Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Bốn Sự Tinh Tấn 2 - Kinh Chế Ngự - Tăng Chi Bộ

2026-03-03 00:54:22
Kinh Nikāya Giảng Giải

BỐN SỰ TINH TẤN 2 - KINH CHẾ NGỰ - TĂNG CHI BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tứ Chánh Cần PAGEREF _Toc112763410 \h 1

II. Niệm giác chi PAGEREF _Toc112763411 \h 5

III. Tinh tấn PAGEREF _Toc112763412 \h 6

IV. Bảy trí về sắc PAGEREF _Toc112763413 \h 10

I. Tứ Chánh Cần

Ở đây chúng ta đang tìm hiểu chủ đề Tứ Chánh Cần, chúng ta đã trải qua ba bài kinh để nhìn toàn diện các góc độ của Tứ Chánh Cần theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật chứ không được nói chung chung, nếu nói chung chung thì điều thiện là gì, điều ác là gì? Cuối cùng học chung chung, tu chung chung, nói chung chung và làm chung chung nên kết quả không có gì hết.

Tinh cần chế ngự là khi mắt tiếp xúc với sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy. Công đức của cố đại lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu rất lớn lao, bây giờ ra nước ngoài học tiếng Pali rất tốt nhưng uổng vì không cần thiết, vì tất cả đại tạng kinh đều được dịch ra Tiếng Việt cho nên học rất dễ, vậy mà cũng không học, muốn đi ra nước ngoài để học tiếng Pali rồi mò mẫm dịch ngược lại Tiếng Việt, thành ra chúng ta không biết thừa hưởng thành quả vĩ đại của bậc tiền nhân nên chúng ta đang đi con đường vòng rất xa.

Đại tạng kinh được dịch ra Tiếng Việt nhiều khi đọc còn chưa hiểu nổi chứ đừng nói gì đến tiếng Pali, đang giảng Tiếng Việt, có tài liệu Tiếng Việt vậy mà hỏi lại quên mất thế mà qua đó học bằng tiếng anh là sao? Học là tốt, thực tập là tốt nhưng phải thông minh trong việc học, thông minh trong sự thực tập, còn không sự ra công của mình là lòng vòng.

Thay vì tốn 3 năm để thâm nhập pháp tạng thì đằng này tốn đến 30 năm mà vẫn đi lòng vòng bên ngoài, con thực tập chưa đầy 3 năm trong kinh Nikāya vậy mà những vị tiến sĩ học bên Myanmar mà con hỏi năm uẩn vẫn không nói được, về phương diện khác các thầy rất giỏi và mình cần học hỏi theo nhưng để hiểu được cái lõi của tạng kinh không phải dễ dàng cho nên cần học thông minh và thực tập khéo léo. Tại sao chúng ta tu học không thành công?

Thật sự chúng ta đang đi rất xa với những gì Đức Phật dạy, pháp học chính là cái mà mình cần học thuộc lòng và nắm bắt những ý tưởng cốt lõi và quan trọng theo chánh văn của kinh tạng, chỉ cần diễn dịch Tứ Chánh Cần hời hợt, đơn giản hoặc lệch một chút thì những người đi sau sẽ đi theo đó. Khi học Tứ Chánh Cần trong giáo lý nguyên chất của Đức Phật thì chúng ta lại mù mờ, chúng ta đã nghe giảng giải, đã có bản kinh nhưng hỏi lại không nhớ thì làm sao chúng ta thọ trì được?

Chúng ta bị thất bại từ phần văn, nếu phần văn không thành tựu thì phần tư cũng không thể thành tựu, ngày nay mạnh ai nấy giảng, mạnh ai nấy tưởng, mạnh ai nấy diễn cuối cùng loạn pháp, trong kinh Nikāya nói là chánh pháp bị nhiễu loạn, muốn giảng sao là giảng, muốn nói sao thì nói trong khi Đức Phật nói rất rõ mà không chịu học. Bây giờ pháp học không thành tựu, không biết tinh cần chế ngự là gì thì làm sao suy tư, làm sao thực tập? Nói chung chung "ác chưa sanh thì đừng để sanh, ác đã sanh thì diệt, thiện chưa sanh thì đừng để nó sanh, thiện sanh khởi rồi thì làm cho phát triển lên" thì làm sao đúng được?

