Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Khổ Thánh Trí 11 - Sáu Lợi Ích Quán Xét Sự Khổ

2026-03-03 00:54:22
Kinh Nikāya Giảng Giải

KHỔ THÁNH TRÍ 11

Sáu Lợi Ích Quán Xét Sự Khổ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực trạng khổ đau PAGEREF _Toc117104278 \h 1

II.Sáu lợi ích quán xét sự khổ PAGEREF _Toc117104279 \h 2

1.An trú tưởng Niết-bàn PAGEREF _Toc117104280 \h 2

2.Ý xuất khỏi tất cả thế giới PAGEREF _Toc117104281 \h 6

3.Thấy tịnh lạc trong Niết-bàn PAGEREF _Toc117104282 \h 7

4.Các tùy miên sẽ được nhổ lên PAGEREF _Toc117104283 \h 9

5.Làm các việc nên làm PAGEREF _Toc117104284 \h 9

6.Hầu bạ bậc Đạo Sư bằng từ tâm PAGEREF _Toc117104285 \h 15

Thực trạng khổ đau

Hiện nay mỗi ngày đều có mười hai, mười ba ngàn ca nhiễm dịch bệnh, hôm qua là hơn mười ba ngàn ca. Trong những bệnh viện dã chiến ở Sài Gòn những bệnh nhân phải nằm ngoài hành lang vì không còn chỗ nữa, thế giới lại vừa phát hiện ra siêu biến thể mới mang hàng chục đột biến. Ở đây chúng ta thường giải thích chữ “vô thường” là đột ngột, đột biến, đột tử thì hôm nay người ta đã dùng từ đột biến cho virut mới này có khả năng lây nhiễm hơn rất nhiều con virut cũ phát hiện ở Ấn Độ. Đây là thời điểm thích hợp để chúng ta tinh cần, tinh tấn, đã có biết bao dòng nước mắt, biết bao sự chia ly, tan thương, chết chóc, mỗi ngày trong nước chúng ta có hơn trăm người chết, nhìn ra thế giới thì nhiều hơn nữa, thời điểm này rất thích hợp để chúng ta tinh cần, tinh tấn, quán chiếu, thức tỉnh, như lý tác ý thường xuyên để nhàm chán.

"Tất cả hành vô thường ”

Với Tuệ, quán thấy vậy

Ðau khổ được nhàm chán;

Chính con đường thanh tịnh"

(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)

"Tất cả hành khổ đau

Với Tuệ quán thấy vậy,

Ðau khổ được nhàm chán;

Chính con đường thanh tịnh"

(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)

"Tất cả pháp vô ngã,

Với Tuệ quán thấy vậy,

Ðau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh"

(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)

Bên ngoài thì đầy rẫy những bất an, trong gia đình thì sân si, bản ngã với nhau, hơn thua với nhau. Hằng ngày diễn ra biết bao cảnh tượng giết chóc, hãm hại nhau, vợ chồng thiêu xác nhau, cha con cự cãi lẫn nhau cho nên mình cần tác ý sâu sắc để nhàm chán cái khổ.

Sáu lợi ích quán xét sự khổ

"- Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng khổ, không có hạn chế trong tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (IX). Không Có Hạn Chế (2))

Người thường an trú tâm để nhìn thấy các khía cạnh, tính chất khổ trong tất cả sự vận hành của ngũ uẩn thì người đó sẽ có được sáu lợi ích. Đừng nghĩ rằng học về khổ, thấy khổ, chiêm nghiệm khổ để rồi khổ hoài mà nghĩ về khổ, xét về khổ, nghiền ngẫm sự thật về khổ, thấu đáo bản chất của khổ để bước ra khỏi khổ, không bị khổ nữa.

"Thế nào là sáu?

Trong tất cả hành, tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tôi, ví như kẻ giết người đang đưa dao lên chém;

Ý của tôi sẽ xuất khỏi tất cả thế giới;

Tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn;

Các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên;

Tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm;

Tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư.

Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng khổ không có hạn chế trong tất cả hành".

