Khất Thực Thiền Quán - Ân Đức Thế Tôn - Độc Cư & Khổ Hạnh
Khất Thực Thiền Quán
Ân Đức Thế Tôn
Độc Cư & Khổ Hạnh
Thích Minh Thành
Ngày 17 Tháng 12 Năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kinh Sư Tử Hống PAGEREF _Toc128904405 \h 1
II. Trình Pháp PAGEREF _Toc128904406 \h 6
III. Hy hữu sự xuất hiện của Đức Như Lai PAGEREF _Toc128904407 \h 13
I. Kinh Sư Tử Hống
Đức Phật kể về thời gian sáu năm tu khổ hạnh trong rừng, Đại Kinh Sư Tử Hống.
“Này Sariputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh:
Về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất;
Về bần uế, Ta bần uế đệ nhất;
Về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất;
Về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.
Này Sariputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau:
Ta sống lõa thể, phóng túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men.
Ta chỉ nhận đồ ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng.
Ta nuôi sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống.
Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú.
Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu tóc,
Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chỏ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chỏ hỏ.
Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy,
Sống ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm.
Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách. Này Sariputta, như vậy là khổ hạnh của Ta.
Này Sariputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng; cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Này Sariputta, Ta không nghĩ rằng: "Với tay của Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta". Này Sariputta, Ta không có nghĩ như vậy. Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.
Này Sariputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sariputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm tư: "Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong những ác đạo của họ!" Này Sariputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.
Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta.
Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.
Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú tại chỗ ấy. Này Sariputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này Sariputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này Sariputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghe sau đây được khởi lên:
Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,
Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.
Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những thuyết như sau, có những kiến giải như sau:
"Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ nói: "Chúng ta sống nhờ trái táo", và họ ăn trái táo, họ ăn bột táo, họ uống nước trái táo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một trái táo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: "Trái táo thời ấy to lớn". Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì trái táo thời ấy giống với trái táo hiện tại.
Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu.
- Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo.
- Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà.
- Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh.
- Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát.
- Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu.
- Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn.
- Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng" chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống.
- Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít.
- Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ nói: "Chúng ta sống nhờ đậu xanh... (như trên)... chúng ta sống nhờ vừng mè... (như trên)... chúng ta sống nhờ hột gạo", và họ ăn hột gạo, họ ăn hột gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình thức.
Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: "Hột gạo thời ấy to lớn". Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu.
Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu.
Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy.
Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.”
(Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Sư Tử Hống)
II. Trình Pháp
Chúng ta cùng nhau chiêm nghiệm về ân đức của Thế Tôn.
Phật tử số 1 trình pháp:
Kính đảnh lễ sư phụ, quý chư tôn hiền đức, tăng, ni cùng quý chư hiền.
Con xin tri ân sư phụ đã mở bài kinh nói về sự khổ hạnh của Đức Thế Tôn. Khi con nghe sự hành trình khổ hạnh của Ngài, lòng con dâng lên một nỗi niềm xúc động. Những hình ảnh về sự khổ hạnh đệ nhất của Ngài, hy sinh cả thân mạng, từ việc nhịn ăn, nhịn uống, cho đến ăn những thứ như phân bò hay là phải dằm mình trong tiết trời lạnh buốt hoặc nắng cháy. Với sự để thân trần không có vải che thân thì con rất thương, dâng lên một lòng thương tưởng và biết ơn sâu sắc đối với Đức Phật.
Con dâng lên lòng tôn kính tột cùng đối với sự hy sinh của Ngài, để đi tìm đạo giải thoát. Nhờ có ân đức của Ngài, mà bây giờ con được thừa hưởng cũng như đệ tử của Ngài được thừa hưởng, những hạnh phúc, những trí tuệ của Ngài để lại. Khi nghe những hành trình đó, trong con cũng có sự liên tưởng đến những thời mà mình còn nhỏ, nó hiện ra những cảnh khổ của cuộc đời con. Khi con còn nhỏ cha mẹ ở trong rừng, lúc đó chưa phát triển thị thành thì cũng ẩn sâu trong rừng và sống nương nhờ nơi vạt rừng. Khi có những người kiểm lâm đến thì núp, chạy trốn, không dám đối diện vì sợ người ta đuổi.
Rồi những hình ảnh nhỏ mình rất đói khổ, phải đi nhặt những trái cây trôi trên sông, thấy còn ăn được là nhặt đem về ăn. Nó hiện ra những hình ảnh như vậy khiến con rất xúc động. Trong lòng con cảm thọ dâng lên sự thương kính tột cùng đối với Đức Thế Tôn và trong con thầm khởi lên ý hành, hôm nay mình được thừa hưởng những điều kiện rất tốt đẹp, nhờ có ân đức của Thế Tôn và tâm từ của sư phụ thì hôm nay mình được rất nhiều lợi ích may mắn như vậy mà bản thân so với sự tu học mà Đức Thế Tôn đã trải qua thì mình thấy rất xấu hổ, mình được ăn sung mặc sướng, lạnh một chút cũng chịu không nổi hay có khi buông lung, giải đãi nên trong lòng con khởi lên ý hành là phải quyết chí, tinh tấn, nỗ lực, phải có một sự thành tựu trong giáo pháp mà Đức Thế Tôn quá là gian lao mà có thể tìm ra được cái con được giải thoát.
Đó là những cảm thọ của con khi sư phụ mở bài kinh và con xin thành kính tri ân sư phụ, chư tôn, hiền đức, tăng, ni và quý chư hiền.
Phật tử số 2 trình pháp:
Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Hôm nay được sư phụ mở bài kinh Sư tử hống về sự khổ hạnh của Đức Phật, trong con trào dâng cảm giác biết ơn Đức Phật. Trong kinh trước đây con được đọc, Đức Phật đã thành tựu Chánh tri kiến và Ngài chỉ cần tu thêm tối đa là bảy kiếp nữa là có thể giải thoát nhưng vì thương chúng sanh khổ nên Ngài đã phát nguyện với Đức Phật Ca-diếp là sẽ thành vị Phật tiếp theo để độ chúng sanh và Ngài đã trải qua bốn A-tăng-tì kiếp và ba trăm ngàn đại kiếp. Nó dài không thể tưởng, Ngài sanh tử không biết bao nhiêu lần, chịu biết bao nhiêu là nước mắt, đáng lẽ Ngài đã giải thoát nhưng vì thương tưởng nên phải chịu biết bao nhiêu là đau khổ.
