TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU - TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 4 - VỊ NGỌT, NGUY HIỂM, SỰ XUẤT LY 2
TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU!
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 4
VỊ NGỌT - NGUY HẠI - SỰ XUẤT LY 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Nếu Không Có” PAGEREF _Toc92465271 \h 1
II.Quán chiếu về sự nguy hại PAGEREF _Toc92465272 \h 4
III.Tác ý hướng đến sự xuất ly PAGEREF _Toc92465273 \h 8
Bài kinh “Nếu Không Có”
Trong bài kinh “Nếu Không Có”, Tương Ưng Sáu Xứ, Đức Phật có dạy:
Nếu mắt không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, chúng sanh có thể không tham luyến mắt. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, mắt có vị ngọt nên chúng sanh tham luyến mắt.
Nếu mắt không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với mắt. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với mắt.
Nếu mắt không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi mắt. Và vì rằng mắt có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi mắt.
Nếu tai không có vị ngọt...
Nếu lưỡi không có vị ngọt...
Nếu thân không có vị ngọt...
Nếu thân không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với thân. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với thân.
Nếu thân không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi thân. Và vì rằng thân có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi thân.
Đức Phật tuyên bố vì mắt, tai, mũi, lưỡi thân có vị ngọt nên chúng sanh ham thích và ái luyến vào đó. Nếu mắt, tai, mũi, lưỡi thân này không có sự nguy hiểm thì chúng sanh có thể không nhàm chán.
Thế nhưng, vì mắt, tai, mũi, lưỡi thân này có sự nguy hiểm, có lo âu, có biến đổi, có biến hoại, có bệnh tật, có sợ hãi, có suy tàn, có tai nạn, có thống khổ nên chúng sanh nhàm chán đối với con mắt, lỗ tai, gương mặt, cái miệng, lỗ mũi, thân xác này. Chính vì thấy sự nguy hiểm của thân xác tứ đại này là vô thường, tai nạn, bệnh tật, hoạn nạn, suy tàn, diệt vong nên chúng sanh nhàm chán đối với nó.
Và nếu như thân xác, hình hài, mặt mũi, tay chân này không có sự thoát ra thì chúng sanh không thể nào ra khỏi hình hài, gương mặt, tay chân, mình mẩy này được. Nhưng chính vì có sự thoát ra nên chúng sanh có thể ra khỏi tấm thân tứ đại này.
Nếu ý không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không tham luyến đối với ý. Và vì rằng ý có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có tham luyến đối với ý.
Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.
Nếu ý không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không xuất ly ra khỏi ý. Và vì rằng ý có sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh xuất ly ra khỏi ý.
Trong sự để ý có vị ngọt, chẳng hạn như khi để ý gương mặt, để ý ánh mắt, để ý cử chỉ, để ý đến hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm nên thích thú, khoan khoái. Vì sự để ý này có sự thích thú, khoan khoái, hấp dẫn, có vị ngọt nên chúng sanh yêu thích sự để ý, tác ý, suy tư này.
Thế nhưng vì tâm ý này có nguy hiểm, sự để ý này có hiểm hoạ, bị dục sai khiến, dẫn dắt, hành hạ, đày đoạ thân tâm nên sự để ý này cũng có bực tức, bực dọc, bực bội, nóng giận, thiêu đốt, sanh khởi lên tôi, ta, hơn thua, tranh đấu, mình, người. Bên cạnh đó, sự để ý này còn có những sự lo sợ, khổ đau, bất an, so đo, phân biệt, tính toán, tranh đấu và sanh khởi lên dục, tham, sân hận, bản ngã, hơn thua nên chúng sanh có thể nhàm chán đối với những tâm ý, nhàm chán đối với những sự để ý, tác ý đó. Và nếu ý không có sự thoát ra thì chúng sanh không thể thoát ra khỏi ý. Tuy nhiên, vì ý có sự thoát ra nên chúng sanh có thể thoát ra khỏi ý. Sau đó, Đức Phật nói tiếp:
Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh ấy cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã không sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.
Đức Phật nói rằng, cho đến khi nào mà chúng sanh chưa thành tựu được trí tuệ thấy biết về vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly một cách rốt ráo đối với hình hài, thân xác, sáu căn, sáu xứ này thì chúng sanh đó không thể sống với một tâm lìa nắm chặt (ly chấp trước), lìa trói buộc (ly hệ phược), được thoát ra và không thể nào không bị giới hạn bởi thân này. Như vậy, nếu không thấu suốt được vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly thì chúng sanh sẽ sống với một tâm nắm chặt và bị trói buộc vào mắt, tai, mũi, lươi, thân, ý này. Hơn nữa chúng sanh cũng không thể nào thoát ra khỏi thân cùng với sáu căn này, mà còn bị thân này, sáu căn này giới hạn.
Khi tâm bị giới hạn như vậy thì dù cho có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm, có xúc chạm, có nhận thức gì đi nữa thì cũng không thể đi ra khỏi thân xác vô thường, tứ đại, tạm bợ, nhỏ bé này; dù cho có nghĩ gì, suy tư gì, cảm thọ gì, nhận thức gì thì cũng không thể nào ra khỏi sáu xứ, sáu căn, năm uẩn này. Cho nên, với một nội tâm bị giới hạn thì dù có suy nghĩ đến mức nhức đầu vắt óc trong hàng nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, nhiều triệu năm, nhiều tỷ năm thì tất cả những suy nghĩ đó cũng không thể đi ra ngoài sáu căn, sáu xứ, tứ đại, ngũ uẩn. Khi đó, tất cả những sự thấy biết, suy tư, nhận thức, cảm thọ đều ở trong tứ đại, sáu căn, sáu xứ; bị giới hạn trong thân xác, hình hài, vóc dáng, sắc pháp; bị trói cột trong sự vô thường, hư ảo; bị giới hạn trong món đồ gốm chính là thân xác này nên vô cùng dễ tan, dễ vỡ, dễ nát, dễ bể.
Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho nên, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, bài kinh Nếu Không Có)
Cuối cùng, Đức Phật nói rằng, cho đến khi nào chúng sanh thật sự thấu suốt triệt để về vị ngọt, sự nguy hại và sự thoát ra của hình hài này, của sáu xứ này thì đến khi ấy người này mới sống với tâm lìa dính mắc, lìa chấp thủ, rời trói cột, được thoát ra và không còn bị giới hạn nữa.
Quán chiếu về sự nguy hại
Như vậy, qua bài kinh trên, Đức Phật dạy rằng, nếu hình hài này không có vị ngọt thì chúng sanh không có sự tham luyến, nhưng vì thân thể này thật sự có vị ngọt cho nên chúng sanh ham thích và ái luyến. Người ta làm lụng vất vả cả ngày chỉ để hưởng thụ một chút vị ngọt, sau đó họ hài lòng, tiếp tục đi cày bừa và như thế là nhọc nhằn suốt đời, suốt kiếp, suốt năm, suốt tháng. Hơn nữa, không chỉ người nghèo thiếu mới nhọc nhằn, mà người giàu có cũng bất an để tìm được vị ngọt. Hoặc là vị ngọt ở trong thức ăn, hoặc là vị ngọt ở trong danh tiếng, hoặc là vị ngọt ở trong địa vị, hoặc là vị ngọt ở trong tài sản. Vì một chút vị ngọt đó mà người ta tham luyến, muốn thêm nhiều hơn nữa và lưu luyến đối với vị ngọt đó, không nỡ rời xa.
Thế nhưng, trong đó có sự nguy hiểm và tác hại mà người ta không thấy. Nếu thân thể này không nguy hiểm, không có sự suy tàn, bệnh tật, tử vong và tai nạn thì chúng sanh có thể không nhàm chán đối với thân thể này. Thế nhưng sự thật là thân này có sự biến hoại, suy tàn, bệnh tật, lão hoá, già nua, chịu sự vô thường, biến đổi nên chúng sanh nhàm chán nó. Nhiều người khi tuổi già đến thì bị con cái đối xử với họ rất tàn nhẫn. Cả một cuộc đời lo lắng, hy sinh, chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, cho học hành, dựng vợ gả chồng, thành gia lập nghiệp, sau đó hy sinh lo cho cháu, cuối cùng đến tuổi già, nếu con có hiểu thì đỡ, còn con bất hiếu thì xem cha mẹ như phế nhân, phế vật. Ăn uống thì run rẩy, rớt bể, đổ tháo; đi thì phải có người dẫn dắt; bên trong đầy sự bức xúc nên cứ mắng chửi, sân hận, nhớ về quá khứ, sống với dĩ vãng đã qua. Người này bên trong bị những sự bực bội, sân giận thiêu đốt; còn bên ngoài chịu sự khó chịu của con cháu, một tâm thức như vậy thật sự rất đau khổ. Đó chính là sự nguy hại của sắc pháp, sắc uẩn này.
Chúng ta cũng vậy, đừng tưởng đi tu thì không già, không bệnh, không chết, chỉ trừ người nào chứng đạt được bất tử thì mới không phải chịu sự chi phối của già, bệnh, chết, còn lại thì ai ai cũng phải đi đến chỗ già, bệnh, chết, trở thành phế nhân, phế vật, nằm một chỗ. Cho nên, nếu không tích tụ được những thiện pháp, công đức, giới đức, thiền định, trí tuệ thì thật sự vô cùng nguy hiểm, hiểm hoạ đối với hình hài này. Cả cuộc đời loay hoay giành giật, bon chen, lo cạnh tranh, hơn thua, gom góp, tích luỹ, chất chứa, khi tuổi già đến thì bất thình lình bị tai biến mạch máu não, đột quỵ mà chết. Hoặc chỉ mắc một căn bệnh tiểu đường nhưng nó biến chứng thì vô cùng khủng khiếp, đừng nói chi đến những căn bệnh nan y, ung thư, phải hoá trị để sống thêm từng ngày với một tấm thân giống như một bộ xương di động.
