Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Từ Đâu Có Ra Nghiệp - phần 1

2026-03-03 00:54:22
TỪ ĐÂU CÓ RA NGHIỆP? - PHẦN 1

THÍCH MINH THÀNH

Qua câu chuyện này chúng ta liên hệ đến biểu đồ nghiệp quả luân hồi của huynh Thiện Trí, đây là một Phật tử tiến sĩ ở Hà Lan, huynh đã liên hệ cộng tác, hỗ trợ Linh Quy Pháp Ấn để cùng nhau truyền bá chánh pháp. Huynh có đúc kết những lời dạy của Phật về nghiệp trong kinh Nikāya phân loại. Trong đây nói rất rõ:

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát).

Yêu cầu đại chúng phải học thuộc lòng câu này, đây là những giáo nghĩa rất quan trọng để mình tự tu và chia sẻ với những người cần tu học. Nghiệp là lời nói, hành động, ý nghĩa. Chính mình nói, chính mình nghĩ và chính mình làm thì mình sẽ thừa tự những thứ đó. Sự tu tập của mình có 2 phần:

Thứ nhất là ngũ uẩn tự thân, tự tâm mình.

Thứ hai là sự tác động bên ngoài, những thứ oan gia trái chủ do chính mình tạo.

Mình ý thức được nghiệp để mình cẩn thận, cho nên:

Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).

Suy nghĩ, nghĩ ngợi, sau khi nghĩ ngợi là bắt đầu tạo ra nghiệp về thân, miệng, ý. Cho nên ngồi thiền rất quan trọng để tập nhìn lại những cảm giác, suy nghĩ, tưởng và thức của mình.

Chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ (Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song Tầm).

Không phải tự nhiên có người thấp hèn, cao sang hay xấu xí mà tất cả đều do hạnh nghiệp của họ. Những cảnh khổ trên cuộc đời, bệnh tật, tật nguyền, tai nạn, bị tạt A-xít, những cái này do hạnh nghiệp của người đó tạo trong quá khứ và hiện tại. Giờ mình thương và giúp nhưng không bao giờ giúp cho hết, nhưng mình cứ giúp trong cái thiện lành còn cái giúp thật sự là người đó phải hiểu được cái nghiệp. Thành ra cái giúp của người xuất gia là đem đèn sáng vào trong bóng tối để họ thấy được sự thật của nhân quả nghiệp báo để họ tránh thì đây là cái giúp sâu xa của người xuất gia, còn người cư sĩ chỉ giúp để cứu đói chứ không cứu nghèo, giúp để tạm thời vượt qua cái đói tại thời điểm đó thôi. Cái mình giúp để được là phải hoằng pháp, nếu có duyên thì giải thích để họ hiểu được nguồn gốc từ đâu có sự nghèo khổ, xấu xa, thấp hèn, tất cả những cái này đều từ hạnh nghiệp của họ.

Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. (Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song Tầm).

Kinh sách đã ghi rất rõ ràng nhưng mình thấy người học Phật bây giờ như thế nào? Họ đi vào sự cầu nguyện mong được Phật rước nhưng không trú trọng vào nghiệp, không chú trọng vào sự suy tư, ý nghĩ, lời nói, hành động. Đây là chỗ cần phải tự mình thực tập rồi chia sẻ cho người khác, cần phải biết duyên khởi của các nghiệp.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).

Từ đâu sanh khởi ra nghiệp? Chính do sự tiếp xúc, đây là chỗ quan trọng. Khi nãy Đức Phật nói suy tư là nghiệp, còn bây giờ nghiệp tập khởi từ việc xúc chạm.

Này các Tỳ-kheo, cần phải biết nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).