Tình thương của Ngài thật lớn lao và trong kiếp cuối cùng, Ngài thành đạo thì Ngài đã trải qua biết bao nhiêu là gian khổ.
Trong bài kinh, Đức Phật cũng đã kể lại những khổ hạnh Ngài đã trải qua và những khổ hạnh này là những pháp hành của những Bà-la-môn là Ngài muốn trải qua hết tất cả những khổ hạnh, pháp môn hiện có để Ngài trải nghiệm và khi Ngài trải nghiệm qua tất cả những khổ hạnh của tất cả những pháp môn, những tà kiến nhưng Đức Phật vẫn không tìm thấy con đường để giải thoát. Nên con thấy việc tìm được con đường giải thoát quả là một vấn đề cực kì khó khăn và gian nan, không phải dễ để có được Chánh pháp như ngày hôm nay, để có thể cho chúng sanh được học.
Đó là sự đau khổ, sự hy sinh biết bao nhiêu của Ngài, để chúng con có con đường để giải thoát, trong con thật biết ơn Ngài. Nhiều lúc chúng con vô minh, Ngài đã cực khổ biết bao nhiêu, sư phụ, bậc đạo sư đã cực khổ biết bao nhiêu để tìm ra Chánh pháp. Nhưng chúng con sướng quá, được gặp nhưng không trải qua những đau khổ, những khó khăn nên nhiều lúc trong con vẫn có sự chủ quan, chưa đặt hết lòng nhiệt thành để học pháp, hành pháp nên con thật biết ơn Đức Thế Tôn đã vì chúng con chịu nhiều đau khổ. Tình thương của Ngài thật lớn lao, để cứu độ chúng sanh, con xin tri ân trên Thế Tôn, sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Sư phụ:
Mời chúng ta chia sẻ cảm thọ của mình về ân đức của Thế Tôn. Giờ phút này mình làm cho mình sanh khởi những cảm thọ cảm ơn, biết ơn, tôn kính đối với bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tu hạnh chứng ngộ, truyền trao Thánh pháp cho mình, cũng như mình được thừa hưởng ân đức rộng lớn đó.
Phật tử số 3 trình pháp:
Con kính bạch trên thầy, quý ni sư, quý thầy cùng toàn thể đại chúng hiền trí.
Hôm nay, sau khi khất thực và ngồi dưới cội cây này, được nghe thầy mở về bài kinh về cuộc đời khổ hạnh của Đức Phật, lòng con trào dâng một niềm cảm xúc, cảm thọ cung kính và biết ơn Phật vô cùng.
Tưởng, hành của con nhớ đến những ngày tháng con tu học ở Ấn Độ, con thường ngồi dưới gốc cây như thế này để thọ thực. Một mình con chiêm nghiệm và nghĩ về những lời dạy của Đức Phật, con thương Phật nhiều lắm. Thật sự thì thời tiết của Ấn Độ khắc nghiệt vô cùng, không như ở bên đây. Chúng ta có đầy đủ điều kiện, khí hậu, mọi thứ ôn hòa, mát mẻ. Thời tiết bên Ấn Độ nóng thật khủng khiếp. Nhưng từ bên này Đức Phật phải đi qua nơi kia vô cùng xa, nhưng Phật thường đi bộ để khất thực trong cái nóng kinh khủng mà Ngài đầu trần, chân đất.
Mỗi khi nghĩ về hình ảnh của Đức Phật như vậy thì con thương Phật nhiều lắm, Ngài đã chịu bao nhiêu đắng cay, đau khổ vì thương tưởng đối với chúng sanh. Con thật không biết nói như thế nào về cảm xúc của con lúc này. Con chỉ biết nói là con rất thương Phật vì ở bên Ấn Độ thời tiết khắc nghiệt mà Phật trải qua tất cả những khổ hạnh và đạt được giác ngộ.
Và ngày hôm nay, hàng hậu học chúng con được thừa hưởng ân đức của Đức Phật nhưng đôi khi ngồi lại, chiêm nghiệm lại thì chúng con đã thực hành bao nhiêu lời dạy của Đức Phật, khổ một chút, nóng một chút, lạnh một chút, ăn đói khổ một chút là khó chịu. Lúc nào cũng bảo vệ bản thân này, mong cho nó đầy đủ, sung sướng. Còn những lời dạy của Đức Phật, những gì Ngài đã trải qua thì lãng quên, cho đó là “Ngày xưa Phật sống như vậy thôi còn bây giờ mình không đủ sức. Thôi cứ tu từ từ!” Rồi chểnh mảng, dễ vui, buông lung, phóng dật.
Nếu như không có thầy, những bậc đạo sư, những người tha thiết tìm cầu con đường Chánh pháp, khai mở cho chúng con một con đường dựng lại Chánh pháp nơi đây thì liệu chúng con còn trôi lăn biết bao nhiêu kiếp đắng cay, đau khổ nữa. Luân hồi, trôi lăn nhiều kiếp vô cùng chán chê và mỏi mệt.
Nhưng hôm nay Chánh pháp đã dựng lại nơi đây, tăng thân, tăng đoàn nơi đây sống và hành theo đúng lời của Đức Phật, thì con nghĩ tất cả chúng ta cũng sẽ nếm hưởng hương vị, mùi vị của giải thoát. Những gì Đức Phật đã trải qua, Đức Phật cũng là một con người bằng xương bằng thịt, như tất cả thầy trò chúng ta, những huynh đệ đang đi trên lộ trình giải thoát, Ngài cũng thực chứng bằng chính bản thân của mình, đem thân mình ra trải nghiệm, tu học và chứng ngộ, thành tựu con đường giải thoát thì hương vị đó thì thầy trò chúng ta được giải thoát.