(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (IX). Không Có Hạn Chế (2))

An trú tưởng Niết-bàn

Trong tất cả sự vận hành của sắc, sự vận hành của các cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, rõ biết thì cái tưởng Niết-bàn sẽ được an trú trong tâm của mình. Vậy tưởng Niết-bàn là tưởng gì? Chính là sự an tịnh và lắng dịu tất cả năm uẩn, an tịnh và lắng dịu tất cả những tham muốn đối với năm uẩn, những yêu thích đối với năm uẩn, dập tắt ba ngọn lửa ham muốn, nóng giận, si mê và không thấy không biết đối với năm uẩn. Lúc nào trong tâm cũng khao khát, có ước muốn sắc bén để đi đến chỗ dập tắt và đoạn tận tất cả tham, sân, si, dục, ái này, chỉ muốn đạt được tâm tịch tịnh, không yêu thích mọi sự hiện hữu trong năm tổ hợp này. Với sự hướng tâm, thường xuyên an trú, tư duy, quán tưởng nhất hướng như vậy thì gọi là tưởng Niết-bàn được an trú trong tôi. Tất cả suy nghĩ đều không ưa thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đối với tất cả cảm thọ đều không ưa thích dù cho là cảm thọ sướng, đối với tất cả hình bóng đều không ưa thích dù đó là hình bóng của tự thân, không thấy bản ngã trong hình bóng đó, trong mọi cái thấy, nghe, hay, biết, cảm xúc không thấy đó là tôi, là của tôi, không chấp thủ trong sáu thức, tác ý gỡ bỏ ý niệm cho rằng "tôi là", đó chỉ là một động chuyển của tâm.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải hiểu: 'Tôi là', này các Tỳ-kheo, là một động chuyển (injitam). 'Cái này là tôi', là một động chuyển. 'Tôi sẽ là', là một động chuyển. 'Tôi sẽ không là', là một động chuyển. 'Tôi sẽ có sắc', là một động chuyển. 'Tôi sẽ có tưởng', là một động chuyển. 'Tôi sẽ không có tưởng', là một động chuyển. 'Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng', là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỳ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập: 'Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển'".

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g)IV. Phẩm Rắn Ðộc, XI. Bó Lúa)

Nếu tâm mình nghiêng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nhập về Niết-bàn, nhất hướng về Niết-bàn thì đó là bậc đang Hướng Dự Lưu và Nhập Lưu, không thấy một chút sắc nào dù là quá khứ, hiện tại, vị lai, thắng liệt, thô tế, xa gần là thường còn, thường trú, dù là sắc bên ngoài hay sắc tưởng bên trong hay là sắc của tự thân cũng không thấy nó là hằng hữu. Có nhiều người thấy lạ vì ngày nào lên học cũng thấy nói về khổ, khóc lóc vì người ta không biết mình đang hạnh phúc, người thấy khổ là người đang dần thoát khổ.

Thiền Sư Ajahn Chah gặp các sư đều hỏi “hôm nay có thấy khổ không”, nếu thấy khổ là tốt lành. Bình thường gặp nhau đều hỏi khỏe không thì đó là lời xã giao của phàm phu, còn mình phải hỏi có thấy khổ không. Nếu cho rằng học bài, nghe pháp, ngồi thiền mà khổ thì bên ngoài người ta phải buôn gánh bán bưng, đi làm thuê làm mướn chẳng lẽ là vui hay sao.

Cho nên một khi tác ý đúng thì mới thấy hạnh phúc nhưng mình lại không biết điều này. Khi đã biết tác ý sẽ sống xuyên suốt trong pháp hỷ, pháp lạc ngày đêm rồi dễ dàng đi vào sơ thiền. Điều đặc biệt là thấy khổ nhưng vui vì mình đang thoát ra khỏi nó, thấy khổ nhưng lại vui vì chuẩn bị bước ra khỏi nó, đó là bậc Hướng Dự Lưu, bậc Nhập Lưu, nếu chưa thấy khổ là còn đang đùa giỡn trong căn nhà đang cháy đỏ. Đó là lý do cần nghe pháp hằng ngày, không thể không nghe được, nó sẽ giúp cho mình tác ý, giúp cho mình nhớ khổ. Nếu giờ này không nghe pháp thì mình đang nghĩ gì, mình có được thọ; tưởng; hành về khổ không? Không thể nào có được ngoại trừ những người tu tập rất tinh cần, tinh tấn, đó là lý do cần nghe pháp nhiều và thường xuyên, sau đó là tác ý, trình pháp đều nhằm giúp mình an trú trong pháp.

