Tâm Sự Với Người Xuất Gia - Người Xuất Gia Đừng Sống Trong Quên Lãng
Tâm Sự Với Người Xuất Gia Đừng Sống Trong
Quên Lãng
Thích Minh Thành
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa đại chúng giây phút này là giây phút rất là màu nhiệm, rất là diệu huyền, chỉ có người nào biết thể hội, biết cảm nhận, mới thấy được giá trị quý báu này.
Chúng ta đã sống trong sự lãng quên rất nhiều. Lãng quên sự có mặt của thầy. Lãng quên sự có mặt của cha mẹ, lãng quên sự có mặt của huynh đệ tỉ muội. Lãng quên sự có mặt của các bậc tôn trưởng, bậc tôn túc. Lãng quên sự có mặt của các bậc lực sanh, bậc hoà thượng. Lãng quên sự có mặt của cây gỗ ba bốn mươi năm cống hiến cho mình làm bàn làm ghế để mình ngồi. Lãng quên thanh sắt ở dưới chân mình đã có mặt hàng trăm năm, mấy trăm năm. Mình lãng quên những viên gạch sỏi đá ven đường, đã tồn tại hàng triệu năm. Mình lãng quên dòng sông, kênh rạch, con suối, đại dương đã từng khô kiệt ở trong nhiều tỉ kiếp. Mình lãng quên núi đồi, trùng điệp. Mình lãng quên sự hình thành và hoại diệt của trái đất này. Mình tưởng đâu mọi thứ trước mắt mình là bền chắc lâu dài mà mình không thấy rằng sự sanh diệt và biến động của nó trong mỗi sắc, trong mỗi khoẳnh khắc. Chỉ có người trí tuệ, thiền tuệ, tứ niệm xứ mới cảm nhận được.
Mình không thấy được cành trúc này phải đi hai trăm năm chục cây số và bây giờ nó đang có mặt trước mắt mình. Từ Linh Quy Pháp Ấn về đây mình phải nâng niu thương nó, mình thấy được vẻ đẹp của nó, mình cảm ơn nó. Mình phải thấy được giá trị của người ở chung trong phòng mình, ở chung trong ngôi chùa mình, cùng học chung trong lớp, chung môi trường của mình. Mình phải thấy được ân nghĩa, cái tình, cái đạo vị.
Chánh niệm và tỉnh thức ở trong giây phút hiện tại mới cảm nhận được điều đó. Từ lâu lâu, lâu lắm rồi chúng ta đã sống trong quên lãng. Mà bây giờ chúng ta không thực tập tỉnh thức thì chúng ta lại sống trong lãng quên nữa. Rồi tương lai về sau này mình không nỗ lực thực tập đi rất xa rất dài trong đạo lộ của sự thất niệm và quên lãng. Chỉ người biết đem hết thân tâm của mình thực tập, giác tỉnh. Cho nên nó “bồ đề thọ hạ giác đạo thành”. Con đường tỉnh thức, con đường của sự chánh niệm.
Đạo là con đường là phương pháp là cách sống.
Giác là tỉnh giác, tỉnh thức.
Chánh niệm là tỉnh thức ở giây phút hiện tại.
Mình quên đi cái quạt máy quạt cho mình mấy năm nay. Mình quên người cạo tóc cho mình ba bốn năm về trước. Mình quên người sanh thành ra mình ba bốn chục năm rồi, đã quên, đang quên và mình sẽ quên. Mình tu là mình nhớ lại, chỗ quan trọng trong sự tu là niệm.
Nhớ đừng cho quên, nhớ khoảng khắc hiện giờ.
Điều quan trọng hơn nữa là nhớ, nhớ cho được danh pháp và sắc pháp đang vận hành trong thân tâm của mình. Nãy giờ nhìn bên ngoài là về cảnh thôi. Toàn bộ thế giới này không ra ngoài con số 6.
Sáu căn
Sáu trần
Sáu thức
Sáu tưởng.
Con số sáu trùm nhân sinh quan, vũ trụ quan của thế giới. Do mình có sáu ai cho nên mới có sáu căn tức là mình yêu thích con mắt của mình, mình yêu thích con mắt của người. Cái tâm yêu thích đó cho nên là chính cái ái nó dẫn mình đi để khi mình nhắm nhắt mình tìm cái tương ứng với cái mình ái. Cho nên nó mới có sanh sau căn. Do mình yêu thích lỗ mũi, yêu thích cái lưỡi, yêu thích cái môi, yêu thích cái miệng cho nên nó tương ứng với tâm ái cho nên nó dẫn vào trong quỷ đạo của luân hồi. Cho nên lục ái mới có lục căn, từ lục căn có lục cảnh tức là sáu trần. Cho nên trọng điểm của sự tu học là diệt trừ tham ái. Chỗ sâu xa của phật giáo là cái này. Cho nên mình tu mình dễ lẫn lộn tham ái với từ bi lắm, không phải, đó là khác xa. Phải có con mắt trí huệ mới nhìn thấy được cho nên hai con khỉ, tập có con khỉ giả và con khỉ thật trong Tây Du Ký. Không có ai phân biệt được con nào thiệt con ngào giả hết. Cái tham ái với cái từ bi chỉ có con mắt Phật mới nhìn ra được.
Rồi giữa cái thức với cái trí cũng là mắt Phật mới nhìn là được. Cái biết của mình, mình tưởng mình biết, không phải đó là vọng thức, cái đó là tên giặc đó không phải là trí huệ mà mình tưởng đó là trí huệ. Chỗ này là nó cướp hết quả báu của mình hết nó làm cho mình tan nhà nát cửa, tán thân bất mạng, lang thang ra ngoài đường ở dưới gầm cầu. Mình không có niệm định tuệ cái tâm mình cứ hoang du, lang thang hoài, ngay lúc thiền định mình cũng lang thang mình dừng không được. Nó cứ lang thang hoài như vậy rồi không biết chỗ để dừng, không biết cách dừng, không biết dừng làm sao.
Cho nên cái sự tu hành của mình tinh vi, nó tế nhị lắm.
Mình lãng quên cái thân của mình, mình bị lãng quên. Cách tu của Linh Quy Pháp Ấn là quán xét thân tâm, đường lối tu hành quán xét thân tâm chứ không phải để làm cái này, cái kia đó là không phải. Mấy cái đó là cái phước duyên ở bên ngoài thôi còn tu là mình phải quán xét thân tâm.