Khi nghĩ đến đó thì con rất biết ơn Phật, thương Phật vô cùng và con nguyện sẽ đi theo con đường Chánh pháp cho đến cuối cùng. Phật ơi, Thế Tôn ơi, chư vị hiền thánh ơi! Con thương các Ngài lắm, con nguyện sẽ đi theo con đường này, cho đến hơi thở cuối cùng.
Phật tử số 4 trình pháp:
Con cung kính kính trên bậc đạo sư tôn kính, bạch trên sư phụ tôn kính, trên ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng chư hiền giả kính mến.
Đệ tử con Sa-di-ni, pháp danh Hiền Trang xin có vài lời chia sẻ về cảm thọ.
Tâm con hướng về Đức Thế Tôn, người thầy vĩ đại của chư thiên và loài người. Con thì mới biết đến Phật pháp từ 2010, là khi mẹ con qua đời, con về chùa và con biết tới Phật pháp và sự đau khổ khi mất người thân, con mới tiếp cận được Phật pháp. Con cũng chưa am hiểu gì nhiều và có duyên con coi được mấy bộ phim về cuộc đời Đức Phật, về lòng thương tưởng, về sự đau xót sanh già bệnh chết mà Ngài từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con xinh, nửa đêm ra đi tìm thầy học đạo nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được và Ngài quyết định tự tu.
Trong bao nhiêu ngày gian khổ, Ngài đã tìm ra con đường chân lý,để cứu độ chúng sanh, cứu độ muôn loài. Khi con biết đến đạo Phật và nhân duyên con được tiếp cận và đi sâu vào dòng pháp Nikāya. Con càng thấm sâu và lòng khắc ngưỡng, kính mến Đức Thế Tôn. Và những gì Đức Thế Tôn để lại, hiện tại đây, đang có một ân sư trên cuộc đời này, là bậc đạo sư tôn kính. Việc Đức Phật đã làm, cần làm thì Thế Tôn đã làm xong. Giờ này, việc cần làm bậc đạo sư đã làm xong, việc cần làm sư phụ cũng đã làm.
Việc cần làm của chúng con đối với người con Phật chân chánh, chúng con nguyện tinh tấn, nhất hướng phòng tín 49:29 để giữ gìn pháp bảo này.
Trong bài kinh Đức Phật có dạy: Việc cần làm các ông hãy làm. Và giờ này việc chúng con phải làm là nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si; thoát ly sanh tử. Cách đây hai ngày, hoặc ba ngày, con nghe một bài kinh của Đức Thế Tôn, nhưng lần đầu tiên con tiếp xúc, con cũng không nhớ kĩ lắm. Mà con nhớ được hai câu:
Chừng nào xuất hiện người ngu trên đời thì vi diệu pháp sẽ biến mất.
Thế Tôn ơi, con sẽ không là người ngu, để pháp của người biến mất đâu! Con sẽ tinh tấn từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây phòng hộ tâm, nhiếp phục thân tâm, tinh tấn tu hành theo lời bậc đạo sư, lời sư phụ đã chỉ dạy.
Con xin cám ơn Đức Thế Tôn. Con cảm ơn Đức Thế Tôn, bậc đạo sư, sư phụ nhiều lắm, con cảm ơn tất cả chư tôn, hiền đức, chư ni, quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng đã cho con về nơi đây để nương tựa tu học trong dòng Thánh pháp này. Con xin tri ân đến tất cả.
Phật tử số 5 trình pháp:
Con kính thưa trên thầy, quý thầy, quý chư tăng ni, quý đạo hữu tu tập dòng Thánh pháp Nikāya.
Hôm nay là thứ sáu, ngày 16 tháng 12, cũng là ngày hội đủ nhiều nhân duyên thiện lành, con xin được nói lên đôi lời dòng cảm xúc, cảm thọ từ khi biết về Thánh pháp của Đức Thế Tôn.
Lễ 54:00 thứ nhất, con xin cung kính, tôn kính, cảm kính Đức Phật, Chánh pháp, chúng tăng. Hôm nay là một ngày cũng là lần đầu tiên trong đời của con, từ khi con biết được Thánh pháp và được đầy đủ duyên lành có mặt tại nơi này. Con xin cảm ơn mọi nhân duyên thiện lành. Buổi trưa thọ thực chánh quán hôm nay, qua các duyên, con cảm xúc, cảm nhận được ân đức của Đức Thế Tôn thật là sâu dày, cao cả, thanh tịnh, không còn một sự khổ nào trên nữa.
Trong con có dòng cảm thọ, thấy lòng từ bi của Đức Thế Tôn đã trải qua và chấp nhận những sự khổ cực của tự thân để được dòng Thánh pháp Nikāya còn lại và hiện hữu như hôm nay để chúng con thọ nhận. Chúng con nương nhờ Đức Thế Tôn, nhờ Ngài đã cho thấy được Chánh pháp của Ngài, đó là Bốn Thánh Trí về khổ và sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Nhờ Đức Thế Tôn mà chúng con thọ nhận được những dòng Thánh pháp thần diệu, kỳ diệu, vi diệu này trên tự thân tâm của chúng con. Qua đó, chúng con xin cảm niệm ân đức sâu dài của Đức Thế Tôn, đến Chánh pháp.
Đồng thời chúng con cũng cảm niệm ân đức trên các bậc chư tăng, ni, hiền đức. Ở đây, ân đức của chúng con, trước mặt chúng con là vị thầy, vị đạo sư của con, là những bậc ân nhân của con. Con xin đem tấm lòng, tri ân cảm ơn, nhờ trên thầy và những bậc đạo sư đã chỉ dẫn, hướng dẫn dòng Thánh pháp này nên chúng con mới hiểu được thế nào là năm uẩn và từ đó chúng con thấy được tự thân tâm đây là niềm ân đức, dòng cảm thọ, cảm xúc.
Chúng con xin được quy y Thế Tôn, Chánh pháp, chúng tăng, mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ đây cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Phật tử số 6 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí.