Khi Minh Thành qua Úc chia sẻ pháp thì được một Phật tử mời đến thăm gia đình để chúc nguyện và cầu an. Gia đình này rất khá giả, con cháu ai nấy cũng đều cao lớn, tốt tướng, có học vị, bằng cấp đầy đủ và đều có trí thức. Thế nhưng khi nhìn đến người mẹ thì Minh Thành thấy cô này chỉ còn hơn hai mươi mấy kí, trong khi người mẹ này lúc chưa bị bệnh là một người hết sức xinh đẹp, sang trọng, quý phái. Hiện tại người mẹ chỉ là một bộ xương được bọc bởi lớp da và xung quanh là những người thân đang rướm nước mắt, trào tuôn ra những giọt lệ. Chúng ta thấy rằng, tự thân người này đau khổ, những người quyến thuộc xung quanh cũng xót xa, đau khổ. Không ai có thể thay thế được bệnh tật, thay thế được cảm thọ đau đớn, thay thế những sự quằn quại, khổ thọ cho người mẹ này. Cho nên, một khi tử thần đến, một khi thiên sứ của những cơn bệnh đến thì không bà con, không cha con, không mẹ con, không anh chị em nào có thể che chở cho mình được. Không có bất cứ một ai có thể che chở cho chúng ta nếu chúng ta không có phước huệ, không có trí tuệ, không có sự thành tựu pháp, không tịnh tín bất động đối với pháp, đối với tự thân thì lúc đó mình sẽ rất đau khổ, hốt hoảng, kinh hãi.
Vài hôm trước, Minh Thành vô tình nhìn thấy hình ảnh của một cậu thanh niên trước khi bị bệnh và sau khi bị bệnh là không thể tưởng tượng nổi. Thân thể cậu này chỉ còn lại một bộ xương, chân phải co lại, không thẳng ra được và nổi mẫn đỏ khắp người. Có rất nhiều những dị dạng, dị hình, dị tật, dị chứng nan y và nhiều chứng bệnh lạ trên cuộc đời này. Đôi khi chỉ từ một mẫn ngứa trên người nhưng sau khi người này gãi thì nó lan ra, sưng lên, mẫn ngứa nổi khắp người, trong đó chỉ toàn là mủ và máu, khiến người này trở thành cùi hủi. Đây chỉ là những chứng bệnh bên ngoài mà chúng ta có thể nhìn thấy được, còn bên trong thân này là những khối ung thư, như ung thư ruột, ung thư phổi, ung thư gan. Bất cứ chỗ nào, bất cứ khi nào, bất cứ tuổi tác nào cũng có thể mắc bệnh và phải đối mặt với những khối ung hạch, ung nhọt, ung thư, ung bướu trong người.
Tất cả những điều đó là sự nguy hiểm và tác hại của thân xác, hình hài, vóc dáng này. Và sự mê lầm của tất cả chúng ta là chỉ thấy vị ngọt nên cứ đi tìm vị ngọt, hướng đến vị ngọt, tầm cầu, suy tư về vị ngọt mà không tác ý thường xuyên về sự nguy hiểm và tác hại của sắc thân này. Thế nên khi bất thình lình có nguy hiểm, tan nạn ập đến, làm cho tất cả những thứ đáng yêu, đáng vui, đáng thích, những thứ mình nuôi dưỡng, chất chứa, chắt chiu, tích luỹ, gom góp suốt mấy chục năm qua bỗng chốc tan biết hết thì mình sẽ thế nào? Khi đó ai ai cũng xa lánh, thậm chí người thân, vợ chồng cũng bỏ nhau vì thấy mình bị bệnh thì mình sẽ đau khổ đến mức nào, tâm mình có chịu nổi không, hay bên trong là sự oán giận, trách móc “tại sao lại vứt bỏ, khinh khi, coi tôi như là phế vật?”. Và sự thật lúc đó người này đã trở thành phế nhân, phế vật, là đồ bỏ, hết xài, đi đứng không xong, nói năng không được, bên trong ngập tràn những sự tức tưởi, bức xúc. Thậm chí có người trở thành người thực vật, phải nằm yên một chỗ, được người ta đút một cái ống vào người, mỗi ngày xay đồ ăn nhuyễn và đổ vào đó. Cứ nằm như vậy hết ngày này qua ngày khác, hết tuần này qua tuần khác, hết tháng này qua tháng khác, hết mùa này qua mùa kia, hết mùa kia qua năm nọ và cứ nằm như vậy ba năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm… cuối cùng nằm cho đến chết.
Sự nguy hiểm này thật đáng lo lắng, đáng sợ hãi, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy đến với mình và người thân. Chưa kể có nhiều người bị bệnh thần kinh, bệnh tâm thần nên bị chính cha, chính mẹ của mình nhốt lại và trói buộc bằng những sợi dây xích. Thật sự đau xót không thể diễn thành lời khi phải tự tay xiềng xích con mình lại, cho mặc đồ thì xé đồ, mỗi ngày đưa cơm phải trộn thêm thuốc an thần vào đó. Đây là chúng ta mới chỉ nói đến cảnh người chứ chưa bàn tới cảnh súc sanh, cô hồn, ngạ quỷ và địa ngục.
Khi Đức Thế Tôn thành tựu được sanh tử trí, túc mạng minh thì giống như Ngài nhìn thấy cả tỷ bộ phim trong vòng sanh tử của Ngài và chúng sanh và Ngài thốt lên “Đây là khổ!”. Ba chữ này đánh dấu cho sự đại triệt, đại ngộ, Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật khi Ngài nhìn được hết dòng sanh tử của tự thân mình và chúng sanh, thấy được sự nguy hiểm và tác hại của hình hài, thân xác, ngũ uẩn, tứ đại, sáu xứ, lục căn. Thế nhưng vì vô minh, vì ngu si mà chúng ta ở trong hình hài nào thì chúng ta cũng yêu thích, tự mãn, hài lòng trong đó và dù muốn thoát ra cũng không thể thoát được.
Thương thay tâm mờ tối
Chúng sanh đáng thương thay!
Khi chụp vào bất cứ hình hài nào thì chúng ta cũng vênh váo, ta đây, vỗ phình phịch lên ngực, khinh khi người khác, cho rằng mình hơn người rồi cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người. Cả đời cứ lo tranh đấu, lo giành giật, lo so đo, lo ganh tỵ, lo tích góp, lo chất chứa nhưng bất thình lình chỉ một tiếng “rầm” ở trên quốc lộ thì thân xác nằm dài; một cơn gió độc thổi qua làm đứt mạch máu, đột quỵ; một viên đạn, một mũi dao bất thình lình xuyên tim là mạng sống không còn; nửa đêm bất ngờ nhà cháy là chết hết cả nhà; đất sạt lở chôn vùi cả gia đình; đang ngồi ăn cơm thì lựu đạn bom nổ chết ngay tại bữa cơm… tất cả mọi chuyện xảy ra đều bất thình lình, bất ngờ. Trong khi đó, có những điều người ta có thể dự đoán, biết trước được là do người đó có phước, ít có ác nghiệp nên sống rất thọ, còn ai ác nghiệp nhiều thì không có được cuộc sống bình bình yên yên mà phải chịu những tai nạn bất ngờ ập tới và phải chết. Thậm chí có người chết nhưng không được thấy mặt người thân, họ bị nhiễm Covid-19 nên được đưa vào khu cách ly và chết luôn trong đó, cuối cùng chỉ còn một hủ cốt đưa về gia đình. Đó là những sự nguy hiểm, tai hoạ, bất an, lo lắng và sợ hãi của đời sống này. Mỗi ngày chúng ta quán chiếu sự nguy hại này được bao nhiêu lần hay lúc nào cũng nghĩ mình bình thường, hôm nay như thế này thì ngày mai cũng vậy và tuần sau, tháng sau, nhiều năm sau cũng không thay đổi. Đó là suy nghĩ của vô minh, si ám, ngu dại. Cho nên, chúng ta cần phải thường xuyên tác ý về sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này để bất cứ lúc nào thì tâm mình hướng đến sự xuất ly và thoát ra khỏi những tai nạn, hiểm hoại này. Đó là những nguy hại từ trong thân.
Với tình hình dịch Covid-19 hiện nay, những chuyên gia về ngành y trên thế giới đang rất lo sợ trường hợp biến thể mới Ocmiron nhập với biến thể cũ Delta thì sẽ trở thành một loại vi rút khủng khiếp, một người có thể bị nhiễm cùng lúc cả hai biến chủng này. Trước đó, biến chủng cũ đã làm chao đảo cả thế giới, khiến hàng trăm triệu người nhiễm dịch. Bây giờ lại xuất hiện thêm biến chủng mới, nếu nhập với biến chủng cũ thì có khả năng tạo thành một biến chủng khác. Đây là những nguy hại ngoài ngoại cảnh, còn gọi là ngoại sắc, ngoại tứ đại.
Tác ý hướng đến sự xuất ly
Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng tu học được bao nhiêu hay bấy nhiêu vì chưa chắc gì ngày mai còn được học nữa. Mỗi ngày khi lên ngồi thiền, khi được nghe pháp, khi được tu học, khi được làm việc công quả thì phải tác ý đây là buổi học, buổi tu, buổi làm việc cuối cùng, sau đó có thể không còn được học, được tu, được làm việc nữa. Tác ý như vậy để chúng ta trân trọng, đem cả trái tim và tấm lòng đặt vào trong buổi học, buổi thiền, buổi làm việc đó. Có như vậy thì chúng ta mới đánh đuổi được những tà tư duy, những cảm thọ si ám, hôn ám trong tâm. Chúng ta phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại rất dễ dàng ập đến với mình, cho nên, chúng ta đừng tham đắm trong đời sống, trong hình hài, trong sinh hoạt thường nhật này và mong cầu sự thoát ra.
