Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

THÁNH TĂNG THỜI ĐỨC PHẬT 7

2026-03-03 00:52:21
THÁNH TĂNG THỜI ĐỨC PHẬT 7

NGƯỜI KHUYẾT TẬT ĐẠT THÁNH QỦA TỐI CAO

-Thích Minh Thành-

Mục Lục

Người khuyết tật đạt Thánh quả tối cao…………………………2

Các dục tham ở đời là đầy những khổ đau…………………...2

Diệt tận biên tế của khổ đau…………………………………...7

“Không cần” chứng Thánh quả…………………………………10

Cung tên chánh trực, chặt đứt vô minh…………………………13

Người khuyết tật đạt Thánh quả tối cao

Hôm nay chúng ta nghe về chư Tỳ-kheo trưởng lão Thánh tăng thời Đức Phật, Khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời Ngài Paka vị què quặt, sinh ra trong dòng họ, gia đình vua chúa Thích Ca, khi còn nhỏ ngài bị bệnh tê thấp, bước chân khập khiễng khi đi đứng, nên gọi là Paka người què. Khi Đức Thế Tôn về thăm hoàng cung và thuyết pháp cho hoàng tộc nghe, Ngài nghe pháp Đức Thế Tôn và khởi lên lòng tin, Ngài xuất gia theo Đức Thế Tôn về rừng tu tập. Một hôm sau khi đi vào làng khất thực, Ngài ngồi nghỉ dưới gốc cây, có một con diều hâu ngoạm được một miếng thịt bay lên trời cao, ngay lúc đó có những con diều hâu khác rượt đuổi bay theo sau dành, giật, cùng cướp miếng thịt.

Các dục tham ở đời là đầy những khổ đau

Nhìn thấy cảnh đó Ngài suy nghĩ các dục ở đời là đầy những khổ đau. Trí tuệ về dục trong kinh Nikāya nói đến cả hai, lòng khao khát bên trong và những thứ làm cho dục khao khát. Sắc thanh hương vị xúc nuôi lớn lòng thèm khát ham muốn của con người, bên trong là những tư duy, hình bóng, cảm thọ thúc dục, ham muốn. Ngài triển khai thiền quán ngay tại gốc cây. “Chúng rơi theo sà xuống, cái đang bị rơi xuống, với lòng tham thúc đẩy, chúng lại đến, đến nữa”, những miếng thịt là chỉ cho dục vọng ở đời, làm cho con người phải rơi rớt, sa xuống, sa đọa, thoái đọa, đọa lạc, bị lòng tham thúc đẩy, chúng lại đến, đến nữa, những con diều hâu, hết con này đến con kia bu lại mổ nhau, xâu xé nhau để dành lấy miếng thịt.

Đây là một trong mười pháp quán, mười ví dụ về dục. Chiêm nghiệm trong cuộc sống hàng ngày để thấy dục có mặt ở từng cái nhỏ đến cái lớn. Lúc đó Minh Thành đi cùng mấy chú trên đường đi thiền hành, thấy một đống phân có rất nhiều ruồi nhặng xanh bu lại, chen chúc rất đông, dành nhau ăn đống phân, là một đống phân dơ bẩn, hôi thối vậy mà chen chúc nhau, dành nhau ăn, nếu ở đây có cục vàng, những thứ có giá trị thì đổ máu, huynh đệ tương tàn, gia đình tan nát, vợ chồng phân ly, những cảnh như vậy có gì khác nhau đâu. Đức Thế Tôn có dạy

Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...Ví như, này các Tỷ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn. Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: "Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân và trước mặt ta, có đống phân lớn này ".

(Tương Ưng Lợi đắc cung kính- Trùng Phẩn- Tương Ưng bộ -Tập II)

Hình ảnh con ruồi, con giòi, con kiến, con diều hâu, con người vì miếng ăn, vì lợi ích tự thân, có khác gì nhau đâu. Chúng ta nghĩ rằng những loài động vật thấp kém dơ bẩn đáng khinh bỉ hèn hạ, mà không thấy rằng mình cũng chẳng khác gì chúng bao nhiêu. Từ những con kiến tìm kiếm những miếng bánh vương vãi rơi rớt dưới đất, con ruồi bu vào trong những thứ hôi thối bốc mùi, con giòi lúc nhúc trong đống phân, con diều hâu xấu xé giành giật mổ nhau vì miếng thịt tươi đầy máu và con người, đừng nói chi người dưng nước lã, cha mẹ, anh em, vợ chồng, huynh đệ, tỷ muội đồng tu cũng giành giật xâu xé lẫn nhau. Đức Thế Tôn từng nói: “ Sa-môn tranh giành với Sa-môn, quan tranh giành với quan, vua tranh gi với vua, nông dân tranh giành với nông dân”, tranh giành miếng thịt, đống phân, đó là bức tranh của cuộc đời, là sự thật của thế gian này, bản chất của thế giới.

Khi lòng tham tăng trưởng, phình trương rộng lớn là chiến tranh bùng nổ, hàng triệu người dân vô tội phải bỏ mạng, có khác gì những con diều hâu giành giật, xâu xé, chiếm hữu những lợi dưỡng. Ham muốn thúc dục gây ra bao nhiêu cảnh đầu rơi máu đổ, tan nát cửa nhà, sinh ly tử biệt. Trong vùng chiến tranh cứ mỗi giây phút là một sinh mạng ra đi, những đứa trẻ vô tội ngây thơ đứt lìa thân xác, tan nát xương da, hãy nhìn bằng trái tim, cảm nhận bằng tất cả tấm lòng.