Từ đầu giờ đến giờ khi được nghe trích một đoạn kinh về khổ hạnh của Đức Phật trong đại kinh Sư tử hống. Con được nghe các bậc hiền trí trình pháp, con cũng đang nghiền ngẫm, tư duy, niệm nhớ về ân, đức của Phật, con thấy rất là quý, kính, tôn trọng Đức Phật quá. Bởi vì con nhớ đến đức hạnh của Ngài, Ngài là một con người vĩ đại hơn tất cả những con người. Bởi vì tất cả những gì Ngài có, Ngài đã xả bỏ hết tất cả để vào rừng sâu, núi thẳm tu hành khổ hạnh, với mục đích là tìm ra sự giác ngộ cứu cánh, để giải thoát cho tự thân Ngài và muôn loài chúng sanh.
Trong khi cái mà Ngài đã buông bỏ, thì tất cả chúng sanh lại ngày đêm thức khuya, dậy sớm, bao nhiêu thứ phiền não để đi tìm lại những gì Ngài đã quăng bỏ. Nước biển có thể người ta uống được, gió có thể người ta đo lường được, nhưng ân đức của Thế Tôn không bao giờ đo lường được, không ai so sánh được với Ngài.
Cho đến khi Thế Tôn thành đạo, Ngài đi hoằng dương Chánh pháp, không những người ta tôn kính, tôn trọng Thế Tôn mà bên cạnh đó, Ngài còn bị người ta mắng chửi, sỉ nhục trước mặt Ngài, nhất là những vị ngoại đạo khác lại kiếm chuyện, gây sự với Ngài. Nhưng đức hạnh của Ngài vẫn điềm đạm, Ngài lan tỏa tình thương đại bi tâm của Ngài để giáo hóa chúng sanh, tất cả những gì Ngài làm, con cảm nhận được rằng, vì tình thương mà Ngài tu khổ hạnh, Ngài phải thiền định, trì giới, tu tập trí tuệ để đem lại sự lợi lạc cho chúng sanh. Tất cả vì đại bi tâm của Thế Tôn.
Hiện tại chúng con giờ đây ở một ngôi chùa có một đạo tràng sinh hoạt, được khoác lên những tấm y, cạo được đầu tròn, có được bát cơm này ăn, có được sự hiểu biết về Phật pháp, tất cả là từ Thế Tôn, Tam bảo, Chánh pháp, từ ân đức của sư phụ đã truyền trao, chỉ lại.
Chính những điều đó đã ghi khắc trong lòng chúng con quyết tâm phải làm sao vừa pháp học, vừa pháp hành và phải đi đến pháp thành. Chính vì chỗ đó để truyền trao Chánh pháp, nắm giữ mạng mạch Chánh pháp, để lan tỏa Chánh pháp này, làm lan tỏa mọi người thì chính điều đó chúng con đã một phần nào để đền đáp được ơn của Thế Tôn, của bậc đạo sư, sư phụ đã không quản ngày đêm cực khổ, suy tư, trằn trọc để hướng dẫn, dẫn dạy cho chúng con thể nhập Chánh pháp này.
Con xin thành kính tri ân trên sư phụ cùng toàn thể các bậc hiền trí đã lắng nghe con chia sẻ.
III. Hy hữu sự xuất hiện của Đức Như Lai
Sư phụ giảng giải:
Trong kinh Tăng Chi Bộ, chương Một pháp, phẩm Một người, Thế Tôn nói:
Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ- kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
2. Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời.
3. Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người vi diệu. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người vi diệu.
4. Sự mệnh chung của một người, này các Tỷ-kheo, được đa số thương tiếc. Của một người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự mệnh chung của một người này, này các Tỷ-kheo, được đa số thương tiếc.
5. Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thắng giữa các loài hai chân.
6-17. Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại-minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của mình và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là sự chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán.
18. Ta không thấy một người nào khác, này các Tỷ- kheo, có thể chơn chánh chuyển vận Vô thượng Pháp luân do Như Lai chuyển vận, này các Tỷ-kheo, như Xá-lợi-phất. Xá-lợi-phất, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển vận Vô thượng Pháp luân do Thế Tôn chuyển vận.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Một Pháp – Phẩm Một Người – Bài kinh Như Lai)
Chúng ta ngồi dưới cội cây này, đắp trên mình chiếc huỳnh y, chiếc áo giải thoát, cầm trên tay một chiếc bình bát, ngồi dưới bãi đất trống. Chúng ta là những người con ngoan của Đức Phật, là những người con nghe lời, những đứa con dễ dạy, dễ bảo, biết nghe lời cha mẹ. Trong giây phút này chúng ta sanh khởi lên những cảm thọ cùng cực của sự tôn kính, cùng tột của sự biết ơn, cùng tột của sự nhớ ơn, trong giây phút này, chúng ta sanh khởi lên cảm thọ cùng tột của sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn và tôn kính Đức Thế Tôn, Chánh pháp tối thượng mà Ngài đã chứng ngộ, truyền trao.
Tôn kính Thánh trí năm uẩn, Bốn Thánh trí năm uẩn, Bốn Thánh trí lậu hoặc, tôn kính Thánh đạo mà Ngài đã để lại, tôn kính Thánh pháp mà các bậc Thánh tăng đã truyền thừa, tôn kính Thánh chúng đã dùng huyết lệ, xương tủy duy trì, bảo vệ, truyền bá, thực tu, thực chứng Thánh pháp tối thượng Nikāya này.
Chúng ta cùng nhau niệm gia tài của Phật.
Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Niệm cúng dường tối thượng:
Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Niệm lời dạy sau cùng của Đức Phật:
Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”. Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Mắt Thế Tôn nhìn xa ngoài muôn dặm,
Lòng Thế Tôn như biển thắm xanh màu,
Tay hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu,
Ban pháp nhũ giúp chúng con diệt khổ.
Thân Phật thanh tịnh tựa lưu ly,
Trí Phật rạng ngời như trăng sáng,
Phật ở thế gian thường cứu khổ,
Tâm Phật không đâu không từ bi.