Thế nên, Đức Phật dạy rằng, nếu hình hài này không có nguy hiểm thì chúng sanh có thể không nhàm chán đối với hình hài, thân xác này. Và vì rằng thân xác này chỉ toàn nguy hiểm, lo lắng, bất an, thống khổ, bệnh tật, chết chóc, diệt vong bên trong nên chúng sanh mới có sự nhàm chán đối với thân này. Chúng ta thường xuyên tác ý như vậy để nhàm chán đối với mắt; nhàm chán đối với lỗ tai; nhàm chán đối với lỗ mũi; nhàm chán đối với cái miệng, cái lưỡi; nhàm chán đối với cái thân; nhàm chán đối với tâm ý vì trong đó chỉ toàn những suy nghĩ về tham, sân, si, bản ngã, hơn thua. Huynh đệ, tỷ muội tu với nhau đã lâu, đã được học nhận diện ngũ uẩn nhưng nói chuyện với nhau một lúc cũng chạy theo tập khí và muốn hơn thua, mỗi lần như vậy chúng ta phải thấy nhàm chán, ngao ngán đối với những tập khí này. Thầy trò với nhau cũng toàn những suy nghĩ bắt bẻ, chống đối khi được chỉ dạy, vì vậy, cần phải tập nhàm chán đối với những ý ngu, ý mê, nhàm chán đối với tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo.
Chính vì vậy, chúng ta đừng hướng ra ngoài mà hãy cứ nhắm thẳng ngay ngũ uẩn của chính mình để xử lý, khi thấy được những rác bẩn trong tự thân là phải diệt tận. Còn ai tu học mà cứ hướng ra ngoài, lo dòm người này người kia thì suốt cuộc đời cũng không tu được, đi đến đâu cũng chỉ như cũ. Dù cho có đến hội chúng của bậc Thánh đi nữa thì cũng chỉ lo nhìn ngó người ta, mà bậc Thánh không phải ai cũng là A-la-hán, nhiều vị vẫn còn là bậc hữu học, cho nên, cứ lo nhìn ngó bên ngoài thì cuối cùng cũng sẽ phiền não. Chỉ duy nhất một việc quay lại nhiếp phục lậu hoặc của chính mình thì đây mới là thượng sách, là thượng nhân pháp, còn nhìn người khác thì chắc chắn sẽ có chuyện không hay xảy ra. Cho nên, hãy nhìn vào những nguy hiểm tồn tại bên trong chính mình, nhìn thấy ý nghĩ là nguy hiểm, nhìn thấy cảm thọ là nguy hiểm, nhìn thấy những hình bóng ám ảnh là tai hoạ, sau đó tìm cách để đánh đuổi, xoá sạch, diệt tận những cấu nhiễm này, như vậy mới chính là thượng sách, là sự xuất ly khỏi sự nguy hại này. Đây chính là định lý giải thoát, chúng ta không cần phải đi tìm loanh quanh ở đâu nữa, mà dù có chết cũng phải bám vào định lý này để thực hiện theo, như vậy mới là bậc đại trí, đại tuệ.
Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.
Ý nghĩ là nguy hiểm và tai hoạ, cảm giác là nguy hiểm và tai hoạ, hình bóng là nguy hiểm và tai hoạ, nhận thức là nguy hiểm và tai hoạ – chính những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, nhận thức này dẫn dắt chúng ta đi trong tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Cho nên, chúng ta phải hướng đến xuất ly, liên tục tác ý về sự thoát ra, mặc dù chưa thoát ngay được nhưng phải nhắc nhở liên tục, quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại thì chúng ta thấy tâm mình sẽ nới lỏng ra dần dần, sau đó từ từ sẽ có hướng rời ra, xa ra và cuối cùng là đi tới viễn ly, xuất ly, như vậy là Nhập Lưu. Nhờ sự tác ý, nhắc nhở, giáo dục, dạy dỗ để tâm này phải đi ra khỏi những vị ngọt, không được đi vào đó thì từ từ tâm này sẽ nghe lời, dễ bảo, như vậy là mình điều phục, chế ngự được nội tâm. Khi đã nghe lời thì sẽ có hướng thoát ra, hướng rời ra, hướng viễn ly, hướng xuất ly và nhờ đó chúng ta được bớt khổ, hết khổ. Còn nếu cứ ở trong đống khổ mà muốn được hết khổ thì chuyện đó không thể xảy ra, bắt buộc phải đi ra khỏi đống khổ thì mới có thể hết khổ.
Có Phật tử hỏi nếu ra khỏi ngũ uẩn thì tâm mình như thế nào, Minh Thành xin trả lời là lúc đó tâm sẽ hết khổ. Ngày nào chúng ta còn ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ngày đó còn khổ, khi đi ra khỏi năm đống khổ này thì mình hết khổ, được tự do, tự tại. Bởi lẽ, một khi còn ở trong ngũ uẩn thì chúng ta còn bị giới hạn, còn bị trói buộc, còn bị nắm chặt, mà cứ nắm chặt hoài thì sẽ khổ. Vì nắm chặt vào sắc này nên chúng sanh không thoát khỏi khổ, ngày xưa đôi mắt còn nhìn sáng rõ nhưng bây giờ mắt không còn thấy gì nữa nên tiếc nuối hoài; lỗ tai ngày xưa nhạy bén lắm nhưng bây giờ không còn nghe gì nữa nên đau khổ hoài; mặt mũi ngày xưa đẹp bao nhiêu thì bây giờ nhăn nheo bấy nhiêu nên cứ muốn che mặt lại; thân hình ngày xưa vạm vỡ còn hiện tại tiều tuỵ, gầy mòn nên không muốn ai nhìn thấy.
Thế nhưng, bản chất của thân tứ đại này là như vậy, thế nên chúng ta phải chấp nhận sự thật và sống một cách bình thản. Gương mặt là gương mặt, là sắc uẩn, không phải mình. Mình không phải sắc uẩn, sắc uẩn không phải mình. Con mắt là con mắt, là tứ đại, là cục thịt, là cục máu, là cục gân, chứ con mắt không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Cứ tác hoài như vậy thì chúng ta từ bỏ luôn ý niệm con mắt của tôi đang bệnh, mà rõ biết rằng con mắt bệnh nhưng mình không bệnh. Bằng không cứ mang trong người cảm thọ con mắt của tôi đang bệnh, rồi luôn nhớ nghĩ, nhắc đi nhắc lại về điều này là chúng ta đang bị trói buộc, nắm giữ, chấp thủ đối với suy nghĩ, tư tưởng đó và không thoát ra được.
Vì vậy, chúng ta phải loại bỏ ý nghĩ con mắt của tôi bị bệnh và biết rằng bản chất của thân nàyvốn dĩ phải như vậy, không thể làm cho nó khác được. Vạn vật đều nằm trong quy luật sanh-trụ-dị -diệt, thành-trụ-hoại-không, sanh-lão-bệnh-tử và hiện giờ con mắt này đang trong giai đoạn hoại diệt, điều này là lẽ đương nhiên. Giống như chưng hoa, khi nào hoa tàn thì mình dọn đi chứ không thể gặp ai cũng than thở về việc hoa đẹp mà bị tàn, vì hoa tàn là lẽ đương nhiên, hoa không tàn mới là chuyện lạ, việc chúng ta cần làm là phải chấp nhận sự tàn phai, tàn tạ, tà lụng của nó một cách điềm nhiên. Chính vì vậy, khi con mắt này bị hư hỏng, chúng ta cứ tác ý rằng: “Mắt bệnh nhưng tâm không bệnh, mắt mù nhưng tâm này càng toả sáng”. Có hai câu thơ rất hay để đại chúng tác ý:
Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.
(Tác phẩm Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
Sự đời này thà bị khuất hai tròng mắt, thà phải làm kẻ mù nhưng điều quan trọng nhất vẫn là làm sao lòng cầu đạo, lòng học đạo được tròn đầy như mặt gương. Dù đôi mắt thịt không còn thấy gì nữa nhưng đôi mắt pháp được sáng, đôi mắt tuệ được mở, đôi mắt tâm được toả rạng thì đây là điều vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Chúng ta phải tác ý về một đôi mắt pháp như vậy chứ không nên cứ nhớ nghĩ về đôi mắt bị bệnh, đôi mắt không thấy đường, vì khi nghĩ như thế là mình bị chấp thủ trong tư tưởng đó, bị trói cột trong suy nghĩ đó. Hơn nữa, do có tư tưởng, suy nghĩ con mắt của tôi bị bệnh thì sẽ có cảm thọ khổ đau, tiếc nuối đối với con mắt, điều này dẫn đến cảm thọ khổ đau, chấp thủ này xâm chiếm, an trú trong tâm mình.
Vì vậy, chúng ta phải giải toả, diệt tận ý nghĩ cho rằng: “Tôi bị bệnh, tôi không thấy đường” mà hãy tác ý rằng: “Tôi thấy được pháp, thấy được sự thật, thấy được Tứ Thánh Đế, thấy được Bát Chánh Đạo, thấy được khổ đau trong thân xác ngũ uẩn này, cho nên, tôi thấy được những cái mà người thế gian không thấy được”, đó là ý nghĩa của câu “lòng đạo xin tròn một tấm gương”. Tuy rằng đôi mắt thịt bị mù loà nhưng chúng ta thấy vui sướng, hạnh phúc vô cùng vì đôi mắt pháp đã được sáng tỏ. Bởi vì bản chất của mắt này là mù loà, bệnh tật, biến đổi và hoại diệt nên khi nó không còn nhìn thấy được nữa là lẽ đương nhiên, không có gì để nuối tiếc, thở than. Chúng ta phải dẹp bỏ, diệt tận những ý niệm chấp thủ ở trong tâm mình chứ không phải chỉ nói ngoài miệng, mỗi ngày phải thấy hoan hỷ, hân hoan và tác ý rằng: “Tôi không có bệnh, tôi không có mù, mà đôi mắt tuệ của tôi rất sáng tỏ”, hơn nữa, đối với gương mặt, thân thể cũng tác ý như vậy.
