Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giá Trị Lợi Của Nghiệp Thiện 1 - TÂM HIỀN - NGHIỆP THIỆN - HẠNH THÁNH 2

2026-03-03 00:52:21
Tinh Hoa Nikāya

Giá Trị Lợi Của Nghiệp Thiện 1

Thích Minh Thành

Ngày 19 tháng 12 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn pháp khả lạc PAGEREF _Toc95988131 \h 1

II. Lòng tin PAGEREF _Toc95988132 \h 3

III. Giới PAGEREF _Toc95988133 \h 6

IV. Bố thí PAGEREF _Toc95988134 \h 7

I. Bốn pháp khả lạc

Kính bạch chư tôn đức và kính thưa tất cả quý nam nữ Phật tử. Lần trước chúng ta đã tìm hiểu và thực tập về tâm hiền. Hôm nay chúng ta bước qua nghiệp thiện. Trong kinh Nikāya Đức Thế Tôn nói về nghiệp thiện với rất nhiều phương diện. Nếu nói về nghiệp thiện trên tinh thần tài sản Thánh nhân thì chúng ta có bảy: tín, giới, văn, thí, tàm, quý và trí tuệ, lòng tin, sự giữ giới, nghe nhiều (ở đây là nghe pháp), sau đó mình bố thí, cúng dường. Tàm tức hổ thẹn đối với những điều ác và bất thiện pháp, tội lỗi. Quý là sợ hãi những kết quả của ác nghiệp đó đem lại, hổ thẹn đối với những điều xấu, sợ hãi đối với ác nghiệp, cuối cùng là trí tuệ. Đó là bảy pháp mà Thế Tôn gọi là tài sản của bậc Thánh.

Thường chúng ta biết về tài sản của thế gian: tiền bạc, đất đai, nhà cửa, xe cộ… Nhưng khi học đạo, chúng ta có một tài sản thứ hai là tài sản Thánh nhân, Bảy điều này là bảy nghiệp lành, cũng là bảy tài sản của Thánh nhân: lòng tin, sự giữ giới, nghe nhiều giáo pháp, bố thí cúng dường, hổ thẹn đối với việc xấu của mình và lo sợ đối với ác nghiệp của tự thân, cuối cùng là nhiếp phục và diệt tận tham sân si. Đó là tài sản của Thánh nhân, cũng là đỉnh cao của phước báu, nghiệp thiện, nghiệp lành.

Chúng ta sẽ tìm hiểu lần lượt tùy theo thời gian để chia sẻ về nghiệp lành này. Trong “Tăng Chi Bộ Kinh” tập I, bài kinh “Bốn nghiệp công đức”, Đức Thế Tôn nói với ngài Cấp Cô Độc là có bốn pháp này:

“Có bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. Thế nào là bốn?

- "Mong rằng tài sản khởi lên cho ta đúng pháp".

Đây là pháp thứ nhất, khả lạc ... khó được ở đời”.

Người cư sĩ cũng làm ăn, buôn bán, cũng phải phải làm lụng, mưu sinh. Nhưng việc làm ăn, buôn bán, làm lụng, mưu sinh của mình để được tài sản phải đúng pháp, mong ước điều đó là chính đáng. Đức Thế Tôn nói đây là điều đáng mừng, đáng vui, khó có được trên đời, làm ra tài sản nhưng làm đúng pháp, chánh mạng chứ không phải tà mạn, tức mình nuôi sống một cách chân chánh. Điều thứ hai, Đức Phật dạy rằng:

- "Tài sản đã được đúng pháp, mong rằng tiếng tốt được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy". Đây là pháp thứ hai, khả lạc ... khó được ở đời.

- "Tài sản đã được đúng pháp, tiếng tốt đã được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy, mong rằng ta sống lâu, hộ trì thọ mạng kéo dài". Đây là pháp thứ ba, khả lạc ... khó được ở đời.

- "Tài sản đã được đúng pháp, tiếng tốt đã được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy, sau khi được sống lâu, hộ trì thọ mạng kéo dai, mong rằng khi thân hoại mạng chung, ta sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này". Đây là pháp thứ tư, khả lạc ... khó được ở đời.

Bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời”.

Sau khi mất, ta được sanh trở lại cõi người này để tiếp tục tu học Chánh pháp hoặc được sanh lên thiên giới, những cõi thiện, cõi lành cao thượng. Chúng ta biết sanh lên thiên giới ở đây, là có nhiều cảnh giới của chư thiên: Tứ Đại Thiên Vương, Tam Thập Tam Thiên, Dạ Ma Thiên, Đao Lợi Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên. Mà cảnh cao Phạm Thiên cho đến Tịnh Cư Thiên, đó là cảnh giới của bất lai Thánh quả. Các bậc lên tới cõi Tịnh Cư Thiên mà chúng ta hay quan niệm cảnh an vui, đây là cảnh giới của Thánh đệ tử Thiên, tức cảnh giới của các vị Thánh bất lai quả thứ ba.