Khi Ngài Anan hỏi về vấn đề ái thì Phật nói đừng tiếp xúc với người nữ, đừng tiếp xúc với những đối tượng mà mình sanh ra tham ái, sân hận, ham muốn, si mê. Khi tiếp xúc với những thứ này là các nghiệp sanh khởi, tiếp xúc với những thứ nào mà thiện pháp tăng trưởng thì hãy tiếp xúc, còn khi tiếp xúc mà ác pháp tăng trưởng thì mình giảm thiểu, hạn chế cho đến không tiếp xúc nữa. Có 6 xúc: nhãn xúc; nhĩ xúc; tỷ xúc; thiệt xúc; thân xúc; ý xúc. Khi nói đến việc tiếp xúc mình nhớ đến chuyện Ngọc Lâm Quốc Sư, ngài được thiên kim tiểu thư yêu và tương tư gần chết, cha nàng thấy vậy bèn đến chùa xin ngài Ngọc Lâm hoàn tục để cưới tiểu thư, sau khi cưới được Ngọc Lâm, nàng được chính Ngọc Lâm độ xuất gia. Sau khi ngài tu lên đến cương vị Quốc Sư thì Ngài tránh tiếp xúc với mọi người, còn nếu lỡ có xúc phải lúc đó phải có chánh niệm tỉnh giác, có sự quán chiếu rất sâu sắc, phải có áo giáp bằng đồng phòng thân còn không sẽ bị dính mắc. Đức Phật nói 1 trong những thứ làm cho người nam dính mắc người nữ và người nữ dính mắc với người nam là do tham ái.

Một nữ nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức, thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các Tỳ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.

Một nam nhân, này các Tỳ-kheo, tác ý nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nam nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy. Này các Tỳ-kheo, do thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn bà. Như vậy, này các Tỳ-kheo, nam nhân không thoát khỏi nam tánh của mình. (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VIII) (48) Hệ Lụy)

Đức Phật nói người nam không thoát khỏi nam tánh và người nữ không thoát khỏi nữ tánh nhưng điều quan trọng đầu tiên là do tác ý, thành ra Như lý tác ý rất quan trọng xuyên suốt trong suốt sự tu tập của mình. Thọ do nhãn xúc sanh, con mắt tiếp xúc sanh ra cảm giác thì mình phải tác ý như thế nào và mình có quán chiếu từ bỏ, ly tham, đoạn diệt không. Mình càng nhìn ra những cái dở tệ của mình thì mình càng trí huệ, nhìn kĩ cảm thọ trong những lúc bị tham sân si khởi lên là mình đang tu huệ, mình nghe hay đọc là văn huệ, còn mình ngồi thiền nghiền ngẫm, quán chiếu thì là tư huệ, lúc mình đụng chuyện mà sân hận, tham dục, si mê khởi lên mà mình ứng dụng được để chuyển hóa thì đây là tu huệ, đây là mức rất cao và mạnh, những cái này là những cái mình thành tựu trí huệ rất lớn cho chính mình, sau này mình có chia sẻ cho người khác thì đó cũng là thực chứng, thực ngộ, thực pháp. Chỗ thâm sâu là lúc mình tu huệ, chính là lúc sân hận, bản ngã, tâm mình bị bấn loạn, cảm giác biến động mà mình nhìn kĩ để nhận rõ, dùng Như lý tác ý, dùng sự quán chiếu để nhiếp phục thì đó là lúc tu huệ, mình làm được điều này thì rất tuyệt vời, từ từ mình sẽ nhiếp phục hết trong tự thân, tự tâm của mình. Khi tiếp xúc với món đồ mình thích thì ngay chỗ đó sẽ sanh ra tham ái và mình muốn có món đồ đó, từ đó mình sẽ làm mọi cách để đạt được cái muốn đó và sẽ sanh ra nghiệp. Chỗ này phải quán chiếu được sự từ bỏ, sự ly tham, thấy được sự nguy hại của nó. Sự tầm cầu của bậc thánh là luôn quán chiếu về sự nguy hại, cho nên tu dòng pháp này không hề dễ dàng, không phải dễ để thành thánh, chính chỗ này mới là chỗ đắc hay không đắc, ngộ hay không ngộ. Nó đòi hỏi trí quán, Như lý tác ý, sự quán chiếu phải liên tục không được ngắt quãng, khi mình thấy, nghe, ngửi, xúc chạm, cảm xúc trong tâm ý lúc nào cũng phải nhìn bằng Như lý tác ý, nhìn bằng sự vô thường vô ngã, khi được tán thán thì phải quán thân bất tịnh, quán nhàm chán các món ăn, quán từ bỏ những thứ vui sướng trong cuộc đời này. Khi mình bị hủy nhục thì trải tâm từ để trị sân hận, cho nên mỗi cái ác, bất thiện pháp đều có phương pháp nhiếp phục, điều trị ứng với các ác, bất thiện pháp đó, chứ không phải lúc được cung kính, cúng dường lại trải tâm từ, như vậy mình chưa có trí huệ sâu sắc thì không chuyển hóa được.

