hao phí, mình hoang phí, mình lãng phí, mình phung phí, mình xài rất là phí phạm thời gian, tuổi trẻ, trí lực, tâm lực, sức lực của mình rồi cho đến một lúc thật sự cần dùng tất cả những cái sức lực, tâm lực đó thì lúc đó mình tàn tạ rồi, thân tàn ma dại rồi, mình không có đủ sức lực, trí tuệ. Đó là người đời, cả một cuộc đời chạy theo năm cái dục chưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc, họ không có nhớ cái chết, họ không nhớ vô thường, họ không nhớ khổ đau, họ không nhớ đến tai nạn cho nên khi những cái đó ập tới lúc đó họ hoảng loạn hết và sức tàn lực kiệt, thân tàn ma dại. Họ thúc thủ, họ gục xuống, họ quỵ xuống, họ đổ xuống, họ ngã xuống và họ bị tử thần tròng vô cái cổ lôi đầu họ đi.

Họ không biết chuẩn bị cho cái chết, họ không biết trang bị cho cái chết, họ không có sự chuẩn bị để đối diện cái chết. Còn người tu chúng ta phải chuẩn bị khi thời đến tức là khi sắp mạng chung, chính vì vậy mà pháp niệm tử rất quan trọng, không có nhớ cái chết là không có tu được. Phải nhớ cái chết bất cứ ở đâu, lúc nào, hoàn cảnh nào, thời điểm nào cũng phải nhớ mình sẽ chết, đừng có tưởng là bảy chục mới chết, bây giờ chết trẻ rất nhiều mấy tuổi cũng bị ung thư nữa, cho biết trước mấy chú trẻ, mấy cô trẻ này. Cho nên toàn bộ sự tu hành là cuối cùng, cái thành quả của nó là đối diện với cái chết một cách bình thản, một cách điềm nhiên. Chúng ta thấy bậc đạo sư không? Đối diện với cái chết mà tinh hoa trí tuệ bừng sáng, đại từ, đại bi, đại hùng, đại lực, bất động, từng lời, từng câu, từng chữ chiếu vào tâm, rót vào tim mình, đó là minh chứng hùng hồn thánh trí, thánh tuệ thánh đạo, thánh quả cho nên người tu không được quên khi thời đã đến, không có được quên, phải nhớ.

Mình phải chuẩn bị 24/24, có mấy cây xăng đề 24/24 con đi ngang nhìn thì cười, thích lắm, 24/24 chuẩn bị cái chết. Lúc đó Bình Dương mới vừa xây dựng trở lại con đi ngang thấy cái bảng thì hoát nhiên đại ngộ liền, đề là "luôn luôn phải thay đổi để phát triển", cạo cái đầu là thay đổi chưa? Cạo cái tâm chưa? Luôn luôn có thay đổi để phát triển, đừng có đứng chỗ vậy hoài mà phải đổi mới, trong tâm mình phát khởi những cái thiện pháp, những cái pháp lành, những cái pháp tăng thượng là chụp bắt cơ hội ngay lập tức, quyết liệt, nhảy liền, giống như Trí Tùng sáng này bước ra là phát nguyện liền, tới luôn đó là cái người trí khéo nắm bắt cơ hội. Con thưa thật với các thầy, các cô, con thấy việc thiện, việc lành, việc tốt là con làm đại, con cứ làm liều đại, liều mạng đại nhưng cuối cùng lều vậy mà cũng được, lên trên núi này ở là liều, con thật sự ốm yếu, bệnh hoạn, không có ở xứ lạnh được, rồi sâu bắn cũng chịu không được.

Hồi đó mới lên không phải được như vậy đâu, té đau ạch ạch lúc 1h-2h đêm đi dạy học về, ống chân giờ còn thẹo. Thật sự con thấy cái gì thiện pháp mà nhất là chánh pháp nữa là lều mạng tới luôn, tới bến luôn đi, chết kệ thì kệ, "liều mạng kiếp này tu cho chết, chết hết vô minh thế mới siêu", ở ngoài đời người ta có gan làm giàu, còn mình ở trong đạo là phải liều mạng tu, quyết tử tu với tinh thần dũng sĩ, liệt sĩ mới đi theo bậc vô thượng sĩ. Cho nên mình phát được cái tâm thiện, phát được cái tâm lành, phát được những cái đức tốt, đức quý là mình nắm bắt kiên trì cho tới chết, đừng có bỏ, đừng có thối lui. Thiện tâm khó phát lắm, ác nghiệp lại đầy rẫy.