Người nào học pháp Nikāya một cách chân chánh, khéo quán chiếu, khéo như lý tác ý thì nhìn thấy tất cả mọi sự hiện hữu là kẻ giết người, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là kẻ giết người.

"'Sắc là kẻ giết người', vị ấy như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'... 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', vị ấy như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'".

(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, I. Ananda)

Cảm giác yêu thích giết mình, cảm giác sân hận giết mình, cảm giác lờ đờ, muốn an ổn chứ không muốn cực khổ, không muốn thay đổi đó giết cả đời tu của mình. Cả ba loại cảm giác đó đều giết mình chứ đừng nghĩ chỉ có khổ thọ mới giết mình cho nên Đức Phật nói cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.

"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'".

(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Cái gì được cảm thọ? Mắt được cảm thọ, lỗ tai được cảm thọ, mũi, lưỡi, thân, ý được cảm thọ, mỗi khi sanh khởi cảm thọ gì lên phải nhìn sâu vào đó để thấy khổ. Những điều này nếu không học kinh Nikāya, nếu không nhận diện ngũ uẩn thì không thể nào biết được, phàm phu chỉ thấy cảm giác khổ mới là khổ còn cảm giác vui thì không thấy khổ, họ không biết rằng cảm giác vui đó trói buộc, dính mắc trong đó, cảm giác không vui không khổ thì si mê, mù lòa trong đó cho nên lúc nào cũng phải thấy có kẻ giết người rình rập sau lưng, đừng bao giờ nghĩ rằng mình được an ổn, bình thường, đó là tưởng ngu si. Đức Phật nói kẻ giết người đó chính là dục, tham.

"Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.

Năm tên giết người thù địch, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham".

(Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, I. Rắn Ðộc)

Dục tham đối với sắc cũng chết, dục tham đối với các cảm thọ cũng chết, dục tham đối với hình bóng trong tâm cũng chết, dục tham đối với suy nghĩ cũng chết, dục tham đối với nhận thức, rõ biết cũng chết. Vì có dục tham trong năm uẩn nên mới tiếp tục có tái sanh vì thế người thường như lý tác ý, thường quán chiếu phải biết rằng lúc nào sau lưng mình cũng có kẻ cầm dao đưa lên cao nên phải thận trọng, cẩn thận. Kẻ sát nhân trong tâm mình chính là dục tham, ham muốn, những điều này rất sâu sắc, vi diệu, trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua chưa từng được nghe lấy một lần, chúng sanh chỉ thích nghe những gì êm ái, vui sướng, nâng niu thân xác vô thường, hôi thối này, nghe cái gì trái tai là không chịu, chống đối trong tâm, chỉ thích được vuốt ve, mơn trớn nên tu tỷ kiếp cũng ở trong vô minh và tham ái, không chịu nổi bom nguyên tử của Thánh trí năm uẩn, không chịu nổi những đòn giáng xuống không thương tiếc của đại tuệ, minh kiến, của bậc tối thượng nhân giữa chư thiên và loài người, chỉ có những đòn giáng mạnh như vậy mới bẻ gãy được vô minh, chấp thủ.

Những đòn thế này chỉ có trong kinh Nikāya, ngoài ra không chỗ nào có được, đây là đặc sản của Đức Thế Tôn, là đặc thù của bậc Chánh Giác, là đặc hữu của Thánh pháp, ngoài Thánh pháp này ra không có pháp nào có thể bứng tận gốc rễ của năm uẩn.

Ý xuất khỏi tất cả thế giới

Trong tâm niệm của một người Đa văn Thánh đệ tử, của một người học pháp, hành pháp thì họ luôn hướng ra khỏi tất cả thế giới mà thế giới tức là ngũ uẩn.

Nếu chưa học Nikāya thì nghĩ rằng thế giới là muôn màu muôn vẻ, là năm châu bốn biển nhưng khi học dòng pháp này thì thế giới chỉ là ngũ uẩn. Trong tâm ý của người chân tu thật học về Thánh pháp Nikāya thì người này luôn tâm tâm niệm niệm muốn đi ra khỏi ngũ uẩn này, không tham muốn, dính mắc trong ngũ uẩn này, "dù ai nói ngã nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân", không bao giờ thay đổi mà tâm ý luôn hướng về sự thoát ra khỏi năm đống khổ này. Năm uẩn chính là gánh nặng, kẻ gánh cái gánh nặng đó là người.

