Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NHẬP THẤT Chia Sẻ_Thực Hành Ngồi Thiền_ĐĐ Thích Minh Thành

2026-03-03 00:54:23
Nhập Thất Chia Sẻ Thực Hành Ngồi Thiền

Thích Minh Thành

Lần này khi vào thất Minh Thành phát hiện ra căn nguyên của phiền não và có thể nói đây là lần xuất gia thứ ba.

Từ giờ phút này trở về sau mới thật sự là một người tu. Hồi xưa mình tu mà không thấy được căn nguyên, chỗ xuất xứ của phiền não. Bây giờ mình mới thấy rõ được từ đâu nó phát khởi ở trong thân tâm. Và khi thấy được rồi thì mình mới có một cảm giác rất hỗ thẹn, rất nhục nhã, rất xấu hổ khi mình nhìn thấy ra những con giòi rong thân tâm của mình.

Khi thấy được nó rồi nhiếp phục rất là dễ dàng. Khi mình càng nhìn lại thân tâm thì mình sẽ càng phát hiện ra những cái vi tế, nó ấn núp, nó trốn sâu ở bên trong. Và pháp Đức Phật nói là mình thấy được phiền não ngay trong thân tâm của mình.

Hồi xưa là thấy trên chữ nghĩa và tu trên tưởng tượng. Còn bây giờ là mình thấy bằng con mắt trí huệ. Mình thấy rõ nó khởi điểm ra làm sao, nó vận hành làm sao, nó hoại diệt làm sao. Cái khó khăn nhất của người tu là nhiếp phục tham dục. Đây là cái khó khăn nhất mà Minh Thành loay hoay suốt mười mấy năm. Tới bây giờ gặp được bậc thiện tri thức, gặp được chánh pháp của Phật thì mới bắt đầu nhiếp phục và có được an ổn kì lạ.

Không giống như hồi xưa là đấu đá, đánh đấm nữa. Và Minh Thành mong rằng lần nhập thất này sẽ kéo dài, sẽ có được sự thành tựu. Sau đó sẽ chia sẽ cho đại chúng thật nhiều.

Quý huynh đệ hổm rày ngồi thiền có tiến bộ chút nào không? Hay là cũng giống như vậy? Có sự tiến triển nào mới không?

Bây giờ quý huynh đệ làm theo thầy hướng dẫn. Thực hành tại chỗ.

Tuyệt đối không nhắm mắt, khi nào quán tưởng mới nhắm mắt.

Khi ngồi mắt mình mở, nhìn xuống về phía trước khoảng bảy tám tấc hay là một thước.

Thở vô dài biết là mình thở vô dài. Thở ra dài biết là mình thở ra dài. Khi thở vô ngắn là mình biết thở vô ngắn, thở ra ngắn mình biết thở ra ngắn. Hơi thở lắng dịu. Thở vào lắng dịu thân tâm, thở ra lắng dịu thân tâm. Thở vào lắng dịu, thở ra lắng dịu.

Cảm nhận hơi thở của mình. Cảm nhận hơi thở động chuyển ở bụng, lồng ngực và chóp mũi. Mở rộng cảm giác ở lồng ngực ra, để cảm giác ở lồng ngực lan toả ra hai tay, hai chân, đầu. Thở vào cảm nhận cảm giác toàn thân, thở ra cảm nhận cảm giác toàn thân. Cảm nhận hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở từ gót chân đến đỉnh đầu.

Đi theo hơi thở để thấy sự động chuyển của nó. Sau đó mở cảm giác từ hơi thở, cảm nhận từ bàn chân lên tới đỉnh đầu.Cảm nhận hai vai, hai cù chỏ, hai bàn tay. Cảm nhận cảm giác của toàn thân.

Cảm nhận hơi thở vào, hơi thở ra. Mở rộng hơi thở đó ra, cảm nhận hết cảm giác của toàn thân. Thở vào cảm nhận cảm giác toàn thân, thở ra cảm nhận cảm giác toàn thân.

Sự nhận biết từ đỉnh đầu cho đến gót chân, chỗ nào cũng có nhận biết. Đây là phần rất quan trọng, sau này mình tu tất cả pháp môn đều lấy cảm giác toàn thân làm nền tảng.