Vọng tình dị tập

Chí đạo nan văn

Bạt tục siêu quần

Vạn trung vô nhất

Dịch nghĩa:

Vọng tình dễ tập nhiễm

Chỗ chí đạo khó nghe

Vượt tục hơn phàm tình

Muôn người không được một

Hễ mấy cái đời là khỏi cần nhắc, khỏi cần ai dạy, đâu có ai dạy ăn cắp, đâu có ai dạy mình dâm dục đâu, đâu có ai dạy mình nói dối đâu, tại sao mình biết hết vậy? Cho nên cái thế gian, cái phàm tục là nó thâm căn cố đế, nó ngấm ở trong xương tủy của mình, còn cái thánh pháp này nó mới mẻ lắm mà mình thấm được, mình hiểu được là cơ hội không phải ngàn năm một thở mà vô lượng vô biên kiếp có một lần, mình nắm để nhảy cái một luôn, mạnh mẽ lên, nhà thiền gọi là "nhất siêu trực nhập Như Lai địa" nghĩa là nhảy một bước là vào thẳng đất Như Lai ngay, mình nhảy một cái lên tới Linh Quy Pháp Ấn cạo đầu luôn. Nhất chí không?

Cạo xong mà tới cái ngày xuống núi không xuống, giữ được luôn, cái đó mới tối thượng nhưng mà chưa, ở lại giữ cái đầu đó mà tiến tới cái tâm viễn ly, xuất ly, thoát ly, diệt tận tham, sân, si, thành tựu giới – định – tuệ thì cái đó mới tối thượng siêu. Mình phải nhớ kỹ cái này, trước cũng chết, sau cũng chết, sớm muộn gì cũng chết, trước sau gì cũng trở thành khói mây thì tiếc cái gì mấy cọng phiền não đó. Mấy người ngồi phía sau không dám cạo đầu tiếc cái gì? Cạo hết đi, tiếc cái gì mà tiếc, "tiếc bộ xương hả? Hay là tiếc nắm tro? Tiếc cái thân giòi hay sao?", có cơ hội quý báo như vậy mà không chịu nắm bắt. Con thưa thật với các ngài hồi đó giờ từ nhỏ tới lớn con thấy cái nào thiện, cái nào lành, cái nào tốt là con liều mạng không mà cuối cùng có thể rút ngắn lại hàng ngàn năm, tức là thí dụ như người ta phải đi qua hàng trăm năm, hàng ngàn năm, hàng hai ngàn năm mà con gặp bậc đạo sư có mấy năm thôi, giống như con xuyên không hai mươi sáu thế kỷ. Con lều mạng đại, sư phụ không cho, đệ tử và bao nhiêu Phật tử quay lưng hết nhưng lều đại, chịu chết luôn, "cho mày chết luôn, miễn sao mày đạt được chánh pháp thôi".

Thành ra bây giờ mới có đạo tràng Nikāya đó, phải có cái tánh gan gì, lì lợm, tới bến luôn, ai nói vì nói kệ, miễn sao mình đạt được chánh pháp thôi, miễn sao mình giải thoát thôi. Thí dụ bây giờ con cầm trên tay con là một cục kim cương, mà bây giờ tám tỷ người ở trên hành tinh này nói cái này là cục đá thì cục kim cương này có thành đá không? Kim cương là kim cương, chánh pháp là chánh pháp, ai nói gì kệ, mình biết được rồi. Mọi người đã thấy ngũ uẩn chưa? Đã thấy tham, sân, si chưa? Thấy bản ngã, dục ái chưa? Thấy khổ chưa?

"Đây không phải là tôi, đây không phải là của tôi, đây không phải là tự ngã của tôi, con chưa hiểu thế nào là tự ngã của tôi và cái tôi khác nhau như thế nào, xin sư phụ chỉ dạy cho chúng con". Tôi, hay là của tôi, hay là tự ngã của tôi thì đây là những cái khía cạnh của chấp ngã thôi, đây là những cái góc độ, những cái khía cạnh của sự chấp ngã. Bây giờ mình nói mình, nói tôi, nói ta, nói tao, giờ mình nói cái này là của tôi, cái này là của tao, mình với của mình, tôi với của tôi, tao với của tao, ta với của ta, rồi cái tự ngã của ta. Tự ngã của ta ở đây nhấn mạnh một cái ý nghĩa sâu sắc là khi mình lạy dám hối diệt ngã:

Bản ngã ẩn mình trong ngũ uẩn,

Bản ngã ẩn mình trong tâm mê,

Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết

Trước ngũ uẩn này bản ngã sanh.