Đức Phật đã dạy: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi” (Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật), chúng ta tác ý như thế nào thì pháp đó sẽ tương ứng như vậy trong tâm. Minh Thành ví dụ, khi tu học mà cứ tác ý “mình bị bệnh, bị đau nhức, không tu nhiều được” thì chúng ta sẽ bị đau bệnh hoài. Ngược lại, khi tác ý “thân bệnh mà tâm không bệnh, phải mạnh mẽ lên, dũng mãnh lên để tu học” thì mình sẽ thoát ra khỏi sự chấp thủ trong suy tưởng, vượt ra ngoài giới hạn trong thọ, tưởng, hành. Vì các pháp lấy tác ý làm sanh khởi nên khi ta suy nghĩ về điều gì nhiều thì pháp đó sẽ có mặt, an trú trong tâm.
Khi có sự thực tập thì chúng ta sẽ thấy công năng của tác ý rất tuyệt vời, có hôm Minh Thành bị bệnh nhưng tác ý “thân bệnh nhưng tâm không bệnh, pháp không bệnh” là sau đó Minh Thành lên nói pháp và khỏi bệnh, đó là nhờ sự tác ý mà mình không còn mệt mỏi, đau bệnh nữa. Trái lại, nếu cứ nghĩ về bệnh tật, đau ốm, thuốc men rồi lo lắng không ngừng thì bệnh càng thêm nặng, từ bệnh nhẹ cũng trở thành bệnh nặng là do cách tác ý của họ. Cho nên, sự tác ý sẽ giúp cho chúng ta càng thêm mạnh mẽ, dũng mãnh, nếu mình là người yếu đuối thì cần phải thường xuyên tác ý về mãnh hổ lực, tinh tấn lực, oai hùng lực, đại hùng đại lực thì chắc chắn sẽ sanh khởi ra sức mạnh cho bản thân. Ví dụ đang ngồi nghe pháp ngoài trời, thời tiết rất lạnh thì chúng ta đừng tác ý về sự lạnh giá này, thay vào đó, hãy tác ý về hình ảnh ngọn lửa đang cháy rực trong tâm mình, đó chính là ngọn lửa nhiệt tâm, nhiệt thành, nồng nhiệt đang bốc cháy trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, tác ý một lúc như vậy thì mình sẽ cảm thấy được ấm hơn.
Vì tất cả pháp đều lấy tác ý là sanh khởi, cho nên mình phải điều khiển, dẫn dắt ngũ uẩn, chứ đừng để ngoại cảnh chi phối mình nhiều. Khi thực hành theo lời Đức Thế Tôn chỉ dạy thì chúng ta sẽ thấy hiệu quả rất tuyệt vời, cho nên, chúng ta cần phải tác ý thật nhiều để thoát ra khỏi sự trói buộc của ngũ uẩn, bằng không, mình sẽ bị chấp trước, hệ phược và giới hạn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Ví dụ trong suy nghĩ có sự chấp trước rằng “mình là nữ nên yếu đuối” thì người này sẽ không thể nào mạnh mẽ được, trong khi đó, chỉ có thân thể, sắc tướng bên ngoài mới phân biệt nam nữ; còn tâm này không có sự phân biệt nam nữ, không có tâm nào là nam, tâm nào là nữ cả. Cho nên, nếu có sự tác ý thoát ra ý nghĩ thân nữ yếu đuối thì mình sẽ làm được những việc mà người nữ không làm được. Ngược lại, cứ suy nghĩ theo thường tình rằng mình là nhi nữ yếu đuối thì chúng ta sẽ bị giới hạn, bị chấp trước, bị hệ phược trong ý niệm mình là nữ đó. Hoặc cứ nghĩ mình bị bệnh tật thì sẽ bị trói buộc, nắm giữ, giới hạn trong ý nghĩ bệnh đó. Mặc dù tác ý không thể làm khỏi bệnh hoàn toàn nhưng chính nhờ sự tác ý này giúp cho tâm được mạnh mẽ dù thân đang bênh yếu, hơn nữa có khi còn giúp cho cơn bệnh được giảm bớt. Chúng ta hãy nhìn vào bậc thiện tri thức tìm ra đạo lộ này, Người bị bệnh nặng đến cỡ nào nhưng làm được việc mà ngay cả trượng phu bình thường không làm được, đó là một mình biên tập hết Đại Tạng Kinh trong suốt một chục năm. Còn chúng ta nếu suốt ngày chỉ nhớ đến bệnh đau thì chắc sẽ nằm luôn, không dậy nổi, như vậy thì sao làm được việc gì, cho nên, cần phải điều khiển cảm thọ của mình bằng cách siêng năng tác ý, bằng không, mấy chục năm sau mình vẫn y như cũ, tu không tiến bộ.
Mỗi ngày phải đặt tâm vào sự tác ý để thoát ra sự nắm giữ, thoát ra sự trói cột, thoát ra những giới hạn trong tâm. Những suy nghĩ rất quan trọng, khi suy nghĩ về một điều gì hoài là pháp đó sẽ an trú trong tâm. Ví dụ, cứ suy nghĩ về từ bi hoài thì từ bi sẽ có mặt trong thân tâm; hay suy nghĩ hoài về tâm rộng mở, lan toả cùng khắp đất trời thì tâm rộng mở này an trú trong bên trong; hoặc cứ suy nghĩ, quán chiếu về cái khổ thường xuyên thì dần dần tham, sân, si sẽ bị nhiếp phục, giảm thiểu và diệt tận, bởi vì khi đã thấy khổ thì chúng ta không còn đi theo khổ nữa.
Như vậy, nhờ có sự tác ý theo Thánh trí nên có sự vượt ra khỏi những chấp thủ, hệ phược và giới hạn, Đức Phật gọi là “sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn”. Ngược lại, nếu để tâm này suy nghĩ theo những điều thường tình thì chúng ta sẽ theo thói quen, tập tánh mà chấp trước (nắm giữ) những suy nghĩ phàm phu, hơn nữa, tâm này sẽ bị hệ phược (trói cột) và bị giới hạn trong ý nghĩ đó. Cho nên, nếu không thấu suốt về ngũ uẩn, không khéo léo nhìn lại để tác ý thoát ra những sự chấp thủ này thì chúng ta sẽ bị chính những suy nghĩ của mình trói cột, cả ngày cứ lòng vòng, lẩn quẩn, nghĩ tới nghĩ lui, không đi ra được. Khi làm chuyện gì cũng nghĩ rằng “khó quá, không làm được” là không bao giờ làm được chuyện gì, suy nghĩ “mình không làm được” chính là suy nghĩ bị giới hạn. Khi chúng ta phá được suy nghĩ bị giới hạn này thì sẽ có được suy nghĩ không bị giới hạn.
Ví dụ, một người bị nghiện thuốc lá, người này muốn bỏ thuốc mà cứ suy nghĩ rằng “mình không bỏ được” thì sẽ không bao giờ bỏ được. Ít nhất trước hết người này phải nghĩ rằng “mình sẽ làm được”, nghĩa là đầu tiên phải đánh phá suy nghĩ không làm được và sau đó người này hành động. Hoặc khi giận người khác, mình cứ nghĩ rằng “do tính mình nóng, thường giận người ta nên không bỏ được tính nóng giận này”, như vậy là mình bị giới hạn trong cảm thọ giận này. Ngược lại, nếu suy nghĩ “mình sẽ thoát ra, xuất ly khỏi nó” thì suy nghĩ này mới đưa mình đến chỗ không bị giới hạn.
Mặt khác, nếu chỉ có suy nghĩ xuất ly thôi thì chưa đủ mà chúng ta cần phải thành tựu trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly; thấy được lợi ích, giá trị, thấy được sự an lạc, hạnh phúc của việc thoát khỏi những trói buộc để mình cảm thấy hân hoan và muốn hướng tới một đời sống cao thượng, thánh thiện, trí tuệ. Đồng thời phải thấy được sự nguy hiểm, tác hại, tai hại khi bị trói cột, nắm giữ, ràng buộc và sự an lạc, vui sướng, hạnh phúc của sự thoát ra. Lấy hai điều trái ngược này để đối chiếu và tác ý thì sẽ đưa mình đến chỗ xuất ly. Tức là chúng ta tác ý theo hai chiều hướng, một bên là bị đau khổ do những sự trói buộc, chấp thủ và một bên là được hạnh phúc nhờ sự từ bỏ, thoát ra. Mỗi ngày chúng ta ngồi lại để viết ra những điều khiến mình dính mắc, chấp thủ, đồng thời liệt kê ra những đau khổ phải chịu khi bị trói buộc vào điều đó. Ngược lại, khi thoát ra được những sự ràng buộc đó thì mình sẽ được hạnh phúc, an lạc, tự do, tự tại trong cuộc sống và không phải chịu những đau khổ, trói cột đã liệt kê ở trên. Từ đó giúp cho chúng ta có thêm động lực để từ bỏ những đau khổ và tu tập để hướng đến chỗ an lạc, bình an.
Như vậy, tất cả đều nhờ công năng của sự tác ý và muốn cho sự tác ý được viên mãn, rốt ráo thì phải thành tựu được trí tuệ. Cho nên chánh kiến dẫn đường cho sự tác ý, từ chánh kiến thì mới đến chánh tư duy, tức là từ sự thấy đúng mới dẫn đến suy nghĩ đúng.
./.