Một chữ dục, chữ tham giết chết bao nhiêu trẻ thơ, bao nhiêu những con người vô tội, gây ra cảnh tan đàn xẻ nghé, máu đổ đầu rơi, phanh thây trong mưa bom lửa đạn, những thành phố, tòa nhà sừng sững kiên cố sụp đổ, hoang tàn, tan nát chỉ trong một đêm, nhuộm màu máu đỏ tang thương, huyết lệ, tiếng gào khóc đau thương trong đêm tối hoang tàn. Chúng ta chỉ bị cảm một chút, nhức răng một chút, đau bụng, nhức đầu một chút đã không chịu được, còn người ta là vỡ sọ, đứt lìa tay chân, xương tan thịt nát, chúng ta phải đặt trái tim vào để cảm nhận, đặt mình vào nỗi khổ đó để thấm thía, thấm đẫm, thấm nhuần những nỗi khổ đau mà chiến tranh gây ra, kéo theo sau đó là bệnh tật, đói khát, dịch bệnh. Tất cả vì một chữ dục, chữ tham chà đạp lên sinh mệnh, sự sống, sự tự do, tình thương, nhân nghĩa, đạo đức, nghĩa tình, nhân đạo, quyền làm người. Hàng vạn người dân vô tội trốn chạy ra khỏi vùng chiến tranh, lạnh lẽo, đói khát, không nơi nương tựa, mất người thân, anh chị em chết, chồng vợ chết, cha mẹ chết, làm sao để cảm nhận được nỗi khổ, niềm đau đó. Chỉ là một cảnh của chiến tranh còn bao nhiêu trăm ngàn vạn những nỗi khổ mà dục tham này gây ra.

Người em què quặt được cha mẹ cho thừa hưởng nhà từ đường, nhưng các anh chị lớn lôi thằng em què ra thưa kiện để dành lại cho bằng được căn nhà. Năm này qua tháng nọ người em què quặt, khuyết tật trên chiếc xe lăng đi hầu tòa từ. Lòng dục, lòng tham của những anh chị giàu có không bao giờ được thỏa mãn, có rồi còn muốn có thêm cho nên ngay cả với người em nghèo tàn tật cũng không động lòng, thương xót, buông tha. Khi dục tham được nuôi dưỡng, làm cho tăng trưởng lớn mạnh thì không còn nghĩa tình, tình người, tình thân, tình thương, đạo đức gì nữa. Thật là thấm thía, các dục ở đời là đầy những tai họa, khổ đau, khổ ách, khổ nạn, khổ ải, thật là khốn khổ cho ta, thật là tai nạn cho ta, thật là khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn cho ta, cho hữu tình chúng sanh khi phải sống trong lòng dục tham muốn này, trong trạng thái thèm muốn, khao khát, khát ái, trạng thái của hèn hạ thấp kém, hạ liệt, phàm phu, vô minh ngu si thiếu trí đầy đau khổ bẩn thỉu. Đức Thế Tôn ví dục như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa càng nhiều hơn

Này gia chủ ví như con chim ưng, con chim kênh, dành được miếng thịt bay bổng lên, các con chim ưng khác, diều hâu khác, đuổi theo, đuổi sát theo, giành giật, xé nát miếng thịt ấy. Các vị nghĩ thế nào nếu con chim kênh, diều hâu hay chim ưng ấy không vứt bỏ ngay miếng thịt đó, nó có thể vì nhân duyên đó mà đi đến chết, đến khổ gần như chết không?

Thưa có, Bạch Thế Tôn!

Cũng vậy, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau, Thế Tôn đã nói, dục được ví như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn. Giống như người cầm một bó đuốc bằng cỏ đang cháy rực đi ngược gió, giống như hố than hừng, giống như một giấc mộng, giống như đồ vay mượn.

Đốt cháy tay mình là bó đuốc làm bằng cỏ, thiêu rụi cả hình hài của mình là hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn, là một giấc mộng, khi tỉnh mộng là tay không. Cả một cuộc đời mưu sĩ, mưu mô, mưu tính, mưu hại, mưu lợi, mưu toan, để giành giật chiếm hữu, gom góp tích lũy, tỉnh mộng chỉ là tay không, chỉ là giấc mộng vậy mà giành giật, sâu xé, hãm hại, lợi dụng, mưu hại nhau, hả hê trong sự đau khổ của người, lấy sự lường gạt người làm thành công, lấy nước mắt người làm niềm vui, sống hả hê, chà đạp trên những dòng nước mắt tức tưởi nghẹn ngào của người, trên những đồng tiền được tích lũy bằng xương bằng máu, bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu đã đổ xuống, ăn trên sự quằn quại đau đớn trong giây phút sinh tử, giành giật giữa sự sống và cái chết của người.