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là gánh nặng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!

Này các Tỳ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Ðây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống".

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)

Lúc nào cũng phải có suy nghĩ đặt gánh nặng xuống, đi ra khỏi tất cả những thế giới này, không yêu thích một hình hài, một sắc tướng nào, chỉ mượn nó làm phương tiện để tu hành.

Thấy tịnh lạc trong Niết-bàn

Lợi ích thứ ba của người quán về khổ là "tôi sẽ trở thành một người thấy được tịnh lạc trong Niết-bàn", tôi sẽ thấy được sự thanh tịnh và an lạc của một nội tâm hoàn toàn dập tắt tham, sân, si, dục, ái và bản ngã, thấy nghĩa là chứng kiến, chứng ngộ, chứng nhập, chứng đạt chứ không phải suy tưởng, tịnh lạc trong Niết-bàn, trong một cái tâm hoàn toàn không còn thèm muốn, không còn đòi hỏi, mong chờ, hi vọng bất cứ một cái gì trong ngũ uẩn nữa, hoàn toàn lắng dịu, an lạc.

Có một vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn nên ngài đã nhờ các vị Tỳ-kheo khác khiêng ngài ra ngoài trời, lúc đó các vị tôn giả khác rất ngạc nhiên vì ngài ấy bị rắn độc cắn nhưng dung sắc không thay đổi, sắc diện không đổi khác, vị Tỳ-kheo này trả lời nếu ai cho rằng sắc này là tôi thì người đó mới lo lắng, sợ hãi khi sắc này tan vỡ, nếu người nào cho cảm thọ này là tôi thì người đó mới khổ sầu, người nào cho rằng những suy nghĩ, hình bóng này là tôi thì người đó mới hoảng loạn, người nào cho rằng thức này là tôi thì người đó mới khổ đau. Còn vị Tỳ-kheo này từ lâu đã tu tập xem sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không phải là tôi, là của tôi nên làm sao đổi sắc mặt được, dù nọc độc của rắn chạy khắp toàn thân nhưng ngài vẫn bình thản.

"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:

-- Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.

Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi"... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi'.

Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm".

(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)

Từ lâu vị Tỳ-kheo này đã tu tập, tác ý, quán chiếu năm uẩn này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi nên vị này không hề bị thay đổi sắc diện, đó là câu khải hoàn ca của bậc Thánh, là chiến thắng của bậc A-la-hán, đó là thành quả của người tu, là bất động tâm giải thoát. Bị trúng độc đau đớn trên thân thì có nhưng tâm không bị dao động, ngài tu tập đến mức gương mặt không thay đổi màu, dung sắc vẫn tươi nhuận, bình thản, bất động.

Tu đến mức như vậy là đại thành công, là cứu cánh phạm hạnh, Đức Thế Tôn gọi như vậy là đã làm rất nhiều rồi, đối diện cái chết nhưng chứng nhập Thánh trí, muốn được như vậy thì phải từ rất lâu đã tác ý trong từng suy nghĩ, từng cảm giác, hình bóng, từng nhận thức không cho năm uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Còn tu mà ngồi im lặng không tác ý thì làm sao loại bỏ được ý niệm, suy nghĩ, cảm thọ đó? Cũng như lúc mới vào nghe pháp Minh Thành đã lấy vài sự kiện xảy ra để chúng ta sanh khởi cảm thọ, quán chiếu về cái khổ, đó là một cách dẫn dắt để khơi dậy cảm thọ trí tuệ, cảm thọ nhìn thấy sự thật để sanh ra sự nhàm chán, cho nên chúng ta cần khéo léo tác ý, đừng để tâm thụ động, đa số trong kinh Nikāya đều là thiền quán, chỉ có tứ thiền là thiền định, ngoài tứ thiền ra đều là thiền quán, là như lý tác ý, là sự quán chiếu.