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 4
VỊ NGỌT - NGUY HẠI - SỰ XUẤT LY 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Nếu Không Có” PAGEREF _Toc92465271 \h 1
II.Quán chiếu về sự nguy hại PAGEREF _Toc92465272 \h 4
III.Tác ý hướng đến sự xuất ly PAGEREF _Toc92465273 \h 8
Bài kinh “Nếu Không Có”
Trong bài kinh “Nếu Không Có”, Tương Ưng Sáu Xứ, Đức Phật có dạy:
Nếu mắt không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, chúng sanh có thể không tham luyến mắt. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, mắt có vị ngọt nên chúng sanh tham luyến mắt.
Nếu mắt không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với mắt. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với mắt.
Nếu mắt không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi mắt. Và vì rằng mắt có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi mắt.
Nếu tai không có vị ngọt...
Nếu lưỡi không có vị ngọt...
Nếu thân không có vị ngọt...
Nếu thân không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với thân. Và vì rằng mắt có nguy hiểm nên chúng sanh nhàm chán đối với thân.
Nếu thân không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không có thể xuất ly khỏi thân. Và vì rằng thân có xuất ly nên chúng sanh có xuất ly khỏi thân.
Đức Phật tuyên bố vì mắt, tai, mũi, lưỡi thân có vị ngọt nên chúng sanh ham thích và ái luyến vào đó. Nếu mắt, tai, mũi, lưỡi thân này không có sự nguy hiểm thì chúng sanh có thể không nhàm chán.
Thế nhưng, vì mắt, tai, mũi, lưỡi thân này có sự nguy hiểm, có lo âu, có biến đổi, có biến hoại, có bệnh tật, có sợ hãi, có suy tàn, có tai nạn, có thống khổ nên chúng sanh nhàm chán đối với con mắt, lỗ tai, gương mặt, cái miệng, lỗ mũi, thân xác này. Chính vì thấy sự nguy hiểm của thân xác tứ đại này là vô thường, tai nạn, bệnh tật, hoạn nạn, suy tàn, diệt vong nên chúng sanh nhàm chán đối với nó.
Và nếu như thân xác, hình hài, mặt mũi, tay chân này không có sự thoát ra thì chúng sanh không thể nào ra khỏi hình hài, gương mặt, tay chân, mình mẩy này được. Nhưng chính vì có sự thoát ra nên chúng sanh có thể ra khỏi tấm thân tứ đại này.
Nếu ý không có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không tham luyến đối với ý. Và vì rằng ý có vị ngọt, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có tham luyến đối với ý.
Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.
Nếu ý không có xuất ly, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh không xuất ly ra khỏi ý. Và vì rằng ý có sự xuất ly, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh xuất ly ra khỏi ý.
Trong sự để ý có vị ngọt, chẳng hạn như khi để ý gương mặt, để ý ánh mắt, để ý cử chỉ, để ý đến hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm nên thích thú, khoan khoái. Vì sự để ý này có sự thích thú, khoan khoái, hấp dẫn, có vị ngọt nên chúng sanh yêu thích sự để ý, tác ý, suy tư này.
Thế nhưng vì tâm ý này có nguy hiểm, sự để ý này có hiểm hoạ, bị dục sai khiến, dẫn dắt, hành hạ, đày đoạ thân tâm nên sự để ý này cũng có bực tức, bực dọc, bực bội, nóng giận, thiêu đốt, sanh khởi lên tôi, ta, hơn thua, tranh đấu, mình, người. Bên cạnh đó, sự để ý này còn có những sự lo sợ, khổ đau, bất an, so đo, phân biệt, tính toán, tranh đấu và sanh khởi lên dục, tham, sân hận, bản ngã, hơn thua nên chúng sanh có thể nhàm chán đối với những tâm ý, nhàm chán đối với những sự để ý, tác ý đó. Và nếu ý không có sự thoát ra thì chúng sanh không thể thoát ra khỏi ý. Tuy nhiên, vì ý có sự thoát ra nên chúng sanh có thể thoát ra khỏi ý. Sau đó, Đức Phật nói tiếp:
Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này không như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh ấy cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã không sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn.
Đức Phật nói rằng, cho đến khi nào mà chúng sanh chưa thành tựu được trí tuệ thấy biết về vị ngọt, sự nguy hiểm và xuất ly một cách rốt ráo đối với hình hài, thân xác, sáu căn, sáu xứ này thì chúng sanh đó không thể sống với một tâm lìa nắm chặt (ly chấp trước), lìa trói buộc (ly hệ phược), được thoát ra và không thể nào không bị giới hạn bởi thân này. Như vậy, nếu không thấu suốt được vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly thì chúng sanh sẽ sống với một tâm nắm chặt và bị trói buộc vào mắt, tai, mũi, lươi, thân, ý này. Hơn nữa chúng sanh cũng không thể nào thoát ra khỏi thân cùng với sáu căn này, mà còn bị thân này, sáu căn này giới hạn.
Khi tâm bị giới hạn như vậy thì dù cho có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm, có xúc chạm, có nhận thức gì đi nữa thì cũng không thể đi ra khỏi thân xác vô thường, tứ đại, tạm bợ, nhỏ bé này; dù cho có nghĩ gì, suy tư gì, cảm thọ gì, nhận thức gì thì cũng không thể nào ra khỏi sáu xứ, sáu căn, năm uẩn này. Cho nên, với một nội tâm bị giới hạn thì dù có suy nghĩ đến mức nhức đầu vắt óc trong hàng nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, nhiều triệu năm, nhiều tỷ năm thì tất cả những suy nghĩ đó cũng không thể đi ra ngoài sáu căn, sáu xứ, tứ đại, ngũ uẩn. Khi đó, tất cả những sự thấy biết, suy tư, nhận thức, cảm thọ đều ở trong tứ đại, sáu căn, sáu xứ; bị giới hạn trong thân xác, hình hài, vóc dáng, sắc pháp; bị trói cột trong sự vô thường, hư ảo; bị giới hạn trong món đồ gốm chính là thân xác này nên vô cùng dễ tan, dễ vỡ, dễ nát, dễ bể.
Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, chúng sanh đối với sáu nội xứ này đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly; cho nên, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh cùng với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, đã sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, bài kinh Nếu Không Có)
Cuối cùng, Đức Phật nói rằng, cho đến khi nào chúng sanh thật sự thấu suốt triệt để về vị ngọt, sự nguy hại và sự thoát ra của hình hài này, của sáu xứ này thì đến khi ấy người này mới sống với tâm lìa dính mắc, lìa chấp thủ, rời trói cột, được thoát ra và không còn bị giới hạn nữa.
Quán chiếu về sự nguy hại
Như vậy, qua bài kinh trên, Đức Phật dạy rằng, nếu hình hài này không có vị ngọt thì chúng sanh không có sự tham luyến, nhưng vì thân thể này thật sự có vị ngọt cho nên chúng sanh ham thích và ái luyến. Người ta làm lụng vất vả cả ngày chỉ để hưởng thụ một chút vị ngọt, sau đó họ hài lòng, tiếp tục đi cày bừa và như thế là nhọc nhằn suốt đời, suốt kiếp, suốt năm, suốt tháng. Hơn nữa, không chỉ người nghèo thiếu mới nhọc nhằn, mà người giàu có cũng bất an để tìm được vị ngọt. Hoặc là vị ngọt ở trong thức ăn, hoặc là vị ngọt ở trong danh tiếng, hoặc là vị ngọt ở trong địa vị, hoặc là vị ngọt ở trong tài sản. Vì một chút vị ngọt đó mà người ta tham luyến, muốn thêm nhiều hơn nữa và lưu luyến đối với vị ngọt đó, không nỡ rời xa.
Thế nhưng, trong đó có sự nguy hiểm và tác hại mà người ta không thấy. Nếu thân thể này không nguy hiểm, không có sự suy tàn, bệnh tật, tử vong và tai nạn thì chúng sanh có thể không nhàm chán đối với thân thể này. Thế nhưng sự thật là thân này có sự biến hoại, suy tàn, bệnh tật, lão hoá, già nua, chịu sự vô thường, biến đổi nên chúng sanh nhàm chán nó. Nhiều người khi tuổi già đến thì bị con cái đối xử với họ rất tàn nhẫn. Cả một cuộc đời lo lắng, hy sinh, chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, cho học hành, dựng vợ gả chồng, thành gia lập nghiệp, sau đó hy sinh lo cho cháu, cuối cùng đến tuổi già, nếu con có hiểu thì đỡ, còn con bất hiếu thì xem cha mẹ như phế nhân, phế vật. Ăn uống thì run rẩy, rớt bể, đổ tháo; đi thì phải có người dẫn dắt; bên trong đầy sự bức xúc nên cứ mắng chửi, sân hận, nhớ về quá khứ, sống với dĩ vãng đã qua. Người này bên trong bị những sự bực bội, sân giận thiêu đốt; còn bên ngoài chịu sự khó chịu của con cháu, một tâm thức như vậy thật sự rất đau khổ. Đó chính là sự nguy hại của sắc pháp, sắc uẩn này.
Chúng ta cũng vậy, đừng tưởng đi tu thì không già, không bệnh, không chết, chỉ trừ người nào chứng đạt được bất tử thì mới không phải chịu sự chi phối của già, bệnh, chết, còn lại thì ai ai cũng phải đi đến chỗ già, bệnh, chết, trở thành phế nhân, phế vật, nằm một chỗ. Cho nên, nếu không tích tụ được những thiện pháp, công đức, giới đức, thiền định, trí tuệ thì thật sự vô cùng nguy hiểm, hiểm hoạ đối với hình hài này. Cả cuộc đời loay hoay giành giật, bon chen, lo cạnh tranh, hơn thua, gom góp, tích luỹ, chất chứa, khi tuổi già đến thì bất thình lình bị tai biến mạch máu não, đột quỵ mà chết. Hoặc chỉ mắc một căn bệnh tiểu đường nhưng nó biến chứng thì vô cùng khủng khiếp, đừng nói chi đến những căn bệnh nan y, ung thư, phải hoá trị để sống thêm từng ngày với một tấm thân giống như một bộ xương di động.
