Trà đạo Nikāya - Đánh thức tâm mê 2
Trà Đạo Nikāya
ĐÁNH THỨC TÂM MÊ 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chia sẻ cảm nhận tu học PAGEREF _Toc129085344 \h 1
II.Nghệ thuật trình pháp PAGEREF _Toc129085345 \h 7
III.Thực tập tâm xả - phá thân kiến PAGEREF _Toc129085346 \h 9
IV.Diệt tâm chống đối PAGEREF _Toc129085347 \h 11
V.Đánh thức tâm mê PAGEREF _Toc129085348 \h 13
1.Sắc uẩn PAGEREF _Toc129085349 \h 13
2.Thọ uẩn PAGEREF _Toc129085350 \h 14
3.Bản ngã PAGEREF _Toc129085351 \h 15
4.Phá si mê PAGEREF _Toc129085352 \h 18
Kính lễ Đức Phật, Chánh Pháp, chúng Tăng, bậc Đạo sư và Thánh giới. Kính thưa Chư Tôn Đức cùng các bậc Hiền trí, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, vùng đất này, trời đất này. Cảm nhận sự an tịnh của không gian nơi này, cảm nhận sự bình an trong giây phút này, sự ấm áp, thiện lành, lắng dịu và dễ chịu trong giờ phút này. Kính mời Chư Tôn Hiền Đức dùng trà trong tâm thương rộng lớn.
Hôm nay, chúng ta có buổi trà đạo pháp đàm. Sáng mai là chúng ta đã viên mãn bảy ngày tu học. Giờ lúc này, chúng ta vừa dùng trà, vừa chia sẻ những cảm nhận tu học hoặc những nghi vấn, những điều tâm đắc, lợi ích, mang lại nhiều cảm thọ trong bảy ngày vừa qua.
Chia sẻ cảm nhận tu học
Ni Sư Nhật:
Con kính ngưỡng bạch Thầy, kính thưa chư huynh đệ hiện hữu cùng đoàn thể đại chúng. Lần này tuy con trở về chỉ có được vài ngày nhưng trong con luôn là niềm hạnh phúc dâng trào. Con cảm thấy rất vui, ấm áp và cảm nhận rất rõ tình thương bao la, sự che chở của Thầy, cùng toàn thể đại chúng. Bên cạnh đó, con cũng xin có một câu hỏi, kính xin thầy chỉ dạy thêm cho con.
Trong khoảng thời gian về nơi đây tu học, có hai lần con được Thầy cho phép lên trình pháp. Tuy nhiên, con nhận thấy khi con trình pháp thì nội kết trong con rất nhiều và con đi xa trong sự trình pháp. Con nhận ra những nội kết, nỗi khổ, niềm đau trong quá khứ cứ dồn về như tắc nghẽn trong con. Con xin được mạn phép đặt một câu hỏi, ngưỡng mong thầy có thể chỉ dẫn thêm cho con: “Làm thế nào để con có thể thực hành tâm xả với những người đã từng đem đến nhiều nỗi khổ, niềm đau cho con, ngay cả trong những sinh hoạt hàng ngày”. Khi con trở về, ngoài những thời thiền tập nhất định, con cần nên ứng dụng pháp hành như thế nào trong khoảng thời gian sinh hoạt hằng ngày? Vì con thấy rất rõ khi con thực hành thiền tập, con nghĩ về hình ảnh của những người đã gây tạo nội kết cùng với mình. Con thấy mình có thể thả lòng ra, có thể hoan hỷ và gửi gắm niềm biết ơn đến họ. Tâm của con rất lắng dịu, rất nhẹ nhàng nhưng sau đó, khi thường nhật, con cũng gặp lại họ và cũng với những lời nói, hành động như thế dành cho con thì con phải như thế nào? Kính trên thầy chỉ dạy thêm cho con. Con kính niệm ơn thầy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử Hạnh Chánh:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con bạch trên Sư Phụ, bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng con xin chia sẻ khóa tu học trong tuần.