Phải tác ý để làm thay đổi những sự suy nghĩ, những cảm giác, cảm thọ, những nhận thức của vô minh và tham ái đối với năm uẩn, còn ngồi im sẽ không chạm đến được gốc rễ của vô minh, tà kiến, chấp thủ, tham ái, dù đạt được tứ thiền định mà không thành tựu chánh kiến thì đó vẫn là định của phàm phu, còn chánh kiến là thấy năm uẩn không phải tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi, muốn thấy được những điều này phải dày công tác ý và quán chiếu trong nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm cho đến suốt cuộc đời.

Các tùy miên sẽ được nhổ lên

Lợi ích thứ tư của người quán tưởng về khổ là "các tùy miên trong tôi sẽ được nhổ lên", tùy là đi theo, miên là ngủ ngầm. Những tham muốn, nóng giận, vô minh, bản ngã, dục ái đi theo mình trong một trạng thái ngủ ngầm, tức là bình thường không thấy nó nhưng khi đụng chuyện nó sẽ trỗi dậy, đó là tùy miên. Đức Thế Tôn dùng từ tham tùy miên, sân tùy miên, vô minh tùy miên… có rất nhiều từ nhưng tổng hợp lại các thứ phiền não là dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là tóm thâu những cái nổi cộm đã hãm hại chúng ta trong vô lượng kiếp vừa qua.

Người thường quán về khổ sẽ không tăng trưởng ham thua, sân hận, người này sẽ không si mê, không tham đắm vào đó cho nên lợi ích của người quán khổ là sẽ nhổ lên được những mũi tên đã găm sâu trong tư tưởng, nhận thức, đó là mũi tên của yêu thích, thúc giục, bức xúc, hơn thua, tranh giành, mũi tên của ta đây, kiêu căng, hống hách, hách dịch, vênh váo với bản ngã ngông cuồng, người thường quán khổ sẽ nhổ ra được những mũi tên này. Người nào không thấy khổ thì không nhổ được những mũi tên này, có thấy thì cũng chỉ là những phần thô bên ngoài còn phần tế bên trong là không thấy được.

Làm các việc nên làm

Lợi ích thứ năm của người thường quán khổ là "tôi sẽ là người đã làm các việc nên làm", việc nên làm của người xuất gia là gì?

"Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau".

(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định)

Đây chính là việc nên làm của người xuất gia, sự thật là để thấy khổ, để thấy ra nguyên nhân của khổ để nhàm chán, từ bỏ cái khổ và đi trên đạo lộ thoát ra khỏi khổ. Chỉ có thấy khổ mới giảm được tham, sân, si, mới nhiếp phục được bản ngã, còn không thấy khổ thì bản ngã lúc nào cũng vênh váo, nó ngủ ngầm bên trong, ở bên ngoài thì lạy xuống nhưng bản ngã bên trong lại cao ngút trời mây, chỉ khi nào nhận diện năm uẩn sâu sắc mới biết được thôi vì thế để trở thành một bậc thành tựu chánh tri kiến không phải chuyện dễ dàng, không phải chuyện đơn giản. Bản ngã này rất khủng khiếp, hơn nữa chính tự thân họ cũng không biết mình có bản ngã, họ nói trong vô minh, làm trong vô minh, nghĩ trong vô minh, nếu chỉ dạy thì họ sân hận, chính vì vậy mà khi Đức Thế Tôn thành đạo ngài không muốn nói pháp, chỉ muốn hướng đến vô vi thụ động tịch tịnh. Phạm thiên Sahampati thấy vậy đã xuống lạy và cung thỉnh Thế Tôn thuyết pháp, những chúng sanh ít nhiễm bụi đời có thể nghe hiểu được chánh pháp.

"Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.

Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên:

'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta'

Rồi những bài kệ vi diệu này, từ trước chưa từng được nghe, được Thế Tôn nói lên:

Pháp Ta chứng khó khăn,

Sao nay Ta nói lên?

Tham, sân chi phối ai,

Khó chứng ngộ pháp này.

Pháp này đi ngược dòng,

Vi diệu và thâm sâu,

Khó thấy, rất vi tế.

Những ai ưa ái dục,

Bị vô minh bao phủ,

Rất khó thấy pháp này.

Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp.

Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: 'Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp'.

Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)

Dòng pháp này đi ngược lại tất cả, những gì chúng sanh khoan khoái, yêu thích, nắm giữ đều bị dòng pháp này phá tan nên có tâm chống đối, vì vậy mà Thế Tôn không muốn nói pháp, trừ khi nào nhận diện năm uẩn chân thành, chân chánh, trực hạnh thì mới thấy được, nếu không thì chỉ thấy ngoài da thịt chứ không thấy được xương tủy. Bốn Thánh trí về ngũ uẩn và bốn Thánh trí về lậu hoặc mà mình thường chắp tay đảnh lễ là Đức Thế Tôn chứng ngộ được cái đó, sau khi thấy năm uẩn thì nhìn sâu vào nữa sẽ thấy được lậu hoặc, cấu nhiễm trà trộn trong năm uẩn, nếu không nhận diện năm uẩn thì không bao giờ thấy được dù cho có tu ngàn đời, chỉ hướng ngoại bên ngoài. Đức Thế Tôn đã nói ngài chỉ tuyên bố mình là vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ngài đã hoàn toàn thấu triệt, liễu tri, thắng tri, tuệ tri, biết một cách hoàn toàn về năm thủ uẩn, lúc đó ngài mới nói mình là bậc giác ngộ cứu chánh phạm hạnh.

"Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: 'Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa'".

(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Trong Tương Ưng Uẩn có rất nhiều trí tuệ mà Đức Phật dùng để đánh phá, soi thấu, phá vỡ tất cả những sự chấp thủ khủng khiếp của chúng sanh. Nếu chúng ta học một cách thụ động, tu một cách sơ sài, hài lòng và tự mãn với cái thấy biết nhỏ hẹn, bằng lòng với cái thấy biết cạn cợt thì không thể nào thể nhập được Thánh đạo, Thánh quả. Chúng ta chưa đi đến nhưng ít nhất chúng ta cũng nhận thức được con đường đến đó là như vậy và biết được vị trí của mình ở đâu, còn không nhận diện được năm uẩn, không gặp được người hướng dẫn đúng chánh kiến thì mình không biết mình là ai, mình đi đến đâu, mình tu để làm gì và nội tâm hiện tại ra sao cũng hoàn toàn không biết. Vì thế mình phải là người làm những việc nên làm, việc nên làm ở đây chính là nhận diện ngũ uẩn, nhìn thấy lậu hoặc, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch các lậu hoặc đó.

Kẻ vô văn phàm phu thì ham muốn nhà, xe, tiền bạc hoặc là con người nhưng Đức Thế Tôn chỉ dạy một chữ thôi là bao trùm thế giới, chính là sắc uẩn, là tổ hợp của sắc chất. Ngài chỉ nói định lý, khẩu quyết, ngài nói cái gì là nói đến tận cùng cứu cánh triệt để của pháp đó thì mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, chỉ một chữ "sắc" thôi là bao trùm cả trái đất cho nên chúng ta cần chiêm nghiệm mới thấy được giá trị của pháp, của những lời nói của Đức Phật, nó không giống như mình đọc sách báo.

Nếu đọc kinh giống như đọc báo, đọc sách, giống như nghe tin tức thì cả đời tu chỉ được một mớ kiến thức Phật học thôi, khi đọc kinh phải dùng cả trái tim, khối óc để suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu. Phàm phu chỉ đi tới nhà, cửa, đất đai, ruộng vườn thôi chứ chưa thể đi đến chữ sắc thì làm sao đi vào được thọ; tưởng; hành; thức. Khi nói muốn có căn nhà đẹp, ngôi chùa đẹp thì đương nhiên sẽ có cảm thọ đi chung nhưng phàm phu không thấy được điều này, theo sau sẽ có tưởng, đi đâu cũng nhớ đến cảnh đó, phòng đó, có suy nghĩ không biết giờ chùa làm sao, phòng mình ra sao, kẻ vô văn phàm phu làm sao biết được những cái này, thậm chí mình đi tu mấy chục năm nhưng nếu không nhận diện ngũ uẩn cũng không biết được điều này, ngoài ra cái thức còn thâm sâu hơn nữa cho nên tham ái là tham ái đối với năm uẩn. Đối với sân cũng vậy, cũng là sân với năm uẩn, khi chưa nhận diện ngũ uẩn chỉ biết sân là giận, nghĩ rằng "tôi giận" thì đó là tà kiến, vô minh vì làm gì có tôi mà tôi giận. Giận này chỉ là một khổ thọ, khi giận thì gương mặt đổi màu, lồng ngực nóng lên, hình bóng người giận hiện ra, suy nghĩ là điều làm mình giận, nhận thức rõ trong tâm đang có những cảm giác, nghĩ tưởng đó. Vì vậy tất cả những gì Đức Phật nói lậu hoặc, phiền não đều nằm trong năm uẩn, không ra khỏi năm uẩn. Bản ngã cũng là bản ngã đối với năm uẩn. Vô minh tức là không sáng suốt và không sáng suốt đối với năm uẩn, cho nên năm thủ uẩn này bao trùm thân tâm, cảnh vật và thế giới, Thánh trí năm uẩn mà mình đang học, đang tập nhận diện đang tập soi rọi lại là trí vũ trụ.