Khi Minh Thành qua Úc chia sẻ pháp thì được một Phật tử mời đến thăm gia đình để chúc nguyện và cầu an. Gia đình này rất khá giả, con cháu ai nấy cũng đều cao lớn, tốt tướng, có học vị, bằng cấp đầy đủ và đều có trí thức. Thế nhưng khi nhìn đến người mẹ thì Minh Thành thấy cô này chỉ còn hơn hai mươi mấy kí, trong khi người mẹ này lúc chưa bị bệnh là một người hết sức xinh đẹp, sang trọng, quý phái. Hiện tại người mẹ chỉ là một bộ xương được bọc bởi lớp da và xung quanh là những người thân đang rướm nước mắt, trào tuôn ra những giọt lệ. Chúng ta thấy rằng, tự thân người này đau khổ, những người quyến thuộc xung quanh cũng xót xa, đau khổ. Không ai có thể thay thế được bệnh tật, thay thế được cảm thọ đau đớn, thay thế những sự quằn quại, khổ thọ cho người mẹ này. Cho nên, một khi tử thần đến, một khi thiên sứ của những cơn bệnh đến thì không bà con, không cha con, không mẹ con, không anh chị em nào có thể che chở cho mình được. Không có bất cứ một ai có thể che chở cho chúng ta nếu chúng ta không có phước huệ, không có trí tuệ, không có sự thành tựu pháp, không tịnh tín bất động đối với pháp, đối với tự thân thì lúc đó mình sẽ rất đau khổ, hốt hoảng, kinh hãi.
Vài hôm trước, Minh Thành vô tình nhìn thấy hình ảnh của một cậu thanh niên trước khi bị bệnh và sau khi bị bệnh là không thể tưởng tượng nổi. Thân thể cậu này chỉ còn lại một bộ xương, chân phải co lại, không thẳng ra được và nổi mẫn đỏ khắp người. Có rất nhiều những dị dạng, dị hình, dị tật, dị chứng nan y và nhiều chứng bệnh lạ trên cuộc đời này. Đôi khi chỉ từ một mẫn ngứa trên người nhưng sau khi người này gãi thì nó lan ra, sưng lên, mẫn ngứa nổi khắp người, trong đó chỉ toàn là mủ và máu, khiến người này trở thành cùi hủi. Đây chỉ là những chứng bệnh bên ngoài mà chúng ta có thể nhìn thấy được, còn bên trong thân này là những khối ung thư, như ung thư ruột, ung thư phổi, ung thư gan. Bất cứ chỗ nào, bất cứ khi nào, bất cứ tuổi tác nào cũng có thể mắc bệnh và phải đối mặt với những khối ung hạch, ung nhọt, ung thư, ung bướu trong người.
Tất cả những điều đó là sự nguy hiểm và tác hại của thân xác, hình hài, vóc dáng này. Và sự mê lầm của tất cả chúng ta là chỉ thấy vị ngọt nên cứ đi tìm vị ngọt, hướng đến vị ngọt, tầm cầu, suy tư về vị ngọt mà không tác ý thường xuyên về sự nguy hiểm và tác hại của sắc thân này. Thế nên khi bất thình lình có nguy hiểm, tan nạn ập đến, làm cho tất cả những thứ đáng yêu, đáng vui, đáng thích, những thứ mình nuôi dưỡng, chất chứa, chắt chiu, tích luỹ, gom góp suốt mấy chục năm qua bỗng chốc tan biết hết thì mình sẽ thế nào? Khi đó ai ai cũng xa lánh, thậm chí người thân, vợ chồng cũng bỏ nhau vì thấy mình bị bệnh thì mình sẽ đau khổ đến mức nào, tâm mình có chịu nổi không, hay bên trong là sự oán giận, trách móc “tại sao lại vứt bỏ, khinh khi, coi tôi như là phế vật?”. Và sự thật lúc đó người này đã trở thành phế nhân, phế vật, là đồ bỏ, hết xài, đi đứng không xong, nói năng không được, bên trong ngập tràn những sự tức tưởi, bức xúc. Thậm chí có người trở thành người thực vật, phải nằm yên một chỗ, được người ta đút một cái ống vào người, mỗi ngày xay đồ ăn nhuyễn và đổ vào đó. Cứ nằm như vậy hết ngày này qua ngày khác, hết tuần này qua tuần khác, hết tháng này qua tháng khác, hết mùa này qua mùa kia, hết mùa kia qua năm nọ và cứ nằm như vậy ba năm, bảy năm, mười năm, hai mươi năm… cuối cùng nằm cho đến chết.
Sự nguy hiểm này thật đáng lo lắng, đáng sợ hãi, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy đến với mình và người thân. Chưa kể có nhiều người bị bệnh thần kinh, bệnh tâm thần nên bị chính cha, chính mẹ của mình nhốt lại và trói buộc bằng những sợi dây xích. Thật sự đau xót không thể diễn thành lời khi phải tự tay xiềng xích con mình lại, cho mặc đồ thì xé đồ, mỗi ngày đưa cơm phải trộn thêm thuốc an thần vào đó. Đây là chúng ta mới chỉ nói đến cảnh người chứ chưa bàn tới cảnh súc sanh, cô hồn, ngạ quỷ và địa ngục.
Khi Đức Thế Tôn thành tựu được sanh tử trí, túc mạng minh thì giống như Ngài nhìn thấy cả tỷ bộ phim trong vòng sanh tử của Ngài và chúng sanh và Ngài thốt lên “Đây là khổ!”. Ba chữ này đánh dấu cho sự đại triệt, đại ngộ, Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật khi Ngài nhìn được hết dòng sanh tử của tự thân mình và chúng sanh, thấy được sự nguy hiểm và tác hại của hình hài, thân xác, ngũ uẩn, tứ đại, sáu xứ, lục căn. Thế nhưng vì vô minh, vì ngu si mà chúng ta ở trong hình hài nào thì chúng ta cũng yêu thích, tự mãn, hài lòng trong đó và dù muốn thoát ra cũng không thể thoát được.
Thương thay tâm mờ tối
Chúng sanh đáng thương thay!
Khi chụp vào bất cứ hình hài nào thì chúng ta cũng vênh váo, ta đây, vỗ phình phịch lên ngực, khinh khi người khác, cho rằng mình hơn người rồi cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người. Cả đời cứ lo tranh đấu, lo giành giật, lo so đo, lo ganh tỵ, lo tích góp, lo chất chứa nhưng bất thình lình chỉ một tiếng “rầm” ở trên quốc lộ thì thân xác nằm dài; một cơn gió độc thổi qua làm đứt mạch máu, đột quỵ; một viên đạn, một mũi dao bất thình lình xuyên tim là mạng sống không còn; nửa đêm bất ngờ nhà cháy là chết hết cả nhà; đất sạt lở chôn vùi cả gia đình; đang ngồi ăn cơm thì lựu đạn bom nổ chết ngay tại bữa cơm… tất cả mọi chuyện xảy ra đều bất thình lình, bất ngờ. Trong khi đó, có những điều người ta có thể dự đoán, biết trước được là do người đó có phước, ít có ác nghiệp nên sống rất thọ, còn ai ác nghiệp nhiều thì không có được cuộc sống bình bình yên yên mà phải chịu những tai nạn bất ngờ ập tới và phải chết. Thậm chí có người chết nhưng không được thấy mặt người thân, họ bị nhiễm Covid-19 nên được đưa vào khu cách ly và chết luôn trong đó, cuối cùng chỉ còn một hủ cốt đưa về gia đình. Đó là những sự nguy hiểm, tai hoạ, bất an, lo lắng và sợ hãi của đời sống này. Mỗi ngày chúng ta quán chiếu sự nguy hại này được bao nhiêu lần hay lúc nào cũng nghĩ mình bình thường, hôm nay như thế này thì ngày mai cũng vậy và tuần sau, tháng sau, nhiều năm sau cũng không thay đổi. Đó là suy nghĩ của vô minh, si ám, ngu dại. Cho nên, chúng ta cần phải thường xuyên tác ý về sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này để bất cứ lúc nào thì tâm mình hướng đến sự xuất ly và thoát ra khỏi những tai nạn, hiểm hoại này. Đó là những nguy hại từ trong thân.
Với tình hình dịch Covid-19 hiện nay, những chuyên gia về ngành y trên thế giới đang rất lo sợ trường hợp biến thể mới Ocmiron nhập với biến thể cũ Delta thì sẽ trở thành một loại vi rút khủng khiếp, một người có thể bị nhiễm cùng lúc cả hai biến chủng này. Trước đó, biến chủng cũ đã làm chao đảo cả thế giới, khiến hàng trăm triệu người nhiễm dịch. Bây giờ lại xuất hiện thêm biến chủng mới, nếu nhập với biến chủng cũ thì có khả năng tạo thành một biến chủng khác. Đây là những nguy hại ngoài ngoại cảnh, còn gọi là ngoại sắc, ngoại tứ đại.
Tác ý hướng đến sự xuất ly
Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng tu học được bao nhiêu hay bấy nhiêu vì chưa chắc gì ngày mai còn được học nữa. Mỗi ngày khi lên ngồi thiền, khi được nghe pháp, khi được tu học, khi được làm việc công quả thì phải tác ý đây là buổi học, buổi tu, buổi làm việc cuối cùng, sau đó có thể không còn được học, được tu, được làm việc nữa. Tác ý như vậy để chúng ta trân trọng, đem cả trái tim và tấm lòng đặt vào trong buổi học, buổi thiền, buổi làm việc đó. Có như vậy thì chúng ta mới đánh đuổi được những tà tư duy, những cảm thọ si ám, hôn ám trong tâm. Chúng ta phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại rất dễ dàng ập đến với mình, cho nên, chúng ta đừng tham đắm trong đời sống, trong hình hài, trong sinh hoạt thường nhật này và mong cầu sự thoát ra.
