4 Dòng Thác Lũ 4 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu) - Kiến Chấp
Nikāya Giảng Giải
4 Dòng Thác Lũ 4 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu)
Kiến Chấp
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ly dục ách PAGEREF _Toc156580636 \h 1
II. Kiến ách PAGEREF _Toc156580637 \h 4
III. Tâm của bậc Thánh PAGEREF _Toc156580638 \h 8
IV. Kiến ách 2 PAGEREF _Toc156580639 \h 11
V. Vô minh ách PAGEREF _Toc156580640 \h 20
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc156580641 \h 24
I. Ly dục ách
Sư Phụ:
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ly dục ách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là ly dục ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)
Đây gọi là gỡ ra được cái ác của dục đè trên cổ, đây gọi là vượt qua dòng thác lũ thứ nhất, là người này như thật quán tri tức là người này thiền quán, là sự quán sát dựa trên việc được học trí tuệ của Đức Phật, tức là sự suy xét nhưng phải dựa trên nền tảng trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ chứ không phải tự mình suy xét thì gọi là như thật quán tri. Như thật là lẽ thật, là sự thật, là chân thật, quán là xét, tri là biết, quán xét và hiểu biết một cách đúng về bản chất của sự thật mà các bậc Thánh chứng ngộ gọi là như thật quán tri, như vậy toàn bộ trong Nikāya trừ tứ thiền bát định thì tất cả đều là thiền quán hết. Không có tự nhiên mình ly dục ách được, không thể tự nhiên mình ngồi đó rồi thoát ra dòng thác lũ của dục cho nên người này quán xét đúng sự thật về cái sự tập khởi tức là từ đâu mà nó sinh ra dục này, tập là tập hợp, khởi là sanh khởi. Quán xét đúng sự thật sự tập hợp và sanh khởi của tâm ham muốn.
Ví dụ như mình có cái tâm ham muốn về cái món đồ đó, cái cảnh vật đó, con người đó thì mình phải tĩnh lặng quán sát nguyên nhân nào, tại vì sao mình thích cái món đồ đó. Vì mình thấy nó, trước khi mình thấy nó mình đâu có thích nó, trước khi mình thấy nó mình đâu có thích lắm, như vậy thì là do cái gì mà có cái thích, có cái muốn đó? Do sự tiếp xúc, xúc tập khởi nên dục tập khởi, xúc tập khởi cho nên nghiệp tập khởi, xúc tập khởi nên ái tập khởi, hễ có tiếp xúc thì có yêu thích, có yêu thích thì muốn được chiếm hữu, sau khi chiếm hữu được thì nắm giữ, đó là lộ trình của tâm, khi bị mất thì đau khổ, khi không được cũng đau khổ, khi đang được cũng lo sợ thành ra đây là chỗ thâm sâu, rất sâu sắc để chúng ta thực tập tu hành. Cả ba thời đều khổ, chưa được thì khát khao, mong chờ, ước ao, tưởng mơ, suy nghĩ tìm đủ mọi cách để làm sao cho được nhưng không phải muốn là được cho nên mới gọi là cầu bất đắc khổ, mong muốn mà không được.
Giả sử như có được, tưởng đâu được là hạnh phúc nhưng vì vô thường nên cái được này cũng có thể mất bất cứ lúc nào cho nên người này lo sợ. Nếu mà mất thì càng khổ cho nên ba thời đều khổ, chưa được, được và mất. Có những người không được thì người ta sẽ đau khổ, trầm cảm, suy sụp, thậm chí là người ta có thể là điên loạn và kết thúc mạng sống. Nếu người này được cũng không vui sướng được bao nhiêu, chỉ trong một cái thời gian ngắn tại vì dục không bao giờ thỏa mãn hết, người này trong một thời gian chán, muốn tìm cái mới, đứng núi này trông núi nọ. Cái tâm mình ghê lắm, hiểu được tâm sẽ thấy ngao ngán, tất cả chúng sanh sống trong cái ảo tưởng, cái tâm này rất khó thấy.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Tâm này hết sức khó thấy và tế nhị, chỉ có người nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục mới biết, phải để tâm rất nhiều chứ tâm này khó thấy tế nhị theo các dục quay cuồng, không phải quay bình thường mà là quay cuồng. Đây là từ của Đức Phật dùng, quay cuồng ở trong dục, đảo điên ở trong dục, nghiêng ngửa, nghiêng ngã, nghiêng đổ trong dục, bỏ ăn mất ngủ, không làm gì được hết rồi bệnh luôn, thậm chí là chết luôn. Câu chuyện hồi xưa về Ngọc Lâm Quốc Sư, có cô thiên kim tiểu thư vừa gặp ngài là về bệnh tương tư, tiếp xúc là sanh dục, tiếp xúc là sanh nghiệp, khi tiếp xúc sẽ sanh ham muốn, khi tiếp xúc như vậy cái nghiệp cũ khơi dậy, món đồ cũng vậy, cảnh vật cũng vậy, con người cũng vậy, tâm thức cũng vậy nên mình mới thấy cái ảo tưởng của chúng sanh là khủng khiếp, không có người nào hạnh phúc, họ tưởng là hạnh phúc nhưng mà không có.
Ví dụ người ở thành phố nhà lầu mấy tầng thì họ lại thích ở nhà tranh, người ở nhà tranh thì họ thích nhà lầu, cứ lộn xộn qua lại vậy đó, người làm vua thì muốn là được làm dân, người dân thì muốn làm quan, làm vua, một người nổi tiếng đi đâu cũng bị tại săn lùng hết, mình đừng có tưởng nổi tiếng là sướng, họ sợ lắm, họ bịt mặt hết mà người ta cũng theo dõi, người vô danh tiểu tốt không ai biết gì thì họ muốn được nổi tiếng, họ thấy mấy người nổi tiếng đó họ khát khao, họ ước ao, họ thèm thuồng.
Rốt cuộc là gì? Cứ ở trong cái vòng luẩn quẩn, họ ảo tưởng, người này tưởng người kia hạnh phúc, còn người kia tưởng người này hạnh phúc, rốt cuộc đó là tưởng tri, gọi là điên đảo tưởng, tức là nó đảo lộn, ảo tưởng, nó quay cuồng, nó điên đảo, hư tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, như vậy là không có người hạnh phúc. Một người vô cùng xấu nhìn thấy một cái người đẹp thì ước gì mình được phân nửa nhan sắc thì cuộc đời mình tốt hơn nhưng mà người đẹp thì tự vẫn, lâu lâu những minh tinh điện ảnh những ngôi sao nổi tiếng quốc tế chứ không phải là trong một nước, họ kết thúc đời sống khi mới hai mươi mấy tuổi, bây giờ nhiều trường hợp như vậy lắm.
Vì vậy người xấu là hạnh phúc hay người đẹp là hạnh phúc? Người giàu là hạnh phúc hay người nghèo là hạnh phúc? Những người bệnh hoài thấy người khỏe thì ước mình được khỏe chắc mình hạnh phúc dữ lắm "Tôi ước gì, tôi ao ước được sức khỏe giống như cái người khỏe", nhưng mà người khỏe có cái khổ khác, gia đình ly dị. Chính vì chúng ta không thấy không biết được tất cả những khía cạnh, phương diện, góc độ, không toàn giác được đời sống này, chúng ta biết cái nào là chỉ biết một cái thôi, đó là kiến bộc lưu, chúng ta biết cái nào là biết một cạnh vậy thôi, nhìn ra thì thấy cái này thôi, không thấy cái phía sau này, không thấy phía bên kia.
Trong kiến bộc lưu có hành kiến, định kiến, thường kiến, đoạn kiến, tà kiến, thân kiến, rất là nhiều, ở đây con đưa những cái gần gũi nhất cho chúng ta thấy để chúng ta phát giác ra được là nó khủng khiếp lắm. Mình đừng có tưởng đâu mình tu ngon rồi, mình tưởng là mình trí tuệ rồi là mình chết liền, sống ở trong 4 dòng thác lũ này nó cuốn mình đi từng giây từng phút, ngay lúc đang ngồi thiền mình tưởng mình tỉnh giác trí tuệ nhưng vẫn bị cuốn trôi.
II. Kiến ách
"Và thế nào là kiến ách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các kiến, nên kiến tham, kiến hỷ, kiến luyến, kiến đam mê, kiến khát, kiến não, kiến chấp thủ, kiến ái trong các kiến xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kiến ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)
Trong kinh có dùng cái "tư kiến", mình thấy cái gì là mình thấy theo cái thấy của riêng mình chứ mình không chịu đặt cái thấy vào cái cộng đồng, cái chung. Thí dụ mình học được chánh pháp, mình thấy hay quá, cái này là thiện nhưng mà vẫn có lỗi, mình thấy hay quá, quý quá, tốt quá rồi mình muốn con của mình, chồng của mình phải đi tu theo cái này trong khi người ta chưa nhận thức được rồi người ta khó chịu. Cái đó là tốt nhưng mà vẫn trở thành xấu vì mình nhìn theo cái tư kiến của mình.
Tuy là pháp nhưng mình không nhìn thấy được cái thấy của người ta, cái cảm nhận của người ta, cái nhận thức của người ta, đó là nói cái thiện. Bây giờ nói những cái thông thường, thí dụ như mình ăn lạt, người ta nêm vừa ăn rồi nhưng mình ăn vào lại nói mặn chứ mình không có biết mình hỏi mọi người xung quanh ăn thấy sao, mình thấy 4 người khi ăn đều nói vừa ăn thì mình biết mình ăn lạt. Những cái nhỏ này nó là cái tu, mình đều bị cái dòng thác lũ của tư kiến, tức là cái thấy biết riêng tư của mình cuốn mình đi rồi mình phiền não, mình khổ đau. Mình không biết, mình tưởng cái đó là bình thường, tất cả mọi người đều nói vừa ăn còn mình thì lại chê, có khi cái lưỡi của đang có vấn đề gì đó. Chúng ta nhớ mấy người nhiễm Covid không, vị giác bị mất nên ăn không biết mùi vị gì cả, nhờ đó chúng ta mới thấy được cái thiệt thức này vô thường.
Bây giờ trường hợp đây là chúng ta nhìn cái gì, chúng ta nghe, chúng ta thấy, chúng ta cảm nhận, nhận thức, thức tri cái gì là theo cái tư kiến của mình thì chúng ta đau khổ, không ai làm vừa lòng chúng ta được hết, không đi đâu ở được hết. Cho nên hôm qua mấy sư cô trình pháp rất tốt, nhiều khi mình ở quen với môi trường đầy đủ điều kiện rồi, bây giờ mình vô cái chỗ khó khăn, hôm qua muỗi đốt nhiều, cho nên tất cả những cái đó là kham nhẫn, quý vị không biết chứ ngoài muỗi còn có con có một con sâu nái bự thiệt bự bò vào tấm y, quý vị không để ý là không có thấy, ngay trước mắt của mình mà mình còn không thấy cho nên mình đừng tưởng là mình thấy hết vì thế Đức Thế Tôn mới nói con mắt này là mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Mình tin Phật thì mình sống mới an ổn, mình tu nó mới tiến, đằng này mình không có tin Đức Phật, Phật nói mình mù nhưng mà "con có mù đâu", nhiều khi học kinh là vậy nhưng khi vào thực tế đời sống thì "rõ ràng là tôi thấy như vậy mà", tức là mình cãi Phật rồi. Mình không có chấp nhận thánh trí của Đức Phật, thí dụ mình có chuyện gì mình nói ra mà người ta nói "chị nói trật lất rồi, chị lé hay sao vậy?" thì "dạ đúng rồi, chẳng những em lé mà em còn mù nữa". Bây giờ có người ta nói "Bộ chị đui hay sao? Chị không thấy đường hả?" thì "dạ đúng rồi, em đui, Đức Phật nói con mắt này là mù lòa. Cám ơn chị nhắc em".
Những lời của Phật phải khắc vào tim chứ không phải nhớ bình thường, đọc thì đọc nhưng khi lúc hữu sự bị nói một câu là có chuyện xảy ra, nổi cơn tam bành lên, phải ghi nhớ lời Phật mới là con ngoan trò giỏi của Đức Phật. Những cái gì Đức Phật nói là mình khắc vào tim, mình đưa nó vào não, mình sống với nó, sống với pháp.
Mình nhìn mọi vấn đề là nhìn theo tư kiến cá nhân rất nhiều, người ta nói mình không chấp nhận, tôi thấy cái đó rõ ràng như vậy mà, tôi cho là như vậy đó, tôi thấy như vậy đó, cái đó là đúng thì mình đang bị vòng thác lũ cuốn mình trôi, mình đang bị cái ác đè vào cổ, đó là kiến ách, kiến bọc lưu, dòng thác lũ của cái thấy biết sai lầm, nhỏ hẹp. Cái này biết bao nhiêu cái ví dụ mà nói, trong đời sống mình là sống vậy không, sống với tư kiến cá nhân, mình tạo dáng vậy, mình chụp tấm hình ưng ý hết cỡ luôn vậy mà đưa ra bị chê xấu, dù ngồi cười nhưng trong bụng thì tức giận.
Mình thấy đẹp như chưa chắc người ta thấy đẹp, mình thấy ngon nhưng chưa chắc người ta thấy ngon, con đi qua Úc châu hoằng pháp thì mấy cô nấu bún riêu bưng lên, Phật tử hỏi cái gì đó trong khi con muốn cho mọi người vui nên nói đây là món ruột thế là 4 ngày ăn bún riêu. Hôm sau đưa con món khác thì con cũng bảo là món ruột thì các cô thắc mắc sao món nào cũng là món ruột, con bảo tại vì món nào cũng vào ruột hết. Nhiều khi mẹ con hay mấy cô cũng hiểu lầm luôn, tại vì con muốn cho mọi người hoan hỉ cái công sức của mọi người, tấm lòng của mọi người thì con nói cho mọi người hoan hỉ mà mọi người cứ nghĩ là cái món này con khoái lắm nên hôm nào lên cũng canh chua với cái gì đó. Con đi về quê thì các cô mua đồ về nấu, thế là con nói cái này ít khi nào có lắm, cái này tốt lắm thế là ngày nào cũng cho ăn món đó.
Cái đó gọi là thành kiến, nhưng mà ăn vẫn được, tức là ở trong tâm mình khi mình thấy, mình nghe cái chuyện gì đó là tâm mình nó sẽ dính vào trong đó, nó trở thành cái thành kiến, nó trở thành một cái gì một cái thấy như vậy. Hôm qua chúng ta ngồi ngoài cổng trời thì chúng ta hướng mặt về cổng trời, hướng mặt lên mặt trời, nhưng khi chúng ta vô nhà có cái vách trước ra mặt thì chúng ta cũng hướng vô vách chứ không hướng vào người giảng pháp. Tức là cái đó là thành kiến, tại vì các pháp luôn luôn là các hành, nó vận hành, nó vận chuyển, cái tâm mình thấy cái gì là mai mốt mình y như vậy, cái tâm mình đó không có nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Cái tâm như vậy là cái thành kiến cứng chắc, không thay đổi, phải vậy là như vậy mãi mãi chứ không có khác, chúng ta thấy con lên niệm Phật bao nhiêu kiểu không?
Khi mình làm một kiểu "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật" là mình thành máy móc, không còn thọ nữa, tâm mình không còn cảm xúc nữa, cho nên tại sao học ở đây chúng ta đủ thứ thể loại để tu hết, lên núi, xuống ao, không thì ra bờ, ngồi ở vườn tre, vườn trúc hoặc ra gốc cây, vì làm một cái hoài thì chúng ta chán. Chính cái tâm mình đừng có bị thành kiến, đừng có cố chấp với một cái thì chúng ta mới có được sự phong phú, đa dạng trong tu học, mình mới cảm thọ được, thành ra mỗi cái xin thưa quý vị đều là sự khổ tâm chứ không hề đơn giản, phải sử dụng nhiều chánh niệm và tỉnh giác để mình làm việc, đôi khi chúng ta ngồi ở ngoài thì rõ ràng phải hướng về cổng trời, hướng về mặt trời thì con cũng ngồi ở đó nhưng khi vào nhà chúng ta cũng hướng vào vách, mỗi người một kiểu.
Nếu không chỉ dạy là chúng ta không biết đâu, chỉ thấy khó tánh quá, cái gì cũng nói hết, không nói thì không biết mà nói ra thì không chịu, cái đó là định kiến, khi mình làm một cái gì rồi là mình theo cái kinh nghiệm đó, cứ tưởng tri đó thì sau này cũng làm y như vậy.
Chẳng hạn như Phật đản mà chúng ta làm vậy mà sư phụ nói được rồi đó là 5 năm sau cũng vậy, không có thay đổi gì hết. Không phải như vậy, đó gọi là thành kiến, bây giờ tới con người, lần đầu tiên mình gặp người đó mà họ có một cái hành động, lời nói gì đó làm mình khó chịu là từ đó về sau mình gặp là mình nhớ người đó y chang vậy, đó là thành kiến về người. Cái này có không con thưa các tôn giả của con?
Mình giữ cái hình ảnh, cái cảm thọ, cái suy nghĩ về người đó tức là thành kiến, chính vì vậy mà người ta rất là quý cái ấn tượng lúc ban đầu mới gặp, ban đầu gặp mà làm cho người ta ghét là xong, sau này mình tới là không muốn tiếp nhưng mà không phải, người ta tốt nhưng bữa đó nhiều khi ăn bị đau bụng hay là đang bị cái gì đó trong người làm khó chịu, đang bị bệnh nên người ta nói chuyện không có dễ thương.
III. Tâm của bậc Thánh
Đức phật có dạy lúc đó vua Ba-tư-nặc đang ngồi cái nhìn thấy các vị Sa-môn, Bà-la-môn đi ngang thì nhà vua đảnh lễ vì tưởng là các bậc A-la-hán. Đức Phật nói là đại vương chớ có như vậy, đại vương còn hưởng trong năm dục, còn sống đời thế tục thì làm sao đại vương biết được ai là A-la-hán, ai không phải A-la-hán, đại vương muốn biết thì phải sống chung thời gian dài, phải có tác ý không phải không tác ý, tức phải quan sát.
"Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi, Pubbàràma (Ðông Viên), tại lâu đài Migàramàtu (Lộc Tử Mẫu giảng đường).
Lúc bấy giờ, Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, và đến ngồi tại mái hiên phía cửa ngoài.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Lúc bấy giờ, bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ với thân đầy lông, với móng tay dài, lớn như cây lau, mang các dụng cụ khất sĩ đang đi ngang qua, cách Thế Tôn không xa bao nhiêu.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào phía một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy và nói lên ba lần tên của mình: 'Thưa chư Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala'.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy đã đi qua không lâu liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?
-- Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ, trong khi còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả.
Thưa Ðại vương, chính phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, I. Bện Tóc)
Thành ra mình muốn hiểu một người không phải chỉ nhìn qua tiếp xúc một lần mà mình hiểu được, phải tiếp xúc nhiều lần, thậm chí là phải ở chung thời gian lâu dài mới hiểu, còn mình nhìn một cái là biết hết, nhìn con ruồi bay ngang là biết ruồi đực hay ruồi cái liền, đó là bản ngã, đó là mình sống với thành kiến, thường thường mình sống với nhau là đa số sống bằng thành kiến chứ không có sống bằng cái tâm hiểu và thương, từ bi và trí tuệ.