Tu cái này khó nhưng thật sự cũng không khó khi mình đã thấy đạo lộ, thấy được đường đi đúng thì từ từ cũng sẽ đến nơi. Khó là do mình không thấy đường, không biết cách, hiện tại mình tu rất sơ sài, hời hợt. Tu theo cách này ma mới sợ chứ còn tu theo cách cũ thì ma còn mừng. Liên Trì đại sư từng nói tu như mấy ông bây giờ thì Ma Vương vỗ tay ăn mừng nhưng tu như vầy thì nó sợ vì pháp tu này diệt tận mọi thứ.

Do duyên sắc; thọ; tưởng; hành; thức, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức (Tương Ưng Bộ, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt).

 Ta đoạn tận vị ngọt này, không còn cái gì để khởi lên hỷ lạc thích thú trong cuộc đời này thì không còn gì làm mình khổ được. Cho nên trong nội tâm mình thích chỗ nào thì dẹp chỗ đó, ái chỗ nào là đoạn chỗ đó để đi đến chỗ không còn ham muốn, thích thú nữa. Mình chỉ còn 1 cái thích duy nhất là thích không còn tất cả những cái thích nữa, mình mong muốn không còn mong muốn nào nữa. Tu cái này là bắt đầu thành tựu trí huệ để mình quán chiếu, nghe pháp thì từ từ mình sẽ nhẹ nhàng, sóng gió bão bùng ngoài kia cũng mặc kệ, từ từ mình sẽ đi đến chỗ bất động tâm giải thoát, không còn gì làm mình giao động được nữa. Chỉ có tu như vầy mới đi đến chỗ bất động, còn tu theo kiểu cũ mình còn tính cái này, tổ chức chương trình này kia thì làm sao đi đến chỗ bất động? Nếu muốn thật sự tu theo dòng pháp này thì phải ở trong rừng, trong thất để tu rồi chứng ngộ, thấm từng dòng kinh này rồi không còn thích muốn gì nữa, làm cho mình từ từ khô kiệt ngọn lửa tham dục, củi hết lửa tắt, dầu không còn nữa, tim lụn thì không còn cháy được ngọn lửa của tham sân si, bản ngã, từ đó sẽ đi đến chỗ mát lạnh thanh lương của Niết-bàn.

Này các Tỳ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn?

Tinh cần chế ngự,

Tinh cần đoạn tận,

Tinh cần tu tập,

Tinh cần hộ trì.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi hương ... lưỡi nếm vị ... thân cảm xúc ... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) (14) Chế Ngự).