Mình lãng quên cái thân của mình, mình đừng nghĩ rằng một ngày mình tắm hai lần, thay đồ ba bộ, ăn cơm bốn buổi đánh răng súc miệng năm lần cái đó là mình chăm sóc cái thân. Cái đó là sự chăm sóc của vô văn phàm vu.
Thế nào là sự chăm sóc của đa văn thánh đệ tử?
Mình phải thấy được sắc thân đang diễn biết như thế nào, vận hành như thế nào. Mình phải thấy được sự tập khởi của sắc thân. Từ đâu mà nó có ra đây, nó vận hành ra làm sao, hoạt động như thế nào, biến chuyển như thế nào. Không chỉ trong một năm, trong hàng tuần, trong hằng ngày mà thậm chí trong hằng giờ, hằng phút cái thân của mình vận hành. Cho nên phương pháp thực hành thiền tuệ đúng mức là không nói chuyện, không điện thoại cắt hết tất cả. Vì nếu như mình động hoài thì không thấy được. Quý huynh đệ thấy con mèo mà bắt con chuột không? có để ý thầy không? Nó phải tập trung cao độ. Thậm chí nó thở nhỏ nhỏ, đi nhẹ nhẹ, hoặc núp vào chỗ nào đó thật kín mà nó thấy cơ hội tới là nó chụp một cái. Đó, thì người tu mà sự quán chiếu chú tâm giống như vậy mình mới chụp trúng được cái tên đầu sỏ, thống xoáy của phiền não, vô minh, tham ái và chấp thủ.
Sâu xa lắm chứ không phải chuyện tu mà lên tụng hai bữa chánh điện là rồi đâu, chưa xi nhê gì hết, chưa dính dáng gì hết. Làm sao mình nhìn thấy được sắc thân này không phải là mình, mình không phải là sắc thân này, mình không phải ở trong sắc, sắc không phải ở trong mình, chỗ này mình xác định được mới có cơ hội bước vào trí huệ của Phật Giáo.
Chỗ này là chỗ đòi hỏi công phu, sự nỗ lực nỗ lực của mình. Làm sao mình thấy được sự tập khởi nhân quả hệ của sắc pháp.
Ví dụ: Mỗi lần mình bưng cơm lên là biết mình nhờ những thứ này, đồ ăn này mới duy trì và tồn tại.
Có khi nào ăn cơm nhớ cái này, hay là ăn cơm nhớ bữa này món gì.
Quý huynh đệ thấy theo chiều nào dễ hơn, chiều pháp hay là chiều theo hương vị mình lên mình gặp mười món là nuốt nước miếng.
Những cái tế nhị mình thực tập quán chiếu mình mới thấy. Đó là mới thấy là chịu không nổi rồi, gắp vào để vô là nó tê lưỡi hết trơn, cái lưỡi nó tê lúc đó mình sao quán chiếu. Làm sao hành giả sâu sắc khi ăn thấy được sắc thân này vô thường, sắc thân này vô ngã, sắc thân này phải vay mượn, sắc thân này là duyên hợp cấu thành cho nên cái này có cái kia mới có. Tự nhiên khi mình ăn biết là ngon dỡ chứ không phải mình không biết và mình không có tham sân nhiều, hài lòng và bất mãn.
Hài lòng tức là tham.
Bất mãn là sân.
Trong lúc ăn cơm là tu sâu sắc lắm. Không phải chỗ ăn là không tu đâu.
Các huynh đệ thấy đó, thấy rõ là tập nhân của sắc pháp, của thân này. Mỗi hơi thở mình thấy rõ, thấy rõ pháp cấu tạo. Mình vận động một hồi rồi mình mệt mình nằm ra thở, mình thấy đó là một bộ máy. Tất cả những cái đó là như lý tác ý để cho mình tuệ quán, quán làm sao mà quán trúng vào tam tướng lúc đó mình phát sanh trí huệ khổ vô thường, khổ vô ngã, thấy rõ sắc pháp đó là vô thường. Chứ không phải đơn sơ, viết mấy chữ rồi học rồi học xong vô thường, vô ngã đó là không phải. Bốn chục năm quán chiếu mà thấy gì. Mà quán ở đâu? Quán ở mọi lúc mọi nơi ở trong cái nghe, cái thấy, cái ngửi, cái đụng, cái chạm, cái nghĩ quán ở trong đó. Cái gì đến với mình, mình đều lấy tam tướng soi hết thì nó hiện chân tướng của nó ra. Đó cho nên nhớ đường tăng Tây Du Ký đánh đuổi, rồi rượt đánh cuối cùng rước được Bồ Tác xuống là nhẹ te không cần đánh, không cần gì nữa. Mở chiếc vòng thẩy xuống một cái là xong ra con cọp, con sử tử, nó hiện nguyên hình. Cho nên Bồ Tác là biểu trung cho bậc tỉnh thức mà bậc tỉnh thức là nhìn pháp bằng tuệ giác, bằng pháp nhãn. Mà pháp nhãn thì nhìn được bản chất của nó, còn nhục nhã nhìn không thấy.
Cho nên sự tu của mình, một ngày mình dùng bao nhiêu lần pháp nhãn, một ngày mình dùng bao nhiêu lần nhục nhãn. Chắc ăn nhẫn nhục không quá.
Cho nên mình lãng quên rất nhiều giờ mình cần nhớ lại, mình lãng quên rất nhiều bao nhiêu năm nay rồi.
Phải thấy rõ sắc pháp này vận hành, nó bứt rứt, khó chịu. Nóng chút là chịu không được, đói chút là đi không nổi nói không ra hơi, nhức răng chút là không muốn làm gì hết, lọt một hạt bụi vào mắt là đứng lại đi không được nữa. Có gì đâu là chắc chắn trong cái thân này, mà ai đụng xíu là biết liền, đó phải là vô minh không?
Cho nên trong quyển pháp hành thiền tuệ đó dạy cho mình, mình phải quán chiếu thấy được mười hai trạng thái vô thường. Trí huệ, thiền tuệ thấy rõ trạng thái ngũ quẫn thấy rõ không trường tồn sinh diệt không ngừng.
Mình nhìn kỉ là thấy được năm nhóm: Sắc thân, cảm giác, tư tưởng, tâm hành và nhận thức.