Khi sanh về đây rồi là không còn trở lại thế gian nữa, chỉ tu cho đến dứt hết các lậu hoặc vi tế và nhập Niết-bàn. Hay chúng ta hiểu cảnh giới Chư thiên, thông thường cứ nghĩ Chư thiên là đọa, còn trong sáu nẻo luân hồi. Nhưng đặc biệt, Tịnh Cư Thiên là bất thối chuyển, cảnh giới đó của các bậc bất lai Thánh quả thứ ba. Cho nên nghe chữ sanh thiên ở đây, mình phải hiểu thêm là các vị Thánh đệ tử Thiên.

Như vậy, bốn điều này chúng ta có muốn không ạ? Nói thông thường theo thế gian là muốn được giàu có, muốn được sống lâu và muốn được sau khi chết mình sanh cõi lành, những cõi cao thượng, phước báu. Điều này ai cũng mong muốn. Đức Thế Tôn nói với ông Cấp Cô Độc:

“Này Gia chủ, đối với bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời này, có bốn pháp đưa đến chứng được những pháp ấy. Thế nào là bốn?

- Đầy đủ lòng tin,

- Đầy đủ giới,

- Đầy đủ bố thí,

- Đầy đủ trí tuệ”.

Chúng ta thấy không, Đức Phật nói gì cũng có nhân có quả, ai cũng muốn cầu xin mình được giàu, được sống lâu, được lời khen, cầu xin sau khi chết mình được sanh cõi lành, cõi tốt, ai cũng muốn nhưng ở đây không phải dừng lại ở chỗ cầu xin. Cầu xin là cần thiết nhưng chưa đủ, chỉ cầu, chỉ mong, chỉ ước nguyện là chưa đủ. Đức Thế Tôn dạy mình, ngoài sự nhắc nhở mình, mong muốn, ước nguyện ra, chúng ta phải làm mới được.

Hôm trước chúng ta học rồi, phải quỳ bên bờ này, mà mong cầu, lạy, van xin để được qua bờ kia thì không thể được. Phải có thuyền, ghe, phải lội qua, hay có cầu bắc qua, phải hành động. Đức Phật nói có bốn pháp đưa đến, đạt được những điều đó. Có rất nhiều bài kinh, nhưng mình dẫn ở đây chỉ có bốn, khi tìm hiểu chúng ta sẽ nói về bảy: đầy đủ lòng tin, đầy đủ về giới, đầy đủ bố thí và trí tuệ.

Chúng ta kết hợp với những bài kinh khác, thêm ba phần nữa để đầy đủ: đầy đủ nghe nhiều, đầy đủ hổ thẹn (tức là tàm) và đầy đủ sợ hãi (tức là quý). Nói theo từ Hán Việt là tín, giới, văn, thí, tàm, quý và tuệ. Đó là tài sản của Thánh nhân: tín, giới, văn (nghe nhiều), quý và tuệ. Đức Thế Tôn mới nói rằng đệ tử của Đức Phật, trong kinh Nikāya thường dùng từ Thánh đệ tử, có lòng tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai, tin Đức Phật là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Thượng Sư Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn.

II. Lòng tin

“Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ lòng tin?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: Vị này là bậc Ala-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ lòng tin”.

Một câu này rất đơn giản nhưng chúng ta phải đọc thêm về “Trí đức Như Lai” trong quyển “Nghi thức tu học Nikāya” có giải thích mười trí tuệ và đức hạnh của Đức Phật. Mỗi một danh từ kết thành một bài, mời quý vị đọc thêm trong quyển “Nghi thức tu học Nikāya” trên trang Linh Quy. Như vậy, chỗ quan trọng ở đây là người đệ tử Phật có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai. Nhiều khi trước nay mình nghĩ tin là tin có Đức Phật, tin có thái tử Tất Đạt Đa, tin là Phật sẽ độ mình, điều đó chưa phải.

Ở đây nhấn mạnh cho chúng ta biết tin điều gì? Tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai, câu này hết sức quan trọng, tin tưởng ở sự chứng ngộ, sự giác ngộ của Ngài, tin tưởng sự thấy biết cùng tột của Ngài. Đó mới gọi là lòng tin đầy đủ. Như vậy Ngài giác ngộ điều gì? Bốn sự thật về đau khổ của đời sống Tứ Thánh Đế. Do đâu mà Ngài thành tựu được thì chúng ta đã học trong những buổi trước rồi. Từ chỗ Ngài nhìn ra thân tâm này là năm nhóm ngũ uẩn và Ngài thấy được trong sắc thân này là khổ, những cảm giác là khổ, hình bóng trong tâm, tại sao tham sân si, dục vọng, bản ngã là khổ; những suy nghĩ hơn thua, đố kỵ, ganh tỵ, tham, sân, si là khổ và nhận thức theo chiều vô minh, theo chiều nhân ngã bỉ thử, cao thấp để sanh khởi lên những sự tranh đấu, tranh giành. Đó là khổ đau!