Trong tâm mình một cái ý niệm, một cái cảm thọ, một cái hình bóng, một cái sự nhận thức, suy nghĩ là có một cái mình, có một cái tôi, mà cái tôi này là nó vậy hoài thôi, có chết thì mình cũng trở lại mình, cũng y chang vậy nè. Mình nghĩ con gái thì chết thành gái, con trai chết thành con trai, nghèo chết trở lại cũng nghèo, con chó chết trở lại thành chó, con mèo chết thành mèo, con kiến chết trở lại thành kiến. Không phải, tất cả là do cái nghiệp chứ không có một cái tự ngã, ngoài đời gọi là linh hồn là chết rồi mình trở y chang vậy đó, nhưng ở trong đạo thì mình nhìn thấy rồi, tứ đại, nghiệp, quả của nghiệp vận hành, có khi đi lên, có khi đi xuống, có khi đi ngang, đi đủ thứ kiểu hết đó. Đi ngang là mình còn được làm người, đi xuống là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đi lên thì có khi mình được làm thần, làm tiên, nhưng mà được cái đó rồi thì cũng rớt xuống, nó cứ lòng vòng như vậy, nó đi theo cái vòng tròn như vậy nhưng mà thâm sâu ở bên trong cái ý niệm, cái cảm thọ, cái tư tưởng, suy nghĩ, nhận thức của nó là nó có một cái mình, nó có một cái ta, có một cái tôi, có một cái bản ngã thì cái đó là cái sâu sắc.

Khi nào diệt tận ý nghĩ đó thì mới vào được chánh kiến, phá được cái ý nghĩ đó, mà muốn phá cái ý nghĩ đó là phải dùng cái như lý tác ý. Sau khi thấy đúng rồi phải đánh nó từ từ cho tới cái mức trong suy nghĩ mình không còn ý nghĩ về tôi, của tôi, tự ngã của tôi nữa, nó không còn khởi cái ý nghĩ đó nữa thì lúc đó mình mới thành tựu được chánh kiến. Không bao giờ khởi lên cái suy nghĩ đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi đối với tất cả, cái ý nghĩ đó hoàn toàn bị dập tắt, bị diệt tận, bị tẩy sạch, không còn bao giờ sanh khởi ý nghĩ đó lại nữa thì đó là thấp nhất là thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, cao nhất là bậc A-la-hán. Còn giờ mình đụng vào cái nào cũng cho là tôi hết, mắt của tôi, cái tai của tôi, miệng của tôi, mũi của tôi, cái lưỡi của tôi, cái thân của tôi, cái tâm ý của tôi, cái nhà của tôi, cái xe của tôi, giường của tôi, đất của tôi, cái cảm giác này của tôi, cái suy nghĩ này của tôi, cái nhận thức này của tôi, cái tư tưởng này của tôi, cái gì cũng của tôi hết thì phàm phu mãi mãi thôi. Tôi, với của tôi, với tự ngã của tôi, khi nào diệt được cái ý nghĩ đó, không còn cái ý nghĩ đó nữa thì lúc đó là mình mới đi tới được cái thấy đúng của bậc thánh, thấy đúng của Đức Phật.

Thầy Thiện Huệ:

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng, chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.

Sư Phụ: Trong bài kinh an ổn khỏi các khổ ách, Tương Ưng Bộ, tập IV, Đức Phật có nói: 'Này các Tỳ-kheo, có những sắc do mắt nhận biết khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những sắc ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai'. Kính trên sư phụ con không biết làm sao công phu và tác ý như thế nào khi mắt con nhận biết sắc khả lạc, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn mà con đoạn tận, cắt đứt từ bỏ gốc rễ làm cho không thể sanh khởi, không thể tái sanh". Cái này hồi nãy có nói rồi, đó là mình có cái pháp quán, có cái như lý tác ý cho nên mình không có nắm giữ cái ám ảnh đó trong tâm, cái hình bóng đó. Mình phải tác ý về cái bản chất của sắc cho nên những cái này sâu sắc lắm.

"Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai", cái tâm của các bậc A-la-hán, cái tâm của Đức Thế Tôn không có một hình bóng nào trong đó hết, không có một cái sắc tưởng nào trong đó hết, các ngài là ái tận, dục không còn, tham không có nữa thì làm gì có hình bóng nào trong tâm nữa, trong khi mình đủ thứ hình bóng hết phải không, ngồi lên nó tùm lum hình bóng, hết thương rồi giận rồi ghét, rồi buồn, rồi những hình bóng cũng không thương không giận cũng có luôn, hình bóng nào mình cũng dính mắc, cũng chấp thủ vô đó hết. Như Lai là diệt tận luôn bởi vì nhờ cái pháp quán sự tập khởi và sự đoạn diệt của sắc, bảy trí về sắc.

BẢY TRÍ VỀ SẮC

• Sắc: “Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – Kinh Thủ Chuyển. “Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi gì? Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn” – Kinh Đáng Được Ăn.

• Sắc sanh: Do các Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi.

• Sắc diệt: Do các Thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt.

• Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

• Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.

• Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.

• Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.

IV. Chánh Mạng

"Bạch sư phụ cho con xin hỏi Phật tử tại gia có được nuôi cá để ngắm làm cảnh hoặc nuôi thú cưng không ạ?", câu này cũng thực dụng lắm, "và người nuôi cá, tôm, heo, bò, không giết bán mà nuôi bán thì có bị mang nghiệp không ạ?". Cái này con cũng có muốn nói đó, chiều nay con cũng có tác ý, hồi nãy là tà hạnh trong các dục và tà mạng, sẵn liên hệ ở đây để nói về cái này. Đức Phật dạy người cư sĩ từ bỏ năm nghề, đó là không bán rượu, không bán thịt, không bán thuốc độc, không bán vũ khí, không bán người. Những điều này mình không học là không có biết, người cư sĩ phải từ bỏ năm nghề này, nếu mình bán rượu đó là mình tà mạng, mình nuôi sống không có đúng với pháp của người cư sĩ, bán thịt là mình gián tiếp để cho người ta sát sanh, bán thuốc độc là mình gián tiếp để sát sanh, cho ta giết hại, bán vũ khí cũng vậy, cũng để cho xảy ra những cái án mạng, những sự giết hại chúng sanh, rồi bán người thì hãy chúng ta nói đó, những cô gái bị bán, nam nữ gì cũng bị hại rất nhiều, buôn người, bán người.

Như vậy người cư sĩ phải từ bỏ năm nghề này thì Đức Phật gọi là nuôi mạng đúng, là sống đúng, còn không là tà mạng, tức là cái sự nuôi mạng của mình không có đúng pháp của người cư sĩ, của người đệ tử Phật. Cho nên quý vị cư sĩ nào rơi vô năm trường hợp buôn bán, kinh doanh cái này thì mình cố gắng từ bỏ vì những cái này nghiệp rất nặng, có thể đọa vào ba đường ác. Bây giờ qua cái đó rồi tới cái này, "Phật tử tại gia có được nuôi cá để ngắm làm cảnh hoặc là nuôi thú cưng hay không?", mình có muốn người ta bỏ mình vô hộp không? Mình có muốn người ta bỏ mình vô chậu không? Có muốn cảnh cá chậu chim lồng không? Chim bay trên bầu trời thấy nó thoải mái không? Vậy mà mình nhốt nó vô cái lồng để nó phục vụ cho mình, nó hót cho mình nghe thôi thì mình coi cái tâm của mình là cái tâm gì, cái tâm đó có hiền không, tâm đó có lòng từ bi không, cá chậu chim lồng để cho mình thưởng thức, để cho mình giải trí.

Bây giờ thiếu gì cái giải trí tại sao mình phải làm cho chúng sanh khổ? Nếu có ai nhốt mình vô lồng sắt để mình hát cho người ta nghe thì mình chịu không? Cho nên là mình hiểu pháp rồi nên từ bỏ những cái này, đây cũng là dục, là cái thích, cái muốn, cái khoái của mình nhưng làm cho chúng sanh khổ, làm cho chúng sanh bị kiếp giam cầm không được tự do. Người tu mình đúng ra là không có được nuôi mấy con vật mèo chó đâu, cái này là tự động ở dưới nhà phố nó đi lên trên đây nhưng mà con thấy nó cũng ảnh hưởng đến cái sự tu học của đại chúng dữ lắm, con cũng đang nói sao để trả lại, tại vì người ta đến chùa cần sự an tịnh, thanh tịnh nhưng nó sủa thì người ta không thấy an lành, an tịnh gì hết, làm cho người ta lo sợ. Còn người tu chúng ta xuất gia rồi bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em giờ vô khoái con chó, lại vuốt vuốt nó hoài, đi đâu cũng nhớ nó thì như vậy đó là thất bại lớn lắm, đó là sanh ra cái tâm ái mà cái không đáng ái, cái đáng ái, cái thiên luân tức là cha mẹ.