Ở một bệnh viện nọ có người đàn bà ở quê đưa mẹ đi phẫu thuật, bị móc túi nhiều lần không được lại bị dàn cảnh chiếm đoạt, lấy đi tất cả số tiền đã vay mượn, những đồng tiền huyết lệ, xương máu , những đồng tiền hy vọng phẫu thuật cứu mẹ ra khỏi cơn hiểm nghèo của sinh tử, vậy mà…kêu trời không thấu, kêu đất không hay. Bao nhiêu là những cảnh khổ trên đời này cũng vì tham dục, vì tâm ác độc. Và nhiều lắm những cảnh đời khổ đau cần cứu giúp, bệnh tật cần cấp cứu, thể nhưng chưa có tiền thì chưa được cấp cứu, cuối cùng chịu chết trước cổng bệnh viện.

Tại sao vì đồng tiền mà ác độc như vậy? miếng thịt đó là những tờ giấy giá trị đủ để người ta xâu xé lẫn nhau. Khi lợi dưỡng lên ngôi, con người ta chỉ biết có tiền và tiền. Thậm chí ở những nơi tu hành trang nghiêm thanh tịnh, nơi đề cao giá trị đạo đức, vẫn len lỏi những thành phần tham dục trá hình, lợi dụng lòng tin, lòng tốt, trục lợi cướp tiền.

Chữ tham này độc còn hơn con rắn hổ mang chúa, ngày nào còn tham là ngày đó còn nhục, còn tồi bại, còn sống trong ê chề, bẩn thỉu, làm khổ mình, làm khổ người, làm hại mình, làm hại người, hành hạ mình, hành hạ người, hành tội mình, hành tội người, còn tham là còn sống trong mù lòa, làm tổn hại, tổn thương, đả thương, xát thương nhau, phải nhìn sâu sắc sự ác độc, tai hại, nguy hiểm, của lòng tham dục đối với sắc thanh hương vị xúc này. Phải thấy được dục là hố than hừng, là thứ khốn nạn, tai nạn, hoạn nạn, ác nạn nhất trên cuộc đời này. Dục đè đầu cưỡi cổ, dày xéo, hành hạ, hành tội, hành xác, hành hình, hành phạt, hành quyết mình. Cũng vì tham dục ái mà không đi tu được, một khóa tu ngắn hạn, một cơ hội để xuất gia gieo duyên cũng không tham gia được.

Chúng ta bị trói cột, bị xiết chặt trong hệ lụy, không từ bỏ được những thứ cần phải từ bỏ, không rời xa được những thứ cần phải rời xa, không cắt đứt được những thứ mà cần phải cắt đứt, không thoát ra khỏi được những thứ cần phải thoát ra. Phải nhìn cho sâu sắc những cảm thọ hệ lụy, hệ phược này, chúng là bó đuốc cỏ đốt cháy tay, là hố than hừng thiêu rụi thân xác, là khúc xương khô, là miếng thịt tươi đầy máu, xâu xé giành giật nhai nuốt nhau. Những loài động vật ăn thịt, chỉ xâu xé, giành giật vì miếng ăn, vì con mồi, nhưng loài người xâu xé giành giật nhau là vì lòng tham dục, gây ra chiến tranh khiến cả trăm ngàn triệu, nhiều triệu con người phải bỏ mạng còn hơn hổ báo, cái dục cái tham của con người còn nhiều hơn gấp nghìn lần vạn lần mãnh thú, dã thú. Có thể hại người bị tật nguyền suốt đời, đẩy người vào tù tội với án chung thân, khiến người mất mạng, chà đạp người sống cả đời trong hối hận, ân hận, tủi nhục, lo lắng, lo âu, lo sợ, đẩy người vào chốn lầu xanh, mua phấn bán hương, bán người, bán thân xác, bán thuốc độc, mua sinh bán tử. Tất cả là vì lòng tham mà chúng sinh mù lòa điên loạn trong đó, chỉ có Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác mới chỉ cho mình thấy được, các bậc Thánh hiền nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, ly dục, ly ác bất thiện pháp.

Ham thích, khoái, yêu mến trong sắc tướng tự thân này nên ai đụng đến là ta sẵn sàng trả đũa, dùng vũ khí miệng lưỡi, đả thương nhau, trước mặt hoặc sau lưng, người tu với nhau còn như vậy huống chi người không biết tu, tham không được thì nổi sân, nổi tức, phẫn nộ. Yêu thích cái ảo ảnh tự ngã này, không muốn từ bỏ vì yêu, thích, khoái, muốn, dục, tham cho nên tu hoài mà cái tôi càng ngày càng cứng chắc, vững bền, lớn mạnh, cao to, tu để vun vén tưới tẩm cho cái tôi phát triển, nuôi dưỡng sắc thọ tưởng hành thức, một ảo ảnh về tự ngã, một cảm giác, một suy tư, một nhận thức.