Luôn luôn mình nhìn lại năm quẩn. Cho nên ý nghĩa trong bài tâm kinh bát nhã ngày nào mình cũng tụng hết mà mình không có thực tập ngủ quẩn. Một ngày như vậy mình nhìn lại cảm giác mình mấy lần, đại đa số mình nhận chìm luôn mình đâu thấy đây là cảm giác, cảm giác không phải mình, mình không phải là cảm giác.
Ví dụ: Ai khen mình hết cỡ lúc đó mình có thấy trong tâm mình có cảm giác lạc thọ vui sướng không? Hay là lúc đó mình bị vui sướng đó nhận chìm luôn. Hay giờ mình bị chê chửi nặng trong tâm hiện giờ có một cảm giác khổ thọ, hay là mình nhập chung vào đáp lại liền.
Mình chưa kịp nhận ra cảm giác sao mình quán chiếu được, vì thường thường mình không có công phu.
Mình Thành nói đơn giản cho dễ hiểu cái tưởng, cái tư tưởng trong nội tâm, mình ngồi lại thấy một tư tưởng, mình có thấy ác pháp đó thuộc về tham, hay sân, hay si không.
Cho nên mình đâu ứng dụng niệm thọ. Mình đâu biết được nó thuộc về tham, hay sân, hay si, hay thuộc về mạng. Mình không có, không thấy gì hết. Mình phải có trạch pháp xem trong tâm mình có cái gì.
Ví dụ: Đưa cho mình một thúng đậu pha vô ba bốn thứ đậu bắt lựa thì mình phải biết loại nào nào để mình lựa chứ. Còn bây giờ trong tâm mình một đống lộn xộn, hỗn mang.
Đó là mình lãng quên sự nhận thức trong nội tâm của mình, mình không nhận thức.
Mình phải biết được trong nội tâm hiện giờ có cái gì.
Trong nội tâm mình giờ có tham, sự ham muốn hay có sự bực bội, giận tức, hay có sự bất mãn, hay có sự luyến ái. Hay trong nội tâm mình bây giờ có sự quảng đại rộng lớn, hay muốn giải thoát, hay buộc vô mình phải thấy rõ. Đó là mới có một phần trong cảm thọ, cảm giác.
Mà tối ngày mình cứ liên tục cái miệng không dừng, tay chân cử động liên tục thì làm sao mà quán, sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Các huynh đệ thấy đó, cái tưởng quẩn trong nội tâm mình ghê lắm, nó tưởng tùm lum, nó đưa mình xuống vòng xoáy, nó nhận chìm mình xuống luôn. Tưởng của mình là tạm dùng danh từ thôi. Đừng nói đến tâm hành, tâm hành là nó vận hành liên tục, sanh diệt. Những bậc thánh giả, những bậc trong đại định mới thấy được hằng trăm ngàn, hàng triệu hàng tỉ mà mình không thấy. Cho nên có định mới thấy được sự thật, mình mới tập cái tâm mình yên tịnh, thân mình yên lặng. Lục căn di nhiên hành trụ tịch mặt.Sáu căn an nhiên đến đi vắng lặng.
Phải thấy rõ được trạng thái tạm thời, ngắn ngủi, biến đổi của sắc tâm, của thân tâm, vô dụng không có cốt lõi, bị suy tàn huỷ diệt. Đó là mười hai trạng thái thấy được khía cạnh của vô thường chứ không phải vô là không, thường là thường. Vô thường là là không có thường rồi xong.
Học là lúc sơ cấp rồi lên rồi mà vẫn vô thường. Mình phải thấy được bảy trạng thái vô ngã, bảy trạng thái vô ngã này mình phải quán chiếu thường trực. Thấy rõ bảy trạng thái vô ngã ngày có trạng thái khác lạ, trạng thái rỗng không, rỗng tếch , hoàn toàn không, vô chủ, không có quyền hành gì hết, không có chiều theo ý muốn của ai đó là bảy trạng thái. Tại sao ngũ quẫn ngày khác lạ, nó đổi hoài mà làm sao không khác lạ.
Sáng ra mình nhìn mặt bớt mụn rồi, nhìn mặt sáng láng, rồi xong ba tháng sáu tháng mình nhìn cũng thấy đây là mình đó là vô minh.
Nó đổi liên tục. Lúc mới vào khác, vô học khác, ra chơi nó khác, vào thiền nó khác rồi bây giờ nó khác, xíu nó khác rồi lúc về nó khác, nó là khác lạ. Danh pháp và sắc pháp là người lạ nó không thân quen gì hết, mình đưng tưởng đâu nó là mình, cho nó là mình là mình chết liền, nó khác lạ từng phút giây.
Hồi tiếng nọ, hồi tiếng kia, hồi rục rịch, hồi nằm im re. Nếu mình để ý, mình quán chiếu mình thấy thân này như bộ máy vậy, nó làm lung tung.
Hôm qua Minh Thành có dịp ghé thiền viện chân không ở vũng tàu. Khi Minh Thành bước hết bậc thang đến tạng đá tròn đề ba chữ là “Đồi Tự Tại” Thì Minh Thành leo lên tạng đá đó để ngồi, nhớ Hoà Thượng Trúc Lâm, hồi xưa lúc Hoà Thượng ngồi trên tạng đá đó làm bài thơ bốn câu Minh Thành còn nhớ rõ.
Đường phố xe hoa lại
Trên biển tàu tới lui
Dòng đời luôn chuyển đổi
Bệ đá đạo nhân ngồi.
Ngồi trên tạng đá đó có thể thấy được trên đồi và dưới biển cho nên xe qua lại tới tui, mà dưới biển thì tàu tới lui, dòng đời luôn chuyển đổi mà bện đá đạo nhân ngồi.
Mình phải nhìn sâu sắc, mình không chuyển theo cảnh đó. Mình chuyển theo cảnh đó luôn thì thuận dòng luôn rồi đâu có nghịch lưu.
Cho nên dòng đời luôn chuyển đổi nhưng mà bệ đá đạo nhân ngồi.
Bên đá đó là Tứ Niệm Xứ, là quán sát thân tâm, là an trụ trong chánh niệm tỉnh thức, là nhớ không quên, là chánh niệm, chánh trí, là chánh quán đó là bện đá, đó là cội bồ đề.
Cho nên mình phải quán chiếu một cách sâu sắc về vô ngã và nhất là cái thân này. Mình đang nói thân, thọ, tâm, tư tưởng, vận hành. Pháp là nhận thức, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhận thức của mình của giống vậy.