Mình tin tưởng sự giác ngộ về Tứ Thánh Đế của Đức Phật, tin tưởng sự chứng ngộ về bốn Thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật, tin tưởng về Bát Chánh Đạo thì sự tin tưởng đó là Chánh Tín, tin tưởng sự giác ngộ của Thế Tôn. Sau này nếu có thời gian chúng ta sẽ học luôn về mười trí đức của Như Lai để thấy, rất tuyệt vời. Mỗi một đức hiệu như vậy chứa đựng hết sức sâu sắc ở bên trong.

Bây giờ chúng ta chỉ nói tổng quát, A-la-hán là gì? Tự mình thấy biết thân tâm, tự mình thấy biết cấu nhiễm của chính mình và tự Đức Thế Tôn tẩy sạch hết cấu uế đó, tự Ngài chứng và ngộ mà không có thầy, gọi là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Tức không phải có một vị thầy dạy Ngài mà Ngài tự mình phát giác, phát hiện cấu uế, cấu nhiễm của tâm, những tham sân si, bản ngã, tự Ngài quay trở vào bằng trí tuệ năm uẩn, bằng trí tuệ lậu hoặc, bằng sự nhìn lại những hình hài này, nhìn lại những cảm giác này, nhìn lại hình bóng trong tâm, nhìn lại những suy nghĩ và nhận thức.

Ngài thường xuyên nhìn lại và thấy được những ham muốn, yêu thích, nắm giữ trong đó, những cảm giác sân hận, bức xúc, khao khát, thèm thuồng, những hình bóng của tự ngã, tự thân, chấp thủ, nắm giữ, một cái tôi, của tôi bên trong làm tâm này bị vẩn đục, uế nhiễm, làm tâm này bị che mờ. Ngài dùng trí tuệ và thiền định, giới đức để thanh lọc, tẩy sạch những cấu nhiễm. Tự Ngài nhìn thấy, phát giác, phát hiện, tự Ngài thanh lọc, tẩy sạch và tự Ngài chứng đắc sự trong sạch viên mãn, cứu cánh đó một cách rốt ráo cùng cực, gọi là A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Thành ra, chữ A-la-hán Chánh Đẳng Giác hết sức tối cao, vô thượng, là bậc tối thượng. Không phải giữa chư thiên và loài người, mà tất cả các các bậc Thánh là chữ A-la-hán Chánh Đẳng Giác có một ý nghĩa thâm sâu và tối thượng, sạch hết tất cả tham sân si, không còn sanh tử nữa, gọi là vô sanh, bất tử, tin Ngài đạt đến điều đó. Minh Hạnh Túc, chữ Minh là tam minh, Hạnh là đức hạnh, đầy đủ. Tam minh là gì? Thiên nhãn minh, sanh tử minh, lậu tận minh, còn gọi là túc mạnh minh. Tức Ngài nhìn thấy túc mạng minh, sanh tử minh, lậu tận minh.

Ngài nhìn thấy tất cả những đời sống quá khứ của chúng sanh, tất cả đời sống trong vòng sanh tử luân hồi, đau khổ của chính mình. Và Ngài tẩy sạch hết tất cả những uế nhiễm, mê lầm, lậu hoặc của tâm, thành tựu ba loại trí tuệ đó gọi là tam minh. Thiện thệ là Ngài khéo vượt qua, vượt qua những dòng thác lũ của vô minh, của kiến chấp, tà kiến, dục vọng, những sự hiện hữu trong tái sanh, hữu ái. Thế gian giải là Ngài thông giải hết tất cả thế gian. Vì tất cả thế gian chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Cả trái đất này chỉ là sắc pháp, sắc uẩn: thân người, cảnh vật, đồ vật, núi non, sông ngòi, biển cả, trái đất, hành tinh, thái dương hệ hay tam Thiên đại Thiên thế giới này cũng là sắc pháp, sắc uẩn thôi. Còn lại là phần tinh thần, cảm thọ, tưởng, hình bóng của tâm, những suy nghĩ là hành và nhận thức, rõ biết. Như vậy, Ngài chứng đạt, thấu suốt hết tất cả góc độ, phương diện, khía cảnh của đời sống, thân tâm, vũ trụ, vạn vật, không còn gì mà Ngài không thấy không biết, gọi là Thế gian giải – thông giải pháp thế gian.

Vô Thượng Sĩ là bậc vô thượng, không còn ai trên hơn nữa. Điều Ngự Trượng Phu là Ngài có khả năng điều phục và chế ngự những người can cường, cứng coi, những người có những tâm hiền thiện, trí tuệ sâu sắc. Thầy của Trời và người – Thiên nhân sư, Phật sanh ra trong trời và người, lớn lên trong đời, vượt khỏi đời, không bị đời làm cấu nhiễm, giống như hoa sen sanh trong nước, lớn lên trong nước, không bị nước thấm hay bùn làm ô nhiễm mà vượt lên khỏi nước.

Đức Thế Tôn cũng vậy, Ngài sanh và lớn lên trong đời, vượt ra khỏi đời, không bị đời làm ô nhiễm, chữ Phật nghĩa là như vậy, điều này được chính Đức Phật giải thích trong kinh Nikāya, Thế Tôn là bậc cả thế gian tôn kính. Cho nên, chúng ta nhớ những từ này để mai mốt học. Thế Tôn mình nói quen quen, nhưng khi dịch nghĩa ra rồi mình sẽ nghe rất thật, rất gần – bậc thế gian tôn kính, bậc tôn kính nhất trên đời.