Diệt tận biên tế của khổ đau

Chữ dục đi chung với chữ tội, chữ nghiệp, chữ hại, chữ thương, có lòng tham thì hại người, tạo ra nghiệp rồi nhận lấy hậu quả tội lỗi. Thương cho mình và thương cho người, khi chưa thấy đúng về thân tâm, cảm thọ, sự vận hành của ngũ uẩn này, mình thật là kẻ đáng tội nghiệp, đáng thương, đáng trách, đáng rầy la. Đó là lý do tại sao mình phải la rầy, mắng chửi tâm dục này, thương mình không để mình đi theo vết xe đỗ của mình thuở trước, của phàm phu, vô minh khát ái, hữu tình chúng sanh, mình không muốn tiếp tục sống trong cái dục, hại, nghiệp, tội, không muốn trở thành những kẻ đáng thương nữa, mình muốn sống đời sống thanh cao trong sạch thánh thiện. Từ nay mình sẽ rửa vết nhơ bẩn, tội lỗi này trong thân tâm, làm cho trong sạch thanh tịnh thân tâm, để sống một đời sống thanh cao, cao thượng, thánh thiện, mình hoan hỷ hướng tới đời sống như vậy, an trú trong đời sống ly tham, cam tâm tình nguyện dấn thân bước vào đời sống cao đẹp, cao thượng, hiền thiện này, mình hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ, sung sướng trong đời sống tuyệt vời, ít muốn biết đủ, ly dục ly tham này.

Tôn giả Paka ngồi dưới gốc cây triển khai thiền quán một cách sâu sắc và tận cùng, sau đó ngài chứng thánh quả A-la-hán, ái tận, dục tiêu, thành tựu cứu cánh phạm hạnh, đạt đến cùng tột diệt tận biên tế của khổ đau. Sau khi triển khai thiền quán chứng đắc Thánh quả Ngài tuyên bố chánh trí của mình.

Bổn phận ta làm xong

Ta vui thích sung sướng

Với an lạc đón mừng

Ta đón mừng an lạc.

Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con cúi lễ Tôn giả Paka bậc Đại hùng đại lực, từ con người khuyết tật thành tựu Thánh quả tối cao (lạy)

Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ Thánh tăng Paka bậc Đại hùng đại lực, từ con người khuyết tật thành tựu Thánh quả tối cao (lạy)

Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ Tôn giả Paka bậc Đại hùng đại lực, từ con người khuyết tật chứng đạt Thánh quả tối cao (lạy)

Bài Thánh khải hoàn ca của Ngài nhẹ nhàng đơn giản, đón mừng an lạc hạnh phúc tối thượng. Từ một con người què quặt mà trở thành bậc Thánh, đó là đại hùng, đại lực, không phải với cơ bắp cuồn cuộn thể hiện sức mạnh hình thể mà là bậc chiến thắng chính mình, bậc toàn thắng, đại thắng. Chỉ cần quán về các dục, quán về nguy hiểm, tác hại của các dục vẫn chứng được Thánh quả A-la-hán. Cho nên chỉ cần đạt được chánh kiến thì tu pháp nào cũng thành tựu được Thánh quả.

Sư cô: con kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng, con về Linh Quy tu tập được hai ngày, hôm nay được nghe thầy giảng trực tiếp con rất haon hỷ và cảm động, con cảm nhận được sự đau khổ của muôn loài chúng sanh, lăn lộn trong cõi dục, tham đắm tài sắc danh thực thùy, chịu nhiều khổ lụy. Con cảm nhận được dòng pháp sư phụ giảng rất sâu sắc, tuy rằng con đã tu học từ rất lâu nhưng con chưa gặp được dòng pháp nào chí tình chí lý và sâu sắc đến như vậy, thật là lợi ích cho con, con xin tri ân sâu sắc đến sư phụ.

Sau khi được học về Thánh tăng Paka, quán chiếu về sự nguy hại trong các dục, chúng ta phải vận dụng trong đời sống sinh hoạt của mình, tập nhìn bằng trí tuệ, thấy được sự nguy hại của dục, không phải học để có cảm xúc, xả buổi học ra là quên hết, phải tập nhìn thấy những sự thúc dục, ham muốn, đòi hỏi bên trong thân tâm mình, tập nhiếp phục, chế ngự những dục ác bất thiện pháp, la rầy quở mắng, đưa đến diệt tận. Những dục thiện, những dục hướng đến Thánh pháp, Thánh trí thì mình tăng trưởng phát triển. Khi nhìn thấy bất kỳ những dục vọng nào mà người tranh dành, mưu sĩ với nhau, chúng ta tập quán chiếu cái đó là mình, để không thấy lỗi lầm của người mà thấy đó là tấm gương, là tiếng chuông, là lời cảnh tỉnh cho chính mình, vì trước đây chưa biết tu tập mình đã từng như vậy và hơn thế nữa trong nhiều đời kiếp đã qua mình đã từng như vậy.

Liên tục nhìn vào khía cạnh nguy hiểm của dục tham ái trong cuộc đời, thì trí tuệ đó sẽ an trú, sẽ lớn mạnh, có mặt, tồn tại và vững trú, trở thành căn cứ địa, thành thành quách, cỗ xe trong tâm chúng ta. Trí về sự nguy hại của dục được thành tựu trong tâm, tâm sẽ có chiều hướng bớt dục, giảm dục và đi tới đoạn dứt tất cả tham dục trong sắc thọ tưởng hành thức này. Trong mỗi một bài kinh chúng ta khéo léo thọ trì tiếp nhận và giữ gìn, nuôi dưỡng, cho ăn, nuôi lớn làm cho tăng trưởng phát triển quản đại làm cho an trú vững trú, thành căn cứ địa, thành quách, cỗ xe trong thân tâm mình. Đó là một trong bốn pháp tin tấn trong tinh cần, chế đoạn tu trì, tu tập trí tuệ đó và giữ gìn không để mất, để có thể nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tất cả đều phải thực hành chế đoạn tu trì. Giống như việc chạy xe xuống dốc, phải đạp thắng từ từ, giảm ga để giảm tốc độ, vì xe đang xuống dốc vẫn còn trớn, cho nên đừng tham đạp thắng một lần mà mong xe dừng lại được, có khi căng quá, gấp quá sẽ bị đứt thắng và lao xuống vực, đó là chế ngự, cho đến khi xe dừng lại hoàn toàn là đoạn. Muốn đoạn dứt hết phải có tu trì, có sự giữ gìn nhiếp phục thường xuyên, quán chiếu thường xuyên, mỗi ngày bào mòn một chút.