Vậy trở lại vấn đề bảy hình thái này nó là gì? Là nó rỗng không, khác lạ.
Hai chữ “Khác lạ” mà mình chiêm nghiệm được là hay lắm. Thân này không có quen, mình tưởng là quen.
Bữa đó Minh Thành về trên núi ngồi ăn cơm với Ba Minh Thành. Khi dọn đồ ra hết thì Ba nói là trời ơi quên, mình tưởng đâu chuyện gì thì quên lấy hàm răng thì sao mà nhai. Mình thấy nó khác lạ chứ, hồi xưa không có răng bây giờ cũng không có răng. Bữa đó xem chút xíu là Minh Thành là ngộ đạo luôn rồi. Đang cắn thì rớt đồ ăn xuống mình hết hồn không biết răng của ai mà quên rằng đó là răng bọc sứ mà mình quên bỏ vào, bữa giờ gắn vào mà bữa nay quên.
Lúc đó là xém nữa là chứng quả tu đạo hoàng, thấy bất ngờ tự nhiên răng lọt ra, mình thấy rõ ràng không phải mình, bữa đó là tuệ quán sâu nữa là bữa nay không còn ngồi đây nữa rồi, xuống dưới ngồi.
Từ chỗ đó mình chiêm nghiệm ra tại sao các vị hiền tăng, các vị thánh tăng, các vị cao tăng hồi xưa ta ngộ đạo là đúng thực sự.
Ta chứ chiêm nghiêm như vậy mà đến khi cầu sập hay lá rụng hay gì đó mình thấy rõ cái vấn đề lắm. Bình thường mình quán chiếu liên tục thì có chuyện sẽ rõ ra vấn đề.
Cho nên mình thấy nó khác lạ, nó lạ lắm, mình tưởng đâu người lạ không quen, không phải, chính đây là không quen.
Chính bản thân này không quen với mình, ghê chưa? Cái tâm của mình cũng không quen. Tự nhiên nó giận lên rồi làm đủ thứ nó đâu có quen, mấy cái tâm nó không có quen.
Nào giờ có ai nói mấy cái này chưa? Đúng là lạ đó.
Quán chiếu mới thấy được, sâu sắc lắm. Rỗng không, hoàn toàn không vô chủ.
Giờ mình nói đến vô chủ hay lắm. Mình tưởng mình là chủ cái thân này, đừng có mơ, xin đừng đem dạ tưởng mơ, làm gì mà chủ. Mình tường đâu mình là chủ thân này, không có, sao chủ được.
Có ông đó ổng bị tai nạn gãy giò, phải cắt ra cưa. Sau đó người ta phải ráp cái chân của người chết qua cho ổng, thì mỗi lần ổng đi tắm ổng kỳ cái chân của ổng còn cái chân được ráp ổng không kỳ, ổng nói cái chân của người chết.
Như vậy cái chân đó của ổng hay chân của người ta.
Nếu của người ta sao gắn vào chân của ổng và nếu của ổng thì sao gắn chân của người ta vô.
Tất cả pháp đều là cấu tạo, lắp ráp xài tạm thôi. Không có bản chất thật. Mình lầm, mình vô minh, si mê, tà kiến, minh thấy sai. Từ cái vô sự đó mình làm rùm beng lên hết trơn cho khổ nhau chơi rồi chung vào hòm. Nó khổ không?
Cho nên Đức Phật, Bồ Tác mới nói đáng thương xót vậy.
Quá thương, ăn xong rồi quậy, kiếm chuyện quậy hoài. Ngoài đời quậy đã rồi vô chùa quậy nữa. Không có chủ, mình không có quyền gì hết.
Ví dụ: giờ mình nằm xuống nói 2h khuya dậy nha, không nó ngủ đến sáng luôn.
Để đồng hồ mà reo nhỏ là ngủ luôn. Giờ bảo nó nằm xuống ngủ luôn, nó không chịu, nó lăn qua, lăn lại, lấy đồng hồ coi rồi lăn tiếp tục nữa. Mình đâu có làm chủ nó đau. Giờ mình nói không được giận mà vẫn giận thì đó là vô chủ.Quán chiếu cái thân vô chủ này, vì nó mà mình khổ biết bao. Cho nên giữa người có trí huệ và người không có trí huệ khác nhau. Phải quán chữ vô chủ, không có chủ, mình không có quyền gì với thân này hết.
Nói quyền là nói trong tương đối, nói trong cạn cợt thôi còn nói thật thì không có. Giờ nó bệnh mình giỏi ra lệnh cho nó hết bệnh đi, nếu mà ra lệnh được là ngon đó.
Mới bữa rằm tháng giêng có cô phật tử đến nói, thầy ơi chồng con sắp đến rồi, ổng đang nằm bệnh viện. Đó là bác sĩ tám mươi mấy tuổi rồi. Mình Thành vỗ vai nói bác sĩ sao vô bệnh viện trị bệnh người ta thôi thứ. Không, bác sĩ cũng vô bệnh viện thầy ơi. Thấy chưa làm gì mình có quyền, nó tương đối thôi. Mình trị cho người ta hết, tới phiên mình thì kiếm người khác trị cho mình, bác sĩ thì không bênh sao.
Cho nên mình suy xét cái chữ vô chủ này hay lắm, cho nên mình phải chiêm nghiệm. Mình không có quyền hành, nó không chiều theo ý muốn của ai hết, không chiều theo ý muốn mới có nhiều chuyện xảy ra.
Cho nên mình phải quán chiếu một cách sâu sắc, quán chiếu cho tinh tường thân tâm, ngũ quẫn. Chỗ này là chỗ đem lại hạnh phúc, giác ngộ, giải thoát. Chỗ này là chỗ đem lại cho mình tự tại, thảnh thơi và bình an. Chỗ này đem lại niềm vui sự hiểu biết lớn, tình thương bao la ở chỗ này, đừng đi tìm chỗ nào khác. Đừng đi tìm pháp nào khác ở ngoài thân tâm của mình. Từ nơi thân, tâm ngủ quẩn này mà mình kiến lập được chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh trí. Dùng tam tướng để soi rọi nó. Cho nên phải nhớ đừng có quên, nhớ tâm này, nhớ thân này, nhớ năm quẩn, nhớ sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu tưởng, sáu thọ, sáu súc. Nhớ thấy được bản chất của nó, đừng để cho nó lừa thì đó là người chân tu, tu sâu, đâu có gì khác đâu.