Trên trời dưới trời không ai bằng Phật,
Cùng khắp mười phương không gì sánh,
Tất cả thế gian con đều thấy,
Không một ai so sánh được với Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thể Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Ân Đức Thế Tôn
Độc Cư & Khổ Hạnh
Thích Minh Thành
Ngày 17 Tháng 12 Năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kinh Sư Tử Hống PAGEREF _Toc128904405 \h 1
II. Trình Pháp PAGEREF _Toc128904406 \h 6
III. Hy hữu sự xuất hiện của Đức Như Lai PAGEREF _Toc128904407 \h 13
I. Kinh Sư Tử Hống
Đức Phật kể về thời gian sáu năm tu khổ hạnh trong rừng, Đại Kinh Sư Tử Hống.
“Này Sariputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh:
Về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất;
Về bần uế, Ta bần uế đệ nhất;
Về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất;
Về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.
Này Sariputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau:
Ta sống lõa thể, phóng túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men.
Ta chỉ nhận đồ ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng.
Ta nuôi sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống.
Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú.
Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu tóc,
Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chỏ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chỏ hỏ.
Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy,
Sống ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm.
Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách. Này Sariputta, như vậy là khổ hạnh của Ta.
Này Sariputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng; cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Này Sariputta, Ta không nghĩ rằng: "Với tay của Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta". Này Sariputta, Ta không có nghĩ như vậy. Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.
Này Sariputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sariputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm tư: "Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong những ác đạo của họ!" Này Sariputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.
Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta.
Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.
Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú tại chỗ ấy. Này Sariputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này Sariputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này Sariputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghe sau đây được khởi lên:
Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,
Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.
Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những thuyết như sau, có những kiến giải như sau:
"Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ nói: "Chúng ta sống nhờ trái táo", và họ ăn trái táo, họ ăn bột táo, họ uống nước trái táo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một trái táo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: "Trái táo thời ấy to lớn". Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì trái táo thời ấy giống với trái táo hiện tại.
Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu.
- Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo.
- Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà.
- Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh.
- Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát.
- Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu.
- Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn.
- Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng" chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống.
- Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít.
- Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ nói: "Chúng ta sống nhờ đậu xanh... (như trên)... chúng ta sống nhờ vừng mè... (như trên)... chúng ta sống nhờ hột gạo", và họ ăn hột gạo, họ ăn hột gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình thức.
Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: "Hột gạo thời ấy to lớn". Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu.
Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu.
Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy.
Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.”
(Trung Bộ Kinh – Đại Kinh Sư Tử Hống)
II. Trình Pháp
Chúng ta cùng nhau chiêm nghiệm về ân đức của Thế Tôn.
Phật tử số 1 trình pháp:
Kính đảnh lễ sư phụ, quý chư tôn hiền đức, tăng, ni cùng quý chư hiền.
Con xin tri ân sư phụ đã mở bài kinh nói về sự khổ hạnh của Đức Thế Tôn. Khi con nghe sự hành trình khổ hạnh của Ngài, lòng con dâng lên một nỗi niềm xúc động. Những hình ảnh về sự khổ hạnh đệ nhất của Ngài, hy sinh cả thân mạng, từ việc nhịn ăn, nhịn uống, cho đến ăn những thứ như phân bò hay là phải dằm mình trong tiết trời lạnh buốt hoặc nắng cháy. Với sự để thân trần không có vải che thân thì con rất thương, dâng lên một lòng thương tưởng và biết ơn sâu sắc đối với Đức Phật.
Con dâng lên lòng tôn kính tột cùng đối với sự hy sinh của Ngài, để đi tìm đạo giải thoát. Nhờ có ân đức của Ngài, mà bây giờ con được thừa hưởng cũng như đệ tử của Ngài được thừa hưởng, những hạnh phúc, những trí tuệ của Ngài để lại. Khi nghe những hành trình đó, trong con cũng có sự liên tưởng đến những thời mà mình còn nhỏ, nó hiện ra những cảnh khổ của cuộc đời con. Khi con còn nhỏ cha mẹ ở trong rừng, lúc đó chưa phát triển thị thành thì cũng ẩn sâu trong rừng và sống nương nhờ nơi vạt rừng. Khi có những người kiểm lâm đến thì núp, chạy trốn, không dám đối diện vì sợ người ta đuổi.
Rồi những hình ảnh nhỏ mình rất đói khổ, phải đi nhặt những trái cây trôi trên sông, thấy còn ăn được là nhặt đem về ăn. Nó hiện ra những hình ảnh như vậy khiến con rất xúc động. Trong lòng con cảm thọ dâng lên sự thương kính tột cùng đối với Đức Thế Tôn và trong con thầm khởi lên ý hành, hôm nay mình được thừa hưởng những điều kiện rất tốt đẹp, nhờ có ân đức của Thế Tôn và tâm từ của sư phụ thì hôm nay mình được rất nhiều lợi ích may mắn như vậy mà bản thân so với sự tu học mà Đức Thế Tôn đã trải qua thì mình thấy rất xấu hổ, mình được ăn sung mặc sướng, lạnh một chút cũng chịu không nổi hay có khi buông lung, giải đãi nên trong lòng con khởi lên ý hành là phải quyết chí, tinh tấn, nỗ lực, phải có một sự thành tựu trong giáo pháp mà Đức Thế Tôn quá là gian lao mà có thể tìm ra được cái con được giải thoát.
Đó là những cảm thọ của con khi sư phụ mở bài kinh và con xin thành kính tri ân sư phụ, chư tôn, hiền đức, tăng, ni và quý chư hiền.
Phật tử số 2 trình pháp:
Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Hôm nay được sư phụ mở bài kinh Sư tử hống về sự khổ hạnh của Đức Phật, trong con trào dâng cảm giác biết ơn Đức Phật. Trong kinh trước đây con được đọc, Đức Phật đã thành tựu Chánh tri kiến và Ngài chỉ cần tu thêm tối đa là bảy kiếp nữa là có thể giải thoát nhưng vì thương chúng sanh khổ nên Ngài đã phát nguyện với Đức Phật Ca-diếp là sẽ thành vị Phật tiếp theo để độ chúng sanh và Ngài đã trải qua bốn A-tăng-tì kiếp và ba trăm ngàn đại kiếp. Nó dài không thể tưởng, Ngài sanh tử không biết bao nhiêu lần, chịu biết bao nhiêu là nước mắt, đáng lẽ Ngài đã giải thoát nhưng vì thương tưởng nên phải chịu biết bao nhiêu là đau khổ.