Định nghĩa được Đức Phật dạy phải siêng năng, để ý chế ngự con mắt, những nguyên nhân gì làm con mắt sanh khởi lên sự ham muốn, khoan khoái, những cái sắc khả ái, khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn phải chế ngự, đoạn tận. Cho nên nếu không thuộc lòng thì làm sao suy nghĩ cho đúng, mà không nghĩ đúng thì làm sao thực tập, không thực tập thì làm sao đi đến thành tựu? Có thầy nói rằng "nói được là mừng rồi, sợ nói không được", không phải như vậy, thà là không nói còn nói là phải nói đúng, điều này rất quan trọng vì không chịu mình sai, không chịu mình dở, không chịu mình là người không biết mà cứ tỏ ra mình là người biết.

Khổng Tử có nói "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã", nghĩa là biết thì nói là biết, không biết thì nói không biết như vậy gọi là biết, cho nên khi không thuộc bài thì nói là không thuộc chứ đừng đứng lên nói tràn lan rồi sau này mình dạy học trò cũng vậy "không biết nên nói đại chứ giờ chẳng lẽ nói không biết thì xấu hổ", rồi học trò học sai hết, sau đó người đó hướng dẫn lại cũng sai rồi cuối cùng sai đều, cho nên vấn đề văn tuyệt đối quan trọng, đó là lý do Đức Phật gọi đệ tử của ngài là đa văn thánh đệ tử, ngược lại là vô văn phàm phu.

"Đa văn" là nghe nhiều những lời dạy của Đức Phật, "thánh" tức là Đức Phật. Bây giờ chúng ta không chú trọng lời của Đức Phật, đây là chỗ mình cần nhìn nhận vấn đề, những lời Đức Phật dạy rất bình dị, sâu sắc để phá vỡ cội gốc tham sân si, giúp cho chúng ta thành tựu giới – định – tuệ nhưng mình lại không thích, mình bị tư tưởng nguy hiểm cho rằng đó là Tiểu Thừa, chúng ta ưa thích ăn to nói lớn, không chịu nghe lời giáo huấn của Đức Phật nên phần văn – tuệ chúng ta không thành tựu vì nghe lời của Đức Phật sẽ sanh ra trí tuệ còn nghe lời không phải là Đức Phật hoặc không phải bậc đa văn thánh đệ tử của Phật chỉ tăng thêm tri thức, kiến thức còn nghe lời Đức Phật tăng thêm trí tuệ và trí tuệ này gọi là chánh trí, thánh trí tuệ. Vì trí tuệ này có công năng đưa mình chấm dứt khổ đau, chấm dứt sanh tử nên gọi là thánh trí tuệ, thánh tri kiến. Chúng ta không để tâm vào lời dạy của Phật thì tất nhiên văn – tuệ không thành tựu.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.

(Tăng Chi Bộ, Chương IV- Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Tầm là sự suy tầm, suy tư, hướng tâm. Tâm mình hướng về dục và mình không chấp nhận cho sanh khởi, khi tâm hướng về suy tư sân hận, bực bội là không chấp nhận thì Đức Phật gọi là khi nó khởi lên thì từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Khi sanh khởi lên sự hướng tâm muốn hại người khác thì từ bỏ, tẩy sạch, không cho nó hiện hữu trở lại.

Ở đây Đức Phật chỉ nói gọn là tham sân si còn nói rộng ra sẽ có rất nhiều pháp: Ganh tị, tật đố, ngã mạn, ích kỉ, hẹp hòi… Những lời này phải được học thuộc lòng để thực tập, thực hành, còn tự mình diễn theo ý mình thì giáo pháp càng ngày càng mạt, nhờ có các vị Tam tạng pháp sư học thuộc lòng mới truyền trì và nhờ cố đại lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu – bậc đại trí huệ của Phật giáo Việt Nam, gọi là Huyền Trang pháp sư của Việt Nam ta, chính là Đường Tăng, không có Hòa Thượng thì mình không thể thừa hưởng được những điều cổ xưa của Đức Phật cho nên mình phải thuộc lòng kinh điển. Cứ nói chung chung tu tập là niệm Phật, tụng kinh, trì chú, đó là tu tập theo bây giờ còn giờ muốn hiểu sự tinh cần tu tập theo thời Đức Phật như thế nào thì phải thuộc kinh mới biết được.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.

(Tăng Chi Bộ, Chương IV- Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

II. Niệm giác chi

Đó là tu tập theo thời Đức Phật, mình đang học những pháp được Đức Phật dạy thời xưa, và niệm giác chi là gì?

Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ, kính thưa đại chúng, con xin trả lời câu hỏi niệm giác chi là gì. Kính thưa thầy, kính thưa đại chúng, theo tinh thần Nikāya, niệm giác chi là sự chánh niệm mà chánh niệm đó trên bốn phương diện: Chánh niệm trên thân (niệm thân trên thân), chánh niệm trên thọ (niệm thọ trên thọ), chánh niệm trên tâm (niệm tâm trên tâm), chánh niệm trên pháp (niệm pháp trên pháp). A-di-đà- Phật.

Con xin giải thích bảy giác chi:

Niệm Giác Chi.

Trạch Pháp Giác Chi.

Tinh Tấn Giác Chi.

Hỷ Giác Chi.

Khinh An Giác Chi.

Định Giác Chi.

Xả Giác Chi.

Con xin ví dụ một đề mục, chẳng hạn niệm thân, mình niệm hơi thở hoặc niệm các oai nghi, khi mình chánh niệm trên từng hơi thở hoặc chánh niệm trên từng oai nghi như đi, đứng, nằm, ngồi thì sự chánh niệm này phải có sự chú tâm, nhiếp tâm, chán niệm liên tục, như vậy gọi là chánh niệm. Trạch pháp nghĩa là phân biệt, khi mình chánh niệm và biết mình chánh niệm, khi vọng tưởng thì mình biết mình đang vọng tưởng và không có chánh niệm, khi mình biết vọng tưởng thì trở về an trú chánh niệm.

Như vậy trạch pháp là phân biệt rõ chánh niệm và không chánh niệm. Tinh tấn là khi đạt được chánh niệm thì có động lực theo dõi đề mục, an trú liên tục. Khi tinh tấn thì phát sanh hỷ nhưng cái hỷ này không thuộc về vật chất mà thuộc về sự tu tập và hỷ này được duy trì liên tục, càng ngày càng đi sâu thì đạt được trạng thái khinh an. Khinh an là thân tâm đều nhẹ nhàng, và mình duy trì trạng thái này thì tâm được định tĩnh, khi tâm định tĩnh thì phát sanh trí huệ, thấy được sự vô thường, vô ngã của vạn vật, từ đó tâm được xả ly tất cả thân – thọ – tâm – pháp, mình xả ly, ly tham, đoạn diệt các lậu hoặc. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

III. Tinh tấn

Sư Phụ: Rất khá. Cho nên nếu nói tu tập chung chung là không được, nếu nói chung chung thì người không phải Phật tử cũng có thể làm được nhưng sự tu tập này của bậc đa văn thánh đệ tử. Chữ "niệm" trong thất giác chi là bảy chi phần, bảy pháp, bảy thành phần đưa đến giác ngộ. Đầu tiên là an trú tâm trong Tứ Niệm Xứ, vì thế nếu giải thích niệm chung chung là chánh niệm, đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm… thì chỉ mới là một phần trong sáu phần của Thân Hành Niệm, không đầy đủ. Riêng phần niệm thân trong Tứ Niệm Xứ đã có 6 pháp: Niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm 32 thể trược; niệm 9 giai đoạn của một tử thi, riêng phần niệm thân đã phải thành tựu 6 pháp, còn không biết gì hết thì làm sao niệm thân? Nếu không niệm thân thì không thành tựu trí huệ về sắc uẩn, sẽ là vô văn phàm phu. Khi nhìn về tự thân thì mình sẽ thấy một cái "tôi" và "của tôi" chứ không thấy, không biết…

… đây là sắc pháp, là tứ đại, là duyên sanh,

… đây là sự tập khởi, sự đoạn diệt và sự nguy hại của sắc.

… tại sao sắc này hình thành và sanh khởi và chấm dứt.

… vị ngọt của sắc, sự nguy hại và sự xuất ly khỏi sắc.

Riêng phần thân có 6 pháp và 7 loại trí huệ về sắc phải thành tựu, tổng cộng có mười ba pháp để phá sắc thủ uẩn, sự chấp thủ vào trong sắc. Vì sao chúng ta tu không thành công? Ở trong chùa lâu rồi mà ai đụng chạm vào là ta đây, bản ngã, hơn thua, gốc rễ của vô minh và tham ái trong sắc uẩn còn y nguyên, thậm chí còn tăng trưởng, phát triển, bành trướng theo năm tháng trong chùa. Nó không được nhiếp phục thì làm sao đoạn tận? Vì phần học không thành tựu, phần tư không thành tựu thì làm sao phần tu thành tựu? Văn – tư – tu đi chung với nhau kia mà, phần văn đã không đầy đủ thì làm sao quán chiếu phần tư đầy đủ?