Quên Lãng
Thích Minh Thành
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa đại chúng giây phút này là giây phút rất là màu nhiệm, rất là diệu huyền, chỉ có người nào biết thể hội, biết cảm nhận, mới thấy được giá trị quý báu này.
Chúng ta đã sống trong sự lãng quên rất nhiều. Lãng quên sự có mặt của thầy. Lãng quên sự có mặt của cha mẹ, lãng quên sự có mặt của huynh đệ tỉ muội. Lãng quên sự có mặt của các bậc tôn trưởng, bậc tôn túc. Lãng quên sự có mặt của các bậc lực sanh, bậc hoà thượng. Lãng quên sự có mặt của cây gỗ ba bốn mươi năm cống hiến cho mình làm bàn làm ghế để mình ngồi. Lãng quên thanh sắt ở dưới chân mình đã có mặt hàng trăm năm, mấy trăm năm. Mình lãng quên những viên gạch sỏi đá ven đường, đã tồn tại hàng triệu năm. Mình lãng quên dòng sông, kênh rạch, con suối, đại dương đã từng khô kiệt ở trong nhiều tỉ kiếp. Mình lãng quên núi đồi, trùng điệp. Mình lãng quên sự hình thành và hoại diệt của trái đất này. Mình tưởng đâu mọi thứ trước mắt mình là bền chắc lâu dài mà mình không thấy rằng sự sanh diệt và biến động của nó trong mỗi sắc, trong mỗi khoẳnh khắc. Chỉ có người trí tuệ, thiền tuệ, tứ niệm xứ mới cảm nhận được.
Mình không thấy được cành trúc này phải đi hai trăm năm chục cây số và bây giờ nó đang có mặt trước mắt mình. Từ Linh Quy Pháp Ấn về đây mình phải nâng niu thương nó, mình thấy được vẻ đẹp của nó, mình cảm ơn nó. Mình phải thấy được giá trị của người ở chung trong phòng mình, ở chung trong ngôi chùa mình, cùng học chung trong lớp, chung môi trường của mình. Mình phải thấy được ân nghĩa, cái tình, cái đạo vị.
Chánh niệm và tỉnh thức ở trong giây phút hiện tại mới cảm nhận được điều đó. Từ lâu lâu, lâu lắm rồi chúng ta đã sống trong quên lãng. Mà bây giờ chúng ta không thực tập tỉnh thức thì chúng ta lại sống trong lãng quên nữa. Rồi tương lai về sau này mình không nỗ lực thực tập đi rất xa rất dài trong đạo lộ của sự thất niệm và quên lãng. Chỉ người biết đem hết thân tâm của mình thực tập, giác tỉnh. Cho nên nó “bồ đề thọ hạ giác đạo thành”. Con đường tỉnh thức, con đường của sự chánh niệm.
Đạo là con đường là phương pháp là cách sống.
Giác là tỉnh giác, tỉnh thức.
Chánh niệm là tỉnh thức ở giây phút hiện tại.
Mình quên đi cái quạt máy quạt cho mình mấy năm nay. Mình quên người cạo tóc cho mình ba bốn năm về trước. Mình quên người sanh thành ra mình ba bốn chục năm rồi, đã quên, đang quên và mình sẽ quên. Mình tu là mình nhớ lại, chỗ quan trọng trong sự tu là niệm.
Nhớ đừng cho quên, nhớ khoảng khắc hiện giờ.
Điều quan trọng hơn nữa là nhớ, nhớ cho được danh pháp và sắc pháp đang vận hành trong thân tâm của mình. Nãy giờ nhìn bên ngoài là về cảnh thôi. Toàn bộ thế giới này không ra ngoài con số 6.
Sáu căn
Sáu trần
Sáu thức
Sáu tưởng.
Con số sáu trùm nhân sinh quan, vũ trụ quan của thế giới. Do mình có sáu ai cho nên mới có sáu căn tức là mình yêu thích con mắt của mình, mình yêu thích con mắt của người. Cái tâm yêu thích đó cho nên là chính cái ái nó dẫn mình đi để khi mình nhắm nhắt mình tìm cái tương ứng với cái mình ái. Cho nên nó mới có sanh sau căn. Do mình yêu thích lỗ mũi, yêu thích cái lưỡi, yêu thích cái môi, yêu thích cái miệng cho nên nó tương ứng với tâm ái cho nên nó dẫn vào trong quỷ đạo của luân hồi. Cho nên lục ái mới có lục căn, từ lục căn có lục cảnh tức là sáu trần. Cho nên trọng điểm của sự tu học là diệt trừ tham ái. Chỗ sâu xa của phật giáo là cái này. Cho nên mình tu mình dễ lẫn lộn tham ái với từ bi lắm, không phải, đó là khác xa. Phải có con mắt trí huệ mới nhìn thấy được cho nên hai con khỉ, tập có con khỉ giả và con khỉ thật trong Tây Du Ký. Không có ai phân biệt được con nào thiệt con ngào giả hết. Cái tham ái với cái từ bi chỉ có con mắt Phật mới nhìn ra được.
Rồi giữa cái thức với cái trí cũng là mắt Phật mới nhìn là được. Cái biết của mình, mình tưởng mình biết, không phải đó là vọng thức, cái đó là tên giặc đó không phải là trí huệ mà mình tưởng đó là trí huệ. Chỗ này là nó cướp hết quả báu của mình hết nó làm cho mình tan nhà nát cửa, tán thân bất mạng, lang thang ra ngoài đường ở dưới gầm cầu. Mình không có niệm định tuệ cái tâm mình cứ hoang du, lang thang hoài, ngay lúc thiền định mình cũng lang thang mình dừng không được. Nó cứ lang thang hoài như vậy rồi không biết chỗ để dừng, không biết cách dừng, không biết dừng làm sao.
Cho nên cái sự tu hành của mình tinh vi, nó tế nhị lắm.
Mình lãng quên cái thân của mình, mình bị lãng quên. Cách tu của Linh Quy Pháp Ấn là quán xét thân tâm, đường lối tu hành quán xét thân tâm chứ không phải để làm cái này, cái kia đó là không phải. Mấy cái đó là cái phước duyên ở bên ngoài thôi còn tu là mình phải quán xét thân tâm.