Thế nên, Đức Phật dạy rằng, nếu hình hài này không có nguy hiểm thì chúng sanh có thể không nhàm chán đối với hình hài, thân xác này. Và vì rằng thân xác này chỉ toàn nguy hiểm, lo lắng, bất an, thống khổ, bệnh tật, chết chóc, diệt vong bên trong nên chúng sanh mới có sự nhàm chán đối với thân này. Chúng ta thường xuyên tác ý như vậy để nhàm chán đối với mắt; nhàm chán đối với lỗ tai; nhàm chán đối với lỗ mũi; nhàm chán đối với cái miệng, cái lưỡi; nhàm chán đối với cái thân; nhàm chán đối với tâm ý vì trong đó chỉ toàn những suy nghĩ về tham, sân, si, bản ngã, hơn thua. Huynh đệ, tỷ muội tu với nhau đã lâu, đã được học nhận diện ngũ uẩn nhưng nói chuyện với nhau một lúc cũng chạy theo tập khí và muốn hơn thua, mỗi lần như vậy chúng ta phải thấy nhàm chán, ngao ngán đối với những tập khí này. Thầy trò với nhau cũng toàn những suy nghĩ bắt bẻ, chống đối khi được chỉ dạy, vì vậy, cần phải tập nhàm chán đối với những ý ngu, ý mê, nhàm chán đối với tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo.
Chính vì vậy, chúng ta đừng hướng ra ngoài mà hãy cứ nhắm thẳng ngay ngũ uẩn của chính mình để xử lý, khi thấy được những rác bẩn trong tự thân là phải diệt tận. Còn ai tu học mà cứ hướng ra ngoài, lo dòm người này người kia thì suốt cuộc đời cũng không tu được, đi đến đâu cũng chỉ như cũ. Dù cho có đến hội chúng của bậc Thánh đi nữa thì cũng chỉ lo nhìn ngó người ta, mà bậc Thánh không phải ai cũng là A-la-hán, nhiều vị vẫn còn là bậc hữu học, cho nên, cứ lo nhìn ngó bên ngoài thì cuối cùng cũng sẽ phiền não. Chỉ duy nhất một việc quay lại nhiếp phục lậu hoặc của chính mình thì đây mới là thượng sách, là thượng nhân pháp, còn nhìn người khác thì chắc chắn sẽ có chuyện không hay xảy ra. Cho nên, hãy nhìn vào những nguy hiểm tồn tại bên trong chính mình, nhìn thấy ý nghĩ là nguy hiểm, nhìn thấy cảm thọ là nguy hiểm, nhìn thấy những hình bóng ám ảnh là tai hoạ, sau đó tìm cách để đánh đuổi, xoá sạch, diệt tận những cấu nhiễm này, như vậy mới chính là thượng sách, là sự xuất ly khỏi sự nguy hại này. Đây chính là định lý giải thoát, chúng ta không cần phải đi tìm loanh quanh ở đâu nữa, mà dù có chết cũng phải bám vào định lý này để thực hiện theo, như vậy mới là bậc đại trí, đại tuệ.
Nếu ý không có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, thời chúng sanh có thể không nhàm chán đối với ý. Và vì rằng ý có nguy hiểm, này các Tỷ-kheo, nên chúng sanh có nhàm chán đối với ý.
Ý nghĩ là nguy hiểm và tai hoạ, cảm giác là nguy hiểm và tai hoạ, hình bóng là nguy hiểm và tai hoạ, nhận thức là nguy hiểm và tai hoạ – chính những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, nhận thức này dẫn dắt chúng ta đi trong tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Cho nên, chúng ta phải hướng đến xuất ly, liên tục tác ý về sự thoát ra, mặc dù chưa thoát ngay được nhưng phải nhắc nhở liên tục, quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại thì chúng ta thấy tâm mình sẽ nới lỏng ra dần dần, sau đó từ từ sẽ có hướng rời ra, xa ra và cuối cùng là đi tới viễn ly, xuất ly, như vậy là Nhập Lưu. Nhờ sự tác ý, nhắc nhở, giáo dục, dạy dỗ để tâm này phải đi ra khỏi những vị ngọt, không được đi vào đó thì từ từ tâm này sẽ nghe lời, dễ bảo, như vậy là mình điều phục, chế ngự được nội tâm. Khi đã nghe lời thì sẽ có hướng thoát ra, hướng rời ra, hướng viễn ly, hướng xuất ly và nhờ đó chúng ta được bớt khổ, hết khổ. Còn nếu cứ ở trong đống khổ mà muốn được hết khổ thì chuyện đó không thể xảy ra, bắt buộc phải đi ra khỏi đống khổ thì mới có thể hết khổ.
Có Phật tử hỏi nếu ra khỏi ngũ uẩn thì tâm mình như thế nào, Minh Thành xin trả lời là lúc đó tâm sẽ hết khổ. Ngày nào chúng ta còn ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ngày đó còn khổ, khi đi ra khỏi năm đống khổ này thì mình hết khổ, được tự do, tự tại. Bởi lẽ, một khi còn ở trong ngũ uẩn thì chúng ta còn bị giới hạn, còn bị trói buộc, còn bị nắm chặt, mà cứ nắm chặt hoài thì sẽ khổ. Vì nắm chặt vào sắc này nên chúng sanh không thoát khỏi khổ, ngày xưa đôi mắt còn nhìn sáng rõ nhưng bây giờ mắt không còn thấy gì nữa nên tiếc nuối hoài; lỗ tai ngày xưa nhạy bén lắm nhưng bây giờ không còn nghe gì nữa nên đau khổ hoài; mặt mũi ngày xưa đẹp bao nhiêu thì bây giờ nhăn nheo bấy nhiêu nên cứ muốn che mặt lại; thân hình ngày xưa vạm vỡ còn hiện tại tiều tuỵ, gầy mòn nên không muốn ai nhìn thấy.
Thế nhưng, bản chất của thân tứ đại này là như vậy, thế nên chúng ta phải chấp nhận sự thật và sống một cách bình thản. Gương mặt là gương mặt, là sắc uẩn, không phải mình. Mình không phải sắc uẩn, sắc uẩn không phải mình. Con mắt là con mắt, là tứ đại, là cục thịt, là cục máu, là cục gân, chứ con mắt không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Cứ tác hoài như vậy thì chúng ta từ bỏ luôn ý niệm con mắt của tôi đang bệnh, mà rõ biết rằng con mắt bệnh nhưng mình không bệnh. Bằng không cứ mang trong người cảm thọ con mắt của tôi đang bệnh, rồi luôn nhớ nghĩ, nhắc đi nhắc lại về điều này là chúng ta đang bị trói buộc, nắm giữ, chấp thủ đối với suy nghĩ, tư tưởng đó và không thoát ra được.
Vì vậy, chúng ta phải loại bỏ ý nghĩ con mắt của tôi bị bệnh và biết rằng bản chất của thân nàyvốn dĩ phải như vậy, không thể làm cho nó khác được. Vạn vật đều nằm trong quy luật sanh-trụ-dị -diệt, thành-trụ-hoại-không, sanh-lão-bệnh-tử và hiện giờ con mắt này đang trong giai đoạn hoại diệt, điều này là lẽ đương nhiên. Giống như chưng hoa, khi nào hoa tàn thì mình dọn đi chứ không thể gặp ai cũng than thở về việc hoa đẹp mà bị tàn, vì hoa tàn là lẽ đương nhiên, hoa không tàn mới là chuyện lạ, việc chúng ta cần làm là phải chấp nhận sự tàn phai, tàn tạ, tà lụng của nó một cách điềm nhiên. Chính vì vậy, khi con mắt này bị hư hỏng, chúng ta cứ tác ý rằng: “Mắt bệnh nhưng tâm không bệnh, mắt mù nhưng tâm này càng toả sáng”. Có hai câu thơ rất hay để đại chúng tác ý:
Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương.
(Tác phẩm Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
Sự đời này thà bị khuất hai tròng mắt, thà phải làm kẻ mù nhưng điều quan trọng nhất vẫn là làm sao lòng cầu đạo, lòng học đạo được tròn đầy như mặt gương. Dù đôi mắt thịt không còn thấy gì nữa nhưng đôi mắt pháp được sáng, đôi mắt tuệ được mở, đôi mắt tâm được toả rạng thì đây là điều vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Chúng ta phải tác ý về một đôi mắt pháp như vậy chứ không nên cứ nhớ nghĩ về đôi mắt bị bệnh, đôi mắt không thấy đường, vì khi nghĩ như thế là mình bị chấp thủ trong tư tưởng đó, bị trói cột trong suy nghĩ đó. Hơn nữa, do có tư tưởng, suy nghĩ con mắt của tôi bị bệnh thì sẽ có cảm thọ khổ đau, tiếc nuối đối với con mắt, điều này dẫn đến cảm thọ khổ đau, chấp thủ này xâm chiếm, an trú trong tâm mình.
Vì vậy, chúng ta phải giải toả, diệt tận ý nghĩ cho rằng: “Tôi bị bệnh, tôi không thấy đường” mà hãy tác ý rằng: “Tôi thấy được pháp, thấy được sự thật, thấy được Tứ Thánh Đế, thấy được Bát Chánh Đạo, thấy được khổ đau trong thân xác ngũ uẩn này, cho nên, tôi thấy được những cái mà người thế gian không thấy được”, đó là ý nghĩa của câu “lòng đạo xin tròn một tấm gương”. Tuy rằng đôi mắt thịt bị mù loà nhưng chúng ta thấy vui sướng, hạnh phúc vô cùng vì đôi mắt pháp đã được sáng tỏ. Bởi vì bản chất của mắt này là mù loà, bệnh tật, biến đổi và hoại diệt nên khi nó không còn nhìn thấy được nữa là lẽ đương nhiên, không có gì để nuối tiếc, thở than. Chúng ta phải dẹp bỏ, diệt tận những ý niệm chấp thủ ở trong tâm mình chứ không phải chỉ nói ngoài miệng, mỗi ngày phải thấy hoan hỷ, hân hoan và tác ý rằng: “Tôi không có bệnh, tôi không có mù, mà đôi mắt tuệ của tôi rất sáng tỏ”, hơn nữa, đối với gương mặt, thân thể cũng tác ý như vậy.