Bậc đạo sư có dạy chúng ta tu tập tinh tấn đều đặn hàng ngày, không phải là cái gì dữ dằn, đao to búa lớn, mà là cái bền bỉ kiên trì lâu dài, chính sự bền bỉ này sẽ ngấm, thấm, làm mềm, mục, rã nát các lậu hoặc. Người mà không có kiên trì, bền bỉ, vững trí, lập trường không vững, muốn mau, dục tốc bất đạt, hướng ngoại, dễ nản, dễ chán là tu không được, không thành tựu được. Pháp học và pháp hành tu tập đều đặn mỗi ngày, lâu dài bền chí, vững bền, trường viễn thì mới thấm. Lúc đầu khô khan, tạt nước không thấm, nhưng tạt nhiều lần sẽ ướt, thấm rồi mục, rệu, rã, dung hóa các lậu hoặc tan biến hết, tất cả phải đi qua từng giai đoạn “Giáo pháp của ta là có sự tuần tự, này các Tỳ-kheo không có bất thình lình mà chứng ngộ”, không có bất thình lình mà các lậu hoặc ngay lập tức được đoạn tận hết. Đừng tưởng rằng mình ngồi thiền định sáng đêm là có thể thành đạo, không thành đạo được lại nỗi sân, tu đúng pháp không phải như vậy. Trước đây Minh Thành cũng như vậy, nghĩ rằng tinh tấn mạnh mẽ liên tục trong bảy ngày, mong được chứng cái gì đó, nhưng cuối cùng không được, dù vậy vẫn có được sự tiến bộ hơn lúc bình thường, nhưng xong bảy ngày lại buông lơi, buông lỏng không tinh tấn nữa, như vậy là bất ổn, một ngày tối thiểu ngồi thiền được hai thời căn bản, giữ vững như vậy cho tới chết, còn tiến bộ hơn thì càng tốt. Cho nên việc vận dụng tu trì trong cuộc sống hàng ngày là quan trọng, thực tập và giữ gìn pháp và trí tuệ đó trong mình, đừng để mất.

“Không cần” chứng thánh quả

Có một vị Thánh A-la-hán dùng hai chữ “không cần” mà chứng thánh quả, lấy hai chữ này làm đề mục, chúng ta lấy quá nhiều chữ làm đề mục mà không chứng được cái gì hết, mình thuộc hạng độn căn nên phải ráng nhét vào nhiều hơn, đừng nghĩ rằng nghe hoài mà không nhớ nên thôi không nghe nữa thì tai họa lớn, nghe hoài mà không nhớ thì nghe nhiều hơn nữa, ngồi hoài mà không được thì ngồi nhiều hơn nữa, tu hoài mà chưa được thì tu nhiều hơn nữa thì như vậy mới đúng là đại hùng đại lực

Ngài Ramani yakhutica, ngài sống trong một chòi lá gần một ngôi làng nhỏ, đó là một am thất nhỏ xinh đẹp, sàn nhà và vách tường khéo làm, xung quanh có vườn, ao hồ và có rãi cát đẹp, mịn. Ngài trang trí thất của mình nhìn rất lý tưởng với ao nước, vườn nhỏ, rãi các mịn quanh am thất và giới hạnh của vị trưởng lão làm tăng thêm sự hấp dẫn của ngôi nhà.

Chẳng những cảnh đẹp mà người ở trong am thất đó là một vị trưởng lão đức hạnh, giới hạnh thanh tịnh, thanh cao, trong sạch, cao thượng. Đây là cảnh lý tưởng của một người người tu.

Một ngày kia có những cô cái mơn mỡn đẩy đà đi ngang qua, thấy ngôi chòi xinh đẹp liền liên tưởng người ở trong chòi là này là một thanh niên mà họ có thể cám dỗ được, họ đến gần và nói: “Cái chòi của Ngài thật xinh đẹp và chúng tôi cũng thật xinh đẹp trong tuổi trẻ của chúng tôi” và họ bắt đầu khoe khoan xiêm áo đẹp của mình.

Những cô gái thấy cảnh đẹp nên thơ nghĩ rằng người làm nên cảnh đẹp nên thơ đó chắc là một người đẹp lãng tử, lãng mạn, họ nói những lời trăng hoa, cám dỗ, rủ rê, nhưng vị trưởng lão nói lên bài kệ diễn tả tâm trạng thoát tục của Ngài.

Ngôi chòi ta xinh đẹp

Do đàn tín cúng dường

Với tâm ý hoan hỷ

Với lòng tin dâng cúng

Ta không cần thiếu nữ

Này các nữ nhân kia

Hãy đi đến những ai

Có cần đến các cô.