Mình lãng quên cái thân của mình, mình đừng nghĩ rằng một ngày mình tắm hai lần, thay đồ ba bộ, ăn cơm bốn buổi đánh răng súc miệng năm lần cái đó là mình chăm sóc cái thân. Cái đó là sự chăm sóc của vô văn phàm vu.
Thế nào là sự chăm sóc của đa văn thánh đệ tử?
Mình phải thấy được sắc thân đang diễn biết như thế nào, vận hành như thế nào. Mình phải thấy được sự tập khởi của sắc thân. Từ đâu mà nó có ra đây, nó vận hành ra làm sao, hoạt động như thế nào, biến chuyển như thế nào. Không chỉ trong một năm, trong hàng tuần, trong hằng ngày mà thậm chí trong hằng giờ, hằng phút cái thân của mình vận hành. Cho nên phương pháp thực hành thiền tuệ đúng mức là không nói chuyện, không điện thoại cắt hết tất cả. Vì nếu như mình động hoài thì không thấy được. Quý huynh đệ thấy con mèo mà bắt con chuột không? có để ý thầy không? Nó phải tập trung cao độ. Thậm chí nó thở nhỏ nhỏ, đi nhẹ nhẹ, hoặc núp vào chỗ nào đó thật kín mà nó thấy cơ hội tới là nó chụp một cái. Đó, thì người tu mà sự quán chiếu chú tâm giống như vậy mình mới chụp trúng được cái tên đầu sỏ, thống xoáy của phiền não, vô minh, tham ái và chấp thủ.
Sâu xa lắm chứ không phải chuyện tu mà lên tụng hai bữa chánh điện là rồi đâu, chưa xi nhê gì hết, chưa dính dáng gì hết. Làm sao mình nhìn thấy được sắc thân này không phải là mình, mình không phải là sắc thân này, mình không phải ở trong sắc, sắc không phải ở trong mình, chỗ này mình xác định được mới có cơ hội bước vào trí huệ của Phật Giáo.
Chỗ này là chỗ đòi hỏi công phu, sự nỗ lực nỗ lực của mình. Làm sao mình thấy được sự tập khởi nhân quả hệ của sắc pháp.
Ví dụ: Mỗi lần mình bưng cơm lên là biết mình nhờ những thứ này, đồ ăn này mới duy trì và tồn tại.
Có khi nào ăn cơm nhớ cái này, hay là ăn cơm nhớ bữa này món gì.
Quý huynh đệ thấy theo chiều nào dễ hơn, chiều pháp hay là chiều theo hương vị mình lên mình gặp mười món là nuốt nước miếng.
Những cái tế nhị mình thực tập quán chiếu mình mới thấy. Đó là mới thấy là chịu không nổi rồi, gắp vào để vô là nó tê lưỡi hết trơn, cái lưỡi nó tê lúc đó mình sao quán chiếu. Làm sao hành giả sâu sắc khi ăn thấy được sắc thân này vô thường, sắc thân này vô ngã, sắc thân này phải vay mượn, sắc thân này là duyên hợp cấu thành cho nên cái này có cái kia mới có. Tự nhiên khi mình ăn biết là ngon dỡ chứ không phải mình không biết và mình không có tham sân nhiều, hài lòng và bất mãn.
Hài lòng tức là tham.
Bất mãn là sân.
Trong lúc ăn cơm là tu sâu sắc lắm. Không phải chỗ ăn là không tu đâu.
Các huynh đệ thấy đó, thấy rõ là tập nhân của sắc pháp, của thân này. Mỗi hơi thở mình thấy rõ, thấy rõ pháp cấu tạo. Mình vận động một hồi rồi mình mệt mình nằm ra thở, mình thấy đó là một bộ máy. Tất cả những cái đó là như lý tác ý để cho mình tuệ quán, quán làm sao mà quán trúng vào tam tướng lúc đó mình phát sanh trí huệ khổ vô thường, khổ vô ngã, thấy rõ sắc pháp đó là vô thường. Chứ không phải đơn sơ, viết mấy chữ rồi học rồi học xong vô thường, vô ngã đó là không phải. Bốn chục năm quán chiếu mà thấy gì. Mà quán ở đâu? Quán ở mọi lúc mọi nơi ở trong cái nghe, cái thấy, cái ngửi, cái đụng, cái chạm, cái nghĩ quán ở trong đó. Cái gì đến với mình, mình đều lấy tam tướng soi hết thì nó hiện chân tướng của nó ra. Đó cho nên nhớ đường tăng Tây Du Ký đánh đuổi, rồi rượt đánh cuối cùng rước được Bồ Tác xuống là nhẹ te không cần đánh, không cần gì nữa. Mở chiếc vòng thẩy xuống một cái là xong ra con cọp, con sử tử, nó hiện nguyên hình. Cho nên Bồ Tác là biểu trung cho bậc tỉnh thức mà bậc tỉnh thức là nhìn pháp bằng tuệ giác, bằng pháp nhãn. Mà pháp nhãn thì nhìn được bản chất của nó, còn nhục nhã nhìn không thấy.
Cho nên sự tu của mình, một ngày mình dùng bao nhiêu lần pháp nhãn, một ngày mình dùng bao nhiêu lần nhục nhãn. Chắc ăn nhẫn nhục không quá.
Cho nên mình lãng quên rất nhiều giờ mình cần nhớ lại, mình lãng quên rất nhiều bao nhiêu năm nay rồi.
Phải thấy rõ sắc pháp này vận hành, nó bứt rứt, khó chịu. Nóng chút là chịu không được, đói chút là đi không nổi nói không ra hơi, nhức răng chút là không muốn làm gì hết, lọt một hạt bụi vào mắt là đứng lại đi không được nữa. Có gì đâu là chắc chắn trong cái thân này, mà ai đụng xíu là biết liền, đó phải là vô minh không?
Cho nên trong quyển pháp hành thiền tuệ đó dạy cho mình, mình phải quán chiếu thấy được mười hai trạng thái vô thường. Trí huệ, thiền tuệ thấy rõ trạng thái ngũ quẫn thấy rõ không trường tồn sinh diệt không ngừng.
Mình nhìn kỉ là thấy được năm nhóm: Sắc thân, cảm giác, tư tưởng, tâm hành và nhận thức.