Tất cả những ham muốn, yêu thích của mình, sân hận, si mê, bản ngã, vô minh đều là đối với năm uẩn cho nên chỉ có trí năm uẩn mới giải mã tất cả những cấu nhiễm, phiền não của tâm, nếu không học thì tất cả những từ tham ái, vô minh, bản ngã, sân hận chỉ hiểu trên ngôn ngữ, suy tưởng, chữ nào trong tạng kinh Nikāya cũng nằm trong năm uẩn, không hề đi ra khỏi năm uẩn vì tất cả chữ là từ ý hành sẽ cho ra khẩu hành, sau đó mới viết ra sách, thành văn kinh. Khi nhìn thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức thường xuyên thì mình sẽ phát hiện ra những cảm thọ ham muốn, nóng giận, bản ngã, vô minh thì đó gọi là trí về lậu hoặc.

Đầu tiên Đức Thế Tôn thành tựu bốn trí về năm uẩn, kế đó ngài thành tựu bốn trí về lậu hoặc. Lậu hoặc chính là rác trong năm uẩn, là cấu nhiễm trong năm uẩn. Không thể có con đường nào khác ngoài con đường này, nếu không nhìn thấy năm uẩn là không thể thấy được lậu hoặc, không nhìn thấy lậu hoặc thì làm sao nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch lậu hoặc, không tẩy sạch được lậu hoặc thì làm sao có được tâm thanh tịnh, trong sạch. Vì thế Bát Chánh Đạo là độc đạo, cái đầu tiên của Bát Chánh Đạo là chánh tri kiến hay còn gọi là chánh kiến, Thánh tri kiến chính là thấy đúng về năm uẩn, sau đó mới dùng như lý tác ý là chánh tư duy để đánh phá, chỉ khi nào thấy rõ năm uẩn này không phải là tôi, không phải của tôi thì cái thấy đó mới là thấy đúng, mới là chánh kiến. Chỉ khi nào thấy được năm uẩn mới thấy được khổ, mình nghĩ rằng nghèo mới khổ, đói mới khổ, ăn xin mới khổ hoặc là tai nạn chết chóc là khổ thì chỉ thấy một phần rất nhỏ của khổ trên sắc uẩn, đến giờ khi nhận diện năm uẩn mới thấy trong cảm thọ cũng có khổ, những hình bóng ám ảnh trong tâm cũng khổ, những suy nghĩ hơn thua, đúng sai, cao thấp này làm khổ mình, nhận thức làm sanh ra tham, sân, si, bản ngã cũng làm khổ mình.

Như vậy cái khổ này mới gọi là Khổ Thánh Đế, thấy được cái khổ toàn diện trong năm thủ uẩn thì đó mới là sự thật về khổ được bậc Thánh chứng ngộ, nếu chỉ thấy khổ ngoài hình tướng thì đó là vô văn phàm phu thấy khổ chứ không phải bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy khổ cho nên không nhận diện ngũ uẩn thì mình vẫn ở trong tri kiến của phàm phu. Đó là lý do tất cả mọi người tu ở đây phải thành tựu hai pháp là thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn vì đây là những pháp được Đức Phật truyền lại, là gia tài của bậc Thánh để lại, là Thánh trí tuệ. Nhận diện năm uẩn là bước đầu tiên để mở con mắt tâm của tự thân để nội soi vào bên trong nội tâm chính mình, con mắt thịt của mình là con mắt nhìn hướng ngoại ra ngoài, không bao giờ nhìn vào nội tâm nhưng riêng với mắt pháp thì lại nhìn thấy nội tâm vì vậy Thế Tôn là người mở pháp nhãn cho chúng ta, chính là sự nhận diện năm uẩn, khai mở con mắt pháp, con mắt tuệ, con mắt trí, con mắt đạo.