Trước hết, con xin phép Sư Phụ cho con cảm ơn cô Chi nấu bếp, cảm ơn cô đã nấu cơm thọ thực cho chúng con đi học trong tuần. Khóa tu này, con cầm micro nói bớt run hơn. Sáng nay, con khóc nhiều và cũng thấy tim con bớt đập như hồi lúc trước nhờ y theo lời Sư Phụ chỉ dạy, tác ý an tịnh, lắng dịu. Con cũng cảm ơn Sư Phụ cùng mấy thầy đã cực khổ, mở ra khóa tu cho chúng con có một nơi tu học Chánh Pháp vi diệu của Đức Phật, để được thầy chỉ dạy cho chúng con những điều hay lẽ phải, đưa chúng con từ bóng tối vô minh ra ánh sáng chân lý. Con vô cùng tri ân Tam Bảo đã cho con cơ hội được tề tựu cùng đại chúng, tu học thiện pháp tại Linh Quy Pháp Ấn.
Con thấy con vô cùng hạnh phúc, mà xét lại nếu có làm gì khiến cho đại chúng buồn thì con cũng xin được tha thứ cho những lỗi lầm của mình. Con rất hoan hỷ, có nhiều cảm xúc trong khóa tu này. Trước khi vào tu, con tự nhắc mình sẽ cứng rắn hơn, không khóc nhiều nữa, nhưng hình như ngày tu nào con cũng khóc, sau khi khóc con lại rất vui trong pháp.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Cô Lan Chi:
Con kính trên Sư Phụ, con kính trên quý thầy, con kính trên quý ni sư, cùng quý sư cô và tất cả đại chúng có mặt hôm nay.
Mới đây là cũng một tuần thấp thoát đã qua, sắp kết thúc khóa tu. Con công quả ở dưới bếp nên cũng ít khi được tham gia những cuộc họp mặt. Bữa nay, phước báu thay khi con được tham gia buổi phám đàm này. Con xin được có vài lời thì trước hết, con xin tri ân cảm ơn Sư Phụ. Con cảm ơn thầy Nghĩa, cùng quý sư cô đã sắp xếp thời gian phân công trực để giúp con hoàn thành các bữa cơm chay cúng dường. Con cảm ơn cô Liên, cô Hằng đã cận kề, cùng con và đại chúng, nhín chút thời gian để tham gia những ca trực mỗi ngày, giúp con hoàn tất buổi ăn. Con cũng xin tri ân, hồi hướng công đức đến gia đình cô Sương đã gửi một số rau củ quả, cùng đạo tràng ở Sài Gòn đã cúng dường những thực phẩm chay cần thiết giúp bếp. Con cũng xin cảm ơn quý ni sư ở Úc đã cúng dường các thanh sôcôla, những viên kẹo ngọt ngào như tình thương của Ni Sư dù ở nơi xa nhưng luôn hướng về đại chúng.
Trong thời gian qua, con cũng cố gắng sắp xếp, về phụ nấu bếp để những bữa ăn thêm sinh động và tốt hơn, cúng dường cho quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng trong khóa tu học được thành tựu viên mãn. Có thể còn nhiều sai sót và lầm lỡ trong khi công quả, con cũng xin trước Sư Phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng hoan hỷ thứ tha cho con. Bếp như là nơi cần nhiều ấm áp theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trực tiếp và cả gián tiếp trao gởi nhiều tình thương bao la và rộng lớn qua những thực phẩm được cúng dường đến cho chúng sanh. Mỗi ngày, được công quả nơi đây là thêm một ngày con biết ơn và vô cùng xúc động vì tình cảm và sự chân thành mà mọi người đã gởi trao. Con nguyện sẽ cố gắng hiến tặng tốt hơn nữa những khả năng và tâm sức của mình để tạo thêm nhiều lợi lạc đến những khóa tu học kế tiếp và cả những ngày con được phụng sự cho Tam Bảo.