Với hai chữ không cần Ngài tuyên bố chánh trí khi chứng Thánh quả A-la-hán, Ngài chứng quả A-la-hán và tiếp tục sống tại đấy khi nào có người đến viếng tịnh xá họ có thấy ngôi chòi xinh xắn.

Hai chữ “không cần” với ý nghĩa rộng lớn có thể làm đề tài thiền quán. Giờ chúng ta thiền quán “ta không cần ăn sáng”, khi mình có tác ý như vậy, không ăn sáng cũng không sao, mình an lạc trong pháp. Có khi nhận những món đồ khả ý, khả ái được tín chủ dâng cúng, nếu sử dụng những món đồ đó chúng ta dễ bị tham đắm, dẫn đến buông lung phóng dật, cho nên phải biết tác ý mình không cần, mình không phù hợp với chúng, mình xả bỏ, đem cho những người cần. Có khi bên trong tâm khởi lên những lời nói thì thầm muốn có cái này, thích cái kia, phải nhận diện được những lời nói thì thầm đó và tác ý: “ta không cần”, có ai thấy được hiệu quả, hiệu nghiệm công ,dụng của ba chữ “ta không cần” này chưa. Thân này đòi ăn là lập tức đi kiếm cái ăn liền hay nhiếp phục dục ăn đó bằng câu nói: “ta không cần, ta không đói”. Những tâm đòi hỏi những dục tham ái của cuộc đời, mình phải tác ý: “ta không cần, đi chỗ khác chơi, muốn thì đi đi còn ta đây không cần”, ba chữ “ta không cần” này được thực hành khéo léo sẽ có hiệu quả tức thời trong việc nhiếp phục và chế ngự những tâm tham đang sinh khởi.

Với suy nghĩ, lời nói thì thầm, ai tu cũng có bằng cấp này kia, sao mình tu ở đây không có tờ giấy nào hết hay mình tu đã hơn mười năm rồi nên tìm kiếm một cơ hội làm trụ trì thì lập tức ra lệnh “ta không cần, ta chỉ cần Thánh quả thôi”. Lấy ba chữ này tu cho đến thành tựu, bất cứ bất thiện pháp nào khởi lên từ việc ăn mặc, luôn nhớ rằng thiểu dục tri túc với tam y nhất bát, cho đến việc bị cám dỗ bởi nữ sắc, nam sắc, yêu tinh, yêu ma đều sử dụng ba chữ ta không cần là tan biến hết. Nhớ lúc thái tử Tất-đạt-đa ngồi ở bồ đề đạo tràng, yêu ma biến hóa hiện ra hình ảnh Da-du-đà-la, nhưng bằng trí tuệ Ngài nhìn thấy rõ và nói thẳng ta đã thấy biết ngươi, cho dù Da-du-đà-la thật có đến Ngài cũng không dao động, với mục đích cao thượng tối thượng cuối cùng Ngài thành tựu vô thượng Chánh đẳng chánh giác.

Nhiều khi trong nghịch duyên và chướng ngại mình lại cẩn thận mà tu nhưng trong cái thuận duyên thì buông lung, chìm đắm, dễ rơi rớt, thoái đọa, giống như ra trận đánh giặc trên hai trận chuyến tuyến, tôn tử binh pháp luôn có nhiều cách đánh khác nhau. Người tu thất bại rất nhiều trong chỗ êm ái dễ chịu thuận lợi, trên những con đường đã được trải hoa hồng, sau khi lấy được những bằng cấp, vị trí trụ trì chờ đón, với địa vị, chức danh đó có khi chết chìm trong chùa, vì trách nhiệm, bổn phận mà lo lắng lôi kéo dính mắc cho đến hết cuộc đời tu, ngày được bổ nhiệm cũng đồng nghĩa với ngày gánh thêm gánh nặng trên vai, tâm khát khao tăng thượng được giải thoát, dần bị lãng quên. Ở nước ngoài, một người công dân có việc làm, có mức lương ổn định, được mua nhà trả góp trong vài chục năm, khi mua được nhà đồng nghĩa với suốt cuộc đời mắc nợ và trả nợ, thì trụ trì chùa cũng đồng nghĩa với suốt cuộc đời là mắc nợ và trả nợ, quý thầy, quý cô hãy nhớ kỹ điều này. Người đời, từ khi mua được nhà mỗi ngày phải cố gắng đi làm để có tiền trả góp, còn người tu nếu không khéo tu thì dễ bị dính mắc trong những trách nhiệm với chùa cho đến chết mà thôi. Ngoài đời hay trong đạo đều phải hết sức cẩn trọng trước mồi nhử của ác ma, những ham muốn ưa thích sinh khởi phải cẩn thận chánh niệm, bằng trí tuệ phải nhìn thấy đó là thiện pháp hay bất thiện pháp đưa đến ly tham hay tham, đưa đến sự từ bỏ hay đưa đến sự trói cột, tràn buộc, phải thấy được để mà tu.