Cũng như giới tử vừa rồi, mấy hôm trước lên mà trào nước mắt "con là kẻ mồ côi", nếu mình không nghe giới tử trình bày thì làm sao mình hiểu, mình thương thêm nữa, nếu người đó không nói làm sao mình biết. Cho nên làm cho các pháp hiện hành, làm cho các pháp hữu vi hiện hành, nếu như Hiền Thảo không ra lạy mẹ, kể mẹ gánh hai cái đòn gánh phế liệu, ngồi ăn mâm cơm mà bị ông chồng hành hạ, nếu mình không nghe thì làm sao mình hiểu thêm để mình biết mình thương, cho nên mình sống với nhau bằng cái hiểu và thương chứ đừng có sống nhau bằng thành kiến.
Nếu lỡ có thành kiến thì phải phá cái thành kiến đó, chúng ta thấy chỗ này nó có vi tế không, có sâu sắc không, có cần trong đời sống tu hành với nhau không. Nhiều khi là có cái lỗi gì con nhắc một cái là từ đó về sau là xong luôn rồi đó, thấy con là vô bụi tre cho nên nó khổ, khó học đạo là vậy đó, mình không hiểu là cái người đó vì tình thương hay là cái người đó ghét mình, mình không hiểu cái thương ghét, mình không biết, cái ái cái từ mình cũng không hiểu do cái tâm mê mờ. Cho nên kiến bộc lưu này khủng khiếp lắm, vòng thác lũ của kiến chấp, còn cái thân kiến thì nó sâu, mình đi sau cùng, những cái bình thường như vậy là mình sống ở trong đó hết, nhiều khi huynh đệ, tỷ muội sống với nhau khó khăn, khó ở nhau là cái do thành kiến này.
Nhiều khi người ta lỡ gì đó là xong, từ đó về sau là có thành kiến với người ta, còn người mà mình thấy tập khí, tính tình, bản ngã thì cái đó chịu rồi, mình cũng phải đối xử với họ bằng cái tâm hiền, tâm từ. Không phải tự nhiên mình gặp họ, cũng có nợ nần với nhau, đâu phải đi tu là hết nợ, không có nợ anh em ngoài đời nhưng vô chùa nợ làm tỷ muội, xuất gia chung một sư phụ rồi bắt đầu hành hạ nhau. Mình phải thấy hết mới được, thấy biết hết, đó là lý do tại sao chúng ta học nhiều, mỗi một phương diện như vậy chúng ta mới thấy như nghiệp, Đức Phật nói có bốn loại nghiệp.
"- Có bốn nghiệp này, này các Tỳ-kheo, đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, có nghiệp đen quả đen; này các Tỳ-kheo, có nghiệp trắng quả trắng; này các Tỳ-kheo, có nghiệp đen trắng, quả đen trắng, này các Tỷ kheo, có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt. Có bốn nghiệp này, này các Tỳ-kheo, đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XXIV. Phẩm Nghiệp, (I). Tóm Tắt)
Sau khi ngài thắng tri nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp đen trắng và nghiệp không đen không trắng thì ngài mới tuyên bố ngài chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành ra không phải Đức Phật chỉ giác ngộ một pháp, ngài giác ngộ rất nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ trong ngũ uẩn. Còn mình học một câu thôi là nghĩ rằng tu đủ rồi, hoặc là nói "vào chùa học chữ nhẫn thôi, cái này làm suốt đời cũng chưa được nên học chi cho nhiều", mấy người làm biếng thường nói như vậy, vô minh là nói như vậy, tâm không có hướng thượng rồi nói vậy. Mỗi một phương diện chúng ta học, chúng ta thành tựu một cái trí tuệ về phương diện đó, ví dụ như mình học bốn bộc lưu, sau này dục mình biết, hữu là mình biết, ham thích sự hiện hữu mình biết, những trong mình có cái thành kiến, tư kiến, định kiến, những cái tà kiến, thân kiến là mình biết mình đang có cái kiến đó tại vì mình có học rồi, mà học rồi thì phải nhớ, nhớ rồi phải thực tập thì cái đó còn trong người mình nên mình thành tựu trí tuệ về cái pháp đó.
Sau này khi mình thành tựu thánh đạo, Thánh quả thành một bậc A-la-hán thì mình có khả năng thuyết pháp độ rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều chúng sanh. Cho nên Đức Phật nói một người tu tập bốn thần túc, tứ như ý túc thì người đó thành bậc thánh là thánh lãnh đạo, cũng là bậc A-la-hán mà không tu tập cái đó nhiều, không có viên mãn thì cũng là thánh nhưng mà độ dài người thôi, có những vị ẩn dật trong rừng tới nhập Niết-bàn thôi, nhưng mà có những bậc cũng Thánh A-la-hán nhưng mà là thánh lãnh đạo, độ cho rất nhiều người tu tập được các cái pháp. Thành ra là cái nào tốt lành thì chúng ta phải cố gắng trong cái sự tu học, đừng có thỏa mãn, tự mãn, hài lòng với những cái thấy biết nhỏ hẹp.
IV. Kiến ách 2
Nhiều khi con thấy có những chỗ tu khắc thời khóa biểu lên đá thì xong rồi, làm như cái máy, 10 năm cũng y chang như vậy, không có gì thay đổi, đương nhiên phải có những cái gọi là khuôn phép, thời khóa phải giữ chứ đâu có thể thay đổi hoài được, nhưng mà nếu mình máy móc vậy thì không có thay đổi là không có phát triển.
Vào chùa tụng kinh mà mình không hiểu gì hết, tụng mà mình không hiểu gì hết mà cứ để một ngàn năm, đó cũng là định kiến, trong khi mình là người Việt mà mình không để chữ Việt mà mình để chữ gì á, để chữ đó người ta không biết gì hết thì lúc đó mới oai, còn để chữ mà ai cũng đọc được hết thì bình thường, nó trở thành cái định kiến, cái kiến chấp ngàn năm. Thật là khổ! Nhiều khi con đi chung mấy thầy, mấy chú ngoài đường thấy viết chữ nước ngoài không, chữ Tàu không mà con là đọc đại tạng kinh bằng chữ Hán, con dịch mấy chục tác phẩm Tàu nhưng mà con hỏi các thầy biết chữ đó là chữ gì không thì không ai biết, mình biết mà mình cũng không biết, nhiều khi ông trụ trì đó cũng không biết hết cho nên đọc trật hết.
Chữ Hán là "Giáo Đa Thành Oán", nghĩa là dạy nhiều thì trở thành oán ghét vậy mà đọc thành "Giáo Tra Dài Cán", do không biết chữ Nho nên đọc sai, hoặc là "Mạ Nhân Như Giáo Nhân" nghĩa là mắng người cũng giống như dạy người vậy mà đọc thành "Mạ Lên Như Giá Lên", do không hiểu, không biết, đọc mà không biết đó là cái gì, vậy mà vẫn giữ chứ không chịu thay đổi, trở thành kiến chấp, định kiến.
Cái kiến bộc lưu này nà cái dòng thác lũ mấy ngàn năm, nghe người ta kêu tu cái gì là cứ làm theo y vậy đó chứ không dùng trí tuệ để xét nét vì thế bậc Đa văn Thánh đệ tử rất quan trọng. Chúng ta phải nghe thật nhiều, phải thọ trì thật nhiều, phải ghi nhớ thật nhiều, phải thực tập thật nhiều thì chúng ta mới giúp lại cho mình và giúp cho những người có duyên, nếu chúng ta không có học dục bộc lưu, kiến bộc lưu, hữu bộc lưu, vô minh bộc lưu, chúng ta không biết gì về bốn dòng thác lũ thì chúng ta ở trong đó có hay biết không, sống trong đó có biết mình đang lọt thác không, nó cuốn trôi luôn cũng không biết. Đó là định kiến, xưa bày nay làm, người ta sao thì mình vậy, Đức Thế Tôn nói người mù dẫn một đoàn mù xuống vực sâu.
"Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy" (Trung Bộ Kinh, 95. Kinh Cankì)
Thật sự xót xa lắm!
Thà rằng chẳng biết cho xong,
biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.
(Nguyễn Du)
Đó là một người hiểu về tà kiến, cái thấy biết của họ sai rồi họ truyền bá cái tà kiến, cái tư tưởng đó ra, Đức Phật nói người tà kiến sẽ rơi vào địa ngục.
"Ta không thấy một pháp nào khác, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, như tà kiến. Này các Tỳ-kheo, Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Đó là chưa kể tư kiến rồi thành kiến, rồi kiến chấp, thường kiến, đoạn kiến, thân kiến, nhiều cái kiến lắm, rất là nhiều con kiến. Thời Đức Phật ở trong kinh Phạm Võng là 62 thứ kiến chấp, tất cả cuối cùng nguồn gốc đều từ nơi cảm thọ hết, từ nơi cảm thọ có ra 62 tà kiến thời Đức Phật, nó bung ra giống như cái lưới bao vây hết chúng sanh hữu tình ở trong cái mạng lưới của tà kiến, cho nên cái võng giống như cái lưới bung ra chụp hết chúng sanh trong tam giới.
Duy nhất chỉ có một người thoát ra, tự mình thoát ra, đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, qua đây mới thấy được ân đức của Phật là siêu khủng, thánh trí huệ của Phật, cái sức mạnh của Phật, cái nhìn của Phật và cái đạo lộ của ngài là không thể tưởng tượng, bất khả tư nghì, trong giữa mà vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp chúng sanh bị một cái lưới tà kiến bung ra như vậy chụp hết tất cả trong đó, giống như chúng ta thấy người ta đi bắt cá, họ cầm cái lưới tung ra một cái mà cá nằm trong lưới đó hết. Tất cả chúng sanh ở trong tam giới, 10.000 cái trái đất nằm trong cái mạng lưới của tà kiến, của chấp thủ đó hết, của kiến chấp đó hết, độc nhất chỉ có một con người từ ở trong cái mạng lưới đó thoát ra.
Ngày xưa có hai vị thiền sư đi hành cước, tức là đi cầu đạo, đi học đạo, đi hành đạo, đi chỗ này chỗ kia giống như Ấn Độ gọi là du sĩ. Hai vị đi ngang chỗ đó gặp người đó đang giăng lưới bắt cá, người chài lưới bung cái lưới bắt cá lên, trong lúc kéo cái lưới lên thì tự nhiên ở trong lưới nó có một con vẫy mạnh đến nỗi nhảy ra khỏi cái lưới. Vị thiền sư này vỗ tay nói cá hay quá, vị thiền sư còn lại nói không có gì hay cả, ở ngoài lưới mới hay, hai vị đi tiếp thì lại bàn luận tiếp về con cá nhảy ra khỏi lưới.
Dù con cá bị mắc trong lưới nhưng nó không chịu đầu hàng số phận, không chịu khuất phục, không cam tâm chết như vậy mà nó dùng sức mạnh, dùng sức bình sinh, tức là còn bao nhiêu sức là dùng hết để nó thoát ra thì cái đó mới là sức mạnh, nó không có cam tâm chịu chết ở trong cái lưới. Câu chuyện đó cũng có ý nghĩa khích lệ chúng ta, chúng ta đang bị cái lưới tà kiến bao vây, trước khi đi vào thân kiến thì tà kiến nhiều lắm, thường kiến, đoạn kiến, tà kiến, thân kiến. Chúng ta nghĩ sáng nào cũng lên đọc pháp bảo, vô được ngồi nghe pháp y vậy thì đó là tà kiến, là thường kiến, tức là mình nghĩ ngày nào cũng vậy, tuần nào cũng vậy, tháng nào cũng vậy, năm nào cũng vậy, 5 năm sau mình cũng vậy, 7 năm sau cũng vậy thì đó là mình đang sống ở trong thường kiến, tức là cho nó như vậy hoài. Nếu mình có cái thấy như vậy là mình đang sống ở trong cái tà kiến mà nó thuộc về cái loại thường kiến, tức là như vậy hoài. Cái này chúng ta có nhiều không ạ?
Mình nghĩ ngày mai cũng y như vậy, ngày kia cũng y như vậy, tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, quý sau cũng vậy, năm sau cũng vậy, 5 năm sau mình cũng vậy thì cái đó tức là thường kiến, tức là cái thấy cho rằng như vậy hoài mà mình không thấy được vô thường, mình có thể gặp tai nạn, mình có thể chết, mình có thể bệnh, người xung quanh mình cũng vậy. Chính vì mình nghĩ cứ như vậy hoài nên có chuyện gì xảy ra là mình bàng hoàng, mình bất ngờ, mình hụt hẫng như người thân ra đi, mình gặp tai nạn là mình khổ, mình cứ nghĩ như vậy nhưng giờ lại khác với cái nghĩ của mình, đó là mình không thấy vô thường mà mình cho nó là thường, đó gọi là thường kiến. Đoạn kiến là mình nghĩ rằng chết rồi là hết, cứ hưởng thụ cho đã đi, rồi làm ác, làm lành, làm gì được cuối cùng chết cũng hết không có gì hết, như vậy đó là đoạn kiến, chết rồi hết.
Đó là hai cái nổi bật nhất ở trong những cái tà kiến là thường kiến với đoạn kiến, tức là như vậy hoài hoặc là chết là hết rồi, có nhiều người không hiểu đạo nên người ta nghĩ chuẩn bị cho trước khi chết thì họ nói 20 năm sau cũng trở thành trang hảo hán nữa, tức là họ chết rồi thì họ sống trở lại, mặt mày, hình dáng giống y như bây giờ, cái đó là thường kiến. Mình thấy trong phim Tàu hồi xưa trước khi chết thường nói "20 năm sau ta cũng là trang hảo hán, ta cũng giống như bây giờ", cái đó tức là thường kiến của ngoại đạo.
Nó phải đi theo nghiệp chứ đâu có thể nào giống y như mình bây giờ được, đâu phải người chết làm người, rồi chó chết làm chó, chim chết làm chim, rắn chết làm rắn, giòi chết làm giòi, không phải như vậy mà nó luân chuyển trong lục đạo tùy theo cái nghiệp thiện hay là bất thiện, phước hay là tội của mình, lành hay dữ của mình, nghiệp đen hay nghiệp trắng của mình mà nó có thể đi lên cũng có thể đi xuống, hoặc cũng có thể đi ngang. Nếu cái nghiệp mình làm tương thích thì đi ngang, nếu cái nghiệp thiện của mình tăng thượng thì nó lên, nếu như nghiệp ác của mình nhiều thì đưa mình đi xuống, như vậy không phải người chết làm người, thú chết làm thú, không phải chó chết làm chó, heo chết làm heo, dê chết làm dê, nó sẽ luân chuyển, biến động, nó lên xuống thăng trầm trong lục đạo sáu cảnh giới.
Không cần phải đợi đời sau mà ngay trong đời này nếu tâm thiện của mình nhiều thì mình cũng đổi cảnh giới, chẳng hạn như cái tâm quý vị hướng về thiện thì quý vị ngồi đây là cao hơn mặt nước biển 780 mấy mét, vì cái tâm hướng lên cao thì quý vị ngồi ở trên cao. Nếu quý vị không ngồi đây thì giờ này quý vị có an trú trong pháp giống vậy không? Nhiều khi là đang chồng con gì đó, phiền não, được mất, lời lỗ gì đó, nào tình cảm, nào là vật chất, nào là bao nhiêu những thứ đó, thì như vậy cao hay thấp, lên hay xuống, an hay bất an, tịnh hay là bất tịnh, ô nhiễm hay thanh tịnh là do sự hướng tâm của mình, do sự tác ý sự hướng tâm của mình sẽ thực hiện những điều đó cho nên hai cái tà kiến nổi cộm nhất là thường kiến mà đoạn kiến tức là như vậy hoài hoặc là chết là hết.
Ví dụ như coi ngày, coi giờ làm gì đó, đặt cái bếp chỗ này mới được, cái đặt chỗ này khác là không được, rồi phải cúng nha. Đức Phật đâu có dạy mấy cái này, Đức Phật liệt nó vào trong tà mạng nhưng Phật tử vẫn đi coi bói như thường. Phải đi xem coi phải đặt hướng nào, phải để cái bếp ra sao, làm vào giờ nào, ngày nào, nhiều thứ lắm, con nhớ lúc đó con mới đi tu, mới sáng mùng 1 lấy chổi ra quét do cây bông giấy rụng bông nhiều quá nên chùa dơ, thầy nói quét vô chứ đừng quét ra. Con nhớ mãi điều này nhưng từ lúc đó là con không chịu rồi tại vì chắc cũng nhiều đời mình tu tập Nikāya, mình thấy cái đó là không có đúng, dù thầy nói vậy nhưng con không có chịu, tuy là miệng không nói ra nhưng trong bụng không có chấp nhận. Mình nhớ ở nhà, nhất là mùng 1 nữa thì phải quét vào vì quét ra là mọi thứ đều theo đó đi ra hết, những cái đó là tà kiến hết, là sự mê tín, tà kiến.
Mình làm ăn thành đạt là do cái gì? Do quét nhà hay là do mình suy tính cho cẩn trọng? Làm ăn có uy tín, làm ăn có lương tâm, làm có chất lượng để có niềm tin cho người ta hay là mình do mình quét nhà rồi mình làm ăn hốt bạc? Không phải người đời mà người tu cũng rất nhiều, đó là tà kiến. Nếu không học là mình không biết, người ta nói gì là mình sợ, lo sợ, gọi là "bói ra ma, quét nhà ra rác" tiền mất tật mang. Bây giờ đi sâu vô thân kiến, cái này là mạng lưới bao trùm hết tất cả tam thiên, đại thiên thế giới, có nhiều vị chứng được ngũ thông nhưng vẫn không phá được thân kiến nên còn ở trong luân hồi. Thân kiến là kiến chấp về thân, cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nói đơn giản đống thịt này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái thấy đó là sai, cho rằng những cảm giác này, những suy nghĩ này, những hình bóng trong tâm này, những nhận thức này, ngũ uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, đó là thân kiến.
Dòng thác lũ này cuốn hết tam thiên, đại thiên thế giới, dục giới bị cuốn, sắc giới bị cuốn, vô sắc giới bị cuốn luôn, tam giới, 10.000 cái địa cầu đều bị cái vòng thác lũ của thân kiến cuốn phăng, nhận chìm, trôi nổi hết, đó là dòng thác lũ của kiến bộc lưu, kiến ách. Chúng ta thấy không, nếu không học thì làm sao biết, cái nhận thức đó, cái thấy biết đó là mình thích lắm, mình muốn được có cái mình, nhiều người hỏi "nếu tu thoát ly khỏi năm uẩn thì mình còn cái gì không? Vậy là mất tiêu cái mình rồi hả?".
Vậy là muốn có cái mình trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này để bệnh hoạn, ung nhọt, tham, sân, si phải không? Đâu phải mình thoát ly năm uẩn rồi mình hết trơn, mình trở thành trống rỗng đâu, Đức Phật nói là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cái tâm bất động giải thoát, thánh trí huệ chứ không phải hết ngũ uẩn rồi là sạch hết, không còn gì nữa. Vì năm thứ này là năm thứ khổ, là bệnh tật, bất an, tai họa, phiền não, mình ra khỏi năm thứ này thì hết bệnh, được an ổn, không còn phiền não nữa.