Con xin phép được lễ ba lạy để bày tỏ lòng tri ân đến tất cả. Nguyện cho con luôn sống trong tâm khiêm cung. Nguyện cho con luôn sống trong từ ái. Nguyện cho con diệt tận bản ngã.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sa-di ni gieo duyên Hiền Hỷ:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con cung kính đảnh lễ trên Sư Phụ, con cung kính đảnh lễ quý ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Lần này con lên về lại ngôi nhà của mình – chùa Linh Quy Pháp Ấn. Con cảm nhận rất là hoan hỷ. Khi con vừa bước qua cửa nhà thì con được gặp các quý ni sư, sư cô đã hoan hỉ chào đón con, đã dành cho con một tình cảm thật tuyệt vời. Khi được gặp Sư Phụ ở thành phố Hồ Chí Minh thì con đã rất xúc động vì như được thấy Chánh Pháp đang tỏa rạng, sáng soi tâm vô minh của mình. Khi trở về Linh Quy Pháp Ấn, người đầu tiên con gặp là các ni Sư và sư cô đang lao tác, hoan hỷ chào đón con khiến con bất giác cảm thấy mình như đứa con lạc loài, lang thang bấy lâu, nay được trở về ngôi nhà thân thương. Sau đó, lại thấy bao la tình cảm, sự trân quý của các quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, con rất vui mừng.
Con cũng xin chia sẻ về sự tu học trong Chánh Pháp Nikāya thời gian vừa rồi ở Linh Quy Pháp Ấn, con có thêm rất nhiều hành trang mang về áp dụng trong đời sống thường ngày. Nhờ Sư Phụ và các quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng đã hướng dẫn cho con tu tập về tâm hiền, tâm từ. Nên khi về đến đời thường, những hạt giống tâm từ đã được gieo, tưới tẩm những thiện pháp từ trước, trong con không còn có sự hơn thua, ganh ghét hay tranh đấu với mọi người.
Đặc biệt trong khóa tu học lần này, con cũng được các sư cô và các Ni sư hướng dẫn rất nhiều cho con, đây sẽ là hành trang cho con tiếp tục tu học khi trở về. Thật xúc động khi khóa tu xuất gia gieo duyên này là cả một mơ ước trong con từ rất lâu. Vô cùng phước báu, nhờ sự trợ duyên của Sư Phụ, cùng quý thầy, quý sư cô mà chúng con có được một cơ duyên quý giá, cơ hội hiếm có trong đời này. Con cứ nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ có được duyên lành phước báu như thế nhưng được Sư Phụ và các quý thầy, quý sư cô, tất cả đại chúng đã tạo duyên lành cho chúng con được đứng trong hàng Sa di – những vị đệ tử chính thức của Đức Phật, con cảm thấy rất là xúc động. Không biết nói gì hơn, con xin tri ân Đức Như Lai, tri ân giáo Pháp ly tham, tri ân Sư Phụ, cùng toàn thể quý ni sư, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sa-di ni gieo duyên Hiền Quyên:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Từ lúc được lên Linh Quy Pháp Ấn tu học thì con nhận được rất nhiều lợi lạc trong dòng pháp Nikāya. Trước đây, con cứ nghĩ là mình đã và đang kham nhẫn, vậy là ổn rồi. Khi con được ở chùa lâu thì con mới thấy sự khiêm nhẫn ấy là chưa đủ. Con kìm nén, không dám và cũng không thể bộc phát, vì cho đó là bất thiện nên con chỉ có khóc nhưng con hiểu khóc không giải quyết được hoàn toàn cái tâm còn vô minh của mình.
Trước khi con lên tu học thì con có nghe Sư Phụ giảng về khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường. Con quyết tâm trong lòng lúc nào cũng giữ được những phẩm hạnh đó. Mỗi khi có sai pham, con đều cúi đầu xin lỗi, sám hối và nguyện không bao giờ tái phạm, nhất quyết đoạn tuyệt, không để cho mình lặp lại các lỗi này. Khi Sư Phụ giảng pháp an tịnh, lắng dịu, con đã y theo và thực hành được một thời gian. Do con niệm Phật quen rồi nên con có mang theo một cái máy và tập niệm một ngày mấy trăm lần. Có khi con quên, có khi con nhớ nên con giao mục tiêu cho con một ngày niệm phải niệm năm trăm, một ngàn lần. Từ từ con quen rồi con bỏ máy. Con niệm được thì tâm con cũng lắng dịu, cũng biết một bước an tịnh, một bước lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Con nhận thấy tâm ngọt ngào con chưa phát huy được. Tâm an tịnh tạm thời con phát huy được 50%, nhưng mà đôi lúc tâm vẫn còn khởi sân đôi chút. Thì con cũng nén, khi con nén lại thì con mới tác ý chửi rủa bản ngã đang sanh khởi. Con cảm thấy tức trong lồng ngực, con thở không được nhưng khi con tác ý như thế thì nó quên dần dần rồi nó tan đi.