Tình thương của Ngài thật lớn lao và trong kiếp cuối cùng, Ngài thành đạo thì Ngài đã trải qua biết bao nhiêu là gian khổ.
Trong bài kinh, Đức Phật cũng đã kể lại những khổ hạnh Ngài đã trải qua và những khổ hạnh này là những pháp hành của những Bà-la-môn là Ngài muốn trải qua hết tất cả những khổ hạnh, pháp môn hiện có để Ngài trải nghiệm và khi Ngài trải nghiệm qua tất cả những khổ hạnh của tất cả những pháp môn, những tà kiến nhưng Đức Phật vẫn không tìm thấy con đường để giải thoát. Nên con thấy việc tìm được con đường giải thoát quả là một vấn đề cực kì khó khăn và gian nan, không phải dễ để có được Chánh pháp như ngày hôm nay, để có thể cho chúng sanh được học.
Đó là sự đau khổ, sự hy sinh biết bao nhiêu của Ngài, để chúng con có con đường để giải thoát, trong con thật biết ơn Ngài. Nhiều lúc chúng con vô minh, Ngài đã cực khổ biết bao nhiêu, sư phụ, bậc đạo sư đã cực khổ biết bao nhiêu để tìm ra Chánh pháp. Nhưng chúng con sướng quá, được gặp nhưng không trải qua những đau khổ, những khó khăn nên nhiều lúc trong con vẫn có sự chủ quan, chưa đặt hết lòng nhiệt thành để học pháp, hành pháp nên con thật biết ơn Đức Thế Tôn đã vì chúng con chịu nhiều đau khổ. Tình thương của Ngài thật lớn lao, để cứu độ chúng sanh, con xin tri ân trên Thế Tôn, sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Sư phụ:
Mời chúng ta chia sẻ cảm thọ của mình về ân đức của Thế Tôn. Giờ phút này mình làm cho mình sanh khởi những cảm thọ cảm ơn, biết ơn, tôn kính đối với bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tu hạnh chứng ngộ, truyền trao Thánh pháp cho mình, cũng như mình được thừa hưởng ân đức rộng lớn đó.
Phật tử số 3 trình pháp:
Con kính bạch trên thầy, quý ni sư, quý thầy cùng toàn thể đại chúng hiền trí.
Hôm nay, sau khi khất thực và ngồi dưới cội cây này, được nghe thầy mở về bài kinh về cuộc đời khổ hạnh của Đức Phật, lòng con trào dâng một niềm cảm xúc, cảm thọ cung kính và biết ơn Phật vô cùng.
Tưởng, hành của con nhớ đến những ngày tháng con tu học ở Ấn Độ, con thường ngồi dưới gốc cây như thế này để thọ thực. Một mình con chiêm nghiệm và nghĩ về những lời dạy của Đức Phật, con thương Phật nhiều lắm. Thật sự thì thời tiết của Ấn Độ khắc nghiệt vô cùng, không như ở bên đây. Chúng ta có đầy đủ điều kiện, khí hậu, mọi thứ ôn hòa, mát mẻ. Thời tiết bên Ấn Độ nóng thật khủng khiếp. Nhưng từ bên này Đức Phật phải đi qua nơi kia vô cùng xa, nhưng Phật thường đi bộ để khất thực trong cái nóng kinh khủng mà Ngài đầu trần, chân đất.
Mỗi khi nghĩ về hình ảnh của Đức Phật như vậy thì con thương Phật nhiều lắm, Ngài đã chịu bao nhiêu đắng cay, đau khổ vì thương tưởng đối với chúng sanh. Con thật không biết nói như thế nào về cảm xúc của con lúc này. Con chỉ biết nói là con rất thương Phật vì ở bên Ấn Độ thời tiết khắc nghiệt mà Phật trải qua tất cả những khổ hạnh và đạt được giác ngộ.
Và ngày hôm nay, hàng hậu học chúng con được thừa hưởng ân đức của Đức Phật nhưng đôi khi ngồi lại, chiêm nghiệm lại thì chúng con đã thực hành bao nhiêu lời dạy của Đức Phật, khổ một chút, nóng một chút, lạnh một chút, ăn đói khổ một chút là khó chịu. Lúc nào cũng bảo vệ bản thân này, mong cho nó đầy đủ, sung sướng. Còn những lời dạy của Đức Phật, những gì Ngài đã trải qua thì lãng quên, cho đó là “Ngày xưa Phật sống như vậy thôi còn bây giờ mình không đủ sức. Thôi cứ tu từ từ!” Rồi chểnh mảng, dễ vui, buông lung, phóng dật.
Nếu như không có thầy, những bậc đạo sư, những người tha thiết tìm cầu con đường Chánh pháp, khai mở cho chúng con một con đường dựng lại Chánh pháp nơi đây thì liệu chúng con còn trôi lăn biết bao nhiêu kiếp đắng cay, đau khổ nữa. Luân hồi, trôi lăn nhiều kiếp vô cùng chán chê và mỏi mệt.
Nhưng hôm nay Chánh pháp đã dựng lại nơi đây, tăng thân, tăng đoàn nơi đây sống và hành theo đúng lời của Đức Phật, thì con nghĩ tất cả chúng ta cũng sẽ nếm hưởng hương vị, mùi vị của giải thoát. Những gì Đức Phật đã trải qua, Đức Phật cũng là một con người bằng xương bằng thịt, như tất cả thầy trò chúng ta, những huynh đệ đang đi trên lộ trình giải thoát, Ngài cũng thực chứng bằng chính bản thân của mình, đem thân mình ra trải nghiệm, tu học và chứng ngộ, thành tựu con đường giải thoát thì hương vị đó thì thầy trò chúng ta được giải thoát.