Vì thế chúng ta hiểu về văn – tư – tu quá đơn giản, thời xưa Minh Thành học với bây giờ rất khác, văn là nghe trong kinh Nikāya mới thành tựu phần văn – tuệ vì ngoài thánh trí huệ của Đức Phật thì không một ai có thể so sánh được, những phần khác không được kể là văn – tuệ vì đó là trí của phàm phu, chỉ có lời của Đức Phật và lời của bậc thánh đệ tử mới gọi là văn – tuệ. Sau khi nghe thì dựa trên phần nghe đó suy tư, quán sát, tác động tâm ý (Như lý tác ý), nghiền ngẫm, quán chiếu thì đó là phần tư – huệ thứ hai.

Ví dụ mình nghe nhiều lần chuyên đề 32 thể trược và 9 giai đoạn của một tử thi và thuộc lòng, khi ngồi lại bắt đầu mình đọc lên tóc, lông, móng, răng, phân, nước tiểu, phèo phổi, gan ruột, lá lách… đọc tới đâu hiện lên tới đó, khi quán như vậy thì muốn xa rời, xả ly, thoát ra. Như vậy gọi là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đó là hiệu quả của chánh pháp, đó là phần tư – huệ, còn giờ mình không thuộc hoặc thuộc không đủ thì không đầy đủ trí huệ, còn thuộc đầy đủ thì đọc lên tới đâu hiện ra hình ảnh đến đó nên ngao ngán, ê chề.

"Tại sao lại ngu si trong đống thịt máu này, rồi lại say mê, khát ái trong này. Thật là đau khổ cho ta! Thật là si mê cho ta! Thật là ám muội cho ta! Thật là vô minh cho ta! Tại sao ta cứ lòng vòng trong đống máu thịt này hoài, đi ra không được vì sắc ám ảnh, cảm giác ám ảnh, hình bóng xâm chiếm, áp đảo trong nội tâm không ngồi thiền được, bị suy nghĩ xúi giục phải đi tìm kiếm". Sự quán chiếu đó để phát triển phần tư – huệ và tu tập trên nền tảng nghe và suy tư, ứng dụng vào để tu tập.

Ông thầy y chỉ nương tựa, thật sự của mình là sự rời xa, không tham muốn, chấm dứt và đi ra khỏi tâm chấp thủ trong đống máu mủ này, đó chính là bậc y chỉ sư, là trí huệ thâm sâu khi mình quán chiếu tu tập. Từ nãy giờ mình chỉ nghe thôi đã có những hình ảnh đó hiện ra trước mắt, suy nghĩ của mình thật sự là bất tịnh, thật sự là gớm ghê, thật sự là dơ bẩn như vậy, đó là trí tuệ quán chiếu về sắc uẩn, sắc pháp, về Thân Hành Niệm cho nên phải nghe và tư duy tu tập, còn giờ nghe theo kiểu tướng hảo, trắng trẻo thì đó là nghe để dục tăng trưởng, ái tăng trưởng và vô minh tăng trưởng, đó là lời nói của vô văn phàm phu còn lời nói của bậc Chánh Đẳng Giác làm cho mình xả ly, rời xa vì mình tham đắm vào thân này nên mình đau khổ, chính vì vậy phải dạy bảo mình không được tham nữa mới hết khổ.

Nhưng không phải nói không tham là không tham liền được mà cần phải thể nhập trí tuệ, thực tập hành trì. Khi sân hận sanh khởi lên thì cần thấy nhàm chán "cái sân này làm cho mình đau khổ, cái giận này đốt cháy mình, hành hạ mình, làm khổ mình, làm khổ người, làm khổ tất cả chúng sanh. Nhàm chán cái sân, cái giận này, chỉ muốn từ bỏ, xả ly, đi ra khỏi cảm giác sân hận này. Không chấp nhận nó nữa". Trong tinh cần đoạn tận có ghi "không có chấp nhận sân tầm khởi lên", khi có suy tầm, suy tư về sự tức giận là không chấp nhận suy nghĩ, cảm giác đó, không chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển nữa mà cần đoạn tận, tẩy sạch khiến cho nó không hiện hữu trở lại.