Khi Sư Phụ giảng trên Quán Chiếu Đường, lúc nào cũng phải quán chiếu như có “ngọn lửa đang cháy trên đầu” để cố gắng tu tập. Con đã được nghe Sư Phụ chỉ dạy cho nhiều pháp khi ở Giảng đường nhưng do con chủ quan, tác ý ít nên khi con đi vào thiền quán, con thấy ngọn lửa trong con thì con giật mình. Con rất là sợ, nhìn ngọn lửa sân của mình cao nghi ngút thì lúc đó con run lắm. Vì mình sống trong từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày mà do vô minh, mình không biết ngọn lửa đó đang đốt mình trong từ sát-na như thế mà mình không hay biết. Con rất là sợ, sợ vô cùng.
Con tự hứa với lòng mình là từ hôm nay, con sẽ tỉnh giác quán chiếu thân khẩu ý, nhận diện ngũ uẩn, Như lý tác ý thường xuyên. Con ra quy định một ngày phải nhận diện ngũ uẩn, niệm về đề mục đang tu học bao nhiêu lần, nếu làm không đủ thì không được ăn, không được ngủ. Thỉnh thoảng, con có quên, con đi vào một góc và tát vào hai bên mặt rồi hỏi “Mày còn phóng dật nữa không?”. Con cố gắng luôn thường trực quán tâm là khi đi biết mình đi, khi đứng biết mình đứng, khi nằm biết mình nằm. Con biết rằng mình chưa thể đoạn tận triệt để tham, sân, si nhưng cần hạn chế tối đa phóng dật, giải đãi và sự cung phụng cho bản thân.
Khi được nghe câu chuyện về Đức Phật lúc tu khổ hạnh, Ngài chỉ ăn một hạt mè trong suốt một ngày một đêm để thành tựu, chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, giáo hóa chúng sanh lìa khổ được an vui, con thầm nghĩ tại sao mình không tu ngay, đợi khi nào nữa?
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sa-di gieo duyên Hiền Duy
Con kính bạch Sư Phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng.
Được về Linh Quy Pháp Ấn cầu đạo, được tu theo Chánh Pháp là niềm mơ ước trong con từ rất lâu rồi. Bốn ngày đầu tiên của khóa xuất gia gieo duyên, con bị tâm đố kỵ, chống đối và thách thức rất nhiều, không muốn cho con được tu học trọn vẹn. Nhờ những lần Sư Phụ giảng giải và tác ý dẫn dắt chúng con đi khất thực ở vườn trúc, đi chiêm bái bốn nơi Thánh tích của Đức Phật thì con vô cùng xúc động. Con cảm nhận rõ cảm thọ của mình và rất thương Phật. Tự nhiên, đôi lúc con kìm nén, không cho các cảm thọ ấy bộc lộ ra.
Lúc Sư Phụ chuẩn bị đi TP. HCM vì có Phật sự, con được nghe giảng và được Sư Phụ đánh phá vào trong tâm. Con cảm thấy rất đau, không ăn gì được do tự chất vấn bản thân rằng mình về đây để làm gì mà không chịu tu học? Sư Phụ có nói nếu không có pháp này thì có thể chúng con đã trùm mền đi ngủ rồi thì tự nhiên lúc đó con thấy hoang mang và lo sợ Sư Phụ sẽ nhìn ra tâm chống đối của mình, không cho con được tu học tiếp. Điều đó khiến con rất buồn và lo lắng. Lúc trưa này con có nói chuyện với sư cô Hạnh Tánh là rất muốn sám hối với Sư Phụ, với quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng ở đây. Do vô minh, con không biết bản thân đã gây tạo bao nhiêu nghiệp ác từ nhiều đời nhiều kiếp cho đến hiện tại. Nay con xin phát tâm sám hối. Kính xin Sư Phụ, quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng cho con được sám hối nghiệp – ngã mạn này.