Ác, bất thiện pháp ở đây chính là tham sân si. Phải giữ cho các ý căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý không tiếp xúc với tham sân si, cho nên cái tu của mình rất vi tế, không ngừng nghỉ. Nếu mình không có tinh cần chế ngự, không có tinh cần nhiếp phục, hộ trì, tu tập đoạn tận thì khi xúc nghiệp sẽ sanh khởi. Như lý tác ý và bốn sự tinh cần này phải thường trực được sử dụng liên tục, trong Bát Chánh Đạo thì chánh kiến và chánh tư duy, chánh tinh tấn là phải được thực tập liên tục, mình chỉ cần quên là sẽ buông lung phóng dật ngay, không có chánh niệm thì sẽ bị thất niệm.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sai biệt? Này các Tỳ-kheo, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là các nghiệp sai biệt. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại, hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Này các Tỳ-kheo, đây là các nghiệp dị thục. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).

Dị là biến đổi, thục là chín muồi. Nếu không tiếp xúc thì không có nghiệp, xúc đoạn diệt thì nghiệp đoạn diệt. Nghĩa là những cái xúc nào đưa đến bất thiện pháp, làm tăng trưởng tham sân si thì mình phải tránh, phải đoạn diệt. Còn những cái xúc nào giúp phát huy trí huệ giải thoát, xuất ly thì những cái xúc này phải tu tập.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến... chánh định (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).

Học cái này mới thấy Bát Chánh Đạo xuyên suốt trong việc tu tập. Tất cả sắc diệt đạo, thọ diệt đạo, tưởng diệt đạo, hành diệt đạo, thức diệt đạo thì chỉ toàn là Bát Chánh Đạo.

Này Punna có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Punna, có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Punna, có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Punna, có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Punna, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp (Trung Bộ Kinh, 57. Kinh Hạnh con chó).

Mình tu là đi đến chỗ nghiệp không đen không trắng, còn nghiệp đen nghiệp trắng là còn lẫn lộn thiện ác, nghiệp trắng đưa đến nghiệp trắng là thiện thì sẽ sanh thiên, có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng là do mình đoạn tận tham ái cho nên không còn nghiệp nữa. Mình hay nói đến Dự lưu và hướng Dự lưu quả là cái tâm mình bắt đầu hướng đến chỗ chấm dứt hết tham ái đối với cuộc đời, đối với ngũ uẩn. Đây là cái mà người ta không chịu nổi, mình nói người ta phải chấm dứt hết mọi thứ, đây là kiếp cuối cùng thì làm sao người ta chịu? Nhưng nếu thành tựu cái trí này và có hướng xác định rõ ràng thì gọi là hướng Dự lưu, trí huệ này là trí huệ khủng khiếp cho nên mới nói tu là phi phàm, phi thường.

Này Sìha, có pháp môn, do pháp môn ấy, nếu nói một cách chơn chánh về Ta, có thể nói: "Sa-môn Gotama là người chủ trương không nhập thai, thuyết pháp về không nhập thai và huấn luyện các đệ tử như vậy". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (II) (12) Tướng Quân Sìha).