Khi nghĩ đến đó thì con rất biết ơn Phật, thương Phật vô cùng và con nguyện sẽ đi theo con đường Chánh pháp cho đến cuối cùng. Phật ơi, Thế Tôn ơi, chư vị hiền thánh ơi! Con thương các Ngài lắm, con nguyện sẽ đi theo con đường này, cho đến hơi thở cuối cùng.
Phật tử số 4 trình pháp:
Con cung kính kính trên bậc đạo sư tôn kính, bạch trên sư phụ tôn kính, trên ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng chư hiền giả kính mến.
Đệ tử con Sa-di-ni, pháp danh Hiền Trang xin có vài lời chia sẻ về cảm thọ.
Tâm con hướng về Đức Thế Tôn, người thầy vĩ đại của chư thiên và loài người. Con thì mới biết đến Phật pháp từ 2010, là khi mẹ con qua đời, con về chùa và con biết tới Phật pháp và sự đau khổ khi mất người thân, con mới tiếp cận được Phật pháp. Con cũng chưa am hiểu gì nhiều và có duyên con coi được mấy bộ phim về cuộc đời Đức Phật, về lòng thương tưởng, về sự đau xót sanh già bệnh chết mà Ngài từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con xinh, nửa đêm ra đi tìm thầy học đạo nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được và Ngài quyết định tự tu.
Trong bao nhiêu ngày gian khổ, Ngài đã tìm ra con đường chân lý,để cứu độ chúng sanh, cứu độ muôn loài. Khi con biết đến đạo Phật và nhân duyên con được tiếp cận và đi sâu vào dòng pháp Nikāya. Con càng thấm sâu và lòng khắc ngưỡng, kính mến Đức Thế Tôn. Và những gì Đức Thế Tôn để lại, hiện tại đây, đang có một ân sư trên cuộc đời này, là bậc đạo sư tôn kính. Việc Đức Phật đã làm, cần làm thì Thế Tôn đã làm xong. Giờ này, việc cần làm bậc đạo sư đã làm xong, việc cần làm sư phụ cũng đã làm.
Việc cần làm của chúng con đối với người con Phật chân chánh, chúng con nguyện tinh tấn, nhất hướng phòng tín 49:29 để giữ gìn pháp bảo này.
Trong bài kinh Đức Phật có dạy: Việc cần làm các ông hãy làm. Và giờ này việc chúng con phải làm là nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si; thoát ly sanh tử. Cách đây hai ngày, hoặc ba ngày, con nghe một bài kinh của Đức Thế Tôn, nhưng lần đầu tiên con tiếp xúc, con cũng không nhớ kĩ lắm. Mà con nhớ được hai câu:
Chừng nào xuất hiện người ngu trên đời thì vi diệu pháp sẽ biến mất.
Thế Tôn ơi, con sẽ không là người ngu, để pháp của người biến mất đâu! Con sẽ tinh tấn từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây phòng hộ tâm, nhiếp phục thân tâm, tinh tấn tu hành theo lời bậc đạo sư, lời sư phụ đã chỉ dạy.
Con xin cám ơn Đức Thế Tôn. Con cảm ơn Đức Thế Tôn, bậc đạo sư, sư phụ nhiều lắm, con cảm ơn tất cả chư tôn, hiền đức, chư ni, quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng đã cho con về nơi đây để nương tựa tu học trong dòng Thánh pháp này. Con xin tri ân đến tất cả.
Phật tử số 5 trình pháp:
Con kính thưa trên thầy, quý thầy, quý chư tăng ni, quý đạo hữu tu tập dòng Thánh pháp Nikāya.
Hôm nay là thứ sáu, ngày 16 tháng 12, cũng là ngày hội đủ nhiều nhân duyên thiện lành, con xin được nói lên đôi lời dòng cảm xúc, cảm thọ từ khi biết về Thánh pháp của Đức Thế Tôn.
Lễ 54:00 thứ nhất, con xin cung kính, tôn kính, cảm kính Đức Phật, Chánh pháp, chúng tăng. Hôm nay là một ngày cũng là lần đầu tiên trong đời của con, từ khi con biết được Thánh pháp và được đầy đủ duyên lành có mặt tại nơi này. Con xin cảm ơn mọi nhân duyên thiện lành. Buổi trưa thọ thực chánh quán hôm nay, qua các duyên, con cảm xúc, cảm nhận được ân đức của Đức Thế Tôn thật là sâu dày, cao cả, thanh tịnh, không còn một sự khổ nào trên nữa.
Trong con có dòng cảm thọ, thấy lòng từ bi của Đức Thế Tôn đã trải qua và chấp nhận những sự khổ cực của tự thân để được dòng Thánh pháp Nikāya còn lại và hiện hữu như hôm nay để chúng con thọ nhận. Chúng con nương nhờ Đức Thế Tôn, nhờ Ngài đã cho thấy được Chánh pháp của Ngài, đó là Bốn Thánh Trí về khổ và sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Nhờ Đức Thế Tôn mà chúng con thọ nhận được những dòng Thánh pháp thần diệu, kỳ diệu, vi diệu này trên tự thân tâm của chúng con. Qua đó, chúng con xin cảm niệm ân đức sâu dài của Đức Thế Tôn, đến Chánh pháp.
Đồng thời chúng con cũng cảm niệm ân đức trên các bậc chư tăng, ni, hiền đức. Ở đây, ân đức của chúng con, trước mặt chúng con là vị thầy, vị đạo sư của con, là những bậc ân nhân của con. Con xin đem tấm lòng, tri ân cảm ơn, nhờ trên thầy và những bậc đạo sư đã chỉ dẫn, hướng dẫn dòng Thánh pháp này nên chúng con mới hiểu được thế nào là năm uẩn và từ đó chúng con thấy được tự thân tâm đây là niềm ân đức, dòng cảm thọ, cảm xúc.
Chúng con xin được quy y Thế Tôn, Chánh pháp, chúng tăng, mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ đây cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Phật tử số 6 trình pháp:
Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí.