III. Giới

“Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ giới?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh ... từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ giới”.

Về phần giới, hôm trước chúng ta đã có nói trong phần tâm hiền các khái lược về giới. Tức vị đệ tử đó từ bỏ sát sanh, trộm cắp, từ bỏ sự lấy của không cho, từ bỏ sự tà hạnh trong các dục, tà dâm. Đối với người cư sĩ, từ bỏ nói dối, nói hai lưỡi, nói đôi chiều, những lời hung ác, phù phiếm, vô nghĩa, từ bỏ sử dụng những chất say sưa nghiện ngập, rượu men, rượu nấu. Mỗi ngày có Thượng Tọa truyền Bát quan trai giới cho quý vị đã giải thích cho chúng ta.

Ở đây, mình nhấn mạnh ở chỗ bố thí. Chúng ta biết rằng quý thầy kêu các vị đến chùa vì đàn na tín thí nên khi Đức Thế Tôn nói pháp cho cư sĩ, Ngài thường nói về phương pháp phát khởi lòng tin và khuyến khích, khích lệ, thực hành pháp bố thí, cúng dường. Đây là hai pháp Đức Phật thường dạy cho hàng cư sĩ tại gia: lòng tin, giữ giới và bố thí. Khi những vị này thuần thục, sau đó Đức Thế Tôn mới nói về vị ngọt của dục, dục là lạc, sự nguy hiểm và tác hại của dục lạc, kế đến mới nói đến sự thoát ra, xuất ly khỏi dục lạc.

Khi người cư sĩ đã thấy rõ được sự nguy hiểm và tác hại của dục lạc, lòng ham muốn đối với sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp ở đời, vị này có tâm muốn rời xa, thoát ra. Đó gọi là vị ngọt, sự nguy hiểm, thoát ra và xuất ly các dục. Khi người cư sĩ đã thấy, đã thấm được ba loại trí tuệ này, sau đó chư Như Lai mới thuyết về pháp mà được tất cả bậc Chánh Đẳng Giác tuyên dương, khen ngợi. Đó là bốn sự thật về đau khổ của đời sống Tứ Thánh Đế. Đây là trình tự thuyết pháp của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Chúng ta nhớ đây là đạo lộ, trình tự để mình biết cách học. Nếu không mình học nhảy vọt, đốt giai đoạn, mới vô đã học Tứ Thánh Đế. Đầu tiên mình phải học về Chánh Tín, lòng tin đối với sự giác ngộ của Đức Phật, Pháp, Tăng, lòng tin Tam Bảo. Kế đó mình nghe pháp, thực hành giới và bố thí, cúng dường. Sau đó, Đức Phật sẽ dạy mình ba loại trí tuệ: vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của dục lạc; sự thoát ra, xuất ly khỏi dục lạc.

Khi Đức Thế Tôn thấy những vị cư sĩ đã học thuần thục những điều này, Ngài mới bắt đầu nói các pháp mà tất cả các đấng Như Lai tuyên dương, khen ngợi, xưng tán. Đó là sự thật, bốn sự thật về đau khổ mà bậc Thánh nhân chứng ngộ. Đó là Tứ Thánh Đế, là trình tự thuyết pháp của tất cả các Đức Phật trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.

Bây giờ ở đây chúng ta muốn nhấn mạnh ở điểm mà hàng cư sĩ được gọi là đàn na tín thí. Chữ đàn na cũng có nghĩa là người bố thí, gọi chúng ta là thí chủ. Tín là tín tâm Tam Bảo, chữ thí là bố thí, cúng dường. Hay trong khi các thầy dùng buổi cơm trưa, thường đọc câu: “Tán tâm tạp thoại, Tín thí nan tiêu”. Tức khi ăn cơm mà không Chánh Niệm, tỉnh giác, quán chiếu, không nhiếp phục những cảm thọ tham muốn trong khi ăn để nói chuyện phù phiếm, vô ích thì của của những người có lòng tin bố thí, cúng dường này ăn vào, người tu rất khó tiêu, nếu khi ăn không Chánh Niệm, tỉnh giác, không tu tập, nên gọi là “Tán tâm tạp thoại, Tín thí nan tiêu”. Chữ tín thí đó chỉ cho người cư sĩ, hai pháp nổi trội là lòng tin và sự bố thí, chúng ta nhớ điều đó.

IV. Bố thí

Ở đây, mình nhấn mạnh vô chỗ mà Đức Thế Tôn nói với Ngài Cấp Cô Độc:

“Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ bố thí?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẻ vật bố thí. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ bố thí”.

Người đệ tử tại gia sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, tại sao gọi là cấu uế xan tham chi phối? Xan tham là tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt, rít rắm. Chúng ta có nghe nhiều người cầu nguyện câu: “Tiền vô như nước sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin”. Tâm keo kiệt, bỏn xẻn, tham lam này làm cho chúng ta nghèo cùng, thiếu thốn, lúc nào cũng ở trong trạng thái tâm lo lắng, thiếu thốn, rít rắm, bỏn xẻn, keo kiệt, bủn xỉn, tiếc nuối.