Đó là sự tinh tấn thật sự trong Phật pháp, không bao giờ Đức Phật nói phải xây chùa cho nhiều, Phật không kêu mình làm cảnh cho đẹp để mọi người đến chiêm ngưỡng, Phật không kêu gọi phải mở rộng cho nhiều tín đồ mà Phật dạy mình phải thành tựu trí huệ – giới đức – thiền định thì tự động mình ở đâu thì chỗ đó thành đạo tràng, vì mình đã mở trói cho chính mình nên sẽ có khả năng tháo gỡ cho người khác. Bản thân mình bị trói đầy bởi dục tham ái, sân si, bản ngã mà mình nói để giúp mọi người ly dục, hết tham thì ai tin? Cuối cùng không giải quyết được vấn đề của mình và cũng không giúp được người khác, có khi lại hại họ. Chính vì vậy mà đời sống của chư Tỳ-kheo thời Đức Phật là viễn ly xa vắng, tu tập thiền định, quán chiếu trí huệ, nghe giáo pháp văn – tư – tu – giới – định – tuệ.

Này các Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương IX. Tương Ưng Vô Vi, Phần Một - Phẩm Một, I. Thân) 

Đó là sự tinh tấn, tại sao chúng ta lại có cái gọi là nhập thất? Nhập thất chính là những thời gian chúng ta làm những chuyện này chứ không phải suốt ngày hướng ra ngoài làm những công việc bên ngoài, làm việc bên ngoài hoài mà bên trong thì trống rỗng, bên ngoài bị mất đi thì mình sụp đổ theo đó nhưng chắc chắn bề ngoài sẽ sụp đổ vì bản chất nó là vậy.

Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).

Có 6 pháp niệm thân: Niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm hơi thở; niệm 32 thể trược và 9 giai đoạn tử thi và lớp chúng ta đã được học rất nhiều nhưng khi ra khỏi lớp rơi rớt hết, Đức Phật gọi là trí huệ bắp vế.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Lộn Ngược)

IV. Bảy trí về sắc

Thế nào là bảy trí huệ về sắc? Đây là những điều cốt lõi trong pháp học và pháp hành, nếu không nắm được những cái này thì không thể thực tập, quán chiếu được.

Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy và đại chúng, con xin đọc 7 trí về sắc:

 Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, VII. Đáng Ðược Ăn)

Duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đây là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn tận dục tham đối với sắc, đây là sự xuất ly của sắc.

(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ (Sattatthàna))

Đây là điều quyết định trong pháp học và pháp hành, nếu không thuộc sẽ không tu đúng theo lời dạy của Đức Phật. Sắc là tự thân mình mà không biết thì làm sao tu? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành gọi là sắc, tức là đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo ra gọi là sắc. Phải thuộc lòng để biết quán chiếu khi thực tập. Bị biến đổi nên gọi là sắc, Đức Phật định nghĩa sắc bị biến đổi, nó không thể không biến đổi cho nên khi nhìn bất kì món đồ nào hoặc con người nào đều phải nhớ "sắc bị biến đổi, nó sẽ bị biến đổi" thì đó là mình biết tư – huệ, còn không thuộc thì thấy sắc vẫn là sắc, không biết tác ý, nói gọi là bị biến đổi còn nói rộng ra là vô thường, tan nát, hủy hoại, tan hoại, diệt vong, đọc thêm câu này nữa thì tâm mình sẽ lắng dịu từ từ để bớt sự thúc giục, ham muốn. Nếu đã bớt thúc giục, ham muốn thì bớt khổ.

Thế nào là sắc sanh? Tại sao cái thân này có mặt ở đây? Khi nói phải nói theo lời kinh của Đức Phật chứ không được nói theo lời của mình, lời của mình là phàm phu chứ không phải thánh pháp. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt và đây là sự sanh diệt của sắc, cần được thuộc lòng. Thức ăn không chỉ là món ăn cơm, cháo, phở… mà có đến bốn loại thức ăn.

Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?

Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,

Xúc thực,

Tư niệm thực,

Thức thực.

Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.

Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.

(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)

Sắc diệt đạo là con đường đưa đến sự chấm dứt cái tâm tham mê, chấp thủ trong sắc này là con đường Bát Chánh Đạo, phải thấy đúng về sắc, nếu không thấy đúng về sắc thì sắc này không thể nào không ham muốn nó được, chẳng qua do hoàn cảnh không có được hoặc do mình tránh né còn khi xúc chạm thì không thể không ham muốn, thích thú nếu không có chánh kiến về sắc. Chính vì vậy con đường để chấm dứt tham ái trong sắc là con đường thấy đúng về sắc, suy nghĩ đúng về sắc, nói đúng về sắc…

Thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của sắc? Thế nào là vị ngọt của sắc? Thế nào là sự xuất ly khỏi sắc? Khi tiếp xúc với các sắc mà sanh khởi lên những lạc thọ, khoan khoái, ham thích… những cảm giác dễ chịu thì cái đó gọi là vị ngọt của sắc và tất cả chúng sanh hữu tình chết trong vị ngọt đó. Vị ngọt không có nhiều nhưng sự nguy hại của nó thì cực kì lớn và đa dạng, mình phải biết được sự nguy hại của sắc, thật ra trong kinh Đức Phật chỉ nói khẩu quyết chứ không nói nhiều nhưng từ đó mình phải nghiền ngẫm, tư duy và đưa vào thực tế sẽ thấy những gì Phật nói cực kì thâm sâu và bao trùm toàn cõi vũ trụ này.

Thế nào là sự nguy hại của sắc? Đó là sự vô thường, sự biến hoại, sự hủy hoại… và đó là sự nguy hại của nó. Có một ông già hơn 70 tuổi lên Linh Quy Pháp ấn nói rằng mình gần chết rồi nhưng muốn tu cái sắc này cho nhanh vì sợ không còn kịp nữa, xin Minh Thành chỉ cách đơn giản để tu. Con nói chú đó để 3 tấm hình ra, một tấm lúc 18-20 tuổi, một tấm chụp gần đây lúc 70 tuổi và một tấm phim X-quang bộ xương, để 3 tấm hình ra để quán chiếu.

Ðệ tử Gotama,

Luôn luôn tự tỉnh giác,

Vô luận ngày hay đêm,

Tưởng sắc thân thường niệm.

(Kinh Pháp Cú 21 – Phẩm Tạp Lục, kệ 299)

Đây là kinh Pháp Cú để thức tỉnh mọi người, cái pháp rõ ràng như vậy nhưng do mình không chịu ứng dụng để tu. Bây giờ có công nghệ làm cho mình già đi, lấy tấm hình còn trẻ đưa vào ứng dụng đó để xem sau này già mình thế nào, sau đó đi chụp X-quang để tấm phim đó ra và nhìn vào đó thiền quán "đó là mình đó". Báo chí đăng tin hằng ngày rất nhiều trường hợp đâm chém, đánh lộn, ẩu đả lẫn nhau, một người thanh niên giỡn mà lấy tay vuốt má bạn gái kia, chẳng may người bạn trai của cô gái ấy thấy được đã nổi máu ghen lấy dao đâm chết người thanh niên này, chỉ có một cái vuốt má đổi lấy một mạng người, người còn lại vào tù chung thân, đó là sự nguy hại của sắc, rất khủng khiếp và ghê gớm.

Sự nguy hại của sắc tràn ngập khắp cuộc sống này chứ không phải chỉ nằm trong lời kinh trên sách. Có hai người quen nhau nhưng chia tay được vài ngày, cô gái có bạn trai mới chụp hình đăng Facebook, bạn trai cũ nhìn thấy tấm hình ấy, con mắt nhìn thấy là tiếp xúc sanh ra cảm thọ sôi sùng sục lên nên đi tìm cô gái giải quyết, cuối cùng một người chết và một người ở tù chung thân, chỉ có một tấm hình đăng lên Facebook thôi, đó có phải là sự nguy hại của sắc không mọi người? Có vô số mối nguy hại, hiểm họa, ách nạn, nguy nan trong cuộc đời này, cả trai lẫn gái, già lẫn trẻ. Khi tâm chấp thủ vào tham ái dục thì cực kì nguy hại, hiểm họa tìm ẩn khắp mọi chốn, mọi nơi.

Thế nào là sự xuất ly khỏi sắc? Nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với sắc chính là sự thoát ra khỏi sắc, hai câu này là trái tim của thánh giáo, là sự chứng ngộ của bậc tối thượng Chánh Giác, đó là xuất ly đạo lộ, là con đường giải thoát, là ra khỏi dòng nước mắt luân hồi oan nghiệt và đau khổ này.

Trên đây là 7 loại trí huệ về sắc mà chúng ta phải học, phải thực tập. Phần văn cực kì quan trọng, giai đoạn chúng ta đang học chính là để thành tựu văn – tuệ, nếu không xem bài, không học kinh thì phần văn không thành tựu thì phần tư – huệ không đạt được nên tu không có thành quả đúng như lời Đức Phật nói, thậm chí là đi ngược lại cái mà mình mong muốn thuở ban đầu xuất gia.

./.