Hãy chiêm nghiệm thật kỹ, giữa cần và muốn, cơ thể của chúng ta chỉ cần nữa chén cơm là đủ nhưng cái muốn của chúng ta ta làm một tô cơm đầy vun, đầy ấp, con mắt thì luôn to hơn cái bụng cho nên phải ráng ăn cho hết tô cơm đầy, cơ thể mệt mỏi sau khi tiêu thụ hết thức ăn, ngồi thở thôi cũng thấy mệt, thậm chí còn tiềm ẩn những bệnh tật, bệnh tùng khẩu nhập, đầu óc không còn minh mẫn để tu tập. Cái cần là nhu cầu thiết yếu cần thiết còn cái muốn là muốn thêm, cho nên chúng ta phải biết cái gì cần và cái gì không cần. Đây cũng là đề mục thiền quán, nếu không thấy rõ được điều này có khi cái không cần lại thêm mà cái cần lại bỏ đi, vậy việc nào là cần và việc nào là không cần?

Giới tử Hiền Duyên: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Việc cần là thường xuyên nghe pháp, phòng hộ sáu căn, xét lỗi mình, việc không cần là những việc đưa đến dục tham sân si hướng ngoại, phóng dật.

Cung tên chánh trực, chặt đứt vô minh

Ngài Harita, khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời, Ngài là con của một Bà-la-môn giàu có, cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp, xứng đôi vừa lứa, Ngài sống hoàn toàn sung sướng bên người vợ đẹp.

Một hôm, Ngài đang ngắm nhìn vẻ đẹp của vợ, do có được tâm tu tập từ đời trước, Ngài suy tư rằng sắc đẹp này rồi cũng sẽ đổi thay, vẻ đẹp này rồi sẽ đổi thay, Ngài thấy rằng một thời sau thôi làn da mịn màng, trắng sáng, mặt hoa da phấn của vợ sẽ thay đổi, biến đổi sẽ nhăn nheo, làn tóc mây đen bóng sẽ bạc màu, ánh mắt long lanh mơ huyền sẽ mờ dần, đôi môi tươi thắm sẽ khô héo tàn phai, tấm thân thon thả khả ái này sẽ cụp xuống, lưng còng, gối mỏi, tiều tụy, già nua, nét đẹp này sẽ không còn, sẽ biến đổi, biến hoại, tan hoại theo năm tháng. Ngay khi ngắm nhìn người vợ còn đang tươi trẻ khỏe đẹp như vậy, Ngài đã thấy hình ảnh của vô thường biến hoại hiện ra, bằng trí tuệ đã được tu tập và trong ánh nhìn sâu sắc của Ngài, đôi mắt long lanh sẽ mờ dần, làn da láng mịn sẽ sần sùi nhăn nheo, mái tóc đen nhánh sẽ bạc trắng như tơ, thân hình gợi cảm, hấp dẫn sẽ tiều tụy khô héo, lưng sẽ còng như nóc nhà, răng sẽ rụng, tai sẽ điếc, da nhăn nheo, tay chân run rẩy không còn sức lực, bệnh hoạn, già nua và kết thúc trong sự chết, đó là trí quán, cái nhìn thấu đáo trong cái sắc uẩn, sắc tướng, sắc pháp, sắc hình, sắc chất này.

Vài ngày sau đó, vợ Ngài bị rắn độc cắn chết, từ biệt cõi đời, mạng chung, ra đi vĩnh viễn, Ngài đau đớn, đau nhói, đau khổ, đau lòng, quặn thắt tim gan, chứng kiến cảnh sinh ly tử biệt với người vợ trẻ xinh đẹp yêu thương nhất đời. Trong hoàn cảnh này, chúng ta biết rằng Ngài yêu thương vợ biết nhường nào, vợ chồng son mới cưới không bao lâu, mới hôm qua đây còn ngồi ngắm nhìn vẻ đẹp của vợ với biết bao nhiêu tình cảm luyến ái say đắm, giờ phải chứng kiến cái chết đến với vợ một cách đột ngột trong đau đớn, tức tưởi, nghẹn ngào, thật là xót xa, đau đớn, đau lòng, quặng thắt, tan nát trái tim, mới vừa đây thôi còn quấn quýt, yêu thương, mặn nồng chăn gối bên nhau cười cười nói nói vợ vợ chồng chồng, người vợ xinh tươi hoạt bát vui vẻ tràn đầy sức sống, giờ nằm đó, co gật trong đau đớn chống chọi với chất độc đang phát tán, lan nhanh khắp lục phủ ngũ tạng, không thể cứu chữa, trơ mắt nhìn người vợ xinh đẹp từ từ nhắm mắt ra đi, còn cái đau đớn, đau lòng, đau xót, nào hơn cái đau đớn này, Ngài sụp xuống, sụm xuống, ngã đỗ hình hài xuống, ngài không tin đó là sự thật, một sự thật phủ phàng, làm tan tát tâm can, cõi lòng trong giây phút sinh ly tử biệt “mới còn vợ vợ chồng chồng, bây giờ đôi ngã nước non xa vời”, Ngài hoàn toàn sụp đỗ, tất cả những sự đẹp đẽ yêu thương trên cuộc đòi này, là thứ tiêu ma hoại diệt, tan nát, tan vỡ, đổ vỡ, bể nát trong tích tắt, trong phút chốc, thoáng chốc, đúng là “đời như thoáng mơ” như câu nói của ông lão 70 tuổi, bán vé số dạo ngày nào cũng trãi qua nỗi đau khi mất đi người con trai duy nhất.