Đức Phật đã dạy: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi” (Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật), chúng ta tác ý như thế nào thì pháp đó sẽ tương ứng như vậy trong tâm. Minh Thành ví dụ, khi tu học mà cứ tác ý “mình bị bệnh, bị đau nhức, không tu nhiều được” thì chúng ta sẽ bị đau bệnh hoài. Ngược lại, khi tác ý “thân bệnh mà tâm không bệnh, phải mạnh mẽ lên, dũng mãnh lên để tu học” thì mình sẽ thoát ra khỏi sự chấp thủ trong suy tưởng, vượt ra ngoài giới hạn trong thọ, tưởng, hành. Vì các pháp lấy tác ý làm sanh khởi nên khi ta suy nghĩ về điều gì nhiều thì pháp đó sẽ có mặt, an trú trong tâm.
Khi có sự thực tập thì chúng ta sẽ thấy công năng của tác ý rất tuyệt vời, có hôm Minh Thành bị bệnh nhưng tác ý “thân bệnh nhưng tâm không bệnh, pháp không bệnh” là sau đó Minh Thành lên nói pháp và khỏi bệnh, đó là nhờ sự tác ý mà mình không còn mệt mỏi, đau bệnh nữa. Trái lại, nếu cứ nghĩ về bệnh tật, đau ốm, thuốc men rồi lo lắng không ngừng thì bệnh càng thêm nặng, từ bệnh nhẹ cũng trở thành bệnh nặng là do cách tác ý của họ. Cho nên, sự tác ý sẽ giúp cho chúng ta càng thêm mạnh mẽ, dũng mãnh, nếu mình là người yếu đuối thì cần phải thường xuyên tác ý về mãnh hổ lực, tinh tấn lực, oai hùng lực, đại hùng đại lực thì chắc chắn sẽ sanh khởi ra sức mạnh cho bản thân. Ví dụ đang ngồi nghe pháp ngoài trời, thời tiết rất lạnh thì chúng ta đừng tác ý về sự lạnh giá này, thay vào đó, hãy tác ý về hình ảnh ngọn lửa đang cháy rực trong tâm mình, đó chính là ngọn lửa nhiệt tâm, nhiệt thành, nồng nhiệt đang bốc cháy trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, tác ý một lúc như vậy thì mình sẽ cảm thấy được ấm hơn.
Vì tất cả pháp đều lấy tác ý là sanh khởi, cho nên mình phải điều khiển, dẫn dắt ngũ uẩn, chứ đừng để ngoại cảnh chi phối mình nhiều. Khi thực hành theo lời Đức Thế Tôn chỉ dạy thì chúng ta sẽ thấy hiệu quả rất tuyệt vời, cho nên, chúng ta cần phải tác ý thật nhiều để thoát ra khỏi sự trói buộc của ngũ uẩn, bằng không, mình sẽ bị chấp trước, hệ phược và giới hạn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Ví dụ trong suy nghĩ có sự chấp trước rằng “mình là nữ nên yếu đuối” thì người này sẽ không thể nào mạnh mẽ được, trong khi đó, chỉ có thân thể, sắc tướng bên ngoài mới phân biệt nam nữ; còn tâm này không có sự phân biệt nam nữ, không có tâm nào là nam, tâm nào là nữ cả. Cho nên, nếu có sự tác ý thoát ra ý nghĩ thân nữ yếu đuối thì mình sẽ làm được những việc mà người nữ không làm được. Ngược lại, cứ suy nghĩ theo thường tình rằng mình là nhi nữ yếu đuối thì chúng ta sẽ bị giới hạn, bị chấp trước, bị hệ phược trong ý niệm mình là nữ đó. Hoặc cứ nghĩ mình bị bệnh tật thì sẽ bị trói buộc, nắm giữ, giới hạn trong ý nghĩ bệnh đó. Mặc dù tác ý không thể làm khỏi bệnh hoàn toàn nhưng chính nhờ sự tác ý này giúp cho tâm được mạnh mẽ dù thân đang bênh yếu, hơn nữa có khi còn giúp cho cơn bệnh được giảm bớt. Chúng ta hãy nhìn vào bậc thiện tri thức tìm ra đạo lộ này, Người bị bệnh nặng đến cỡ nào nhưng làm được việc mà ngay cả trượng phu bình thường không làm được, đó là một mình biên tập hết Đại Tạng Kinh trong suốt một chục năm. Còn chúng ta nếu suốt ngày chỉ nhớ đến bệnh đau thì chắc sẽ nằm luôn, không dậy nổi, như vậy thì sao làm được việc gì, cho nên, cần phải điều khiển cảm thọ của mình bằng cách siêng năng tác ý, bằng không, mấy chục năm sau mình vẫn y như cũ, tu không tiến bộ.
Mỗi ngày phải đặt tâm vào sự tác ý để thoát ra sự nắm giữ, thoát ra sự trói cột, thoát ra những giới hạn trong tâm. Những suy nghĩ rất quan trọng, khi suy nghĩ về một điều gì hoài là pháp đó sẽ an trú trong tâm. Ví dụ, cứ suy nghĩ về từ bi hoài thì từ bi sẽ có mặt trong thân tâm; hay suy nghĩ hoài về tâm rộng mở, lan toả cùng khắp đất trời thì tâm rộng mở này an trú trong bên trong; hoặc cứ suy nghĩ, quán chiếu về cái khổ thường xuyên thì dần dần tham, sân, si sẽ bị nhiếp phục, giảm thiểu và diệt tận, bởi vì khi đã thấy khổ thì chúng ta không còn đi theo khổ nữa.
Như vậy, nhờ có sự tác ý theo Thánh trí nên có sự vượt ra khỏi những chấp thủ, hệ phược và giới hạn, Đức Phật gọi là “sống với tâm được ly chấp trước, ly hệ phược, được giải thoát, không bị giới hạn”. Ngược lại, nếu để tâm này suy nghĩ theo những điều thường tình thì chúng ta sẽ theo thói quen, tập tánh mà chấp trước (nắm giữ) những suy nghĩ phàm phu, hơn nữa, tâm này sẽ bị hệ phược (trói cột) và bị giới hạn trong ý nghĩ đó. Cho nên, nếu không thấu suốt về ngũ uẩn, không khéo léo nhìn lại để tác ý thoát ra những sự chấp thủ này thì chúng ta sẽ bị chính những suy nghĩ của mình trói cột, cả ngày cứ lòng vòng, lẩn quẩn, nghĩ tới nghĩ lui, không đi ra được. Khi làm chuyện gì cũng nghĩ rằng “khó quá, không làm được” là không bao giờ làm được chuyện gì, suy nghĩ “mình không làm được” chính là suy nghĩ bị giới hạn. Khi chúng ta phá được suy nghĩ bị giới hạn này thì sẽ có được suy nghĩ không bị giới hạn.
Ví dụ, một người bị nghiện thuốc lá, người này muốn bỏ thuốc mà cứ suy nghĩ rằng “mình không bỏ được” thì sẽ không bao giờ bỏ được. Ít nhất trước hết người này phải nghĩ rằng “mình sẽ làm được”, nghĩa là đầu tiên phải đánh phá suy nghĩ không làm được và sau đó người này hành động. Hoặc khi giận người khác, mình cứ nghĩ rằng “do tính mình nóng, thường giận người ta nên không bỏ được tính nóng giận này”, như vậy là mình bị giới hạn trong cảm thọ giận này. Ngược lại, nếu suy nghĩ “mình sẽ thoát ra, xuất ly khỏi nó” thì suy nghĩ này mới đưa mình đến chỗ không bị giới hạn.
Mặt khác, nếu chỉ có suy nghĩ xuất ly thôi thì chưa đủ mà chúng ta cần phải thành tựu trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly; thấy được lợi ích, giá trị, thấy được sự an lạc, hạnh phúc của việc thoát khỏi những trói buộc để mình cảm thấy hân hoan và muốn hướng tới một đời sống cao thượng, thánh thiện, trí tuệ. Đồng thời phải thấy được sự nguy hiểm, tác hại, tai hại khi bị trói cột, nắm giữ, ràng buộc và sự an lạc, vui sướng, hạnh phúc của sự thoát ra. Lấy hai điều trái ngược này để đối chiếu và tác ý thì sẽ đưa mình đến chỗ xuất ly. Tức là chúng ta tác ý theo hai chiều hướng, một bên là bị đau khổ do những sự trói buộc, chấp thủ và một bên là được hạnh phúc nhờ sự từ bỏ, thoát ra. Mỗi ngày chúng ta ngồi lại để viết ra những điều khiến mình dính mắc, chấp thủ, đồng thời liệt kê ra những đau khổ phải chịu khi bị trói buộc vào điều đó. Ngược lại, khi thoát ra được những sự ràng buộc đó thì mình sẽ được hạnh phúc, an lạc, tự do, tự tại trong cuộc sống và không phải chịu những đau khổ, trói cột đã liệt kê ở trên. Từ đó giúp cho chúng ta có thêm động lực để từ bỏ những đau khổ và tu tập để hướng đến chỗ an lạc, bình an.
Như vậy, tất cả đều nhờ công năng của sự tác ý và muốn cho sự tác ý được viên mãn, rốt ráo thì phải thành tựu được trí tuệ. Cho nên chánh kiến dẫn đường cho sự tác ý, từ chánh kiến thì mới đến chánh tư duy, tức là từ sự thấy đúng mới dẫn đến suy nghĩ đúng.
./.