Từ đầu giờ đến giờ khi được nghe trích một đoạn kinh về khổ hạnh của Đức Phật trong đại kinh Sư tử hống. Con được nghe các bậc hiền trí trình pháp, con cũng đang nghiền ngẫm, tư duy, niệm nhớ về ân, đức của Phật, con thấy rất là quý, kính, tôn trọng Đức Phật quá. Bởi vì con nhớ đến đức hạnh của Ngài, Ngài là một con người vĩ đại hơn tất cả những con người. Bởi vì tất cả những gì Ngài có, Ngài đã xả bỏ hết tất cả để vào rừng sâu, núi thẳm tu hành khổ hạnh, với mục đích là tìm ra sự giác ngộ cứu cánh, để giải thoát cho tự thân Ngài và muôn loài chúng sanh.
Trong khi cái mà Ngài đã buông bỏ, thì tất cả chúng sanh lại ngày đêm thức khuya, dậy sớm, bao nhiêu thứ phiền não để đi tìm lại những gì Ngài đã quăng bỏ. Nước biển có thể người ta uống được, gió có thể người ta đo lường được, nhưng ân đức của Thế Tôn không bao giờ đo lường được, không ai so sánh được với Ngài.
Cho đến khi Thế Tôn thành đạo, Ngài đi hoằng dương Chánh pháp, không những người ta tôn kính, tôn trọng Thế Tôn mà bên cạnh đó, Ngài còn bị người ta mắng chửi, sỉ nhục trước mặt Ngài, nhất là những vị ngoại đạo khác lại kiếm chuyện, gây sự với Ngài. Nhưng đức hạnh của Ngài vẫn điềm đạm, Ngài lan tỏa tình thương đại bi tâm của Ngài để giáo hóa chúng sanh, tất cả những gì Ngài làm, con cảm nhận được rằng, vì tình thương mà Ngài tu khổ hạnh, Ngài phải thiền định, trì giới, tu tập trí tuệ để đem lại sự lợi lạc cho chúng sanh. Tất cả vì đại bi tâm của Thế Tôn.
Hiện tại chúng con giờ đây ở một ngôi chùa có một đạo tràng sinh hoạt, được khoác lên những tấm y, cạo được đầu tròn, có được bát cơm này ăn, có được sự hiểu biết về Phật pháp, tất cả là từ Thế Tôn, Tam bảo, Chánh pháp, từ ân đức của sư phụ đã truyền trao, chỉ lại.
Chính những điều đó đã ghi khắc trong lòng chúng con quyết tâm phải làm sao vừa pháp học, vừa pháp hành và phải đi đến pháp thành. Chính vì chỗ đó để truyền trao Chánh pháp, nắm giữ mạng mạch Chánh pháp, để lan tỏa Chánh pháp này, làm lan tỏa mọi người thì chính điều đó chúng con đã một phần nào để đền đáp được ơn của Thế Tôn, của bậc đạo sư, sư phụ đã không quản ngày đêm cực khổ, suy tư, trằn trọc để hướng dẫn, dẫn dạy cho chúng con thể nhập Chánh pháp này.
Con xin thành kính tri ân trên sư phụ cùng toàn thể các bậc hiền trí đã lắng nghe con chia sẻ.
III. Hy hữu sự xuất hiện của Đức Như Lai
Sư phụ giảng giải:
Trong kinh Tăng Chi Bộ, chương Một pháp, phẩm Một người, Thế Tôn nói:
Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ- kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
2. Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, khó gặp được ở đời.
3. Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người vi diệu. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người vi diệu.
4. Sự mệnh chung của một người, này các Tỷ-kheo, được đa số thương tiếc. Của một người nào? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự mệnh chung của một người này, này các Tỷ-kheo, được đa số thương tiếc.
5. Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thắng giữa các loài hai chân.
6-17. Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại-minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của mình và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là sự chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán.
18. Ta không thấy một người nào khác, này các Tỷ- kheo, có thể chơn chánh chuyển vận Vô thượng Pháp luân do Như Lai chuyển vận, này các Tỷ-kheo, như Xá-lợi-phất. Xá-lợi-phất, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển vận Vô thượng Pháp luân do Thế Tôn chuyển vận.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Một Pháp – Phẩm Một Người – Bài kinh Như Lai)
Chúng ta ngồi dưới cội cây này, đắp trên mình chiếc huỳnh y, chiếc áo giải thoát, cầm trên tay một chiếc bình bát, ngồi dưới bãi đất trống. Chúng ta là những người con ngoan của Đức Phật, là những người con nghe lời, những đứa con dễ dạy, dễ bảo, biết nghe lời cha mẹ. Trong giây phút này chúng ta sanh khởi lên những cảm thọ cùng cực của sự tôn kính, cùng tột của sự biết ơn, cùng tột của sự nhớ ơn, trong giây phút này, chúng ta sanh khởi lên cảm thọ cùng tột của sự biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn và tôn kính Đức Thế Tôn, Chánh pháp tối thượng mà Ngài đã chứng ngộ, truyền trao.
Tôn kính Thánh trí năm uẩn, Bốn Thánh trí năm uẩn, Bốn Thánh trí lậu hoặc, tôn kính Thánh đạo mà Ngài đã để lại, tôn kính Thánh pháp mà các bậc Thánh tăng đã truyền thừa, tôn kính Thánh chúng đã dùng huyết lệ, xương tủy duy trì, bảo vệ, truyền bá, thực tu, thực chứng Thánh pháp tối thượng Nikāya này.
Chúng ta cùng nhau niệm gia tài của Phật.
Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Niệm cúng dường tối thượng:
Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Niệm lời dạy sau cùng của Đức Phật:
Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”. Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
(Trung Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Mắt Thế Tôn nhìn xa ngoài muôn dặm,
Lòng Thế Tôn như biển thắm xanh màu,
Tay hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu,
Ban pháp nhũ giúp chúng con diệt khổ.
Thân Phật thanh tịnh tựa lưu ly,
Trí Phật rạng ngời như trăng sáng,
Phật ở thế gian thường cứu khổ,
Tâm Phật không đâu không từ bi.
Trên trời dưới trời không ai bằng Phật,
Cùng khắp mười phương không gì sánh,
Tất cả thế gian con đều thấy,
Không một ai so sánh được với Phật.
Nhất tâm đảnh lễ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thể Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.