Tuyệt đối mắt không được nhắm. Mắt mở ra nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm nhìn của mắt ra hết mức để cho cái thấy sáng tỏ. Không phải trợn con mắt mà tầm nhìn của mình không trụ vào một điểm. Tuy mình nhìn xuống về phía trước nhưng cái thấy mở rộng hết mức ra hai bên. Đó gọi là chánh niệm trước mặt trong kinh Tứ Niệm Xứ.

Chánh niệm trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Tâm của mình bên trong phải nhận biết rõ ràng cái thấy ở trước mắt và cảm nhận của toàn thân.

Thở vào cảm giác toàn thân, thở ra cảm giác toàn thân. Chánh niệm ở trước mặt, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, nội tâm tỉnh giác. Phải nhớ ba pháp này.

Trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Nhận biết một cách sáng tỏ rõ ràng cảm giác của toàn thân và cái thấy ở trước mắt.

Đặt niệm trước mặt, tức là tầm nhìn của mình sáng tỏ, theo hơi thở cảm nhận cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.

Nhớ kĩ con mắt thấy rõ phía trước, trở về hơi thở để cảm giác toàn thân. Và nội tâm thì sáng tỏ, rõ biết hai pháp kia.

Ba pháp này cực kì quan trọng, quý vị phải thực tập thuần thục ba pháp này. Khi tập thuần thục rồi thì lúc nào mình cũng sống trong thực tại. Mình làm cái gì mình cũng biết.

Hồi xưa dở chân, mình chỉ biết dở chân. Co tay, mình chỉ biết co thay. Bưng chung trà, mình chỉ biết bưng chung trà thôi. Thì cái biết đó rất cục bộ. Từ cái biết hồi xưa mình nâng lên cái biết này là cảm nhận cảm giác toàn thân. Cảm nhận cảm giác toàn thân thì lúc nào mình cũng thấy rõ cái chánh niệm, cái nhận biết. Cho nên sau này mình tu, cái định của mình sẽ định trên thân ngay. Khi ở ngoài có tiếng gì, hay có hình sắc gì tới thì khi đó mình an trụ vững chắc ở cảm giác toàn thân. Cái này là cực kì quan trọng là nền móng để xây dựng lâu đài.

Ngoài giờ ngồi thiền ra, khi đi mình cũng cảm nhận. Từ hơi thở mình mở rộng ra, mở tầm nhìn trước mặt ra, mở rộng cái thấy trước mặt ra, rồi mở rộng hơi thở ra cảm giác toàn thân.

Nếu mà làm cái này thuần thục rồi, sau này mình sẽ bước lên những bước ở trên sẽ rất vững. Nếu mình không thực tập được cái này thì không đi vào định, tuệ được.

Thứ nhất là chỗ hôn trầm không trị được. Thầy thấy đại da số lên ngôi thiền bị hôn trầm. Tại sao vậy? Là do mình nhắm mắt.

Cho nên tuyệt đối khi ngồi thiền không nhắm mắt. Tại sao như vậy?

Thứ nhất ngồi thiền nhắm mắt, mình dễ đi vào chỗ lờ mờ, tâm mình không rõ.

Thứ hai là tưởng sẽ sanh khi mình nhắm mắt.

Khi mình nhắm một hồi mình sẽ tưởng ra hình này, bóng kia một hồi mình đi vào chỗ mê của vô minh. Không được sáng tỏ là vô minh. Mà mình ngồi thiền lại ngồi với vô minh. Như vậy làm mình mất thời gian và uống phí lắm công sức lắm.

Lợi ích thứ nhất của mở mắt là giúp cho mình không còn lờ mờ. Thứ hai là nó phá cái tưởng. Khi mình nhắm mắt một chút xíu là lọt vào tưởng, từ cái tưởng đó đi vào vô minh mờ tối.

Lợi ích thứ ba khi mở mắt sẽ làm cho mình tỉnh táo, sáng tỏ, rõ biết. Lúc đó nhãn thức của mình sáng tỏ, tức là sự rõ biết của con mắt tỏ sáng.

Đó là lợi ích của mở mắt khi ngồi thiền. Cho nên khi ngồi thiền tuyệt đối là không nhắm mắt. Trừ khi nào quán tưởng mới nhắm mắt.