Kiếp này là kiếp cuối cùng, không đi vào bào thai. Cái này thật sự là chánh pháp nhưng người ta lại khó chấp nhận. Khi phát khởi trí huệ là mình thấy thân tứ đại này bất tịnh, 32 thể trược, 9 giai đoạn của một tử thi tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp, thân thể này đen đúa, khùng điên, bệnh hoạn… lọt vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình thấy cả một vòng luân hồi không có một cái gì đáng cho mình ham muốn, ưa thích, mình chỉ muốn xả ly, đoạn diệt, từ bỏ thì cái tâm hướng như vậy gọi là hướng Dự lưu, mới vào được bốn đôi tám chúng của Đức Phật. Nếu còn đam mê đắm đuối trong này thì vòng luân hồi là vô tận. Mình phải thực tập trí huệ của Đức Phật thì mới gọi là nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Mình chỉ có cái tham duy nhất là đạt đến chỗ không còn tham nữa, bây giờ mình tu là mình đang thực hành cái nghiệp chấm dứt tất cả nghiệp, nghĩa là đoạn tận tham ái, làm được những điều này gọi là nghiệp không đen không trắng nhưng cái gì mình cũng làm thiện, ý nghĩ thiện, lời nói thiện nhưng mình không mong làm thiện để sau này hưởng quả ngọt. Chỗ này rất tinh tế, người bình thường làm từ thiện, bố thí thì mong sau này sẽ hưởng quả báo tốt, còn người tu thành tựu chánh tri kiến làm điều thiện nhưng không mong hưởng quả báo, dù có thiện thì quả báo này cũng là khổ trong vòng luân hồi nên không mong hưởng quả báo này mà mong chấm dứt trong vòng luân hồi. Vì vậy đây là nghiệp không đen không trắng, đoạn tận các nghiệp, không còn điều kiện, yếu tố, nguyên nhân để dẫn mình tiếp tục có đời sau nữa. Chậm nhất chỉ qua lại nhân thiên trong 7 đời thôi, mà 7 đời này cũng đủ cay đắng rồi, bệnh một chút vào mổ xẻ, mới cách đây không lâu ngoài Hà Nội có đứa trẻ sơ sinh mới mấy tháng tuổi phải vào bệnh viện thay băng nhưng không hiểu sao bác sĩ lại cắt đứt ngón tay đứa bé. Một chú bị tai nạn giao thông, vào viện phẫu thuật cánh tay nhưng cuối cùng lại chết. Trong 2 ngày ở Thụy Sĩ rớt máy bay 2 lần, nhìn thấy những chuyện này để mình thấy trong vòng luân hồi này toàn khổ đau, xem những cảnh khổ thì nước mắt chảy ràng rụa không thể tưởng tượng nổi. Cho nên phải đoạn tận hết tất cả nghiệp, đây là điều phi thường mà những người thường không thể chấp nhận được, nhưng nếu chấp nhận được là siêu phàm nhập thánh.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỳ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Các Tỳ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, 145. I. Nghiệp).

Từ đó giờ mình cứ nghĩ nghiệp cũ là nghiệp ở thuở xa xưa của mình nhưng không ngờ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là nghiệp cũ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỳ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, 145. I. Nghiệp).

Nghiệp cũ được biểu hiện trên 6 căn. Những việc gì với thân, lời, ý ngay bây giờ thì đây là nghiệp mới, tức là những gì mình nói, mình nghĩ và mình làm trong hiện tại thì đó là nghiệp mới. Tại sao sanh ra lại bị mù? Đó có phải là nghiệp cũ trong quá khứ của mình biểu hiện trong hiện tại không? Tại sao sanh ra bị lé? Có phải nghiệp cũ không? Mới có mấy tuổi đã phải mang kính cận vì có bệnh về mắt, đây là nghiệp cũ biểu hiện như vậy. Tại sao có người sanh ra có sống mũi cao đẹp mà có người bị mũi xẹp? Lỗ tai bị bệnh điếc? Sanh ra bị câm, ngọng, phát âm không rõ ràng? Những người bị chất độc màu da cam rất khổ sở, mẹ già 80 tuổi phải nuôi 3 đứa con tật nguyền, trong đó 2 người bị chất độc màu da cam phải nằm một chỗ, đứa còn lại bị tâm thần. Có những đứa trẻ được gọi là thần đồng nhí, mới 4-5 tuổi mà kiến thức rất nhiều, có nhiều tài năng thì đó là nghiệp cũ đã được tích tập trong quá khứ. Còn giờ mình đang nói, đang làm, đang suy nghĩ thì tất cả những cái này là nghiệp mới. Nếu mình tu mà nghiệp không dừng lại, không giảm thì mình lại tạo thêm nữa, cái cũ cộng thêm cái mới mình đang tạo ra rồi ra quả báo, nhưng quả báo còn dị thục nữa chứ không phải chỉ vậy, thế là tiếp tục đời sau nghiệp cứ chồng chất. Người tu là phải chấm dứt các nghiệp.

./.