Khi Đức Thế Tôn còn tại thế có một ông triệu phú, ông có rất nhiều tài sản, như đại gia bây giờ. Nhưng ông ăn cơm nguội, mặc vải thô, không dám ăn, không dám xài. Tới khi chết, nhà vua đi tới thu hàng bạc vạn, bạc triệu đồng tiền vàng nhưng không biết bố thí, cúng dường, không biết chia sẻ cho người khác. Khi chết tài sản bị thu vào quốc khố. Chính trong đời sống hiện tại này chúng ta cũng thấy có nhiều người rất giàu có nhưng đi đôi dép rách lấy cọng gân buộc lại, mặc áo tơi tả hết, không dám ăn, xài, chia sẻ, cứu giúp cho ai và người này chỉ đi kiếm tiền để hốt vô, gom góp, tích chứa. Những tâm như vậy khi chết đi, rất dễ đi vào đường của quỷ đói, ngạ quỷ, vì luôn luôn lúc nào cũng đói khát, thiếu thốn, lo sợ mình không đủ, thiếu. Cho nên:

“Tiền mục, lúa hư không cứu đói rét

Lụa là, gấm vóc nào có giúp ai

Vừa được mấy trăm chưa cho là nhiều

Mất mình một đồng tưởng như hao lớn

Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai

Kho đụng chất đầy, chưa từng bố thí”.

Thành ra Đức Thế Tôn thương mình, sợ mình sống bằng một tâm nghèo khổ, nghèo nàn, đói khát, tâm bỏn xẻn, bủn xỉn, keo kiệt như vậy, ngay trong hiện tại dù cho có tài sản cũng khổ chứ đừng nói chi không có. Sau khi mất phải đi vào đường của cô hồn, ngạ quỷ, quỷ đói. Cho nên, Ngài mới khuyến khích mình phải làm sao “tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở”.

Cái này có nhiều vấn đề để chúng ta chiêm nghiệm, sự tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt là một vết nhơ, vết bẩn, sự cấu nhiễm của tâm. Mỗi khi trong tâm mình có ý nghĩ bỏn xẻn, keo kiệt, ví dụ mình muốn cho, nhưng suy nghĩ, rút lại, không cho. Hoặc muốn cho mười đồng, hôm sau rút lại còn năm đồng, hoặc muốn cúng hai chục, nhưng cuối cùng suy nghĩ lại, thì thôi, rút lại chỉ cúng mười.

Mình thấy những ý nghĩ đó phải quở trách nó, nói đây là vết nhơ, cấu nhiễm của tâm, những suy nghĩ xấu ác, bất thiện pháp. Và mình phải tác ý bố thí rộng rãi với bàn tay rộng mở. Chúng ta nên học thuộc lòng đoạn này, đây là do Đức Phật giải thích “bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẻ vật bố thí”. Bố thí rộng rãi này được nhiều cái hay, chúng ta ứng dụng nó rất tuyệt vời, xin thưa quý vị. Không phải chỉ nói về tiền bạc, những hình ảnh trong mùa dịch này làm chúng ta hết sức xúc động.

Có một thầy giáo đang chạy xe trên đường, thấy một người đàn ông đi bộ, xách đồ nặng, đường xa mệt mỏi. Người thầy giáo này lại hỏi thăm và giúp đỡ một món quà nho nhỏ, sau đó chạy đi nhưng chợt nhớ lại người này đi chân không, thầy giáo này quay xe lại, lấy đôi dép mình đang mang tặng cho người này. Một hành động hết sức nhân văn, ngọt ngào, ấm áp, hết sức đẹp. Đó là nghiệp thiện, hạnh lành.

Quý vị thấy không, nếu như mình có tiền, có của, làm được những thứ lớn thì quá tốt. Mà nếu mình không phải người giàu có, sung túc, mình có thể được những điều hết sức dễ dàng, gần gũi. Thấy chú này đi bộ về quê, đường xa, đói mệt, chân không, thầy giáo này lột đôi dép mình đang mang để cho. Hành động đó được mưa tim, bao nhiêu người gởi những trái tim đỏ thắm, yêu thích một hành động đẹp như vậy. Chúng ta làm điều này được không ạ? Làm được, nhưng nhiều khi chúng ta không để ý, không làm. Chúng ta làm được và dư sức, dư khả năng để làm.

Có một việc nữa cũng rất xúc động: trời đang mưa, mọi người đang đậu ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ, cậu này nhìn thấy bên đây ba bốn mẹ con ướt nhẹp đầu cổ dưới trời mưa tầm tã. Cậu này lấy áo mưa của mình đem qua tặng cho mấy mẹ con, đẹp không, lành thiện không? Đó là sự bố thí, là bàn tay rộng mở, sự san sẻ, sớt chia đầy nhân văn, đầy đạo đức, tình thương, từ tâm trong một hành động rất nhỏ bằng một món quà, đâu phải là thứ gì đáng giá nhiều nhưng đó là cả tấm lòng, cả tình thương, nhiều lắm, nói không hết.