Bây giờ mình liên tục thực tập ba pháp. Không chỉ lúc ngồi thiền mà lúc nào nhớ là mình thực tập.

Khi đi nhớ chánh niệm ở trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân. Nội tâm bên trong tỉnh giác, để nhận rõ cảm giác toàn thân đó, nhận chánh niệm ở trước mắt.

Khi làm như vậy là không có thời gian cho mình vọng tưởng. Tại vì hồi xưa khi vô ngồi thiền cứ đơn giản là thở vô thở ra hay một câu niệm Phật. Nó đơn giản quá thì không có đủ làm cho mình trụ vững ở nơi thân tâm của mình. Cho nên pha pháp giống như kiềng ba chân vậy.

Nhớ ba pháp là đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Như là ba chân của lư hương vậy. Khi mình thuần thục được ba pháp này rồi, thì mình sẽ sống ở trong thực tại.

Tại vì cảm giác toàn thân là đưa tâm của mình trở về thân. Cái gì xảy ra nơi thân mình cũng nhận biết hết.

Đó là điều thứ nhất thầy muốn chia sẽ.

Mình đã học cảm giác toàn thân rồi thì mình biết chỗ nào đau, chỗ nào tê, chỗ nào cấn, chỗ nào nhức. Mình phải thấy rõ chỗ đó, thấy rõ cảm giác của mình ngay lúc đó. Thấy rõ cảm giác rồi thì biết cảm giác đó là cảm giác dễ chịu hay khó chịu? Cảm giác đó là cảm giác khó chịu.

Vậy cảm giác khó chịu đó thuộc về loại cảm thọ nào? Đó là khổ thọ.

Thì mình phải tác ý rằng: “Thân này là chỗ xuất phát ra khổ. Mới ngồi một chút mà nó đã muốn làm trận với mình rồi, để cho mình hung đúc cái khổ trí”.

Cái này thấy đơn giản nhưng rất quan trọng. Cái khổ bên ngoài mọi người nhìn thấy là người này té xe, người kia bệnh vô bệnh viện, người nọ bị tai nạn. Đó là cái thấy của phàm phu, cái đó không cần học đạo cũng biết.

“Mình mới ngồi một chút mà nó đã hành hạ mình rồi”. Cái khổ này mà mình nhìn thấy được, là cái khổ của đa văn thánh đệ tử.

Trước khi xả thiền, mình đừng hành động theo cảm xúc mà mình có trí huệ bên trong. Lúc đó mình dùng trí huệ nhìn cảm giác này. Điều này Đức Phật nói rằng: “ Tất cả các pháp hội thụ trong cảm thọ”.

Cho nên khi nhìn ra được cảm thọ của mình, thì mình sẽ nhìn thấy được tất cả tham dục của mình đều nằm trong cảm thọ hết. Đó là hang ổ.

Khi nhìn được cảm thọ của mình, mình sẽ thấy được tham dục vận hành như thế nào và tới lúc đó mình sẽ nhổ gốc của nó luôn, trị đến tận gốc luôn. Không giống như lúc trước mình phải dằng co cực khổ, mình phải ráng kềm lại. Khi mình nhìn ra được rồi là mình sẽ bứng cái gốc của nó. Người làm được điều này đều vào dự lưu thánh quả, thậm chí đến thánh quả Alahan. Đây là một sự thật, nếu mình thực tập đúng pháp.

Giống như hồi sáng này thầy ngồi kiết già một tiếng rưỡi rồi, thân nó đau, muốn xả. Vậy thầy mới nhìn lại cảm giác, nhìn lại chỗ đau đó. Thì thầy tác ý: “Thân đau, chân đau mà tâm không đau”.

Đau là đau ở chân chứ tâm mình đâu có đau. Tại sao đau một chút là mình hoảng hồn bung chân ra liền vậy? Như vậy tức là mình không làm chủ được cảm thọ. Vậy sau này mình có chuyện gì xảy ra, nhất là đối diện đến sống chết thì sao mình làm chủ được. Cho nên mình phải tập cảm chủ cảm giác.

Muốn làm chủ cảm giác thì mình phải nhận diện cảm giác toàn thân trước. Cho nhận diện cảm giác toàn thân rất quan trọng.