Bây giờ cứ hỏi "tu như vậy thì còn gì nữa?", hỏi như vậy là kiếm cái hữu, sự hiện hữu. Cứ hỏi "ông tu như vậy thì còn gì? Tu tới rốt ráo hết trơn thì sao?", tức là đi tìm cái hữu mà tất cả mọi sự hiện hữu là nằm trong đau khổ, mình muốn hiện hữu tức là muốn khổ đau. Bây giờ mình ở trong tù, những người tù cứ hỏi mình "bây giờ ra tù thì làm gì? Mình ra tù rồi đi đâu", ra tù đi rồi biết thôi, ngũ uẩn là cái ngục tù, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là chỗ giam cầm mà cứ hỏi "hết ngũ uẩn rồi sao?", mình có diễn tả ra sao cũng diễn tả trong ngũ uẩn, làm sao diễn tả ngoài ngũ uẩn được như con chó nó bị buộc dây, nây giờ cởi dây ra rồi nó đi đâu. Hai con chó bị cột lại rồi hỏi nhau "đứt dây ra rồi mày đi đâu?", không có sợi dây thì thoải mái, thảnh thơi, tự tại mà không chịu, còn muốn bị ung thư, còn muốn ôm bộ xương nữa hay sao mà cứ hỏi mãi, đó là tà kiến, là chấp thủ vào trong năm uẩn. Do vô minh không thấy, không biết ngũ uẩn nên mình yêu thích, tham đắm trong này.
Người ta chơi trò chơi giả ma đi vào trong thang máy, những người trong đó sợ hãi, muốn mở cửa mau lẹ để thoát ra khỏi thang máy đó vì thấy ma trong đó nên cảm thấy ghê gớm, rùng rợn, sợ hãi, bất an nên muốn ra khỏi nơi đó để được bình an, hạnh phúc, không còn lo lắng, sợ hãi nữa.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đoạn tận tham ái,
Bậc đoạn tận sợ hãi,
Tâm Ngài không dao động,
Tâm không nhiễm thế gian.
Sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái làm cho mình sợ hãi, lo lắng, bất an, bây giờ mình nhìn một ông vua có lo không? Lo còn nhiều hơn mình nữa, vua không có dám đi một mình, phải có biết bao nhiêu người theo bảo vệ, một người đi ăn xin thì đương nhiên cái khổ đã đành, một người triệu phú, tỷ phú giàu nhất hành tinh này thì còn thiếu thốn cái gì, cái khổ nằm trong sự bất toại nguyện, thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái.
"'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Vì vô minh, vì không thấy không biết sự tham ái trong ngũ uẩn này là khổ đau cho nên người ta yêu thích, tham ái, say đắm nên không đi ra được, vì yêu thích, say đắm nên không đi ra được, không biết lối ra, tất cả chúng sanh không biết lối ra, tức là không biết xuất ly đạo lộ, thậm chí sắc; thọ; tưởng; hành; thức còn không biết thì lấy gì biết lối đi khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Tất cả những cái kiến này, tất cả những cái dòng thác lũ này ở trong ngũ uẩn hết, nhìn thấy ngũ uẩn là nhìn thấy nó, vậy mà ham thích cái kiến chấp này, cái thân kiến này, khoái cái thân kiến này lắm, rồi luyến ái với cái thân kiến này, lưu luyến nó lắm, bỏ thì uổng lắm, gọi là kiến luyến, kiến đam mê, đam mê trong cái cho rằng đây là tôi lắm, đam mê lắm, khao khát trong cái thân kiến đó, phiền não, nhiệt não, nóng bức ở trong cái thân kiến đó, nắm chặt ở trong cái thân kiến đó, yêu thích ở trong thân kiến đó và bị cái thân kiến đó xâm chiếm, nó tồn tại cho nên bậc phá được thân kiến là lập tức Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, lập tức hoài nghi, giới cấm thủ tan vỡ, bước vào Thánh quả thứ nhất.
Mình muốn phá thân kiến thì mình phải tác ý, mình không chịu tác ý, không chịu siêng năng suy tư, quán chiếu làm sao mình phá được thân kiến. Phải siêng năng tác ý, nhắc tâm tác ý, thấy cái gì cũng tác ý hết, đánh đuổi những tư tưởng tà kiến, thân kiến, định kiến, kiến chấp, tư kiến cá nhân. Nếu có nhận diện ngũ uẩn là mình thấy nó, còn không nhận diện ngũ uẩn là không thể thấy được nó, cho nên nhận diện ngũ uẩn từ từ mình sẽ có một trí tuệ rất là thâm sâu và sắc bén đối với tự tâm của mình, đương nhiên là đối với tâm người khác cũng giống vậy thôi.
Phải thường luôn quay về bên trong tâm nhận diện ngũ uẩn bất cứ bất cứ mọi lúc mọi nơi thì mình sẽ phát sinh ra một loại trí tuệ đặc thù, bất cọng với phàm phu, trí tuệ đó là thánh đệ tử, trí tuệ của bậc thánh đệ tử, đệ tử của bậc thánh. Trí tuệ này đưa đến yểm ly, đưa đến ly tham, nhàm chán, đưa đến từ bỏ, đưa đến chấm dứt, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Trí tuệ đó sẽ sanh ra trong con người của mình, nó sẽ phá đi những cái tư kiến, những cái định kiến, những cái thành kiến, những cái thường kiến, những cái đoạn kiến, những cái tà kiến những cái thân kiếm bị đánh phá trong cái trí tuệ của thánh trí ngũ uẩn.
Thí dụ như mình sợ con gì đó là cái đó là có kiến không? Diệu Thương sợ con ếch, con cóc, Diệu Hiền sợ con sâu, mình gặp mấy người mà mình khó chịu, cái người mà họ ghét mình, mình ghét họ thì mình niệm "người này là người mình thương nhất trên đời", tác ý như vậy hoài thì sau này cũng sẽ thay đổi trở lại. Mình yêu thích cái gì thì mình niệm "cái này là đáng chán", niệm hoài thì từ từ sẽ chán vì tất cả pháp do tác ý mà sinh khởi, tuy nhiên mình phải siêng năng và phải cố gắng tập, quyết tâm thì từ từ mình sẽ chuyển đổi nhận thức, tư kiến, tà kiến thành chánh kiến.
Tu là phải như vậy, thay đổi tư duy, nhận thức, cảm xúc, mà muốn thay đổi thì phải có chủ ý thay đổi, mình phải muốn thay đổi, phải để tâm trong sự thay đổi, mình tìm đủ mọi cách để cho nó thay đổi, đó là tứ như ý túc. Mình có muốn thay đổi hay không, mình có muốn Nhập Lưu hay không, mình có muốn thể nhập vô cái trí tuệ của bậc Thánh không, nếu mình muốn mà cái muốn nó mạnh thì mình sẽ nỗ lực quyết tâm. Sau khi nỗ lực cố gắng rồi mình để tâm cho thật là nhiều, mình tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được, đó là tứ như ý túc, người muốn làm giàu là lúc nào họ cũng suy nghĩ cách kiếm tiền, họ nhìn cái gì cũng thấy tiền, đi đâu cũng thấy tiền vì họ muốn làm giàu. Người tu cũng vậy, gặp cái nào cũng nhớ Tứ Niệm Xứ, thấy cái nào cũng Thân Hành Niệm, bộ xương, niệm chết nè, người muốn làm giàu thì nhớ tiền, còn mình là nhớ chết.
Mình nhớ phải buông xả, xả ly, phải từ bỏ, mình nhớ phải buông ra, mình nhớ phải phá hết những cái thứ gai nhọn ác độc ở trong này, dọn sạch hết nó, lúc nào cũng nhớ. Nếu mình không nhớ mà có người nói mình "bộ cô mù không thấy đường hả?" là xảy ra chuyện, lúc đó phải nhớ không những Đức Phật nói con mắt này mù là cả sáu căn đều mù, lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cả thân tâm và ý đều mù, "con cảm ơn cô nhắc con mù để con nhớ". Lúc đó mình không nhớ kinh thì nghe nói vậy là phẫn nộ lên liền cho nên phải nhớ tác ý nhắc nhở để đừng quên
V. Vô minh ách
"Và thế nào là vô minh ách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như không thật quán tri sự tập khởi ... sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vô minh ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)
Vô minh ách là vô minh, vô trí trong 6 xúc xứ xâm chiếm và tồn tại, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý mình không biết nó là tứ đại, mình không có trí tuệ để thấy pháp duyên sanh của nó, mình không nhớ sự vô thường, sự khổ, sự bệnh hoạn của nó. Nhìn vô cái gương chỉ thấy con mắt mình đẹp, thấy gương mặt mình dễ thương, đó là vô minh, tà kiến, thân kiến, mình không thấy đúng sự thật về con mắt này, về cái lỗ tai này, về cái hình hài này, mình không thấy đúng sự thật bản chất của nó, mình chỉ thấy được lớp phủ bên ngoài, phủ bên ngoài một lớp da trơn láng, mình chỉ thấy cái đó, tức là mình vô minh ở trong cái thân này, ở trong con mắt; tai; mũi; lưỡi, 6 xúc xứ này.
Tất cả chúng sanh bị dòng thác lũ của vô minh cuốn trôi, Tu thành tiên mà vẫn bị cái thân kiến, tu thành tiên vẫn bị cái vô minh cho nên nhắc nhớ tức là tắt ý, ở bên trong khởi lên mà mình thấy sai với pháp là mình lập tức đánh đuổi cái đó liền, nếu sanh khởi lên hình ảnh mà hình ảnh này không liên hệ đến pháp, hình ảnh này liên hệ đến dục, đến sân, đến hại, đến bản ngã là mình xóa hình ảnh nó, đuổi hình ảnh nó ra liền, mà nó cứ suy nghĩ thì cái suy nghĩ này tương ứng với tà kiến, tương ứng với dục, tương ứng yêu thích trong hiện hữu, phải dùng một suy nghĩ khác để đuổi một cái suy nghĩ, dùng một cái suy nghĩ để đánh một cái suy nghĩ, dùng một cái suy nghĩ để trị một cái suy nghĩ, đó gọi là gì dùng hành diệt hành, dùng thọ diệt thọ, dùng tưởng diệt tưởng, dùng thức diệt thức.
Đó là cái pháp tu của mình, diệt cho đến lúc hết vô minh, sạch tham ái, lúc đó là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Cứ làm hoài như vậy, cứ nhắc nhớ hoài, lỡ có chết cũng không sao hết, chết thành thánh đệ tử thiên, nếu trở lại người cũng là bậc chánh kiến chói sáng, rực sáng, chiếu sáng ở trong nhân giới, trong nhân loại, trong thế giới này, trong địa cầu này. Đừng có sống theo cái thường tình, cái tư kiến, cái định kiến, cái tà kiến, bất cứ lúc nào dù cho người kia nói chơi mình cũng nhắc khéo luôn, cho nên con phải tập rất nhiều, thí dụ như có người nói "thầy ơi, thầy đất nhiều lắm hả?" thì con nói "dạ không, đất này của chùa". Dù cho người ta nói chơi bình thường thì mình cũng phải tập thói quen loại của tư tưởng của mình ra liền, nó là sự thật mà, bởi nhiều khi những vị không có hiểu cái pháp thì nói "thầy là thượng tọa, là trụ trì, giảng sư mà xưng con? Khó hiểu quá, đệ tử xuất gia cũng không chịu", sư phụ lại đi xưng con nhưng mà nó rất lợi hại.
Khi xưng con thì mình có tỏ vẻ ra tôi là sư phụ không? Xưng con nghe rất hiền từ, hồi xưa con chưa vô vòng pháp này con cũng không có hiền lắm đâu, hét một tiếng là chạy hết, bây giờ cũng còn hơi hám chút đỉnh, nhìn một cái thôi là thấy run rồi. Cho nên nhiều cái mình chưa hiểu hết, khi gặp được bậc thành tựu, bậc Thánh nhân chỉ cho mình biết từng chút một, chăm chút từng chút một thì mới gội rửa, mới phá lần lần những cái nhỏ nhiệm. Thí dụ nhìn vào cây thì có suy nghĩ "cây này đẹp lắm" thì lập tức mình đuổi cái suy nghĩ đó ra liền "đẹp cái gì? Sắc này vô thường, mày mê nó là mày khổ với nó. Đừng có mê nữa, cái đồ vô thường". Cái đó là hành pháp, tùy pháp, phải từng chút, từng chút một như vậy. Mình ăn cái món đó thì mình thích nhưng Phật dạy mình quán nhàm chán thức ăn, thức ăn qua khỏi miệng vào bụng thì thành cái gì, món ngon nhất trên đời, món dát vàng nhưng khi ói ra còn dám ăn lại không. Đó là sự nhơ nhớp, mình mê ăn rồi một chút là khó tiêu, "cái tâm mê này ăn vừa phải thôi con, cái tâm Trư Bát Giới này".
MÌnh ăn 70%-80% thôi thì sức khỏe mình rất tốt, rất khỏe, nhẹ lắm, còn ăn vô chừng 90%-95% là mình mệt lắm, thời gian sẽ bệnh cho nên mình tập từng chút một như vậy. Mình đi toilet thì thấy nước tiểu hoặc cái phân của mình bài tiết ra hôi như vậy, đầu tiên là tanh hôi, nếu không xả nước thì hôi thối. Nhiều khi con đi trong rừng đem theo cái thùng nhỏ để đựng nước tiểu, quên 1 ngày thôi là nó bốc mùi khủng khiếp, không còn tanh hôi nữa mà là thối. Lúc đó tác ý "tâm mê nhìn đi, cái này là của mày đó", mình phải nhắc nó từng chút như vậy, ví dụ giờ mình nhìn cái cảnh này thấy trời mây đẹp quá thì lập tức tác ý "đẹp cái gì? Cái thứ vô thường đẹp cái gì? Cái thứ sắc uẩn vô thường, tan hoại, hoại diệt này đẹp cái gì?".
Mình tác ý nhắc nhở từng chút như vậy rồi mình đoạn diệt lần lần, lúc đầu nó sẽ khó chịu, cái tâm yêu thích, khoan khoái sẽ chống đối nhưng mà từ từ rồi nó sẽ chịu, nó không chống nữa, nó chấp nhận rồi từ từ nó sẽ giảm lần lần cho tới lúc nó diệt tận luôn. Như vậy mới đưa đến chỗ ly tham, đoạn diệt, tâm mình hoàn toàn an tịnh, lúc đó trí tuệ thù thắng xuất hiện, sự dập tắt tham, sân, si hoàn toàn thành tựu, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn và mình không còn tham muốn bất cứ một vật gì ở trên đời này nữa, tâm hoàn toàn giải thoát đối với tất cả các sắc pháp, sắc uẩn, thọ; tưởng; hành; thức.
Thọ cũng vậy, tưởng cũng vậy, hành cũng vậy, thức cũng vậy. Ví dụ sinh ra cảm giác đó mình thấy dễ chịu, mình khoái quá là mình rầy liền "chính vì cái cảm giác này mà mình sống chết nhiều đời, mình trầm luân sanh tử, chính vì cái cảm giác này mình bị trói cột, bị ràng buộc, làm nô lệ, mình làm nô bọc, làm đầy tớ cho những cái cảm giác hư ảo này. Tan biến hoàn toàn đi, diệt tận đi". Mình cứ nhìn vào từng cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức, từng ý niệm, suy nghĩ, những cái hình bóng, những cái cảm xúc, những cái nhận thức là mình cứ diệt, diệt hoài, tu như vậy rất mau đắc pháp, mau thể nhập. Nhất là những người già không còn bao nhiêu thời gian nữa, phải nỗ lực, làm một vố cho lớn để đi, dùng hết tâm lực, sức lực của mình, chết cũng được. Phải siêng năng tác ý chứ đừng quên tác ý, quên tác ý là mình trở về bản vị vô minh liền, trở về bản vị tham ái của chúng sanh, buông lung phóng dật liền, say mê liền, điên đảo liền.
Khi mình thấy cái gì, nghe cái gì, cảm xúc cái gì, nhận thức cái gì đều đưa thánh trí vào để soi rọi, Đức Phật và bậc đạo sư trao cho mình ngọn đèn Thánh tuệ mà mình không dùng thì uổng lắm, để cho ngọn đèn tắt cho nên những cái buổi nghe pháp là những buổi được truyền lửa, mồi lửa, tiếp lửa, đọc kinh, lễ pháp bảo, mình nghe pháp, mình tác ý thiền quán, quán chiếu là mình mồi lửa để ngọn đèn cháy mãi, đừng cho nó tắt, cháy hoài là nó sống trong cái trí thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất an, tai họa, những khổ ách, những dòng thác lũ này, những căn nhà lửa này, cái địa cầu đang bốc cháy này, mình cứ nhớ về khổ, nhắc cho nhớ cái khổ, nhớ đừng có tham, sân, si, nhắc nhớ đừng có hơn thua, "vô đây rồi đừng có hơn thua, mình khổ quá trời quá đất rồi, mình vô đây còn hơn thua với nhau làm cái gì nữa? Trời ơi là trời, cái tâm này nhả ra giùm tao đi, tao lạy mày". Cứ nhắc hoài vậy đó thì mình sẽ vô hướng Dự Lưu, vô Nhập Lưu, rồi mình diệt tận luôn hết tất cả các lậu hoặc.
Những cái gì mình chưa diệt được thì nói "mày hãy đợi đó, tao chưa đủ sức mạnh nhưng mày cứ ở đó chờ tao rồi tao sẽ xử mày, đồ ác độc", mình không có chịu thua, mình đừng có nghĩ làm không được, suy nghĩ đó giết mình chết, nó đóng bít cánh cửa Giác Ngộ. Dù chưa làm được nhưng mà "mày hãy đợi đấy rồi tao đủ sức lực thì mày biết tay tao, mày nằm ở đó đi, tạm thời tao cho mày nằm đó". Những cái nó quậy mình quá nhiều nhưng mình không đủ sức thì thôi mặc kệ nó, "mày ở yên đó chờ tao mài dao bén xong rồi tao nhất đao lưỡng đoạn mày", một dao hai khúc, "tao bằm mày ra, tao chặt mày ra, tao chém mày ra". Phải tác ý mạnh như vậy, đến một lúc nào đó tâm mê của mình sẽ thức tỉnh, độ tỉnh thức của nó mạnh lên, lớn lên, vững chắc thì mình có chân đứng trong pháp mà luật. Muốn vậy thì phải siêng năng thật nhiều, chịu khó, kham nhẫn.
Nhìn cái gì, nghe cái gì, thấy cái gì, gặp cái gì, bất cứ trường hợp gì mình cũng đưa pháp vào. Ví dụ mình bị người kia hiếp đáp hay là mình bị mất đồ, mình bị tai nạn rồi người ta làm những cái nghịch lý lắm nhưng mà mình không có kể những chuyện đó, chỉ lo giải thoát thôi, mình có ở đây đâu, mình sẽ đi mà, mấy người đó ở đây thì họ muốn giành giật, muốn làm gì thì kệ họ, mình không có ở đây đâu thì mình sẽ thoát ra nhẹ nhàng. Mình không thèm hơn thua, không thèm giành giật, khi con ứng dụng được cái này thì con thấy đã lắm, hạnh phúc, sung sướng lắm, không có gì diễn tả nổi.
Nhiều khi có những chuyện long trời lở đất với người ta nhưng với mình nhẹ như lông ngỗng, mình có ở đây đâu nên người ta giành giật, người ta làm gì cũng kệ họ, người ta muốn mắng chửi, chê bai, hủy nhục, nói xấu gì mình cũng kệ, đâu có cái mình để người ta nói xấu, làm gì có mình ở đây. Cái tâm mình thoát ra, rõ ràng mình thấy cảm thọ thoát ra luôn, thoát ra một cách triệt để chứ không phải thoát ra rồi lâu lâu quay lại tức. Vì vậy tu cái này sướng lắm, nếu không tác ý là uổng lắm cho nên phải tác ý.