Quý vị thấy không, những ATM gạo mà cả thế giới phải cúi đầu ngưỡng phục người Việt Nam mình đã phát minh, sáng chế ra ATM gạo. Đẹp không? Rồi bao nhiêu những vị thầy, những sư cô, bao nhiêu những Phật tử nấu hằng ngày cả vạn suất cơm, mấy chục ngàn suất cơm để đem phân chia cho những bác sĩ ở tuyến đầu, những y tá, điều dưỡng, dân phòng, dân phố. Tất cả những điều đó đều đẹp, mà có những cái đẹp đó mới an ủi bớt những sự quá đau khổ, thống khổ của thảm họa toàn cầu này. Nếu không có những tâm hồn, những trái tim, hành động đó thì cuộc đời này làm sao sống nổi quý vị? Quá khổ rồi!

Thành ra những nghiệp lành, nghiệp thiện, những tâm thương hiểu, những tấm lòng chia sẻ này nó là gì? Những dòng nước mát, những cơn gió giữa trưa hè nắng hạn, những sự ngọt ngào giúp chúng ta vượt qua, nhất là trong cơn đại thảm họa này. Cho nên, hàng Phật tử tại gia chúng ta phải siêng năng thực hành bố thí với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẻ những vật bố thí. Phải nhớ bàn tay của mình luôn luôn rộng mở, đẹp lắm quý vị.

Ví dụ mình đang đi mà có người đó bất thình lình quên khẩu trang mà trong túi mình có, sẵn sàng móc ra chia sẻ, hay khi gặp những người đói khát. Có những hình ảnh xúc động lắm quý vị, một bà cụ già bảy mươi mấy, tám mươi tuổi ở ngoài mái hiên, bà tới hỏi mua chai nước suối, đầu tóc bạc phơ, da nhăn, lưng còng, mặc đồ lam lũ. Cậu chủ quán này cho bà nước suối, hộp cơm và một ít tiền. Thật xúc động, ngọt ngào, ấm áp, đầy tình thương.

Người ta nói: “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, là sao quý vị? Khi người ta đang đói, đang thiếu, chỉ cần một chút thôi mà giá trị của nó rất quý, rất nhiều, đối với lúc người ta không cần, những lúc người ta đói, thiếu, khổ thì thật đẹp. Những cảm thọ ngọt ngào, ấm áp, no ấm mình đem đến cho người ta, quý vị an tâm đi, hãy tin nhân quả, tin vào hoa trái của sự bố thí, cúng dường.

Quý vị đem cho người ta sự ngọt ngào, ấm áp, no đủ, tình thương, đem cho người ta những dòng nước mát, nước ngọt thanh lương như vậy, chắc chắn quý vị sẽ thu nhận lại hàng trăm, hàng ngàn lần những tình thương, những sự ngọt ngào đó, mình không cần mong cầu. Mình chia sẻ mà không mong cầu người đó mai mốt gặp để giúp mình lại, bàn tay cứ rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng.

Với một trái tim và một tình thương, quý vị sẽ thấy cuộc đời này được tô điểm, làm đẹp. Có chắc chắn rằng từ đây đến ngày ra đi, mình không gặp khó khăn không? Có chắc chắn tuyệt đối một trăm phần trăm rằng từ đây cho đến ngày ra đi mình không cần người khác giúp đỡ không? Mình có chắc chắc rằng từ đây đến ngày mình mãn phần không bệnh hoạn, tai nạn, không gặp những hoàn cảnh bất trắc, bất thường, bất ngờ không?

Chúng ta nên nhớ bàn tay rộng mở, đẹp lắm là sự bố thí này, đẹp lắm là sự chia sẻ này, đẹp lắm là sự cảm thông những nỗi khổ của nhau, chia sẻ, thấu hiểu với nhau bằng từ tâm. Đó là nghiệp lành, nghiệp thiện.

“Đẹp thay cuộc sống vì ai đó

Vì những tình thương ta đã cho”

Sống như vậy là sống đẹp, mà đẹp ở chỗ nào? Đẹp ở chỗ quý vị cho người ta tình thương đó một gói mì, mấy đồng bạc lẻ, một áo mưa, một đôi dép mủ, một lời nói an ủi, một sự im lặng lắng nghe, người ta trao gửi tâm sự, những đau khổ, thắt gút trong lòng. Tất cả sẵn lòng, mở lòng, mở rộng vòng tay, mở rộng tấm lòng, mở rộng trái tim, tâm hồn của mình, ưa thích từ bỏ. Không bỏ bây giờ mai mốt quý vị cũng bỏ, không bỏ sớm cũng bỏ muộn. Cuối cùng mình cũng từ bỏ xác thân này thôi, cũng từ bỏ, từ giã căn nhà này thôi, mình cũng từ bỏ, từ giã những tài sản mà mình tích góp cả cuộc đời, từ bỏ hết.