Nếu như mình ở nhà phụng dưỡng cha mẹ thì tốt hơn, cái ái đó là chánh đáng, là xứng đáng chứ không thể mình bỏ một cái ái cao thượng, thiên luân, chân chánh vậy mà bây giờ đổi qua những cái ái tầm thường, thấp hèn như vậy. Thành ra nhiều khi có những vị cứ thương, vuốt chó mèo, rồi cưng, thậm chí là nuôi con trẻ giống như con mình vậy đó, những cái này đều không đúng giới luật, nếu đi sâu vào có nhiều vấn đề lắm. Mình phải nhớ cái pháp gốc của Đức Phật là ly tham, ly ái, ly dục, những cái pháp nào làm cho cái đó sanh khởi lên, tăng trưởng lên là không có đúng chánh pháp, bất cứ đối với cái gì, ngay cả cảnh đẹp của mình, cái chùa mình làm lên mà mình yêu thích, mình ái nó cũng sai. Cái thân này mà mình còn phá cái ái thì tự nhiên bây giờ đem thú cưng vô rồi tối ngày vuốt ve hoài, thành ra mấy cái chỗ đó mình để ý kỹ.

Cái từ Nikāya này con giải thích rất là nhiều lần rồi, Nikāya là những lời dạy được truyền thụ nguyên gốc từ Đức Phật, được truyền thừa từ Đức Thế Tôn cho nên Nikāya có năm bộ: Trung Bộ, Trường Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ với Tiểu Bộ, nhưng ở đây mình sử dụng bốn bộ đầu, còn Tiểu Bộ là bộ kinh về sau này mới kết tập, Tiểu Bộ thì mình sẽ chọn lựa rất là kỹ.

V. Khóc khi thiền quán

"Con thấy khi sư phụ hướng dẫn thiền quán cho chúng con với nhiều đề mục khác nhau, chúng con nương theo lời dẫn thiền của sư phụ sanh khởi nhiều cảm thọ và khóc rất nhiều. Thế nhưng con thấy sư phụ rất ít rơi nước mắt và đầy sự an nhiên, dạ con không biết có phải nhờ tu tập lâu, chuyên tâm quán sát cảm thọ thì sẽ dần dần nhiếp phục được, không bị cảm thọ chi phối hay sao ạ? Kính mong sư phụ giải đáp nếu sư phụ thấy hợp thời". Vậy là giờ muốn con khóc phải không? Hôm trước có giải thích rồi, những dòng nước mắt của mình là những dòng nước mắt của cảm xúc hiền thiện, hiền lành, những dòng nước mắt chạm đến sự thật, nhìn ra được cái sai quấy, cái mê muội, cái vô minh, cái bản ngã, cái tham, sân, si của mình thì những dòng nước mắt này rất là quý. Hôm trước Ni sư Tuệ Quý trình bày năm dòng nước mắt rất là tuyệt vời, chúng ta cho tràng vỗ tay đi, rất là tốt, năm loại nước mắt, năm dòng nước mắt tức là năm dòng nước để rửa những cái cấu uế của tâm. Cho nên à vấn đề ở đây không phải là khóc hay là không khóc, khóc nhiều khóc ít, không phải ráng làm cho dữ lên, có nhiều người thấy nước mắt không có gì hết, mắt khô queo mà cứ hít hít, cứ làm cho lố, làm cho quá lên, có chảy nước mắt thì cứ để tự nhiên chảy ra thôi, mình không có kiềm lại mà mình cũng không ráng làm quá lên, đó là hai thái cực.