Luôn luôn mình nhìn lại năm quẩn. Cho nên ý nghĩa trong bài tâm kinh bát nhã ngày nào mình cũng tụng hết mà mình không có thực tập ngủ quẩn. Một ngày như vậy mình nhìn lại cảm giác mình mấy lần, đại đa số mình nhận chìm luôn mình đâu thấy đây là cảm giác, cảm giác không phải mình, mình không phải là cảm giác.
Ví dụ: Ai khen mình hết cỡ lúc đó mình có thấy trong tâm mình có cảm giác lạc thọ vui sướng không? Hay là lúc đó mình bị vui sướng đó nhận chìm luôn. Hay giờ mình bị chê chửi nặng trong tâm hiện giờ có một cảm giác khổ thọ, hay là mình nhập chung vào đáp lại liền.
Mình chưa kịp nhận ra cảm giác sao mình quán chiếu được, vì thường thường mình không có công phu.
Mình Thành nói đơn giản cho dễ hiểu cái tưởng, cái tư tưởng trong nội tâm, mình ngồi lại thấy một tư tưởng, mình có thấy ác pháp đó thuộc về tham, hay sân, hay si không.
Cho nên mình đâu ứng dụng niệm thọ. Mình đâu biết được nó thuộc về tham, hay sân, hay si, hay thuộc về mạng. Mình không có, không thấy gì hết. Mình phải có trạch pháp xem trong tâm mình có cái gì.
Ví dụ: Đưa cho mình một thúng đậu pha vô ba bốn thứ đậu bắt lựa thì mình phải biết loại nào nào để mình lựa chứ. Còn bây giờ trong tâm mình một đống lộn xộn, hỗn mang.
Đó là mình lãng quên sự nhận thức trong nội tâm của mình, mình không nhận thức.
Mình phải biết được trong nội tâm hiện giờ có cái gì.
Trong nội tâm mình giờ có tham, sự ham muốn hay có sự bực bội, giận tức, hay có sự bất mãn, hay có sự luyến ái. Hay trong nội tâm mình bây giờ có sự quảng đại rộng lớn, hay muốn giải thoát, hay buộc vô mình phải thấy rõ. Đó là mới có một phần trong cảm thọ, cảm giác.
Mà tối ngày mình cứ liên tục cái miệng không dừng, tay chân cử động liên tục thì làm sao mà quán, sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Các huynh đệ thấy đó, cái tưởng quẩn trong nội tâm mình ghê lắm, nó tưởng tùm lum, nó đưa mình xuống vòng xoáy, nó nhận chìm mình xuống luôn. Tưởng của mình là tạm dùng danh từ thôi. Đừng nói đến tâm hành, tâm hành là nó vận hành liên tục, sanh diệt. Những bậc thánh giả, những bậc trong đại định mới thấy được hằng trăm ngàn, hàng triệu hàng tỉ mà mình không thấy. Cho nên có định mới thấy được sự thật, mình mới tập cái tâm mình yên tịnh, thân mình yên lặng. Lục căn di nhiên hành trụ tịch mặt.Sáu căn an nhiên đến đi vắng lặng.
Phải thấy rõ được trạng thái tạm thời, ngắn ngủi, biến đổi của sắc tâm, của thân tâm, vô dụng không có cốt lõi, bị suy tàn huỷ diệt. Đó là mười hai trạng thái thấy được khía cạnh của vô thường chứ không phải vô là không, thường là thường. Vô thường là là không có thường rồi xong.
Học là lúc sơ cấp rồi lên rồi mà vẫn vô thường. Mình phải thấy được bảy trạng thái vô ngã, bảy trạng thái vô ngã này mình phải quán chiếu thường trực. Thấy rõ bảy trạng thái vô ngã ngày có trạng thái khác lạ, trạng thái rỗng không, rỗng tếch , hoàn toàn không, vô chủ, không có quyền hành gì hết, không có chiều theo ý muốn của ai đó là bảy trạng thái. Tại sao ngũ quẫn ngày khác lạ, nó đổi hoài mà làm sao không khác lạ.
Sáng ra mình nhìn mặt bớt mụn rồi, nhìn mặt sáng láng, rồi xong ba tháng sáu tháng mình nhìn cũng thấy đây là mình đó là vô minh.
Nó đổi liên tục. Lúc mới vào khác, vô học khác, ra chơi nó khác, vào thiền nó khác rồi bây giờ nó khác, xíu nó khác rồi lúc về nó khác, nó là khác lạ. Danh pháp và sắc pháp là người lạ nó không thân quen gì hết, mình đưng tưởng đâu nó là mình, cho nó là mình là mình chết liền, nó khác lạ từng phút giây.
Hồi tiếng nọ, hồi tiếng kia, hồi rục rịch, hồi nằm im re. Nếu mình để ý, mình quán chiếu mình thấy thân này như bộ máy vậy, nó làm lung tung.
Hôm qua Minh Thành có dịp ghé thiền viện chân không ở vũng tàu. Khi Minh Thành bước hết bậc thang đến tạng đá tròn đề ba chữ là “Đồi Tự Tại” Thì Minh Thành leo lên tạng đá đó để ngồi, nhớ Hoà Thượng Trúc Lâm, hồi xưa lúc Hoà Thượng ngồi trên tạng đá đó làm bài thơ bốn câu Minh Thành còn nhớ rõ.
Đường phố xe hoa lại
Trên biển tàu tới lui
Dòng đời luôn chuyển đổi
Bệ đá đạo nhân ngồi.
Ngồi trên tạng đá đó có thể thấy được trên đồi và dưới biển cho nên xe qua lại tới tui, mà dưới biển thì tàu tới lui, dòng đời luôn chuyển đổi mà bện đá đạo nhân ngồi.
Mình phải nhìn sâu sắc, mình không chuyển theo cảnh đó. Mình chuyển theo cảnh đó luôn thì thuận dòng luôn rồi đâu có nghịch lưu.
Cho nên dòng đời luôn chuyển đổi nhưng mà bệ đá đạo nhân ngồi.
Bên đá đó là Tứ Niệm Xứ, là quán sát thân tâm, là an trụ trong chánh niệm tỉnh thức, là nhớ không quên, là chánh niệm, chánh trí, là chánh quán đó là bện đá, đó là cội bồ đề.
Cho nên mình phải quán chiếu một cách sâu sắc về vô ngã và nhất là cái thân này. Mình đang nói thân, thọ, tâm, tư tưởng, vận hành. Pháp là nhận thức, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhận thức của mình của giống vậy.