Cho nên, bây giờ có cơ hội từ bỏ, từ bỏ mà đem lại niềm vui, phúc lạc cho mình, cho mọi người, cứu khổ, cứu ngặt, cứu nghèo, cứu đói, cứu khát thì sự từ bỏ đó quá đẹp, quá tuyệt vời, sẵn sàng để được yêu cầu. Đây là chỗ mà chúng ta cần để ý. Nhiều khi người ta không yêu cầu, nhưng mình thích, muốn làm, muốn đem đi cho, đi từ thiện, đóng gói, đóng hàng, chuẩn bị vô xe rồi đi. Nhưng có khi những người kế bên cạnh mình xin mình không cho, có không?

Người không kêu mình muốn đi làm, có người cần mình lại không cho, đây là chỗ thất bại. Nhiều khi tu, mình quên gần, tìm xa, đây là chỗ chúng ta phải để tâm. Cho nên, có những khi Minh Thành chia sẻ, quý Phật tử cũng cảm nhận và xúc động. Mình ví dụ những cái từ gần gần tới xa, từ cạn tới sâu. Giờ mình đi vô chùa tụng kinh, dự khóa tu mà khi ra, đôi dép mình người ta mang mất, mình phải tác ý, suy nghĩ ra sao?

Thay vì mình phải đi từ thiện, đem cho, giờ mình khỏi cần cho, người ta đến lấy, coi như mình làm từ thiện, hoan hỉ quá, bố thí được đôi dép đúng người cần. Vậy thấy nhẹ không, hay mình la mới vô tụng kinh, tụng tâm từ, trải ra sân si ngay cổng, ngay cửa. Như vậy là thất bại rồi, phải không? Người đó người ta cần lắm mới lấy, mình nghĩ thôi kệ. Bây giờ có sân si, bực bội, nói này kia cũng đã mất rồi. Thay vì mình sân si bực bội, bây giờ thí xả và hoan hỉ đối với sự bố thí đó.

Đó là mình nói chuyện gần nhất, tới chuyện này nữa. Cho chỉ cho bên ngoài, cho ở đâu đó, nhưng chị em trong nhà cần, mượn, hoặc xin trong số mà mình có thể cho được, hoặc món đồ mình để đó không xài, để lăn lóc trong hóc, trong xó không xài. Nhưng người ta tới hỏi lại nói không được, đó là chỗ xan tham, bỏn xẻn, chỗ thất bại của mình, tâm cấu nhiễm. Trong khi mình bỏ lăn lóc, thậm chí đồ quá hạn, hư hỏng nhưng không cho, thà tới khi đem ra là bỏ thùng rác.

Đây là chỗ nghèo cùng, tổn phước, hao phước, phí phước, phung phí, phí phạm phước đức của mình. Cho nên mình nhớ gần trước rồi mới tới xa nha quý vị. Cha mẹ, anh em của mình trong nhà, bà con, những người thiếu thốn, bạn bè của mình trong lúc nguy cấp. Vì sao? Mình sống có nhờ những người đó không? Những bậc sanh thành dưỡng dục, những bạn bè đồng cam cộng khổ, những đồng nghiệp của mình, những người bạn, thậm chí cả bạn đạo nữa. Nhiều khi sách mình có, cũng không đọc cuốn kinh, cuốn sách đó, nhưng khi cần người ta hỏi mượn, nói không, cuốn đó của tôi, không cho mượn là thất bại.

Cho nên, người ta nói sự bố thí rất hay, mình phải ứng dụng nó nhiều trong đời sống của mình chứ đừng nghĩ bố thí chỉ là đi làm từ thiện. Nghĩ như vậy rất nhỏ hẹp, thiển cận, sự bố thí cùng khắp tất cả mọi phương diện. Sự cúng dường Tam Bảo cũng vậy, trong lúc thời gian không nhiều chúng ta chỉ nói yếu ách, trọng điểm. Mình cúng theo ý muốn của mình chứ không biết cúng thứ cần thiết trong Tam Bảo, chỗ này rất quan trọng.

Ví dụ mình thích tượng Phật nên cứ cúng tượng Phật, dù chùa có tượng Phật rồi, nhà chùa chịu thì cúng, không chịu thì thôi, không cúng. Mình thích cúng đèn hay cúng bông là cứ lo cúng bông, dù chùa có bông rồi, mình cứ việc đem bông vô. Đó là cúng theo lòng muốn của mình, tức dục ái của mình, chứ không biết rằng thứ gì cần. Mình hỏi: “thưa thầy, bây giờ chùa cần thứ gì?”, hoặc mình cúng chỉ thích tô điểm, tô đẹp cho sắc pháp, sắc uẩn chứ không biết cúng cái để làm cho Chánh Pháp cửu trụ tồn tại dài lâu.

Thành ra, xin thưa với đại chúng, sự bố thí cúng dường này rất sâu sắc và rộng lớn, không phải đơn giản mà mình nghĩ cứ cần, đem cho như vậy, nó chỉ là một phần rất nhỏ, nhiều cấp độ, bố thí có suy xét và không suy xét, có trí tuệ và không trí tuệ, có từ tâm và không từ tâm. Do đó, phước đức và quả báo của nó sẽ tương xứng với tâm lượng khi mình đem cho, đem cúng. Có khi cũng cúng món đồ đó mà phước lên một ngàn lần, mười ngàn lần, có khi cũng cúng món đồ đó mà phước có một trăm phần. Để hiểu điều này, quý vị đọc bài kinh “Phân biệt cúng dường”, Đức Phật giải thích rất kỹ.