Khi nước mắt mình chảy cứ để nó chảy tự nhiên, mình đừng có làm lố, làm quá, mình làm giả là người ta nhìn vô thấy mình không phải chân thật, còn nó có thì tự động xúc động, cho nên không phải con không khóc, quý vị chưa nghe đâu, mai mốt con cho nghe, khóc bể đồi núi luôn, khóc nhiều quá rồi giờ nước mắt cũng khô rồi. Nhiều khi dẫn thiền quán cho quý vị cũng chảy ròng ròng tại quý vị không có để ý, vì khi thiền quán mình nhìn xuống, mình xoay vô tâm mình thì cái vấn đề đó không quan trọng, khóc nhiều khóc ít, khóc lớn khóc nhỏ không quan trọng, nó có thì cứ để đó, còn không có cũng không sao. Vấn đề quan trọng là vấn đề mình có tẩy não được không, có xoay đầu chuyển não được không, những cái chấp thủ, những cái vô minh, những cái bản ngã, những cái sân si, hơn thua ở trong mình có thay đổi không.

Cho nên bài kinh Thủ Chuyển là những sự chấp thủ bị rung chuyển, nó có rung chuyển không, tâm địa mình có rung chấn không, có chấn động không để nó thay đổi cách nhìn, thay đổi cái suy nghĩ, thay đổi cái nhận thức, thay đổi cảm xúc để ngũ uẩn thay đổi. Nhiều khi khóc la cho lớn, cho dữ rồi xuống dưới sân si, bản hả cũng vậy thôi, thành ra mình nhớ cái nào là cái ngọn, cái nào là gốc, làm sao mình cho những lời thiền quán đi sâu vào, nó đưa vô tới trong cái chỗ sâu nhất có thể để nó làm một cái sự chuyển hóa, một sự cách mạng, một sự thay đổi, một sự cải tạo, cải cách, một sự chuyển hóa, hóa độ ở trong nhận thức, cảm giác, suy tưởng trong tâm của mình. Nó lật đổ những cái chấp thủ, đập đổ những cái vô minh, nó phá tung những cái tham ái, những cái ngu si, mê muội, mình đưa những cái thánh trí huệ vô, làm một trận nội chiến vĩ đại ở trong tâm mình, có lúc thiền quán là lúc lâm trận, lúc ra chiến trường, lúc mình đánh phá, mình hướng vô trong đánh phá.

Nếu mình cố gắng tu tập được cái thiền quán là thật sự rất hay, cái pháp cao cấp, tối thượng nhất trong tất cả những cái pháp thoại là thiền quán, ngay đó vừa pháp học, pháp hành luôn, vừa định tuệ luôn. Nếu tâm mình không có an tịnh, lắng dịu, nếu tâm mình không có minh mẫn, sáng suốt, tinh anh thì lúc đó làm sao mình tiếp nhận nổi thiền quán? Làm sao mình làm một cuộc thay đổi lớn ở bên trong? Cho nên nó vừa có định, vừa có tuệ, vừa có chỉ, vừa có quán mà nó cũng là pháp hành ngay tại chỗ luôn cho nên thiền quán là cái đặc sản tối thượng của Đức Phật và các bậc thánh, cũng là đặc sản của Linh Quy Pháp Ấn. Nhớ cái đặc sản đó thì mình tu từ từ rồi mình sẽ có một sự thay đổi ở bên trong cảm thọ của mình sẽ thay đổi, những cảm thọ hiền thiện của mình sẽ lớn mạnh, nó sẽ đầy ắp, nó đầy tràn. Vì thế nhiều khi chỉ chạm nhẹ xuống thôi sẽ có cảm xúc rất là hiền thiện, dễ xúc động nhưng mà dễ xúc động ở đây không phải là người đa sầu đa cảm mà cái xúc động này là xúc động của trí tuệ, của từ bi, còn cái xúc động đa sầu đa cảm là khác, xúc động này là cái sự thấy, sự biết một cái tâm hiền, một cái tâm từ, một cái trí tuệ rất là rộng lớn cho nên rất là hiền hòa, rất là từ bi, rất là thấu hiểu, rất là cảm thông, rất là yêu thương, rất là tha thứ, một cái nhìn bao quát, phổ quát cả hữu tình vạn loại chúng sanh của tất cả ngũ uẩn.