VI. Trình pháp
Cô Diệu An: Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức của Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức của sư phụ, chư Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Con rất là cảm ơn sư phụ thường xuyên nhắc cho chúng con mỗi lần có những cái ý nào hay thì con nghĩ tới Thế Tôn và rất là biết ơn Thế Tôn, con cũng thường quán xét về cái sự vô thường. Thí dụ như gần đây thường thì 4 giờ thì quý thầy ở Vân Thủy Đường tụng kinh, tự nhiên bữa đó khoảng cỡ 4 giờ 5 phút mà không thấy đâu hết, con chờ cũng vài phút nữa cũng không thấy, tự nhiên ý hành của con nó nói chắc là 4:15 quý thầy sẽ tới đây nhưng mà một cái ý hành khác nó lại nghĩ là trống rỗng, trống không, sau này những chỗ các quý thầy thường xuyên đứng sẽ là trống rỗng, trống không, không có gì hết và con cũng tự nghĩ tới con cũng là trống rỗng, trống không.
Mới đầu nó cũng hơi chùng xuống, một cái cảm giác là tự nhiên bị mất mát hết nhưng mà sau đó thì nghĩ là sự thật mà, nó nghĩ tới cái sự thật đó và nghĩ là mình phải cố gắng phải nỗ lực, mình phải nhiệt tâm, mình tỉnh giác để sao cho cái hơi thở cuối cùng khi mình ra đi nó sẽ là hơi thở hiền, hơi thở của sự tỉnh giác. Con thường suy nghĩ như vậy lắm, con cũng thường suy nghĩ về tâm từ, con cũng thích câu "mong manh là sự sống, an ổn là tâm từ như hư không rộng lớn, tâm từ này bao la" và con nghĩ tới những sự mong manh của cuộc sống.
Con tác ý, lấy ví dụ như là con nhớ tới câu chuyện của một vị sư người phương tây đi qua Thái tu, đệ tử của ngài Ajahn Chah, sư bị té xuống rồi chết. Khi các sư khác ra thì thấy gương mặt bị nát ra, sư rất là đẹp nhưng mà khi bị đập mặt xuống thì cái da bị tróc, bị trầy da. Sau đó những con kiến, những con này con kia tới nó ăn thì rất là khủng khiếp, khi con đọc câu "mong manh là sự sống" thì con nghĩ tới những chuyện như vậy. Cũng có lần khác là khi quý Ni sư không có ở đây thì có các sư cô trẻ, các sư cô ngại bước lên chỗ của quý Ni sư thì chúng con nói các sư cứ tiến lên đi, giống như là cho gần để đọc oai nghi này kia cho dễ, cho tụi con ở đằng sau có thể tiến lên chung và có thể đọc. Khi con thấy các sư cô trẻ như là sư nhỏ nhất với sư Nhân, sư Liễu đứng lên chỗ vị trí của ba Ni sư thì con cũng nghĩ đây là vô thường, sau này các sư này sẽ tiếp bước các cái vị sư kia với sự vô thường cuộc sống.
Con cũng thường suy nghĩ nhiều về sự vô thường lắm, nghĩ như vậy nhưng mà đến khi gặp chuyện thì kinh nghiệm biến mất, ví dụ khi ngồi trên cái xe công nông lên dốc thì nó lên như vậy, nhưng mà nó lỡ tụt xuống thì người kia gắn cái cục đá xuống, con cũng thường đọc câu tâm từ. Lúc nó chạy bình thường thì mình vui lắm thấy tâm tư này bao la rồi này kia, nhiều khi nó tụt dốc một cái thì tự nhiên nghĩ tới chữ mong manh mà không nghĩ tới từ bỏ gì hết. Cho nên mặc dù là mình thường xuyên quán xét như vậy nhưng mà khi mà cái nguy hiểm tới thì cái pháp nó mất tiêu, cho nên con rất là biết ơn vì sư phụ thường xuyên nhắc cho chúng con để cho trí tuệ trong chúng con lớn mạnh, để có thể chiến đấu với lực sĩ của sự vô minh. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Mời chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí chia sẻ cảm thọ của mình.
Cô Mai Đỗ: Con xin đảnh lễ tam bảo, con xin đảnh lễ sư phụ, con xin đảnh lễ chư Tăng, chư Ni Thiện hiền trí. Sáng nay sư phụ giảng về kiến ách, cái tưởng con nhớ lại hôm qua tâm chống đối của con, nó chống đối lại lời dạy của sư phụ, sư phụ cho con xin sám hối. Con thấy sư phụ dạy rất đúng, bài pháp nói về thân nữ của mình, mình hữu về thân nữ của mình, cách đây sư phụ giảng mấy tháng thì con cũng nhớ lại bài pháp đó cho nên cái tưởng con thấy lại lúc tụi con khất thực xong, thọ thực buổi trưa xong thì sư Quý và Ni sư truyền lại lời dạy bảo của thầy là chúng con phải tự đứng vững, không có nhờ vả các thầy nữa. Con nhớ lại cái tưởng của con là mấy lần trước bình nước hư hay đèn hư thì mình nhờ các thầy, mai mốt mình phải tự hết, không có nhờ nữa thì tâm chống đối của con lúc đó nó buồn, nó không hài long, con thấy nó cũng cỡ 1-2 tiếng nó mới đi. Vậy là con đã chống đối sư phụ rồi, nhưng mà sáng nay con nghe sư phụ giảng về kiến ách rồi con kết hợp với cái bài giảng mình hữu cái thân nữ mình nữa, con thấy nó hay quá.
Tại vì con hữu về cái tình cảm của con, con rất là nữ tính, lúc nào con cũng dựa hết, dựa vào tình cảm của chồng, của con, của mẹ cha, của anh em. Bây giờ cái đó bị đứt và gián đoạn thì con thấy đúng, cái kiến về cái thân nữ của mình đã làm cho mình sụp cho nên con thấy hôm qua lời dạy của sư phụ nói tụi con phải rang, mình ở bên nữ thì mình ráng lo những chuyện ở bên nữ. Giờ con thấy con có lỗi, con xin đảnh lễ sư phụ.
Sư Phụ: Tất cả đều ở trong cái suy nghĩ của mình thôi mình có cái suy nghĩ mình quen cái dựa dẫm, lệ thuộc vào người khác, khi mất cái chỗ dựa đó mình đau khổ lắm cho nên chúng ta nhớ Đức Phật nói hãy tự mình là gì ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương dựa chính mình, đừng có nương dựa vào cái gì khác. Khi mình dựa vào cái khác mà cái khác vô thường, mình cũng vô thường thì huống chi là cái khác, cho nên nói vậy không phải là quý thầy không có giúp đỡ mà là mình tập cho mình có một cái tính tự lập, tính độc lập, cái tính vững mạnh để sau này có chuyện gì, nhất là đối đầu với sinh tử mình sẽ không có bị hoảng sợ, đó cũng là tinh thần Đức Phật dạy mình. Chúng ta nhớ điều đó để tu chứ đừng có nghĩ theo cái chiều thông thường của thế gian là giờ không ai giúp mình nữa, đừng nghĩ vậy, nghĩ vậy là nghĩ theo kiểu thông thường mà hãy nghĩ bằng trí tuệ của Đức Phật.
Ngay trong lúc đó mình phải đọc bài "niệm vị tối thượng" hay là nói rằng "thôi con không muốn làm vị tối thượng", trong những lúc đó là niệm cái đó, gọi là hành pháp, tùy pháp là như vậy đó.
Cô Hiền Hằng: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên bậc đạo sư tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên các bậc chư tôn thiền đức Tăng, chư tôn hiền đức Ni và các bậc hiền trí trong đạo tràng Nikāya tôn kính. Con pháp danh Hiền Hằng, con xin được chia sẻ cảm thọ của con. Con kính thưa sư phụ, từ hôm qua đến giờ con lại được một lần nữa được sư phụ cho thiền quán dạy dỗ về sự khổ, về dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách, trong con có hai dòng cảm thọ, một cảm thọ hỉ và một cảm thọ khổ.
Cảm thọ hỷ của con là con vô cùng, vô cùng tận biết ơn trên Đức Thế Tôn đã để lại dòng thánh pháp ly tham tối thượng này, cho chúng con biết được tận cùng hết những nỗi khổ niềm đau và cảm thọ thứ hai trong con có một sự tàm quý, xấu hổ. Trong thời gian về đây tu tập, con được nghe những bài pháp của sư phụ, con như lý tác ý và con có nhiều cái rất là lợi lạc trong tự thân con, bản thân con. Đến khi con lên trình pháp để chia sẻ sự lợi lạc trong sự tu tập của con thì con lại chưa làm được, do vô minh con chưa có trình pháp được, con cũng rất là xấu hổ. Con xin sám hối trên sư phụ, trên chư tôn thiền đức Tăng Ni.
Con kính thưa sư phụ, mỗi lần con được nghe sư phụ dạy cho chúng con thấy khổ, biết khổ, cho con thấm được cái khổ và giải thoát ra được cái khổ, mỗi lần nghe vậy trong con rất là hãi hung, rùng rợn, khiếp đảm, chấn động. Lần đầu tiên nghe con muốn quỵ xuống tại chỗ luôn, ngày hôm qua con lại được nghe sư phụ giảng về ách dục. Khi con chưa vào dòng thánh pháp này, thường thường ở nhà con cũng hay nói "ách ngoài đàn thường mang vào cổ", đúng vậy, vì câu đó mà con đã mang cái gong, cái cùm, cái ách đó từ trong vô lượng kiếp, cho đến đời này kiếp này, tất cả những nhân duyên nghiệp báo hội tụ đều đầy đủ trong người của con, trên chính bản thân con, giống như hôm qua sư phụ nói về cái dục của người nam, người nữ là một vợ hai, vợ ba, trong đó con cũng có hoàn cảnh như vậy.
Con xin chia sẻ một phần mà hôm qua sư phụ nói là ai ở trong hoàn cảnh này thì sẽ chia sẻ, con kính thưa sư phụ lúc nhỏ cha mẹ con bỏ nhau, khi cha con nuôi con được 9 tuổi thì bà nội bắt cha con phải lấy thêm vợ khác để có con trai nối dõi tông đường. Cha con lúc đó không chịu, cha nói con còn nhỏ quá với lại nó mất mẹ từ nhỏ, bây giờ lấy thêm vợ nữa tội nghiệp lắm, nhưng vì phong kiến thời đó bà nội 1-2 bắt cha con phải lấy thêm vợ khác. Người cha con thương thì bà nội không chịu, bà nội bắt lấy một người vợ có gia đình rồi thì người ta về mới thương con, cha con vì chữ hiếu nên phải nghe lời bà nội lấy thêm một người vợ nữa, người này cũng có một người con trai, em đó là hai dòng đời con. Khi cha con lấy người dì nên về 3 năm sanh được hai người em gái, con 10 tuổi thì sinh ra được em gái, lúc đó con Út còn nhỏ, kinh tế gia đình thiếu thốn, con phải chở từng thùng cà rem đi bán bằng chiếc xe đạp ở ngoài Bắc có đòn ngang qua chiếc xe đạp.
Buổi trưa trời nắng con đi bán hết một thùng kem, về dì ghẻ nói là thôi chiều đi bán thêm một thùng nữa, lúc con đi bán là 1h trưa đổ cơn mưa nên con không bán được. Con đi ngang qua cái vũng sình đó, cái đòn xe cao nên con bị trượt té, nước chảy vô trong thùng cà rem ướt hết, về bị lỗ vốn. Dì ghẻ không nói gì nhưng mà nói với cha con, từ đó cha con không có thương con, được 3 năm sau thì những ngày sau đó dì không bao giờ nói thẳng trực tiếp hay dạy dỗ con, toàn nói những lời sắc xéo để cha con gây rối thù hằng. Có một lần con nhớ dì giận con quá nên lôi người con của mình ra đánh, nhưng thực sự không có đánh vào người em đó mà đánh lên giường rồi nói em đó là la to lên để cho cha con nghe, bà nội con nghe là vì con mà em đã bị đánh đòn. Cha con đi làm về không biết đầu đuôi như thế nào lôi con ra đánh bằng cái roi tre, đánh nát cả 4 cái roi tre, trên người con không có chỗ nào không có lằn roi của cha nhưng con không giận cha.
Không ngờ rằng sau một trận đòn đó một tháng thì cha con mất, con rất hối hận là con không nói được là "cha ơi con không có giận cha". Trong 9 năm cha dồn hết tình thương cho con, cha hi sinh cho con, những lần con đau ốm cha bồng con đi bác sĩ, bác sĩ không cứu thì cha quỳ xuống lạy bác sĩ hãy cứu con. Ân đức của cha con không bao giờ quên được nhưng mà con chưa bao giờ một lần nói là con không giận cha. Sau khi cha chết, mẹ con cũng vậy, con chưa bao giờ một lần nào giận mẹ con, nếu như trong cái nghiệp quả mà con nói đó là chỉ nghe cái hình thức bên ngoài nhưng thật sự con chưa bao giờ giận mẹ, con rất thương mẹ, con rất thương cha con, con vì chữ hiếu thương mẹ con quá mà con đứa con bất hiếu. Con vì đền ơn và báo hiếu cho mẹ mà con xảy ra nghiệp quả tồi tệ nhất của thế gian này, nhưng bây giờ con vào dòng thánh pháp này con biết đó là nghiệp quả luân hồi.
Con ngưỡng mong trên sư phụ được một lần cho con được thiền biết ơn sám hối trước cha con, mẹ con. Khi con vô trong dòng thánh pháp này con rất biết ơn sư phụ và đại chúng, ngày ngày cho con tu tập tâm hiền, tâm từ, con nghe lời dạy của sư phụ và các chư tôn thiền đức Tăng Ni ngày ngày con luôn luôn tác ý, như lý giác sát. Sư phụ từng dạy "lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kỹ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm", mỗi một ngày con sám hối được nghiệp oan gia, nghiệp sát sanh hại vật, "nghiệp đeo như bóng với hình, chờ duyên hội đủ để hành tội nhau". Những bài giảng của sư phụ dạy con đều có hết, do vô minh nên con tạo nghiệp quá nhiều.
Con thành kính tri ân hiền trí Hải Huệ từ nước xa xôi vừa rồi cũng đã cấp cứu cho con. Khi con đọc bài kinh một ung nhọt và con thiền quán, không ngờ rằng nó ứng ngay trên người con, nay con xin được chia sẻ rất là vi diệu, vi diệu vô cùng. Nếu thật sự ai có tâm vào dòng chánh pháp này, thực thi, thực hành, thực chứng, thực thấy, thực biết nó vi diệu vô cùng, hai hôm sau nó ứng trên người con ngay tức khắc. Do mấy bữa con đưa sư Huệ Lý đi bệnh viện, chắc con dùng nước ở dưới bệnh viện nó bị ô nhiễm nên về bị ngứa rồi nó nổi lên một cục nhỏ ngay trên chỗ vết mổ của con và vết mổ này là vết mổ hồi xưa con sanh bé. Mới đầu con nghĩ là con gì cắn thôi nên con không để ý, từ trước đến giờ cái cảm thọ đau của con hay nhiếp phục, con không quan tâm, đến khi thầy Pháp Nghĩa đi thọ giới, con ở nhà lao tác ở bếp cũng không nghĩ gì đến cái đau của mình.
Cho đến cái ngày sư phụ về rồi cô Hải Huệ cũng chuẩn bị đi xuống núi thì con thấy nó sưng lên bằng một cái quả táo xanh, nó đau, nó nhức mà con đi cứ phải ôm cái bụng. Con xuống chăm cho sư Tú thì con hỏi sư Nguyên Tú thì sư Nguyên Tú nói con lên thưa với cô Hải Huệ cũng là dược sĩ khám cho cô thử, còn không thì phải đi xuống núi. Cái ngày cô gần về thì con cũng thưa với cô Hải Huệ là cô khám giùm cho con, khi cô lên cô khám mà khi cô bắt đầu đặt bàn tay vô trong người con thì con cảm nhận được bàn tay dịu mát, nó có tâm từ trong đó rất là nhiều, cô nói là cái này nhìn ở ngoài nó đơn giản nhưng mà nó không đơn giản tại vì nó nằm ngay vết mổ của con. Nếu như bây giờ con không đi khám hoặc là không uống thuốc thì nó chỉ cần rò rỉ một chút xíu bằng cái kim thôi là nó sẽ rỉ vào trong vết thương của con, nó sẽ tràn vào trong và sẽ bị hoại tử vết thương dẫn đến bị di chứng.
Mới nghe thì cảm thọ con nó cũng chùng xuống, con sợ nên con hỏi cô là có cách gì chữa trị cho con không thì cô chỉ phải xuống gần bệnh viện tới đây hoặc là nhờ ai mua thuốc đặc trị. Cô nói vậy thì cô cho con uống được hai ngày thì bắt đầu con lên cơn sốt, nó hành con, lúc đó con quán về bài thân ung nhọt, con từ bỏ, con tưởng lại bài kinh sư phụ dạy cho con là bài than trống rỗng. Lúc đó các Ni sư, cô Huệ quý cũng tới hỏi thăm con, con nhờ lòng từ của các sư rồi con thiền quán, các sư cũng trải tâm từ cho con, con bị sốt 2 ngày nhưng cũng vượt qua được cái ung nhọt đó. Thực sự con rất biết ơn, biết ơn với dòng thánh pháp Nikāya này, biết ơn tất cả cho con thấy được những tất cả nỗi khổ niềm đau và một điều biết ơn nhất với cái sự ái luyến của con đối với hai con của con. Trước kia con đã từng chia sẻ là trong lòng con oán hận người con trai của con, con không có hận thầy nhưng mà con giận, vì con chưa vào dòng thánh pháp này nên con còn dính mắc vào cái ái luyến đó, khi con trải tình thương tới cho thầy, cho bé đó thì tự nhân một thời gian sau hai người con tự nguyện lên đây và con hạnh phúc vì con đã nói được những cái lời nói với các con.