Chủ yếu của sự bố thí này là phá tâm keo kiệt, bỏn xẻn, tham lam. Đây là phần cốt lõi nhất trong sự bố thí: phá tâm keo kiệt, bỏn xẻn, tham lam, rít rắm, hà tiện. Mình phải phân biệt được cần kiệm, tiết kiệm khác với sự bỏn xẻn. Tiết kiệm là khác, bỏn xẻn, rít rắm là khác, phải phân biệt được điều đó. Phá được tâm bỏn xẻn, tham lam này để mình cứu lấy mình trong hiện tại, cảm thọ của mình sẽ dễ chịu, sống bình an, đời sau mình không rơi vào loài ngạ quỷ, quỷ đói, cô hồn, đói khát nhiều đời nhiều kiếp.

Đó là nói về phần tiêu cực, còn sự tích cực của bố thí là phước báu sẽ nhân lên hàng ngàn, hàng vạn lần và đem loại sự ngọt ngào, ấm áp, tình thương lan tỏa cùng khắp với những người có ân, đức, nghĩa, tình với mình, tâm từ trải rộng, tình thương mình bao la. Mình sống có ý nghĩa, giá trị và lợi ích, có sự an lạc cho người thân thương của mình.

Đức Thế Tôn nói bậc chân nhân sanh ra ở chỗ nào là làm lợi ích cho mẹ cha, vợ chồng, con cháu, bà con, huyết thống, cho tất cả những người có nhân duyên gặp được bậc chân nhân đó, làm lợi ích cho cả chư Thiên và loài người. Chân nhân tức người thật sự là người, người đúng là người, bậc hiền thiện, hiền trí. Cho nên chúng ta nhớ, mình phải khéo léo quán chiếu, sẵn sàng để được yêu cầu. Khi người ta yêu cầu mình, nếu được, nên cố gắng làm, dù ít hay nhiều. Vì khi đó người ta cần, biết bao nhiêu người mà người ta không yêu cầu, lại yêu cầu mình.

Ví dụ, mình có thể đem đi cho cả trăm thùng mì, nhưng người ta lại xin một gói mình không cho. Đó là chỗ thất bại, chúng ta thấy không, mình cho một trăm thùng được, còn bây giờ chỉ một gói, mà người ta đang đói, đang khổ, đang cần. Đó là “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Mình cho được gói mì, cho được mấy đồng bạc lẻ đó, mình cho được bữa ăn, ổ bánh mì đó, tuyệt vời lắm, đẹp lắm, cứu sự khổ đói cho người ta.

Như vậy mình sanh ra đời sau ở bất cứ chỗ nào hay trong đời này, ở chỗ nào mình cũng đầy đủ lương thực, đầy đủ sức khỏe, dung sắc, nhiều phước báu. Ở đây, chúng ta không phải chuyên về bố thí nên chỉ nói phớt qua, tổng quát vậy thôi. Đây là một trong những nghiệp lành, hạnh lành mà Đức Thế Tôn dạy căn bản, chúng ta là những vị tín thí, thí chủ, từ lòng tin Tam Bảo mà có sự bố thí, cúng dường, chia sẻ.

Cho nên, vui thích san sẻ và bố thí, mình cho mà vui, thích thú, hoan hỉ. Vì mình biết sự cho này làm mình phá được tâm tham lam, bỏn xẻn, làm mình phá được nghiệp của ngạ quỷ, quỷ đói, làm mình tăng trưởng được tình thương, phước báu, phúc đức, phúc lạc trong hiện tại và tương lai. Người tạo điều kiện cho mình đem những phúc báu, phúc lạc này mình có vui không? Rất vui, có khi phải cảm ơn những người nhờ đó mình bố thí, cảm ơn những người nhờ đó mình cúng dường. Phải cảm ơn, vui thích trong sự hoan hỉ, bố thí, mở rộng vòng tay với cả một tấm lòng, cả một tình thương.

Mình chia sẻ như vậy thì quý vị sẽ đem nghiệp lành, nghiệp thiện này trang nghiêm tự thân, làm đẹp cho chính mình. Ở trong suy nghĩ của mình sẽ rất vui, trong suy nghĩ rất an, trong tưởng cũng rất tuyệt vời. Sắc diện của mình sẽ thay đổi theo phước đức của mình.

Hôm nay Minh Thành chỉ giới thiệu một phần trong nghiệp thiện, hôm trước là tâm hiền rồi. Kính chúc tất cả quý vị luôn luôn siêng năng, hoan hỉ, để tâm và danh nghĩa tín thí của chính mình mà hoan hỉ, mở rộng vòng tay để làm những việc phước thiện, trang nghiêm và làm đẹp cho tự thân cũng như gia đình mình.