Không một ai có thể ngờ được cái chết đến, bất thình lình ập đến với người thân yêu, với chính tự thân mình. Thình lình, bất chấp, vô thường, bất thường, bất định là cuộc sống này, chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh của Ngài để cảm nhận sự đau khổ đến mức độ nào.

Quá đau khổ bởi cái chết của vợ, Ngài đi yết kiến Đức Phật và được Đức Thế Tôn thuyết pháp, Ngài xin xuất gia, cạo bỏ râu tóc, đắp áo Cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thực hành đời sống phạm hạnh, không nhà, ly dục. Trong quá trình tu tập, về giới hạnh Ngài chưa giữ cho tâm mình được chánh trực. Trong một lần đi khất thực, Ngài thấy một người thợ thiện xảo làm cung tên, dùng dụng cụ làm cho cung tên được ngay thẳng, Ngài suy nghĩ những người thợ này còn làm cho cây tên được ngay thẳng, còn tâm Ngài chưa được chánh trực.

Chúng ta biết rằng đối với các bậc có chánh tri kiến thời Đức Phật không chỉ giữ giới ngoài thân, mà còn giữ giới trong tâm, Ngài thấy tâm mình vẫn còn nhiều tham ái, tham dục, tuy là thân đã lìa dục nhưng tâm vẫn còn nhiều dục lậu. Ngài ray rứt, trăn trở, tâm chưa được chính trực trong bốn đức hạnh của Thánh hiền, còn ham muốn, còn thích thú, còn khao khát những dục lạc của thế gian, những cảm giác, những hình ảnh, những suy nghĩ về ái dục với người vợ trẻ còn ám ảnh, xâm chiếm, Ngài luôn mang cảm giác khó chịu, ray rứt khi tâm chưa được ngay thẳng chánh trực, chưa giữ giới được một cách trong sạch từ ngoài thân cho đến trong tâm. Ngài ưu tư, thao thức, trăn trở trong sự tu tập của mình về giới, làm sao để tâm mình được ngay thẳng, chánh trực, làm sao để thân tâm được nhất như trong sạch, trọn vẹn giới hạnh, đức hạnh, thanh cao, cao thượng, phạm hạnh, thanh tịnh của một vị Tỳ-kheo. Ngay khi thấy người thợ làm ra cung tên ngay thẳng, đó là một người thợ lành nghề thiện xảo có nhiều công phu, có sự để tâm với những chi tiết nhỏ nhiệm, tinh vi, vi tế trong khi chế tác một sản phẩm như vậy, tại sao mình tu lại không để hết tâm chuyên cần, tinh cần nhiệt huyết để giới hạnh được chánh trực như mũi tên thẳng. Sau khi trở về nghỉ dưới gốc cây, Ngài triển khai thiền quán, lúc này Đức Thế Tôn biết được, hiển lộ ra trước mặt và khuyến khích Ngài bằng bài kệ

Thầy hãy làm tự ngã

Được thấm nhuần hướng thượng

Như người thợ cung tên

Làm cây tên ngay thẳng

Hãy làm tâm ngay thẳng

Hỡi này Harita

Hãy chặt đứt vô minh

Đức Thế Tôn khuyến khích Ngài, hãy đem hết cả thân tâm này hướng thượng, như người thợ cung tên làm cung tên ngay thẳng, cũng vậy hãy làm cho tâm ngay thẳng để chặt đứt vô minh. Nghe Thế Tôn dạy, Ngài triển khai phát triển thiền quán đến độ chín mùi, không bao lâu trở thành vị Thánh A-la-hán, diệt tận hoàn toàn những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu còn sót lại trong tâm, triển khai thiền quán thấm nhuần bằng sự hướng thượng, đem toàn tâm, toàn ý, bằng tất cả sức mạnh nội tâm diệt tận hết tất cả những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ về dục, không còn một chút dư tàn, phá vỡ hoàn toàn.

Trong khi triển khai thiền quán Ngài thấy Đức Thế Tôn hiện ra trước mặt ngồi trên hư không, nhắc nhở, dạy Ngài bằng bài kệ hãy chặt đứt vô minh, Ngài bằng tất cả tấm lòng của mình do sự thấm nhuần hướng thượng như lời Đức Thế Tôn, đoạn diệt tất cả những thèm khát, khao khát, ham muốn, về các dục, ái tận Ngài giải thoát, thành tựu Thánh quả tối cao A-la-hán, chúng ta đứng lên đảnh lễ Ngài, bậc tối tôn tối thượng của chư thiên và loài người.

Bằng tất cả tấm lòng thành kính, chúng con đảnh lễ Thánh tăng Harita (lạy)

Bằng tất cả tấm lòng thành kính, chúng con đảnh lễ Tôn giả Harita, bậc nhìn thấu vô thượng, trong cuộc đời nhung lụa, bậc từ bỏ, cao thượng, sống đời sống ly tham.(lạy)

Bằng tất cả tấm lòng thành kính, chúng con đảnh lễ Thánh tăng Harita, bậc nội tâm chánh trực như người thợ cung tên, làm cây tên ngay thẳng, bậc thấm nhuần hướng thượng, làm tâm mình thẳng ngay, bậc chặt đứt vô minh, bậc La-hán Chánh giác.(lạy)