Mình tu tập từ từ mình sẽ cảm thọ được, còn phần duyên sanh pháp của ý thức thì quý vị về nghe kỹ lại, trên đó có giải thích rất là nhiều bài. "Kính thưa sư phụ không phải là ăn chay hay ăn mặn mà vấn đề là ăn với tâm có tham, có sân, có si hay không. Câu này có đúng như lời Phật dạy không ạ? Xin sư phụ giảng cho chúng con được rõ hơn", hồi xưa thời Đức Thế Tôn thì chúng ta biết rồi là đạo Phật mới vừa thành lập nên người ta cũng không biết, bây giờ quý vị qua Ấn Độ thấy nghèo khổ, khó khăn không, huống chi 2600 năm trước. Bây giờ mình đi lại ăn xin mà mình đòi người ta phải nấu đồ chay cho mình ăn, người ta còn không có ăn nữa thì làm gì có vụ nấu cho mình ăn.

Cho nên hồi xưa cái hoàn cảnh lúc đó, con người, xã hội lúc đó thì Đức Thế Tôn là cứ đi ăn xin, ai cho cái gì, người ta ăn đồ dư, còn lại thừa thì người ta cho, người ta cúng nhưng bây giờ mình nói chuyện quá rõ ràng rồi, giờ mình ở nhà nấu chứ mình có đi xin đâu, cho nên mình ăn chay được thì rất tốt. Các thiền viện ở bên Phật giáo nguyên thủy ở Myanmar cũng có những thiền viện ăn chay trường, có những chỗ người ta để hai bên ai muốn ăn cái gì ăn, thành ra là vấn đề ở đây là mình tránh được cái sát sanh thì rất là tốt, nhưng mà mình không có không có ý kiến gì đối với những cái đường lối khác của người ta. Mình đừng có chấp đúng sai rồi trở thành cái tâm thị phi, mình chỉ lo tu cho mình thôi, rồi cái ăn của mình là chánh quán thọ thực về đọc ở trong cuốn Nikāya, đọc vô đó thì sẽ hiểu cách ăn của người tu mình.

Còn câu bốn đôi tám chúng này thì con đã có giải thích nhiều rồi, quý vị về chịu khó nghe lại, là các vị này là hướng cái tâm từ bỏ thoát ra ngũ uẩn mới là những vị ở trong bốn đôi tám chúng, hướng cái tâm mãnh liệt, mạnh mẽ để thoát ra ngũ uẩn, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, thấy khổ, thấy nguyên nhân khổ, chấm dứt khổ bằng đạo lộ tám đúng của bậc thánh, diệu hạnh, trực hạnh, ứng lý hạnh và chơn chánh hạnh những cái đức hạnh vi diệu, rất là nhỏ nhiệm, cái tâm của người ta là một cái tâm tất là chánh trực, ngay thẳng, thành thật, chân thật, gọi là trực hạnh. Ứng lý hạnh là ứng hợp với lời dạy của Đức Phật với chân lý đó mà thực hành, chân chánh hạnh là đời sống, cái nết hạnh rất là chân chánh, chân thật, chân thành, không có bất chánh, bất minh.

Ở đây mình nhấn mạnh cái chỗ tâm ngay thẳng, thành thật, chân thật, chân chánh, cái này rất là quý, cái này là chất liệu quan trọng nhất để mình tu, không có cái này là tu không thành tựu và con người ta hiền lành, chân thật, có sao nói vậy, người ta còn bản ngã thì người ta sám hối còn bản ngã, có tội là người ta sám hối có tội, có lỗi, người ta không có che giấu, không có giả trang, giả trân, bây giờ ta gọi dùng từ giả trân, cái tâm người ta rất là chân thành, chân thật, chân chánh, hiền hòa thì cái tâm này là cái căn bản để tu học chánh pháp. Người chân thật mới có tu được chánh pháp, người chân thành mới tu được chân pháp, cái tâm không có chân thật, cái tâm dối trá, cái tâm xảo ngụy, cái tâm gian dối khó tu lắm, muốn tu phải sửa cái tâm lại thành chân thật thì mới tu được chánh pháp. Chính vì vậy tại sao mình thấy cái chánh pháp lần lần mai một là vì con người không có chân thành, chân chánh, chân thật, sống nhiều với giả dối, dối trá cho nên cái pháp thật từ từ biến thành pháp giả luôn, là tại vì cái tâm của con người.

Từ cái pháp chân chánh của Đức Phật nhưng mà cái tâm họ giả cho nên họ làm riết rồi trở thành không còn cái pháp chánh nữa, cho nên cái thành thật, chân thật, chân thành là viên ngọc quý báo, là chất liệu quyết định trong sự tu học của chúng ta.

./.