Hầu bạ bậc Đạo Sư bằng từ tâm

Lợi ích thứ sáu là "tôi sẽ với từ tâm hầu hạ bậc Ðạo Sư", đây là đặc tính của bậc chân nhân, nghĩa là người luôn biết ơn vị thầy dẫn dắt, chỉ dạy, hướng dẫn cho mình, phải với từ tâm hầu hạ bậc đạo sư chứ không phải mang sân tâm, bản ngã để đi học đạo, chỗ này quyết định sự thành tựu của một người học đạo cho nên trong đạo mình thì diệt ngã là cái tuyệt đối quan trọng.

Đối với một người bước vào đạo tràng Nikāya của chúng ta thì hai pháp bắt buộc chính là tâm hiền và diệt ngã, nếu hai cái này không thành tựu thì không thể đi vào dòng pháp này được, tâm phải hiền và hạ thấp cái tôi xuống thì mới học được cái pháp vô ngã "không có ta" này, còn khi cái tôi quá cao thì làm sao có thể học được pháp "không ta" này. Đi học mà có suy nghĩ không biết người kia có bằng mình không thì học cái gì? Đó là một sự ngã mạn, kiêu mạn và ý nghĩ đó sẽ giết chết pháp thân huệ mạng của mình, chỉ một suy nghĩ thôi có thể làm sụp đổ hết cơ hội trong vô lượng kiếp có thể thành tựu chánh tri kiến cho nên trong đạo tràng Nikāya thì hai pháp tuyệt đối quan trọng là tâm hiền và sám hối diệt ngã, nếu không thâm nhập hai pháp này thì không thể vào dòng pháp này được. Một người hung hăng, dễ giận, dễ buồn, dễ phiền, một người có cảm thọ rất thô bạo, chưa an tịnh, lắng dịu, hiền hòa thì người này không thể học pháp Thánh hiền được vì thế pháp hiền thiện phải được tưới tẳm và tăng trưởng, tác ý thường xuyên về thiền tâm hiền. Những bài thực tập tâm hiền phải được thực tập trong nhiều năm chứ không phải học một buổi về tâm hiền là xong, phải thực tập tâm hiền mỗi ngày để ngấm vào cảm thọ, từ đó mới tẩy rửa những cảm thọ bức xúc, kiêu căng, ta đây, những cảm thọ này ai cũng có trong người chứ đừng nói là không có vì không có là phải ở trên Tịnh Cư Thiên chứ không có ngồi ở đây tu tập như vầy. Cảm thọ hiền thiện này sẽ gội rửa, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh những cảm thọ thô tháo, thô bỉ, sân si, cộc cằn, hơn thua, nhân ngã bỉ thử, ta mi.

Ngày xưa lúc mới vào dòng pháp này Minh Thành nghĩ rằng bản thân không hiền hay sao mà phải tu tâm hiền, mình đã đi tu mấy chục năm rồi mà giờ còn kêu tu tâm hiền, bây giờ mới thấy đó là suy nghĩ không hiền, mình tu là phải chấp nhận học pháp của bậc đạo sư, của Đức Thế Tôn, của bậc hướng dẫn mình tu học, mình phải tôn kính, nếu có gì thắc mắc thì thưa hỏi trong sự cung kính, tôn trọng pháp, đó mới là tâm thái của người học đạo, còn với tâm hơn thua, tâm cho rằng ta đây là hiểu biết, là giỏi thì tâm đó vẫn còn dữ, còn rất nhân ngã. Tâm hiền thiện, hiền hòa, hiền hậu, hiền trí, hiền đức là nét đẹp của một người tu, phải thành tựu cái này trước, mọi người ở đây ai cũng dễ thương là do tu tập tâm hiền.

./.