Tuy rằng với người con trai lớn con chưa nói được, con muốn nói với người con trai lớn là mẹ không còn giận thầy nữa và bây giờ mẹ thương thầy với một tình thương của Tăng đoàn, với tình thương của thầy trò, với bạn gái cũng vậy, con cũng không còn ái luyến nhiều bạn đó, như trước kia là cháy ruột cháy gan vì tưởng nhớ đến con. Con cảm ơn dòng thánh pháp Nikāya tối thượng này cho con biết được thăm thẳm những nỗi khổ niềm đau, cho con biết con phải cởi bỏ như thế nào và phải luôn luôn tác ý và hành trì như thế nào, tuy rằng con chưa tu tập được bao nhiêu nhưng mà con cũng vô cùng biết ơn sư phụ. Xin sư phụ và đại chúng dạy dỗ cho con và cho con xin được tập sự xuất gia, trọn đời kính mong sư phụ dạy dỗ cho con, con thành kính tri ân trên tất cả. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
4 Dòng Thác Lũ 4 (Bốn Ách - Bốn Bộc Lưu)
Kiến Chấp
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ly dục ách PAGEREF _Toc156580636 \h 1
II. Kiến ách PAGEREF _Toc156580637 \h 4
III. Tâm của bậc Thánh PAGEREF _Toc156580638 \h 8
IV. Kiến ách 2 PAGEREF _Toc156580639 \h 11
V. Vô minh ách PAGEREF _Toc156580640 \h 20
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc156580641 \h 24
I. Ly dục ách
Sư Phụ:
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ly dục ách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục. Do như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục không xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là ly dục ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)
Đây gọi là gỡ ra được cái ác của dục đè trên cổ, đây gọi là vượt qua dòng thác lũ thứ nhất, là người này như thật quán tri tức là người này thiền quán, là sự quán sát dựa trên việc được học trí tuệ của Đức Phật, tức là sự suy xét nhưng phải dựa trên nền tảng trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ chứ không phải tự mình suy xét thì gọi là như thật quán tri. Như thật là lẽ thật, là sự thật, là chân thật, quán là xét, tri là biết, quán xét và hiểu biết một cách đúng về bản chất của sự thật mà các bậc Thánh chứng ngộ gọi là như thật quán tri, như vậy toàn bộ trong Nikāya trừ tứ thiền bát định thì tất cả đều là thiền quán hết. Không có tự nhiên mình ly dục ách được, không thể tự nhiên mình ngồi đó rồi thoát ra dòng thác lũ của dục cho nên người này quán xét đúng sự thật về cái sự tập khởi tức là từ đâu mà nó sinh ra dục này, tập là tập hợp, khởi là sanh khởi. Quán xét đúng sự thật sự tập hợp và sanh khởi của tâm ham muốn.
Ví dụ như mình có cái tâm ham muốn về cái món đồ đó, cái cảnh vật đó, con người đó thì mình phải tĩnh lặng quán sát nguyên nhân nào, tại vì sao mình thích cái món đồ đó. Vì mình thấy nó, trước khi mình thấy nó mình đâu có thích nó, trước khi mình thấy nó mình đâu có thích lắm, như vậy thì là do cái gì mà có cái thích, có cái muốn đó? Do sự tiếp xúc, xúc tập khởi nên dục tập khởi, xúc tập khởi cho nên nghiệp tập khởi, xúc tập khởi nên ái tập khởi, hễ có tiếp xúc thì có yêu thích, có yêu thích thì muốn được chiếm hữu, sau khi chiếm hữu được thì nắm giữ, đó là lộ trình của tâm, khi bị mất thì đau khổ, khi không được cũng đau khổ, khi đang được cũng lo sợ thành ra đây là chỗ thâm sâu, rất sâu sắc để chúng ta thực tập tu hành. Cả ba thời đều khổ, chưa được thì khát khao, mong chờ, ước ao, tưởng mơ, suy nghĩ tìm đủ mọi cách để làm sao cho được nhưng không phải muốn là được cho nên mới gọi là cầu bất đắc khổ, mong muốn mà không được.
Giả sử như có được, tưởng đâu được là hạnh phúc nhưng vì vô thường nên cái được này cũng có thể mất bất cứ lúc nào cho nên người này lo sợ. Nếu mà mất thì càng khổ cho nên ba thời đều khổ, chưa được, được và mất. Có những người không được thì người ta sẽ đau khổ, trầm cảm, suy sụp, thậm chí là người ta có thể là điên loạn và kết thúc mạng sống. Nếu người này được cũng không vui sướng được bao nhiêu, chỉ trong một cái thời gian ngắn tại vì dục không bao giờ thỏa mãn hết, người này trong một thời gian chán, muốn tìm cái mới, đứng núi này trông núi nọ. Cái tâm mình ghê lắm, hiểu được tâm sẽ thấy ngao ngán, tất cả chúng sanh sống trong cái ảo tưởng, cái tâm này rất khó thấy.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Tâm này hết sức khó thấy và tế nhị, chỉ có người nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục mới biết, phải để tâm rất nhiều chứ tâm này khó thấy tế nhị theo các dục quay cuồng, không phải quay bình thường mà là quay cuồng. Đây là từ của Đức Phật dùng, quay cuồng ở trong dục, đảo điên ở trong dục, nghiêng ngửa, nghiêng ngã, nghiêng đổ trong dục, bỏ ăn mất ngủ, không làm gì được hết rồi bệnh luôn, thậm chí là chết luôn. Câu chuyện hồi xưa về Ngọc Lâm Quốc Sư, có cô thiên kim tiểu thư vừa gặp ngài là về bệnh tương tư, tiếp xúc là sanh dục, tiếp xúc là sanh nghiệp, khi tiếp xúc sẽ sanh ham muốn, khi tiếp xúc như vậy cái nghiệp cũ khơi dậy, món đồ cũng vậy, cảnh vật cũng vậy, con người cũng vậy, tâm thức cũng vậy nên mình mới thấy cái ảo tưởng của chúng sanh là khủng khiếp, không có người nào hạnh phúc, họ tưởng là hạnh phúc nhưng mà không có.
Ví dụ người ở thành phố nhà lầu mấy tầng thì họ lại thích ở nhà tranh, người ở nhà tranh thì họ thích nhà lầu, cứ lộn xộn qua lại vậy đó, người làm vua thì muốn là được làm dân, người dân thì muốn làm quan, làm vua, một người nổi tiếng đi đâu cũng bị tại săn lùng hết, mình đừng có tưởng nổi tiếng là sướng, họ sợ lắm, họ bịt mặt hết mà người ta cũng theo dõi, người vô danh tiểu tốt không ai biết gì thì họ muốn được nổi tiếng, họ thấy mấy người nổi tiếng đó họ khát khao, họ ước ao, họ thèm thuồng.
Rốt cuộc là gì? Cứ ở trong cái vòng luẩn quẩn, họ ảo tưởng, người này tưởng người kia hạnh phúc, còn người kia tưởng người này hạnh phúc, rốt cuộc đó là tưởng tri, gọi là điên đảo tưởng, tức là nó đảo lộn, ảo tưởng, nó quay cuồng, nó điên đảo, hư tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, như vậy là không có người hạnh phúc. Một người vô cùng xấu nhìn thấy một cái người đẹp thì ước gì mình được phân nửa nhan sắc thì cuộc đời mình tốt hơn nhưng mà người đẹp thì tự vẫn, lâu lâu những minh tinh điện ảnh những ngôi sao nổi tiếng quốc tế chứ không phải là trong một nước, họ kết thúc đời sống khi mới hai mươi mấy tuổi, bây giờ nhiều trường hợp như vậy lắm.
Vì vậy người xấu là hạnh phúc hay người đẹp là hạnh phúc? Người giàu là hạnh phúc hay người nghèo là hạnh phúc? Những người bệnh hoài thấy người khỏe thì ước mình được khỏe chắc mình hạnh phúc dữ lắm "Tôi ước gì, tôi ao ước được sức khỏe giống như cái người khỏe", nhưng mà người khỏe có cái khổ khác, gia đình ly dị. Chính vì chúng ta không thấy không biết được tất cả những khía cạnh, phương diện, góc độ, không toàn giác được đời sống này, chúng ta biết cái nào là chỉ biết một cái thôi, đó là kiến bộc lưu, chúng ta biết cái nào là biết một cạnh vậy thôi, nhìn ra thì thấy cái này thôi, không thấy cái phía sau này, không thấy phía bên kia.
Trong kiến bộc lưu có hành kiến, định kiến, thường kiến, đoạn kiến, tà kiến, thân kiến, rất là nhiều, ở đây con đưa những cái gần gũi nhất cho chúng ta thấy để chúng ta phát giác ra được là nó khủng khiếp lắm. Mình đừng có tưởng đâu mình tu ngon rồi, mình tưởng là mình trí tuệ rồi là mình chết liền, sống ở trong 4 dòng thác lũ này nó cuốn mình đi từng giây từng phút, ngay lúc đang ngồi thiền mình tưởng mình tỉnh giác trí tuệ nhưng vẫn bị cuốn trôi.
II. Kiến ách
"Và thế nào là kiến ách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của các kiến. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các kiến, nên kiến tham, kiến hỷ, kiến luyến, kiến đam mê, kiến khát, kiến não, kiến chấp thủ, kiến ái trong các kiến xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kiến ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)
Trong kinh có dùng cái "tư kiến", mình thấy cái gì là mình thấy theo cái thấy của riêng mình chứ mình không chịu đặt cái thấy vào cái cộng đồng, cái chung. Thí dụ mình học được chánh pháp, mình thấy hay quá, cái này là thiện nhưng mà vẫn có lỗi, mình thấy hay quá, quý quá, tốt quá rồi mình muốn con của mình, chồng của mình phải đi tu theo cái này trong khi người ta chưa nhận thức được rồi người ta khó chịu. Cái đó là tốt nhưng mà vẫn trở thành xấu vì mình nhìn theo cái tư kiến của mình.
Tuy là pháp nhưng mình không nhìn thấy được cái thấy của người ta, cái cảm nhận của người ta, cái nhận thức của người ta, đó là nói cái thiện. Bây giờ nói những cái thông thường, thí dụ như mình ăn lạt, người ta nêm vừa ăn rồi nhưng mình ăn vào lại nói mặn chứ mình không có biết mình hỏi mọi người xung quanh ăn thấy sao, mình thấy 4 người khi ăn đều nói vừa ăn thì mình biết mình ăn lạt. Những cái nhỏ này nó là cái tu, mình đều bị cái dòng thác lũ của tư kiến, tức là cái thấy biết riêng tư của mình cuốn mình đi rồi mình phiền não, mình khổ đau. Mình không biết, mình tưởng cái đó là bình thường, tất cả mọi người đều nói vừa ăn còn mình thì lại chê, có khi cái lưỡi của đang có vấn đề gì đó. Chúng ta nhớ mấy người nhiễm Covid không, vị giác bị mất nên ăn không biết mùi vị gì cả, nhờ đó chúng ta mới thấy được cái thiệt thức này vô thường.
Bây giờ trường hợp đây là chúng ta nhìn cái gì, chúng ta nghe, chúng ta thấy, chúng ta cảm nhận, nhận thức, thức tri cái gì là theo cái tư kiến của mình thì chúng ta đau khổ, không ai làm vừa lòng chúng ta được hết, không đi đâu ở được hết. Cho nên hôm qua mấy sư cô trình pháp rất tốt, nhiều khi mình ở quen với môi trường đầy đủ điều kiện rồi, bây giờ mình vô cái chỗ khó khăn, hôm qua muỗi đốt nhiều, cho nên tất cả những cái đó là kham nhẫn, quý vị không biết chứ ngoài muỗi còn có con có một con sâu nái bự thiệt bự bò vào tấm y, quý vị không để ý là không có thấy, ngay trước mắt của mình mà mình còn không thấy cho nên mình đừng tưởng là mình thấy hết vì thế Đức Thế Tôn mới nói con mắt này là mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Mình tin Phật thì mình sống mới an ổn, mình tu nó mới tiến, đằng này mình không có tin Đức Phật, Phật nói mình mù nhưng mà "con có mù đâu", nhiều khi học kinh là vậy nhưng khi vào thực tế đời sống thì "rõ ràng là tôi thấy như vậy mà", tức là mình cãi Phật rồi. Mình không có chấp nhận thánh trí của Đức Phật, thí dụ mình có chuyện gì mình nói ra mà người ta nói "chị nói trật lất rồi, chị lé hay sao vậy?" thì "dạ đúng rồi, chẳng những em lé mà em còn mù nữa". Bây giờ có người ta nói "Bộ chị đui hay sao? Chị không thấy đường hả?" thì "dạ đúng rồi, em đui, Đức Phật nói con mắt này là mù lòa. Cám ơn chị nhắc em".
Những lời của Phật phải khắc vào tim chứ không phải nhớ bình thường, đọc thì đọc nhưng khi lúc hữu sự bị nói một câu là có chuyện xảy ra, nổi cơn tam bành lên, phải ghi nhớ lời Phật mới là con ngoan trò giỏi của Đức Phật. Những cái gì Đức Phật nói là mình khắc vào tim, mình đưa nó vào não, mình sống với nó, sống với pháp.
Mình nhìn mọi vấn đề là nhìn theo tư kiến cá nhân rất nhiều, người ta nói mình không chấp nhận, tôi thấy cái đó rõ ràng như vậy mà, tôi cho là như vậy đó, tôi thấy như vậy đó, cái đó là đúng thì mình đang bị vòng thác lũ cuốn mình trôi, mình đang bị cái ác đè vào cổ, đó là kiến ách, kiến bọc lưu, dòng thác lũ của cái thấy biết sai lầm, nhỏ hẹp. Cái này biết bao nhiêu cái ví dụ mà nói, trong đời sống mình là sống vậy không, sống với tư kiến cá nhân, mình tạo dáng vậy, mình chụp tấm hình ưng ý hết cỡ luôn vậy mà đưa ra bị chê xấu, dù ngồi cười nhưng trong bụng thì tức giận.
Mình thấy đẹp như chưa chắc người ta thấy đẹp, mình thấy ngon nhưng chưa chắc người ta thấy ngon, con đi qua Úc châu hoằng pháp thì mấy cô nấu bún riêu bưng lên, Phật tử hỏi cái gì đó trong khi con muốn cho mọi người vui nên nói đây là món ruột thế là 4 ngày ăn bún riêu. Hôm sau đưa con món khác thì con cũng bảo là món ruột thì các cô thắc mắc sao món nào cũng là món ruột, con bảo tại vì món nào cũng vào ruột hết. Nhiều khi mẹ con hay mấy cô cũng hiểu lầm luôn, tại vì con muốn cho mọi người hoan hỉ cái công sức của mọi người, tấm lòng của mọi người thì con nói cho mọi người hoan hỉ mà mọi người cứ nghĩ là cái món này con khoái lắm nên hôm nào lên cũng canh chua với cái gì đó. Con đi về quê thì các cô mua đồ về nấu, thế là con nói cái này ít khi nào có lắm, cái này tốt lắm thế là ngày nào cũng cho ăn món đó.
Cái đó gọi là thành kiến, nhưng mà ăn vẫn được, tức là ở trong tâm mình khi mình thấy, mình nghe cái chuyện gì đó là tâm mình nó sẽ dính vào trong đó, nó trở thành cái thành kiến, nó trở thành một cái gì một cái thấy như vậy. Hôm qua chúng ta ngồi ngoài cổng trời thì chúng ta hướng mặt về cổng trời, hướng mặt lên mặt trời, nhưng khi chúng ta vô nhà có cái vách trước ra mặt thì chúng ta cũng hướng vô vách chứ không hướng vào người giảng pháp. Tức là cái đó là thành kiến, tại vì các pháp luôn luôn là các hành, nó vận hành, nó vận chuyển, cái tâm mình thấy cái gì là mai mốt mình y như vậy, cái tâm mình đó không có nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Cái tâm như vậy là cái thành kiến cứng chắc, không thay đổi, phải vậy là như vậy mãi mãi chứ không có khác, chúng ta thấy con lên niệm Phật bao nhiêu kiểu không?
Khi mình làm một kiểu "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật" là mình thành máy móc, không còn thọ nữa, tâm mình không còn cảm xúc nữa, cho nên tại sao học ở đây chúng ta đủ thứ thể loại để tu hết, lên núi, xuống ao, không thì ra bờ, ngồi ở vườn tre, vườn trúc hoặc ra gốc cây, vì làm một cái hoài thì chúng ta chán. Chính cái tâm mình đừng có bị thành kiến, đừng có cố chấp với một cái thì chúng ta mới có được sự phong phú, đa dạng trong tu học, mình mới cảm thọ được, thành ra mỗi cái xin thưa quý vị đều là sự khổ tâm chứ không hề đơn giản, phải sử dụng nhiều chánh niệm và tỉnh giác để mình làm việc, đôi khi chúng ta ngồi ở ngoài thì rõ ràng phải hướng về cổng trời, hướng về mặt trời thì con cũng ngồi ở đó nhưng khi vào nhà chúng ta cũng hướng vào vách, mỗi người một kiểu.
Nếu không chỉ dạy là chúng ta không biết đâu, chỉ thấy khó tánh quá, cái gì cũng nói hết, không nói thì không biết mà nói ra thì không chịu, cái đó là định kiến, khi mình làm một cái gì rồi là mình theo cái kinh nghiệm đó, cứ tưởng tri đó thì sau này cũng làm y như vậy.
Chẳng hạn như Phật đản mà chúng ta làm vậy mà sư phụ nói được rồi đó là 5 năm sau cũng vậy, không có thay đổi gì hết. Không phải như vậy, đó gọi là thành kiến, bây giờ tới con người, lần đầu tiên mình gặp người đó mà họ có một cái hành động, lời nói gì đó làm mình khó chịu là từ đó về sau mình gặp là mình nhớ người đó y chang vậy, đó là thành kiến về người. Cái này có không con thưa các tôn giả của con?
Mình giữ cái hình ảnh, cái cảm thọ, cái suy nghĩ về người đó tức là thành kiến, chính vì vậy mà người ta rất là quý cái ấn tượng lúc ban đầu mới gặp, ban đầu gặp mà làm cho người ta ghét là xong, sau này mình tới là không muốn tiếp nhưng mà không phải, người ta tốt nhưng bữa đó nhiều khi ăn bị đau bụng hay là đang bị cái gì đó trong người làm khó chịu, đang bị bệnh nên người ta nói chuyện không có dễ thương.
III. Tâm của bậc Thánh
Đức phật có dạy lúc đó vua Ba-tư-nặc đang ngồi cái nhìn thấy các vị Sa-môn, Bà-la-môn đi ngang thì nhà vua đảnh lễ vì tưởng là các bậc A-la-hán. Đức Phật nói là đại vương chớ có như vậy, đại vương còn hưởng trong năm dục, còn sống đời thế tục thì làm sao đại vương biết được ai là A-la-hán, ai không phải A-la-hán, đại vương muốn biết thì phải sống chung thời gian dài, phải có tác ý không phải không tác ý, tức phải quan sát.
"Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi, Pubbàràma (Ðông Viên), tại lâu đài Migàramàtu (Lộc Tử Mẫu giảng đường).
Lúc bấy giờ, Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, và đến ngồi tại mái hiên phía cửa ngoài.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Lúc bấy giờ, bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ với thân đầy lông, với móng tay dài, lớn như cây lau, mang các dụng cụ khất sĩ đang đi ngang qua, cách Thế Tôn không xa bao nhiêu.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào phía một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy và nói lên ba lần tên của mình: 'Thưa chư Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala'.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy đã đi qua không lâu liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?
-- Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ, trong khi còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả.
Thưa Ðại vương, chính phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, I. Bện Tóc)
Thành ra mình muốn hiểu một người không phải chỉ nhìn qua tiếp xúc một lần mà mình hiểu được, phải tiếp xúc nhiều lần, thậm chí là phải ở chung thời gian lâu dài mới hiểu, còn mình nhìn một cái là biết hết, nhìn con ruồi bay ngang là biết ruồi đực hay ruồi cái liền, đó là bản ngã, đó là mình sống với thành kiến, thường thường mình sống với nhau là đa số sống bằng thành kiến chứ không có sống bằng cái tâm hiểu và thương, từ bi và trí tuệ.