Con xin tri ân Sư Phụ, con xin tri ân quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con cũng xin đặc biệt tri ân cô Chi. Hôm lên đây, con có nhiều lo lắng vì là lần đầu tiên nhưng khi bước vào chùa, được cô Chi niềm nở hỏi thăm đói bụng không, ăn cơm đi rồi từ từ gặp thầy. Cô Chi đã xua tan đi bao lạ lẫm trong con từ những ngày đầu tiên như thế. Cảm thấy như con được trở về nhà, vô cùng ấm lòng và thân thương. Ngày mai là con xuống núi rồi. Dù con đã bỏ lỡ bốn ngày đầu do tâm chống đối và lười nhác, nhưng lành thay ba ngày còn lại con đã cảm nhận được pháp và cố gắng tu tập trở lại. Con xin tri ân tất cả.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nghệ thuật trình pháp
Câu hỏi của Ni sư đại diện cho tất cả đại chúng, vừa hỏi cho tự thân mà cũng là muốn cho tất cả chúng ta được học. Đây là tình thương của Ni sư đối với tất cả chúng ta. Trước khi chia sẻ cách tu tâm xả thì Minh Thành chia sẻ thêm về cách trình pháp. Khi trình pháp, lúc đó, thọ, tưởng, hành sẽ sanh khởi; mức độ tỉnh giác chánh niệm của chúng ta sẽ được thể hiện trong nội dung trình pháp. Trong khóa tu năm trước, có một vị đang trình pháp, Minh Thành đề nghị vị ấy dừng lại hai lần thì vị ấy xin phép rằng: “Thầy ơi, xin phép thầy để cho con nói thêm chút nữa ạ”. Không phải lúc đó Minh Thành không cho vị ấy nói mà do thọ, tưởng, hành của vị ấy đi lệch ra khỏi đề mục đang quán chiếu. Hơn nữa, Minh Thành ngồi đây thực tâm là để nghe các vị trình pháp, sao không cho các vị nói thêm được.
Ví dụ, có vị trong lúc niệm ân đức của Phật chỉ nói về bản thân mà không nêu lên được những ân đức của Phật trong đề tài thiền quán. Ở ngoài đời gọi đó là lạc đề; còn ở trong đạo, gọi là tâm mình không thuận theo pháp được đang hướng dẫn. Đây là chỗ vi tế, mọi người cần lưu tâm, để ý. Trong Thanh Quy Đạo Tràng Nikāya có nêu rõ, mỗi vị được trình pháp trong vòng năm phút, nhưng nhiều vị trình pháp một hồi mất 20 phút, thậm chí các thầy đánh chuông mà cũng chưa chịu dừng, đó chính là thiếu chánh niệm tỉnh giác. Thay vào đó, nếu muốn chia sẻ thêm điều gì, các vị có thể gặp riêng Minh Thành để trình bày thêm.
Cho nên, chúng ta cần kiểm soát dục nói trong khi trình pháp, đồng thời nắm kỹ đề mục mình đang tu tập, đang quán chiếu là gì để đừng đi lệch hướng. Vừa rồi, khi đang trình bày tâm đắc tu học thì có vi đi lạc sang sám hối. Mặc dù đó vẫn là thiện pháp, chứ không phải bất thiện pháp; nhưng điều Minh Thành muốn chỉ rõ cho mọi người thấy là khi đó tâm mình đang đi lạc. Có vị không trình bày tâm đắc nhưng lại nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền buổi sáng; đó cũng là thiện pháp nhưng mức độ tỉnh giác chánh niệm của vị này chưa được vững nên bị thọ, tưởng, hành dẫn đi.
Ban đầu, Minh Thành nhắc rất nhiều lần rằng chúng ta nên trình bày thọ, tưởng, hành trong khi ngồi thiền. Tức là trong buổi thiền có cảm giác gì, có suy nghĩ gì, có hình bóng gì thì chỉ trình bày ngay lúc. Khi trình bày chính xác như vậy thì chứng tỏ mức độ chánh niệm và tỉnh giác, sự đọc tâm của mình là chính xác. Muốn được như vậy thì lúc ngồi thiền phải ít bị năm triền cái chi phối. Cũng như đến khi trình pháp, mình cũng không bị năm triền cái xâm chiếm thì mới nói được chính xác thọ, tưởng, hành lúc ngồi thiền.