Vậy trở lại vấn đề bảy hình thái này nó là gì? Là nó rỗng không, khác lạ.
Hai chữ “Khác lạ” mà mình chiêm nghiệm được là hay lắm. Thân này không có quen, mình tưởng là quen.
Bữa đó Minh Thành về trên núi ngồi ăn cơm với Ba Minh Thành. Khi dọn đồ ra hết thì Ba nói là trời ơi quên, mình tưởng đâu chuyện gì thì quên lấy hàm răng thì sao mà nhai. Mình thấy nó khác lạ chứ, hồi xưa không có răng bây giờ cũng không có răng. Bữa đó xem chút xíu là Minh Thành là ngộ đạo luôn rồi. Đang cắn thì rớt đồ ăn xuống mình hết hồn không biết răng của ai mà quên rằng đó là răng bọc sứ mà mình quên bỏ vào, bữa giờ gắn vào mà bữa nay quên.
Lúc đó là xém nữa là chứng quả tu đạo hoàng, thấy bất ngờ tự nhiên răng lọt ra, mình thấy rõ ràng không phải mình, bữa đó là tuệ quán sâu nữa là bữa nay không còn ngồi đây nữa rồi, xuống dưới ngồi.
Từ chỗ đó mình chiêm nghiệm ra tại sao các vị hiền tăng, các vị thánh tăng, các vị cao tăng hồi xưa ta ngộ đạo là đúng thực sự.
Ta chứ chiêm nghiêm như vậy mà đến khi cầu sập hay lá rụng hay gì đó mình thấy rõ cái vấn đề lắm. Bình thường mình quán chiếu liên tục thì có chuyện sẽ rõ ra vấn đề.
Cho nên mình thấy nó khác lạ, nó lạ lắm, mình tưởng đâu người lạ không quen, không phải, chính đây là không quen.
Chính bản thân này không quen với mình, ghê chưa? Cái tâm của mình cũng không quen. Tự nhiên nó giận lên rồi làm đủ thứ nó đâu có quen, mấy cái tâm nó không có quen.
Nào giờ có ai nói mấy cái này chưa? Đúng là lạ đó.
Quán chiếu mới thấy được, sâu sắc lắm. Rỗng không, hoàn toàn không vô chủ.
Giờ mình nói đến vô chủ hay lắm. Mình tưởng mình là chủ cái thân này, đừng có mơ, xin đừng đem dạ tưởng mơ, làm gì mà chủ. Mình tường đâu mình là chủ thân này, không có, sao chủ được.
Có ông đó ổng bị tai nạn gãy giò, phải cắt ra cưa. Sau đó người ta phải ráp cái chân của người chết qua cho ổng, thì mỗi lần ổng đi tắm ổng kỳ cái chân của ổng còn cái chân được ráp ổng không kỳ, ổng nói cái chân của người chết.
Như vậy cái chân đó của ổng hay chân của người ta.
Nếu của người ta sao gắn vào chân của ổng và nếu của ổng thì sao gắn chân của người ta vô.
Tất cả pháp đều là cấu tạo, lắp ráp xài tạm thôi. Không có bản chất thật. Mình lầm, mình vô minh, si mê, tà kiến, minh thấy sai. Từ cái vô sự đó mình làm rùm beng lên hết trơn cho khổ nhau chơi rồi chung vào hòm. Nó khổ không?
Cho nên Đức Phật, Bồ Tác mới nói đáng thương xót vậy.
Quá thương, ăn xong rồi quậy, kiếm chuyện quậy hoài. Ngoài đời quậy đã rồi vô chùa quậy nữa. Không có chủ, mình không có quyền gì hết.
Ví dụ: giờ mình nằm xuống nói 2h khuya dậy nha, không nó ngủ đến sáng luôn.
Để đồng hồ mà reo nhỏ là ngủ luôn. Giờ bảo nó nằm xuống ngủ luôn, nó không chịu, nó lăn qua, lăn lại, lấy đồng hồ coi rồi lăn tiếp tục nữa. Mình đâu có làm chủ nó đau. Giờ mình nói không được giận mà vẫn giận thì đó là vô chủ.Quán chiếu cái thân vô chủ này, vì nó mà mình khổ biết bao. Cho nên giữa người có trí huệ và người không có trí huệ khác nhau. Phải quán chữ vô chủ, không có chủ, mình không có quyền gì với thân này hết.
Nói quyền là nói trong tương đối, nói trong cạn cợt thôi còn nói thật thì không có. Giờ nó bệnh mình giỏi ra lệnh cho nó hết bệnh đi, nếu mà ra lệnh được là ngon đó.
Mới bữa rằm tháng giêng có cô phật tử đến nói, thầy ơi chồng con sắp đến rồi, ổng đang nằm bệnh viện. Đó là bác sĩ tám mươi mấy tuổi rồi. Mình Thành vỗ vai nói bác sĩ sao vô bệnh viện trị bệnh người ta thôi thứ. Không, bác sĩ cũng vô bệnh viện thầy ơi. Thấy chưa làm gì mình có quyền, nó tương đối thôi. Mình trị cho người ta hết, tới phiên mình thì kiếm người khác trị cho mình, bác sĩ thì không bênh sao.
Cho nên mình suy xét cái chữ vô chủ này hay lắm, cho nên mình phải chiêm nghiệm. Mình không có quyền hành, nó không chiều theo ý muốn của ai hết, không chiều theo ý muốn mới có nhiều chuyện xảy ra.
Cho nên mình phải quán chiếu một cách sâu sắc, quán chiếu cho tinh tường thân tâm, ngũ quẫn. Chỗ này là chỗ đem lại hạnh phúc, giác ngộ, giải thoát. Chỗ này là chỗ đem lại cho mình tự tại, thảnh thơi và bình an. Chỗ này đem lại niềm vui sự hiểu biết lớn, tình thương bao la ở chỗ này, đừng đi tìm chỗ nào khác. Đừng đi tìm pháp nào khác ở ngoài thân tâm của mình. Từ nơi thân, tâm ngủ quẩn này mà mình kiến lập được chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh trí. Dùng tam tướng để soi rọi nó. Cho nên phải nhớ đừng có quên, nhớ tâm này, nhớ thân này, nhớ năm quẩn, nhớ sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu tưởng, sáu thọ, sáu súc. Nhớ thấy được bản chất của nó, đừng để cho nó lừa thì đó là người chân tu, tu sâu, đâu có gì khác đâu.