Cũng như giới tử vừa rồi, mấy hôm trước lên mà trào nước mắt "con là kẻ mồ côi", nếu mình không nghe giới tử trình bày thì làm sao mình hiểu, mình thương thêm nữa, nếu người đó không nói làm sao mình biết. Cho nên làm cho các pháp hiện hành, làm cho các pháp hữu vi hiện hành, nếu như Hiền Thảo không ra lạy mẹ, kể mẹ gánh hai cái đòn gánh phế liệu, ngồi ăn mâm cơm mà bị ông chồng hành hạ, nếu mình không nghe thì làm sao mình hiểu thêm để mình biết mình thương, cho nên mình sống với nhau bằng cái hiểu và thương chứ đừng có sống nhau bằng thành kiến.
Nếu lỡ có thành kiến thì phải phá cái thành kiến đó, chúng ta thấy chỗ này nó có vi tế không, có sâu sắc không, có cần trong đời sống tu hành với nhau không. Nhiều khi là có cái lỗi gì con nhắc một cái là từ đó về sau là xong luôn rồi đó, thấy con là vô bụi tre cho nên nó khổ, khó học đạo là vậy đó, mình không hiểu là cái người đó vì tình thương hay là cái người đó ghét mình, mình không hiểu cái thương ghét, mình không biết, cái ái cái từ mình cũng không hiểu do cái tâm mê mờ. Cho nên kiến bộc lưu này khủng khiếp lắm, vòng thác lũ của kiến chấp, còn cái thân kiến thì nó sâu, mình đi sau cùng, những cái bình thường như vậy là mình sống ở trong đó hết, nhiều khi huynh đệ, tỷ muội sống với nhau khó khăn, khó ở nhau là cái do thành kiến này.
Nhiều khi người ta lỡ gì đó là xong, từ đó về sau là có thành kiến với người ta, còn người mà mình thấy tập khí, tính tình, bản ngã thì cái đó chịu rồi, mình cũng phải đối xử với họ bằng cái tâm hiền, tâm từ. Không phải tự nhiên mình gặp họ, cũng có nợ nần với nhau, đâu phải đi tu là hết nợ, không có nợ anh em ngoài đời nhưng vô chùa nợ làm tỷ muội, xuất gia chung một sư phụ rồi bắt đầu hành hạ nhau. Mình phải thấy hết mới được, thấy biết hết, đó là lý do tại sao chúng ta học nhiều, mỗi một phương diện như vậy chúng ta mới thấy như nghiệp, Đức Phật nói có bốn loại nghiệp.
"- Có bốn nghiệp này, này các Tỳ-kheo, đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, có nghiệp đen quả đen; này các Tỳ-kheo, có nghiệp trắng quả trắng; này các Tỳ-kheo, có nghiệp đen trắng, quả đen trắng, này các Tỷ kheo, có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt. Có bốn nghiệp này, này các Tỳ-kheo, đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XXIV. Phẩm Nghiệp, (I). Tóm Tắt)
Sau khi ngài thắng tri nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp đen trắng và nghiệp không đen không trắng thì ngài mới tuyên bố ngài chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thành ra không phải Đức Phật chỉ giác ngộ một pháp, ngài giác ngộ rất nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ trong ngũ uẩn. Còn mình học một câu thôi là nghĩ rằng tu đủ rồi, hoặc là nói "vào chùa học chữ nhẫn thôi, cái này làm suốt đời cũng chưa được nên học chi cho nhiều", mấy người làm biếng thường nói như vậy, vô minh là nói như vậy, tâm không có hướng thượng rồi nói vậy. Mỗi một phương diện chúng ta học, chúng ta thành tựu một cái trí tuệ về phương diện đó, ví dụ như mình học bốn bộc lưu, sau này dục mình biết, hữu là mình biết, ham thích sự hiện hữu mình biết, những trong mình có cái thành kiến, tư kiến, định kiến, những cái tà kiến, thân kiến là mình biết mình đang có cái kiến đó tại vì mình có học rồi, mà học rồi thì phải nhớ, nhớ rồi phải thực tập thì cái đó còn trong người mình nên mình thành tựu trí tuệ về cái pháp đó.
Sau này khi mình thành tựu thánh đạo, Thánh quả thành một bậc A-la-hán thì mình có khả năng thuyết pháp độ rất nhiều, rất nhiều, rất nhiều chúng sanh. Cho nên Đức Phật nói một người tu tập bốn thần túc, tứ như ý túc thì người đó thành bậc thánh là thánh lãnh đạo, cũng là bậc A-la-hán mà không tu tập cái đó nhiều, không có viên mãn thì cũng là thánh nhưng mà độ dài người thôi, có những vị ẩn dật trong rừng tới nhập Niết-bàn thôi, nhưng mà có những bậc cũng Thánh A-la-hán nhưng mà là thánh lãnh đạo, độ cho rất nhiều người tu tập được các cái pháp. Thành ra là cái nào tốt lành thì chúng ta phải cố gắng trong cái sự tu học, đừng có thỏa mãn, tự mãn, hài lòng với những cái thấy biết nhỏ hẹp.
IV. Kiến ách 2
Nhiều khi con thấy có những chỗ tu khắc thời khóa biểu lên đá thì xong rồi, làm như cái máy, 10 năm cũng y chang như vậy, không có gì thay đổi, đương nhiên phải có những cái gọi là khuôn phép, thời khóa phải giữ chứ đâu có thể thay đổi hoài được, nhưng mà nếu mình máy móc vậy thì không có thay đổi là không có phát triển.
Vào chùa tụng kinh mà mình không hiểu gì hết, tụng mà mình không hiểu gì hết mà cứ để một ngàn năm, đó cũng là định kiến, trong khi mình là người Việt mà mình không để chữ Việt mà mình để chữ gì á, để chữ đó người ta không biết gì hết thì lúc đó mới oai, còn để chữ mà ai cũng đọc được hết thì bình thường, nó trở thành cái định kiến, cái kiến chấp ngàn năm. Thật là khổ! Nhiều khi con đi chung mấy thầy, mấy chú ngoài đường thấy viết chữ nước ngoài không, chữ Tàu không mà con là đọc đại tạng kinh bằng chữ Hán, con dịch mấy chục tác phẩm Tàu nhưng mà con hỏi các thầy biết chữ đó là chữ gì không thì không ai biết, mình biết mà mình cũng không biết, nhiều khi ông trụ trì đó cũng không biết hết cho nên đọc trật hết.
Chữ Hán là "Giáo Đa Thành Oán", nghĩa là dạy nhiều thì trở thành oán ghét vậy mà đọc thành "Giáo Tra Dài Cán", do không biết chữ Nho nên đọc sai, hoặc là "Mạ Nhân Như Giáo Nhân" nghĩa là mắng người cũng giống như dạy người vậy mà đọc thành "Mạ Lên Như Giá Lên", do không hiểu, không biết, đọc mà không biết đó là cái gì, vậy mà vẫn giữ chứ không chịu thay đổi, trở thành kiến chấp, định kiến.
Cái kiến bộc lưu này nà cái dòng thác lũ mấy ngàn năm, nghe người ta kêu tu cái gì là cứ làm theo y vậy đó chứ không dùng trí tuệ để xét nét vì thế bậc Đa văn Thánh đệ tử rất quan trọng. Chúng ta phải nghe thật nhiều, phải thọ trì thật nhiều, phải ghi nhớ thật nhiều, phải thực tập thật nhiều thì chúng ta mới giúp lại cho mình và giúp cho những người có duyên, nếu chúng ta không có học dục bộc lưu, kiến bộc lưu, hữu bộc lưu, vô minh bộc lưu, chúng ta không biết gì về bốn dòng thác lũ thì chúng ta ở trong đó có hay biết không, sống trong đó có biết mình đang lọt thác không, nó cuốn trôi luôn cũng không biết. Đó là định kiến, xưa bày nay làm, người ta sao thì mình vậy, Đức Thế Tôn nói người mù dẫn một đoàn mù xuống vực sâu.
"Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy" (Trung Bộ Kinh, 95. Kinh Cankì)
Thật sự xót xa lắm!
Thà rằng chẳng biết cho xong,
biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu.
(Nguyễn Du)
Đó là một người hiểu về tà kiến, cái thấy biết của họ sai rồi họ truyền bá cái tà kiến, cái tư tưởng đó ra, Đức Phật nói người tà kiến sẽ rơi vào địa ngục.
"Ta không thấy một pháp nào khác, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, như tà kiến. Này các Tỳ-kheo, Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Đó là chưa kể tư kiến rồi thành kiến, rồi kiến chấp, thường kiến, đoạn kiến, thân kiến, nhiều cái kiến lắm, rất là nhiều con kiến. Thời Đức Phật ở trong kinh Phạm Võng là 62 thứ kiến chấp, tất cả cuối cùng nguồn gốc đều từ nơi cảm thọ hết, từ nơi cảm thọ có ra 62 tà kiến thời Đức Phật, nó bung ra giống như cái lưới bao vây hết chúng sanh hữu tình ở trong cái mạng lưới của tà kiến, cho nên cái võng giống như cái lưới bung ra chụp hết chúng sanh trong tam giới.
Duy nhất chỉ có một người thoát ra, tự mình thoát ra, đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, qua đây mới thấy được ân đức của Phật là siêu khủng, thánh trí huệ của Phật, cái sức mạnh của Phật, cái nhìn của Phật và cái đạo lộ của ngài là không thể tưởng tượng, bất khả tư nghì, trong giữa mà vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp chúng sanh bị một cái lưới tà kiến bung ra như vậy chụp hết tất cả trong đó, giống như chúng ta thấy người ta đi bắt cá, họ cầm cái lưới tung ra một cái mà cá nằm trong lưới đó hết. Tất cả chúng sanh ở trong tam giới, 10.000 cái trái đất nằm trong cái mạng lưới của tà kiến, của chấp thủ đó hết, của kiến chấp đó hết, độc nhất chỉ có một con người từ ở trong cái mạng lưới đó thoát ra.
Ngày xưa có hai vị thiền sư đi hành cước, tức là đi cầu đạo, đi học đạo, đi hành đạo, đi chỗ này chỗ kia giống như Ấn Độ gọi là du sĩ. Hai vị đi ngang chỗ đó gặp người đó đang giăng lưới bắt cá, người chài lưới bung cái lưới bắt cá lên, trong lúc kéo cái lưới lên thì tự nhiên ở trong lưới nó có một con vẫy mạnh đến nỗi nhảy ra khỏi cái lưới. Vị thiền sư này vỗ tay nói cá hay quá, vị thiền sư còn lại nói không có gì hay cả, ở ngoài lưới mới hay, hai vị đi tiếp thì lại bàn luận tiếp về con cá nhảy ra khỏi lưới.
Dù con cá bị mắc trong lưới nhưng nó không chịu đầu hàng số phận, không chịu khuất phục, không cam tâm chết như vậy mà nó dùng sức mạnh, dùng sức bình sinh, tức là còn bao nhiêu sức là dùng hết để nó thoát ra thì cái đó mới là sức mạnh, nó không có cam tâm chịu chết ở trong cái lưới. Câu chuyện đó cũng có ý nghĩa khích lệ chúng ta, chúng ta đang bị cái lưới tà kiến bao vây, trước khi đi vào thân kiến thì tà kiến nhiều lắm, thường kiến, đoạn kiến, tà kiến, thân kiến. Chúng ta nghĩ sáng nào cũng lên đọc pháp bảo, vô được ngồi nghe pháp y vậy thì đó là tà kiến, là thường kiến, tức là mình nghĩ ngày nào cũng vậy, tuần nào cũng vậy, tháng nào cũng vậy, năm nào cũng vậy, 5 năm sau mình cũng vậy, 7 năm sau cũng vậy thì đó là mình đang sống ở trong thường kiến, tức là cho nó như vậy hoài. Nếu mình có cái thấy như vậy là mình đang sống ở trong cái tà kiến mà nó thuộc về cái loại thường kiến, tức là như vậy hoài. Cái này chúng ta có nhiều không ạ?
Mình nghĩ ngày mai cũng y như vậy, ngày kia cũng y như vậy, tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, quý sau cũng vậy, năm sau cũng vậy, 5 năm sau mình cũng vậy thì cái đó tức là thường kiến, tức là cái thấy cho rằng như vậy hoài mà mình không thấy được vô thường, mình có thể gặp tai nạn, mình có thể chết, mình có thể bệnh, người xung quanh mình cũng vậy. Chính vì mình nghĩ cứ như vậy hoài nên có chuyện gì xảy ra là mình bàng hoàng, mình bất ngờ, mình hụt hẫng như người thân ra đi, mình gặp tai nạn là mình khổ, mình cứ nghĩ như vậy nhưng giờ lại khác với cái nghĩ của mình, đó là mình không thấy vô thường mà mình cho nó là thường, đó gọi là thường kiến. Đoạn kiến là mình nghĩ rằng chết rồi là hết, cứ hưởng thụ cho đã đi, rồi làm ác, làm lành, làm gì được cuối cùng chết cũng hết không có gì hết, như vậy đó là đoạn kiến, chết rồi hết.
Đó là hai cái nổi bật nhất ở trong những cái tà kiến là thường kiến với đoạn kiến, tức là như vậy hoài hoặc là chết là hết rồi, có nhiều người không hiểu đạo nên người ta nghĩ chuẩn bị cho trước khi chết thì họ nói 20 năm sau cũng trở thành trang hảo hán nữa, tức là họ chết rồi thì họ sống trở lại, mặt mày, hình dáng giống y như bây giờ, cái đó là thường kiến. Mình thấy trong phim Tàu hồi xưa trước khi chết thường nói "20 năm sau ta cũng là trang hảo hán, ta cũng giống như bây giờ", cái đó tức là thường kiến của ngoại đạo.
Nó phải đi theo nghiệp chứ đâu có thể nào giống y như mình bây giờ được, đâu phải người chết làm người, rồi chó chết làm chó, chim chết làm chim, rắn chết làm rắn, giòi chết làm giòi, không phải như vậy mà nó luân chuyển trong lục đạo tùy theo cái nghiệp thiện hay là bất thiện, phước hay là tội của mình, lành hay dữ của mình, nghiệp đen hay nghiệp trắng của mình mà nó có thể đi lên cũng có thể đi xuống, hoặc cũng có thể đi ngang. Nếu cái nghiệp mình làm tương thích thì đi ngang, nếu cái nghiệp thiện của mình tăng thượng thì nó lên, nếu như nghiệp ác của mình nhiều thì đưa mình đi xuống, như vậy không phải người chết làm người, thú chết làm thú, không phải chó chết làm chó, heo chết làm heo, dê chết làm dê, nó sẽ luân chuyển, biến động, nó lên xuống thăng trầm trong lục đạo sáu cảnh giới.
Không cần phải đợi đời sau mà ngay trong đời này nếu tâm thiện của mình nhiều thì mình cũng đổi cảnh giới, chẳng hạn như cái tâm quý vị hướng về thiện thì quý vị ngồi đây là cao hơn mặt nước biển 780 mấy mét, vì cái tâm hướng lên cao thì quý vị ngồi ở trên cao. Nếu quý vị không ngồi đây thì giờ này quý vị có an trú trong pháp giống vậy không? Nhiều khi là đang chồng con gì đó, phiền não, được mất, lời lỗ gì đó, nào tình cảm, nào là vật chất, nào là bao nhiêu những thứ đó, thì như vậy cao hay thấp, lên hay xuống, an hay bất an, tịnh hay là bất tịnh, ô nhiễm hay thanh tịnh là do sự hướng tâm của mình, do sự tác ý sự hướng tâm của mình sẽ thực hiện những điều đó cho nên hai cái tà kiến nổi cộm nhất là thường kiến mà đoạn kiến tức là như vậy hoài hoặc là chết là hết.
Ví dụ như coi ngày, coi giờ làm gì đó, đặt cái bếp chỗ này mới được, cái đặt chỗ này khác là không được, rồi phải cúng nha. Đức Phật đâu có dạy mấy cái này, Đức Phật liệt nó vào trong tà mạng nhưng Phật tử vẫn đi coi bói như thường. Phải đi xem coi phải đặt hướng nào, phải để cái bếp ra sao, làm vào giờ nào, ngày nào, nhiều thứ lắm, con nhớ lúc đó con mới đi tu, mới sáng mùng 1 lấy chổi ra quét do cây bông giấy rụng bông nhiều quá nên chùa dơ, thầy nói quét vô chứ đừng quét ra. Con nhớ mãi điều này nhưng từ lúc đó là con không chịu rồi tại vì chắc cũng nhiều đời mình tu tập Nikāya, mình thấy cái đó là không có đúng, dù thầy nói vậy nhưng con không có chịu, tuy là miệng không nói ra nhưng trong bụng không có chấp nhận. Mình nhớ ở nhà, nhất là mùng 1 nữa thì phải quét vào vì quét ra là mọi thứ đều theo đó đi ra hết, những cái đó là tà kiến hết, là sự mê tín, tà kiến.
Mình làm ăn thành đạt là do cái gì? Do quét nhà hay là do mình suy tính cho cẩn trọng? Làm ăn có uy tín, làm ăn có lương tâm, làm có chất lượng để có niềm tin cho người ta hay là mình do mình quét nhà rồi mình làm ăn hốt bạc? Không phải người đời mà người tu cũng rất nhiều, đó là tà kiến. Nếu không học là mình không biết, người ta nói gì là mình sợ, lo sợ, gọi là "bói ra ma, quét nhà ra rác" tiền mất tật mang. Bây giờ đi sâu vô thân kiến, cái này là mạng lưới bao trùm hết tất cả tam thiên, đại thiên thế giới, có nhiều vị chứng được ngũ thông nhưng vẫn không phá được thân kiến nên còn ở trong luân hồi. Thân kiến là kiến chấp về thân, cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nói đơn giản đống thịt này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái thấy đó là sai, cho rằng những cảm giác này, những suy nghĩ này, những hình bóng trong tâm này, những nhận thức này, ngũ uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, đó là thân kiến.
Dòng thác lũ này cuốn hết tam thiên, đại thiên thế giới, dục giới bị cuốn, sắc giới bị cuốn, vô sắc giới bị cuốn luôn, tam giới, 10.000 cái địa cầu đều bị cái vòng thác lũ của thân kiến cuốn phăng, nhận chìm, trôi nổi hết, đó là dòng thác lũ của kiến bộc lưu, kiến ách. Chúng ta thấy không, nếu không học thì làm sao biết, cái nhận thức đó, cái thấy biết đó là mình thích lắm, mình muốn được có cái mình, nhiều người hỏi "nếu tu thoát ly khỏi năm uẩn thì mình còn cái gì không? Vậy là mất tiêu cái mình rồi hả?".
Vậy là muốn có cái mình trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này để bệnh hoạn, ung nhọt, tham, sân, si phải không? Đâu phải mình thoát ly năm uẩn rồi mình hết trơn, mình trở thành trống rỗng đâu, Đức Phật nói là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cái tâm bất động giải thoát, thánh trí huệ chứ không phải hết ngũ uẩn rồi là sạch hết, không còn gì nữa. Vì năm thứ này là năm thứ khổ, là bệnh tật, bất an, tai họa, phiền não, mình ra khỏi năm thứ này thì hết bệnh, được an ổn, không còn phiền não nữa.
Bây giờ cứ hỏi "tu như vậy thì còn gì nữa?", hỏi như vậy là kiếm cái hữu, sự hiện hữu. Cứ hỏi "ông tu như vậy thì còn gì? Tu tới rốt ráo hết trơn thì sao?", tức là đi tìm cái hữu mà tất cả mọi sự hiện hữu là nằm trong đau khổ, mình muốn hiện hữu tức là muốn khổ đau. Bây giờ mình ở trong tù, những người tù cứ hỏi mình "bây giờ ra tù thì làm gì? Mình ra tù rồi đi đâu", ra tù đi rồi biết thôi, ngũ uẩn là cái ngục tù, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là chỗ giam cầm mà cứ hỏi "hết ngũ uẩn rồi sao?", mình có diễn tả ra sao cũng diễn tả trong ngũ uẩn, làm sao diễn tả ngoài ngũ uẩn được như con chó nó bị buộc dây, nây giờ cởi dây ra rồi nó đi đâu. Hai con chó bị cột lại rồi hỏi nhau "đứt dây ra rồi mày đi đâu?", không có sợi dây thì thoải mái, thảnh thơi, tự tại mà không chịu, còn muốn bị ung thư, còn muốn ôm bộ xương nữa hay sao mà cứ hỏi mãi, đó là tà kiến, là chấp thủ vào trong năm uẩn. Do vô minh không thấy, không biết ngũ uẩn nên mình yêu thích, tham đắm trong này.
Người ta chơi trò chơi giả ma đi vào trong thang máy, những người trong đó sợ hãi, muốn mở cửa mau lẹ để thoát ra khỏi thang máy đó vì thấy ma trong đó nên cảm thấy ghê gớm, rùng rợn, sợ hãi, bất an nên muốn ra khỏi nơi đó để được bình an, hạnh phúc, không còn lo lắng, sợ hãi nữa.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đoạn tận tham ái,
Bậc đoạn tận sợ hãi,
Tâm Ngài không dao động,
Tâm không nhiễm thế gian.
Sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái làm cho mình sợ hãi, lo lắng, bất an, bây giờ mình nhìn một ông vua có lo không? Lo còn nhiều hơn mình nữa, vua không có dám đi một mình, phải có biết bao nhiêu người theo bảo vệ, một người đi ăn xin thì đương nhiên cái khổ đã đành, một người triệu phú, tỷ phú giàu nhất hành tinh này thì còn thiếu thốn cái gì, cái khổ nằm trong sự bất toại nguyện, thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái.
"'Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái', thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Vì vô minh, vì không thấy không biết sự tham ái trong ngũ uẩn này là khổ đau cho nên người ta yêu thích, tham ái, say đắm nên không đi ra được, vì yêu thích, say đắm nên không đi ra được, không biết lối ra, tất cả chúng sanh không biết lối ra, tức là không biết xuất ly đạo lộ, thậm chí sắc; thọ; tưởng; hành; thức còn không biết thì lấy gì biết lối đi khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Tất cả những cái kiến này, tất cả những cái dòng thác lũ này ở trong ngũ uẩn hết, nhìn thấy ngũ uẩn là nhìn thấy nó, vậy mà ham thích cái kiến chấp này, cái thân kiến này, khoái cái thân kiến này lắm, rồi luyến ái với cái thân kiến này, lưu luyến nó lắm, bỏ thì uổng lắm, gọi là kiến luyến, kiến đam mê, đam mê trong cái cho rằng đây là tôi lắm, đam mê lắm, khao khát trong cái thân kiến đó, phiền não, nhiệt não, nóng bức ở trong cái thân kiến đó, nắm chặt ở trong cái thân kiến đó, yêu thích ở trong thân kiến đó và bị cái thân kiến đó xâm chiếm, nó tồn tại cho nên bậc phá được thân kiến là lập tức Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, lập tức hoài nghi, giới cấm thủ tan vỡ, bước vào Thánh quả thứ nhất.
Mình muốn phá thân kiến thì mình phải tác ý, mình không chịu tác ý, không chịu siêng năng suy tư, quán chiếu làm sao mình phá được thân kiến. Phải siêng năng tác ý, nhắc tâm tác ý, thấy cái gì cũng tác ý hết, đánh đuổi những tư tưởng tà kiến, thân kiến, định kiến, kiến chấp, tư kiến cá nhân. Nếu có nhận diện ngũ uẩn là mình thấy nó, còn không nhận diện ngũ uẩn là không thể thấy được nó, cho nên nhận diện ngũ uẩn từ từ mình sẽ có một trí tuệ rất là thâm sâu và sắc bén đối với tự tâm của mình, đương nhiên là đối với tâm người khác cũng giống vậy thôi.
Phải thường luôn quay về bên trong tâm nhận diện ngũ uẩn bất cứ bất cứ mọi lúc mọi nơi thì mình sẽ phát sinh ra một loại trí tuệ đặc thù, bất cọng với phàm phu, trí tuệ đó là thánh đệ tử, trí tuệ của bậc thánh đệ tử, đệ tử của bậc thánh. Trí tuệ này đưa đến yểm ly, đưa đến ly tham, nhàm chán, đưa đến từ bỏ, đưa đến chấm dứt, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Trí tuệ đó sẽ sanh ra trong con người của mình, nó sẽ phá đi những cái tư kiến, những cái định kiến, những cái thành kiến, những cái thường kiến, những cái đoạn kiến, những cái tà kiến những cái thân kiếm bị đánh phá trong cái trí tuệ của thánh trí ngũ uẩn.
Thí dụ như mình sợ con gì đó là cái đó là có kiến không? Diệu Thương sợ con ếch, con cóc, Diệu Hiền sợ con sâu, mình gặp mấy người mà mình khó chịu, cái người mà họ ghét mình, mình ghét họ thì mình niệm "người này là người mình thương nhất trên đời", tác ý như vậy hoài thì sau này cũng sẽ thay đổi trở lại. Mình yêu thích cái gì thì mình niệm "cái này là đáng chán", niệm hoài thì từ từ sẽ chán vì tất cả pháp do tác ý mà sinh khởi, tuy nhiên mình phải siêng năng và phải cố gắng tập, quyết tâm thì từ từ mình sẽ chuyển đổi nhận thức, tư kiến, tà kiến thành chánh kiến.
Tu là phải như vậy, thay đổi tư duy, nhận thức, cảm xúc, mà muốn thay đổi thì phải có chủ ý thay đổi, mình phải muốn thay đổi, phải để tâm trong sự thay đổi, mình tìm đủ mọi cách để cho nó thay đổi, đó là tứ như ý túc. Mình có muốn thay đổi hay không, mình có muốn Nhập Lưu hay không, mình có muốn thể nhập vô cái trí tuệ của bậc Thánh không, nếu mình muốn mà cái muốn nó mạnh thì mình sẽ nỗ lực quyết tâm. Sau khi nỗ lực cố gắng rồi mình để tâm cho thật là nhiều, mình tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được, đó là tứ như ý túc, người muốn làm giàu là lúc nào họ cũng suy nghĩ cách kiếm tiền, họ nhìn cái gì cũng thấy tiền, đi đâu cũng thấy tiền vì họ muốn làm giàu. Người tu cũng vậy, gặp cái nào cũng nhớ Tứ Niệm Xứ, thấy cái nào cũng Thân Hành Niệm, bộ xương, niệm chết nè, người muốn làm giàu thì nhớ tiền, còn mình là nhớ chết.
Mình nhớ phải buông xả, xả ly, phải từ bỏ, mình nhớ phải buông ra, mình nhớ phải phá hết những cái thứ gai nhọn ác độc ở trong này, dọn sạch hết nó, lúc nào cũng nhớ. Nếu mình không nhớ mà có người nói mình "bộ cô mù không thấy đường hả?" là xảy ra chuyện, lúc đó phải nhớ không những Đức Phật nói con mắt này mù là cả sáu căn đều mù, lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, cả thân tâm và ý đều mù, "con cảm ơn cô nhắc con mù để con nhớ". Lúc đó mình không nhớ kinh thì nghe nói vậy là phẫn nộ lên liền cho nên phải nhớ tác ý nhắc nhở để đừng quên
V. Vô minh ách
"Và thế nào là vô minh ách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sáu xúc xứ. Do như không thật quán tri sự tập khởi ... sự xuất ly của sáu xúc xứ, nên vô minh, vô trí trong sáu xúc xứ xâm chiếm và tồn tại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vô minh ách" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (X). Các Ách)
Vô minh ách là vô minh, vô trí trong 6 xúc xứ xâm chiếm và tồn tại, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý mình không biết nó là tứ đại, mình không có trí tuệ để thấy pháp duyên sanh của nó, mình không nhớ sự vô thường, sự khổ, sự bệnh hoạn của nó. Nhìn vô cái gương chỉ thấy con mắt mình đẹp, thấy gương mặt mình dễ thương, đó là vô minh, tà kiến, thân kiến, mình không thấy đúng sự thật về con mắt này, về cái lỗ tai này, về cái hình hài này, mình không thấy đúng sự thật bản chất của nó, mình chỉ thấy được lớp phủ bên ngoài, phủ bên ngoài một lớp da trơn láng, mình chỉ thấy cái đó, tức là mình vô minh ở trong cái thân này, ở trong con mắt; tai; mũi; lưỡi, 6 xúc xứ này.
Tất cả chúng sanh bị dòng thác lũ của vô minh cuốn trôi, Tu thành tiên mà vẫn bị cái thân kiến, tu thành tiên vẫn bị cái vô minh cho nên nhắc nhớ tức là tắt ý, ở bên trong khởi lên mà mình thấy sai với pháp là mình lập tức đánh đuổi cái đó liền, nếu sanh khởi lên hình ảnh mà hình ảnh này không liên hệ đến pháp, hình ảnh này liên hệ đến dục, đến sân, đến hại, đến bản ngã là mình xóa hình ảnh nó, đuổi hình ảnh nó ra liền, mà nó cứ suy nghĩ thì cái suy nghĩ này tương ứng với tà kiến, tương ứng với dục, tương ứng yêu thích trong hiện hữu, phải dùng một suy nghĩ khác để đuổi một cái suy nghĩ, dùng một cái suy nghĩ để đánh một cái suy nghĩ, dùng một cái suy nghĩ để trị một cái suy nghĩ, đó gọi là gì dùng hành diệt hành, dùng thọ diệt thọ, dùng tưởng diệt tưởng, dùng thức diệt thức.
Đó là cái pháp tu của mình, diệt cho đến lúc hết vô minh, sạch tham ái, lúc đó là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Cứ làm hoài như vậy, cứ nhắc nhớ hoài, lỡ có chết cũng không sao hết, chết thành thánh đệ tử thiên, nếu trở lại người cũng là bậc chánh kiến chói sáng, rực sáng, chiếu sáng ở trong nhân giới, trong nhân loại, trong thế giới này, trong địa cầu này. Đừng có sống theo cái thường tình, cái tư kiến, cái định kiến, cái tà kiến, bất cứ lúc nào dù cho người kia nói chơi mình cũng nhắc khéo luôn, cho nên con phải tập rất nhiều, thí dụ như có người nói "thầy ơi, thầy đất nhiều lắm hả?" thì con nói "dạ không, đất này của chùa". Dù cho người ta nói chơi bình thường thì mình cũng phải tập thói quen loại của tư tưởng của mình ra liền, nó là sự thật mà, bởi nhiều khi những vị không có hiểu cái pháp thì nói "thầy là thượng tọa, là trụ trì, giảng sư mà xưng con? Khó hiểu quá, đệ tử xuất gia cũng không chịu", sư phụ lại đi xưng con nhưng mà nó rất lợi hại.
Khi xưng con thì mình có tỏ vẻ ra tôi là sư phụ không? Xưng con nghe rất hiền từ, hồi xưa con chưa vô vòng pháp này con cũng không có hiền lắm đâu, hét một tiếng là chạy hết, bây giờ cũng còn hơi hám chút đỉnh, nhìn một cái thôi là thấy run rồi. Cho nên nhiều cái mình chưa hiểu hết, khi gặp được bậc thành tựu, bậc Thánh nhân chỉ cho mình biết từng chút một, chăm chút từng chút một thì mới gội rửa, mới phá lần lần những cái nhỏ nhiệm. Thí dụ nhìn vào cây thì có suy nghĩ "cây này đẹp lắm" thì lập tức mình đuổi cái suy nghĩ đó ra liền "đẹp cái gì? Sắc này vô thường, mày mê nó là mày khổ với nó. Đừng có mê nữa, cái đồ vô thường". Cái đó là hành pháp, tùy pháp, phải từng chút, từng chút một như vậy. Mình ăn cái món đó thì mình thích nhưng Phật dạy mình quán nhàm chán thức ăn, thức ăn qua khỏi miệng vào bụng thì thành cái gì, món ngon nhất trên đời, món dát vàng nhưng khi ói ra còn dám ăn lại không. Đó là sự nhơ nhớp, mình mê ăn rồi một chút là khó tiêu, "cái tâm mê này ăn vừa phải thôi con, cái tâm Trư Bát Giới này".
MÌnh ăn 70%-80% thôi thì sức khỏe mình rất tốt, rất khỏe, nhẹ lắm, còn ăn vô chừng 90%-95% là mình mệt lắm, thời gian sẽ bệnh cho nên mình tập từng chút một như vậy. Mình đi toilet thì thấy nước tiểu hoặc cái phân của mình bài tiết ra hôi như vậy, đầu tiên là tanh hôi, nếu không xả nước thì hôi thối. Nhiều khi con đi trong rừng đem theo cái thùng nhỏ để đựng nước tiểu, quên 1 ngày thôi là nó bốc mùi khủng khiếp, không còn tanh hôi nữa mà là thối. Lúc đó tác ý "tâm mê nhìn đi, cái này là của mày đó", mình phải nhắc nó từng chút như vậy, ví dụ giờ mình nhìn cái cảnh này thấy trời mây đẹp quá thì lập tức tác ý "đẹp cái gì? Cái thứ vô thường đẹp cái gì? Cái thứ sắc uẩn vô thường, tan hoại, hoại diệt này đẹp cái gì?".
Mình tác ý nhắc nhở từng chút như vậy rồi mình đoạn diệt lần lần, lúc đầu nó sẽ khó chịu, cái tâm yêu thích, khoan khoái sẽ chống đối nhưng mà từ từ rồi nó sẽ chịu, nó không chống nữa, nó chấp nhận rồi từ từ nó sẽ giảm lần lần cho tới lúc nó diệt tận luôn. Như vậy mới đưa đến chỗ ly tham, đoạn diệt, tâm mình hoàn toàn an tịnh, lúc đó trí tuệ thù thắng xuất hiện, sự dập tắt tham, sân, si hoàn toàn thành tựu, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn và mình không còn tham muốn bất cứ một vật gì ở trên đời này nữa, tâm hoàn toàn giải thoát đối với tất cả các sắc pháp, sắc uẩn, thọ; tưởng; hành; thức.
Thọ cũng vậy, tưởng cũng vậy, hành cũng vậy, thức cũng vậy. Ví dụ sinh ra cảm giác đó mình thấy dễ chịu, mình khoái quá là mình rầy liền "chính vì cái cảm giác này mà mình sống chết nhiều đời, mình trầm luân sanh tử, chính vì cái cảm giác này mình bị trói cột, bị ràng buộc, làm nô lệ, mình làm nô bọc, làm đầy tớ cho những cái cảm giác hư ảo này. Tan biến hoàn toàn đi, diệt tận đi". Mình cứ nhìn vào từng cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức, từng ý niệm, suy nghĩ, những cái hình bóng, những cái cảm xúc, những cái nhận thức là mình cứ diệt, diệt hoài, tu như vậy rất mau đắc pháp, mau thể nhập. Nhất là những người già không còn bao nhiêu thời gian nữa, phải nỗ lực, làm một vố cho lớn để đi, dùng hết tâm lực, sức lực của mình, chết cũng được. Phải siêng năng tác ý chứ đừng quên tác ý, quên tác ý là mình trở về bản vị vô minh liền, trở về bản vị tham ái của chúng sanh, buông lung phóng dật liền, say mê liền, điên đảo liền.
Khi mình thấy cái gì, nghe cái gì, cảm xúc cái gì, nhận thức cái gì đều đưa thánh trí vào để soi rọi, Đức Phật và bậc đạo sư trao cho mình ngọn đèn Thánh tuệ mà mình không dùng thì uổng lắm, để cho ngọn đèn tắt cho nên những cái buổi nghe pháp là những buổi được truyền lửa, mồi lửa, tiếp lửa, đọc kinh, lễ pháp bảo, mình nghe pháp, mình tác ý thiền quán, quán chiếu là mình mồi lửa để ngọn đèn cháy mãi, đừng cho nó tắt, cháy hoài là nó sống trong cái trí thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất an, tai họa, những khổ ách, những dòng thác lũ này, những căn nhà lửa này, cái địa cầu đang bốc cháy này, mình cứ nhớ về khổ, nhắc cho nhớ cái khổ, nhớ đừng có tham, sân, si, nhắc nhớ đừng có hơn thua, "vô đây rồi đừng có hơn thua, mình khổ quá trời quá đất rồi, mình vô đây còn hơn thua với nhau làm cái gì nữa? Trời ơi là trời, cái tâm này nhả ra giùm tao đi, tao lạy mày". Cứ nhắc hoài vậy đó thì mình sẽ vô hướng Dự Lưu, vô Nhập Lưu, rồi mình diệt tận luôn hết tất cả các lậu hoặc.
Những cái gì mình chưa diệt được thì nói "mày hãy đợi đó, tao chưa đủ sức mạnh nhưng mày cứ ở đó chờ tao rồi tao sẽ xử mày, đồ ác độc", mình không có chịu thua, mình đừng có nghĩ làm không được, suy nghĩ đó giết mình chết, nó đóng bít cánh cửa Giác Ngộ. Dù chưa làm được nhưng mà "mày hãy đợi đấy rồi tao đủ sức lực thì mày biết tay tao, mày nằm ở đó đi, tạm thời tao cho mày nằm đó". Những cái nó quậy mình quá nhiều nhưng mình không đủ sức thì thôi mặc kệ nó, "mày ở yên đó chờ tao mài dao bén xong rồi tao nhất đao lưỡng đoạn mày", một dao hai khúc, "tao bằm mày ra, tao chặt mày ra, tao chém mày ra". Phải tác ý mạnh như vậy, đến một lúc nào đó tâm mê của mình sẽ thức tỉnh, độ tỉnh thức của nó mạnh lên, lớn lên, vững chắc thì mình có chân đứng trong pháp mà luật. Muốn vậy thì phải siêng năng thật nhiều, chịu khó, kham nhẫn.
Nhìn cái gì, nghe cái gì, thấy cái gì, gặp cái gì, bất cứ trường hợp gì mình cũng đưa pháp vào. Ví dụ mình bị người kia hiếp đáp hay là mình bị mất đồ, mình bị tai nạn rồi người ta làm những cái nghịch lý lắm nhưng mà mình không có kể những chuyện đó, chỉ lo giải thoát thôi, mình có ở đây đâu, mình sẽ đi mà, mấy người đó ở đây thì họ muốn giành giật, muốn làm gì thì kệ họ, mình không có ở đây đâu thì mình sẽ thoát ra nhẹ nhàng. Mình không thèm hơn thua, không thèm giành giật, khi con ứng dụng được cái này thì con thấy đã lắm, hạnh phúc, sung sướng lắm, không có gì diễn tả nổi.
Nhiều khi có những chuyện long trời lở đất với người ta nhưng với mình nhẹ như lông ngỗng, mình có ở đây đâu nên người ta giành giật, người ta làm gì cũng kệ họ, người ta muốn mắng chửi, chê bai, hủy nhục, nói xấu gì mình cũng kệ, đâu có cái mình để người ta nói xấu, làm gì có mình ở đây. Cái tâm mình thoát ra, rõ ràng mình thấy cảm thọ thoát ra luôn, thoát ra một cách triệt để chứ không phải thoát ra rồi lâu lâu quay lại tức. Vì vậy tu cái này sướng lắm, nếu không tác ý là uổng lắm cho nên phải tác ý.
VI. Trình pháp
Cô Diệu An: Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức của Thế Tôn, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức của sư phụ, chư Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Con rất là cảm ơn sư phụ thường xuyên nhắc cho chúng con mỗi lần có những cái ý nào hay thì con nghĩ tới Thế Tôn và rất là biết ơn Thế Tôn, con cũng thường quán xét về cái sự vô thường. Thí dụ như gần đây thường thì 4 giờ thì quý thầy ở Vân Thủy Đường tụng kinh, tự nhiên bữa đó khoảng cỡ 4 giờ 5 phút mà không thấy đâu hết, con chờ cũng vài phút nữa cũng không thấy, tự nhiên ý hành của con nó nói chắc là 4:15 quý thầy sẽ tới đây nhưng mà một cái ý hành khác nó lại nghĩ là trống rỗng, trống không, sau này những chỗ các quý thầy thường xuyên đứng sẽ là trống rỗng, trống không, không có gì hết và con cũng tự nghĩ tới con cũng là trống rỗng, trống không.
Mới đầu nó cũng hơi chùng xuống, một cái cảm giác là tự nhiên bị mất mát hết nhưng mà sau đó thì nghĩ là sự thật mà, nó nghĩ tới cái sự thật đó và nghĩ là mình phải cố gắng phải nỗ lực, mình phải nhiệt tâm, mình tỉnh giác để sao cho cái hơi thở cuối cùng khi mình ra đi nó sẽ là hơi thở hiền, hơi thở của sự tỉnh giác. Con thường suy nghĩ như vậy lắm, con cũng thường suy nghĩ về tâm từ, con cũng thích câu "mong manh là sự sống, an ổn là tâm từ như hư không rộng lớn, tâm từ này bao la" và con nghĩ tới những sự mong manh của cuộc sống.
Con tác ý, lấy ví dụ như là con nhớ tới câu chuyện của một vị sư người phương tây đi qua Thái tu, đệ tử của ngài Ajahn Chah, sư bị té xuống rồi chết. Khi các sư khác ra thì thấy gương mặt bị nát ra, sư rất là đẹp nhưng mà khi bị đập mặt xuống thì cái da bị tróc, bị trầy da. Sau đó những con kiến, những con này con kia tới nó ăn thì rất là khủng khiếp, khi con đọc câu "mong manh là sự sống" thì con nghĩ tới những chuyện như vậy. Cũng có lần khác là khi quý Ni sư không có ở đây thì có các sư cô trẻ, các sư cô ngại bước lên chỗ của quý Ni sư thì chúng con nói các sư cứ tiến lên đi, giống như là cho gần để đọc oai nghi này kia cho dễ, cho tụi con ở đằng sau có thể tiến lên chung và có thể đọc. Khi con thấy các sư cô trẻ như là sư nhỏ nhất với sư Nhân, sư Liễu đứng lên chỗ vị trí của ba Ni sư thì con cũng nghĩ đây là vô thường, sau này các sư này sẽ tiếp bước các cái vị sư kia với sự vô thường cuộc sống.
Con cũng thường suy nghĩ nhiều về sự vô thường lắm, nghĩ như vậy nhưng mà đến khi gặp chuyện thì kinh nghiệm biến mất, ví dụ khi ngồi trên cái xe công nông lên dốc thì nó lên như vậy, nhưng mà nó lỡ tụt xuống thì người kia gắn cái cục đá xuống, con cũng thường đọc câu tâm từ. Lúc nó chạy bình thường thì mình vui lắm thấy tâm tư này bao la rồi này kia, nhiều khi nó tụt dốc một cái thì tự nhiên nghĩ tới chữ mong manh mà không nghĩ tới từ bỏ gì hết. Cho nên mặc dù là mình thường xuyên quán xét như vậy nhưng mà khi mà cái nguy hiểm tới thì cái pháp nó mất tiêu, cho nên con rất là biết ơn vì sư phụ thường xuyên nhắc cho chúng con để cho trí tuệ trong chúng con lớn mạnh, để có thể chiến đấu với lực sĩ của sự vô minh. Con xin hết ạ.
Sư Phụ: Mời chư tôn hiền đức và các chư vị hiền trí chia sẻ cảm thọ của mình.
Cô Mai Đỗ: Con xin đảnh lễ tam bảo, con xin đảnh lễ sư phụ, con xin đảnh lễ chư Tăng, chư Ni Thiện hiền trí. Sáng nay sư phụ giảng về kiến ách, cái tưởng con nhớ lại hôm qua tâm chống đối của con, nó chống đối lại lời dạy của sư phụ, sư phụ cho con xin sám hối. Con thấy sư phụ dạy rất đúng, bài pháp nói về thân nữ của mình, mình hữu về thân nữ của mình, cách đây sư phụ giảng mấy tháng thì con cũng nhớ lại bài pháp đó cho nên cái tưởng con thấy lại lúc tụi con khất thực xong, thọ thực buổi trưa xong thì sư Quý và Ni sư truyền lại lời dạy bảo của thầy là chúng con phải tự đứng vững, không có nhờ vả các thầy nữa. Con nhớ lại cái tưởng của con là mấy lần trước bình nước hư hay đèn hư thì mình nhờ các thầy, mai mốt mình phải tự hết, không có nhờ nữa thì tâm chống đối của con lúc đó nó buồn, nó không hài long, con thấy nó cũng cỡ 1-2 tiếng nó mới đi. Vậy là con đã chống đối sư phụ rồi, nhưng mà sáng nay con nghe sư phụ giảng về kiến ách rồi con kết hợp với cái bài giảng mình hữu cái thân nữ mình nữa, con thấy nó hay quá.
Tại vì con hữu về cái tình cảm của con, con rất là nữ tính, lúc nào con cũng dựa hết, dựa vào tình cảm của chồng, của con, của mẹ cha, của anh em. Bây giờ cái đó bị đứt và gián đoạn thì con thấy đúng, cái kiến về cái thân nữ của mình đã làm cho mình sụp cho nên con thấy hôm qua lời dạy của sư phụ nói tụi con phải rang, mình ở bên nữ thì mình ráng lo những chuyện ở bên nữ. Giờ con thấy con có lỗi, con xin đảnh lễ sư phụ.
Sư Phụ: Tất cả đều ở trong cái suy nghĩ của mình thôi mình có cái suy nghĩ mình quen cái dựa dẫm, lệ thuộc vào người khác, khi mất cái chỗ dựa đó mình đau khổ lắm cho nên chúng ta nhớ Đức Phật nói hãy tự mình là gì ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương dựa chính mình, đừng có nương dựa vào cái gì khác. Khi mình dựa vào cái khác mà cái khác vô thường, mình cũng vô thường thì huống chi là cái khác, cho nên nói vậy không phải là quý thầy không có giúp đỡ mà là mình tập cho mình có một cái tính tự lập, tính độc lập, cái tính vững mạnh để sau này có chuyện gì, nhất là đối đầu với sinh tử mình sẽ không có bị hoảng sợ, đó cũng là tinh thần Đức Phật dạy mình. Chúng ta nhớ điều đó để tu chứ đừng có nghĩ theo cái chiều thông thường của thế gian là giờ không ai giúp mình nữa, đừng nghĩ vậy, nghĩ vậy là nghĩ theo kiểu thông thường mà hãy nghĩ bằng trí tuệ của Đức Phật.
Ngay trong lúc đó mình phải đọc bài "niệm vị tối thượng" hay là nói rằng "thôi con không muốn làm vị tối thượng", trong những lúc đó là niệm cái đó, gọi là hành pháp, tùy pháp là như vậy đó.
Cô Hiền Hằng: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên bậc đạo sư tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên các bậc chư tôn thiền đức Tăng, chư tôn hiền đức Ni và các bậc hiền trí trong đạo tràng Nikāya tôn kính. Con pháp danh Hiền Hằng, con xin được chia sẻ cảm thọ của con. Con kính thưa sư phụ, từ hôm qua đến giờ con lại được một lần nữa được sư phụ cho thiền quán dạy dỗ về sự khổ, về dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách, trong con có hai dòng cảm thọ, một cảm thọ hỉ và một cảm thọ khổ.
Cảm thọ hỷ của con là con vô cùng, vô cùng tận biết ơn trên Đức Thế Tôn đã để lại dòng thánh pháp ly tham tối thượng này, cho chúng con biết được tận cùng hết những nỗi khổ niềm đau và cảm thọ thứ hai trong con có một sự tàm quý, xấu hổ. Trong thời gian về đây tu tập, con được nghe những bài pháp của sư phụ, con như lý tác ý và con có nhiều cái rất là lợi lạc trong tự thân con, bản thân con. Đến khi con lên trình pháp để chia sẻ sự lợi lạc trong sự tu tập của con thì con lại chưa làm được, do vô minh con chưa có trình pháp được, con cũng rất là xấu hổ. Con xin sám hối trên sư phụ, trên chư tôn thiền đức Tăng Ni.
Con kính thưa sư phụ, mỗi lần con được nghe sư phụ dạy cho chúng con thấy khổ, biết khổ, cho con thấm được cái khổ và giải thoát ra được cái khổ, mỗi lần nghe vậy trong con rất là hãi hung, rùng rợn, khiếp đảm, chấn động. Lần đầu tiên nghe con muốn quỵ xuống tại chỗ luôn, ngày hôm qua con lại được nghe sư phụ giảng về ách dục. Khi con chưa vào dòng thánh pháp này, thường thường ở nhà con cũng hay nói "ách ngoài đàn thường mang vào cổ", đúng vậy, vì câu đó mà con đã mang cái gong, cái cùm, cái ách đó từ trong vô lượng kiếp, cho đến đời này kiếp này, tất cả những nhân duyên nghiệp báo hội tụ đều đầy đủ trong người của con, trên chính bản thân con, giống như hôm qua sư phụ nói về cái dục của người nam, người nữ là một vợ hai, vợ ba, trong đó con cũng có hoàn cảnh như vậy.
Con xin chia sẻ một phần mà hôm qua sư phụ nói là ai ở trong hoàn cảnh này thì sẽ chia sẻ, con kính thưa sư phụ lúc nhỏ cha mẹ con bỏ nhau, khi cha con nuôi con được 9 tuổi thì bà nội bắt cha con phải lấy thêm vợ khác để có con trai nối dõi tông đường. Cha con lúc đó không chịu, cha nói con còn nhỏ quá với lại nó mất mẹ từ nhỏ, bây giờ lấy thêm vợ nữa tội nghiệp lắm, nhưng vì phong kiến thời đó bà nội 1-2 bắt cha con phải lấy thêm vợ khác. Người cha con thương thì bà nội không chịu, bà nội bắt lấy một người vợ có gia đình rồi thì người ta về mới thương con, cha con vì chữ hiếu nên phải nghe lời bà nội lấy thêm một người vợ nữa, người này cũng có một người con trai, em đó là hai dòng đời con. Khi cha con lấy người dì nên về 3 năm sanh được hai người em gái, con 10 tuổi thì sinh ra được em gái, lúc đó con Út còn nhỏ, kinh tế gia đình thiếu thốn, con phải chở từng thùng cà rem đi bán bằng chiếc xe đạp ở ngoài Bắc có đòn ngang qua chiếc xe đạp.
Buổi trưa trời nắng con đi bán hết một thùng kem, về dì ghẻ nói là thôi chiều đi bán thêm một thùng nữa, lúc con đi bán là 1h trưa đổ cơn mưa nên con không bán được. Con đi ngang qua cái vũng sình đó, cái đòn xe cao nên con bị trượt té, nước chảy vô trong thùng cà rem ướt hết, về bị lỗ vốn. Dì ghẻ không nói gì nhưng mà nói với cha con, từ đó cha con không có thương con, được 3 năm sau thì những ngày sau đó dì không bao giờ nói thẳng trực tiếp hay dạy dỗ con, toàn nói những lời sắc xéo để cha con gây rối thù hằng. Có một lần con nhớ dì giận con quá nên lôi người con của mình ra đánh, nhưng thực sự không có đánh vào người em đó mà đánh lên giường rồi nói em đó là la to lên để cho cha con nghe, bà nội con nghe là vì con mà em đã bị đánh đòn. Cha con đi làm về không biết đầu đuôi như thế nào lôi con ra đánh bằng cái roi tre, đánh nát cả 4 cái roi tre, trên người con không có chỗ nào không có lằn roi của cha nhưng con không giận cha.
Không ngờ rằng sau một trận đòn đó một tháng thì cha con mất, con rất hối hận là con không nói được là "cha ơi con không có giận cha". Trong 9 năm cha dồn hết tình thương cho con, cha hi sinh cho con, những lần con đau ốm cha bồng con đi bác sĩ, bác sĩ không cứu thì cha quỳ xuống lạy bác sĩ hãy cứu con. Ân đức của cha con không bao giờ quên được nhưng mà con chưa bao giờ một lần nói là con không giận cha. Sau khi cha chết, mẹ con cũng vậy, con chưa bao giờ một lần nào giận mẹ con, nếu như trong cái nghiệp quả mà con nói đó là chỉ nghe cái hình thức bên ngoài nhưng thật sự con chưa bao giờ giận mẹ, con rất thương mẹ, con rất thương cha con, con vì chữ hiếu thương mẹ con quá mà con đứa con bất hiếu. Con vì đền ơn và báo hiếu cho mẹ mà con xảy ra nghiệp quả tồi tệ nhất của thế gian này, nhưng bây giờ con vào dòng thánh pháp này con biết đó là nghiệp quả luân hồi.
Con ngưỡng mong trên sư phụ được một lần cho con được thiền biết ơn sám hối trước cha con, mẹ con. Khi con vô trong dòng thánh pháp này con rất biết ơn sư phụ và đại chúng, ngày ngày cho con tu tập tâm hiền, tâm từ, con nghe lời dạy của sư phụ và các chư tôn thiền đức Tăng Ni ngày ngày con luôn luôn tác ý, như lý giác sát. Sư phụ từng dạy "lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kỹ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm", mỗi một ngày con sám hối được nghiệp oan gia, nghiệp sát sanh hại vật, "nghiệp đeo như bóng với hình, chờ duyên hội đủ để hành tội nhau". Những bài giảng của sư phụ dạy con đều có hết, do vô minh nên con tạo nghiệp quá nhiều.
Con thành kính tri ân hiền trí Hải Huệ từ nước xa xôi vừa rồi cũng đã cấp cứu cho con. Khi con đọc bài kinh một ung nhọt và con thiền quán, không ngờ rằng nó ứng ngay trên người con, nay con xin được chia sẻ rất là vi diệu, vi diệu vô cùng. Nếu thật sự ai có tâm vào dòng chánh pháp này, thực thi, thực hành, thực chứng, thực thấy, thực biết nó vi diệu vô cùng, hai hôm sau nó ứng trên người con ngay tức khắc. Do mấy bữa con đưa sư Huệ Lý đi bệnh viện, chắc con dùng nước ở dưới bệnh viện nó bị ô nhiễm nên về bị ngứa rồi nó nổi lên một cục nhỏ ngay trên chỗ vết mổ của con và vết mổ này là vết mổ hồi xưa con sanh bé. Mới đầu con nghĩ là con gì cắn thôi nên con không để ý, từ trước đến giờ cái cảm thọ đau của con hay nhiếp phục, con không quan tâm, đến khi thầy Pháp Nghĩa đi thọ giới, con ở nhà lao tác ở bếp cũng không nghĩ gì đến cái đau của mình.
Cho đến cái ngày sư phụ về rồi cô Hải Huệ cũng chuẩn bị đi xuống núi thì con thấy nó sưng lên bằng một cái quả táo xanh, nó đau, nó nhức mà con đi cứ phải ôm cái bụng. Con xuống chăm cho sư Tú thì con hỏi sư Nguyên Tú thì sư Nguyên Tú nói con lên thưa với cô Hải Huệ cũng là dược sĩ khám cho cô thử, còn không thì phải đi xuống núi. Cái ngày cô gần về thì con cũng thưa với cô Hải Huệ là cô khám giùm cho con, khi cô lên cô khám mà khi cô bắt đầu đặt bàn tay vô trong người con thì con cảm nhận được bàn tay dịu mát, nó có tâm từ trong đó rất là nhiều, cô nói là cái này nhìn ở ngoài nó đơn giản nhưng mà nó không đơn giản tại vì nó nằm ngay vết mổ của con. Nếu như bây giờ con không đi khám hoặc là không uống thuốc thì nó chỉ cần rò rỉ một chút xíu bằng cái kim thôi là nó sẽ rỉ vào trong vết thương của con, nó sẽ tràn vào trong và sẽ bị hoại tử vết thương dẫn đến bị di chứng.
Mới nghe thì cảm thọ con nó cũng chùng xuống, con sợ nên con hỏi cô là có cách gì chữa trị cho con không thì cô chỉ phải xuống gần bệnh viện tới đây hoặc là nhờ ai mua thuốc đặc trị. Cô nói vậy thì cô cho con uống được hai ngày thì bắt đầu con lên cơn sốt, nó hành con, lúc đó con quán về bài thân ung nhọt, con từ bỏ, con tưởng lại bài kinh sư phụ dạy cho con là bài than trống rỗng. Lúc đó các Ni sư, cô Huệ quý cũng tới hỏi thăm con, con nhờ lòng từ của các sư rồi con thiền quán, các sư cũng trải tâm từ cho con, con bị sốt 2 ngày nhưng cũng vượt qua được cái ung nhọt đó. Thực sự con rất biết ơn, biết ơn với dòng thánh pháp Nikāya này, biết ơn tất cả cho con thấy được những tất cả nỗi khổ niềm đau và một điều biết ơn nhất với cái sự ái luyến của con đối với hai con của con. Trước kia con đã từng chia sẻ là trong lòng con oán hận người con trai của con, con không có hận thầy nhưng mà con giận, vì con chưa vào dòng thánh pháp này nên con còn dính mắc vào cái ái luyến đó, khi con trải tình thương tới cho thầy, cho bé đó thì tự nhân một thời gian sau hai người con tự nguyện lên đây và con hạnh phúc vì con đã nói được những cái lời nói với các con.
Tuy rằng với người con trai lớn con chưa nói được, con muốn nói với người con trai lớn là mẹ không còn giận thầy nữa và bây giờ mẹ thương thầy với một tình thương của Tăng đoàn, với tình thương của thầy trò, với bạn gái cũng vậy, con cũng không còn ái luyến nhiều bạn đó, như trước kia là cháy ruột cháy gan vì tưởng nhớ đến con. Con cảm ơn dòng thánh pháp Nikāya tối thượng này cho con biết được thăm thẳm những nỗi khổ niềm đau, cho con biết con phải cởi bỏ như thế nào và phải luôn luôn tác ý và hành trì như thế nào, tuy rằng con chưa tu tập được bao nhiêu nhưng mà con cũng vô cùng biết ơn sư phụ. Xin sư phụ và đại chúng dạy dỗ cho con và cho con xin được tập sự xuất gia, trọn đời kính mong sư phụ dạy dỗ cho con, con thành kính tri ân trên tất cả. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.