Thế nên, việc trình pháp tuy thấy đơn giản nhưng chúng ta cần phải biết được cách nói cũng như cần có sự chánh niệm tỉnh giác. Mặt khác, có vị nghe Minh Thành chỉ bảo thấy khó khăn nên lần sau lo lắng, không dám trình pháp nữa, mình phải thấy được như vậy là bản ngã. Các vị nên hiểu rằng, khi được chia sẻ, chỉ dẫn, chúng ta nên lắng nghe để học hỏi, sau đó hành pháp để tiến bộ thêm.
Ngoài ra, có trường hợp trình pháp một hồi thì bị những thọ, tưởng, hành, pháp tưởng, pháp tư của quá khứ ùa về và dẫn mình đi. Thường người lớn tuổi hay phạm phải vấn đề này. Vì người tuổi càng cao thì trong tâm càng chất chứa nhiều kỷ niệm quá khứ, thường sống với những hình bóng, những cảm xúc, những tư duy của dĩ vãng. Cho nên, nếu tâm mình chưa vững chắc thì sẽ bị thọ, tưởng, hành cuốn đi. Nếu đó là buổi chia sẻ thì sẽ phù hợp hơn so với khi nói buổi trình pháp.
Vì vậy, hãy lưu ý, nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền là chỉ trình bày về sắc, thọ, tưởng, hành, thức lúc đó. Như vậy mới gọi là nhận diện ngũ uẩn trong khi ngồi thiền. Còn phát lồ tâm bất chánh là vào lúc khác, nói về tâm đắc tu học là vào lúc khác, chia sẻ cảm nhận cũng nói vào lúc khác. Tâm đắc tu học là những cái gì mà mình tâm đắc, nói về những lợi ích, an lạc, thành công, thành tựu, thành quả trong quá trình tu học. Mỗi một đề mục như vậy là nói lên một khía cạnh tu học khác nhau. Cái chén là cái chén, cái ly là cái ly, không được lẫn lộn. Cái chén, cái dĩa, cái tô đều có hình dạng và chức năng rõ ràng. Pháp cũng vậy, chúng ta nhận diện được rõ ràng thì cái nào ra cái nấy, không còn bị lẫn lộn nữa.
Nhiều vị khi trình pháp hay kể chuyện ngày xưa, khóc than vì sống với quá khứ quá nhiều; khi đó sự tỉnh thức ở trong hiện tại không đủ lực để giữ cho mình đứng vững. Như vậy, đây là những chỗ chúng ta cần lưu ý trong sự trình pháp.
Thực tập tâm xả - phá thân kiến
Trong sự tu này, việc thực tập tâm xả, tâm buông bỏ rất quan trọng. Bài Xả Vô Lượng Tâm có câu: “Xe ơi tội xe quá – Xả bớt hàng đi xe”, tâm chúng ta giống nh chiếc xe, phải chất trên quá nhiều món đồ, phải chuyên chở rất là nặng, có khi quá tải.
Có một đoạn video ngắn nhưng vô cùng xúc động kể về một người đàn ông cho một con ngựa chở đồ rất nặng trong khi con ngựa đang rất mệt. Đến lúc chịu hết nổi, chú ngựa sụp xuống nhưng người này vẫn cầm cây roi quất thúc, bắt ngựa phải dậy để chở đồ. Đánh ngựa liên tục một hồi như thế thì ngựa quỳ sập hẳn xuống, nằm dài ra. Dù đã gắng gượng nhưng chú ngựa vẫn gục ngã và không thể nào đứng dậy được nữa vì bị đánh liên tục. Cuối cùng, chú ngựa nằm đó bất động rồi tắt thở trong sự thương tiếc của nhiều người bên cạnh.
Tâm thức chúng ta cũng giống vậy, chất chứa biết bao thương, buồn, giận, hận, hờn, tủi; biết bao những hơn thua, đấu đá của cuộc đời này… cứ từng lớp này qua lớp khác chồng chất lên thân vạn khổ sầu, làm cho mình có những lúc như muốn gục ngã. Giờ đây, khi đã biết Chánh Pháp, chúng ta bắt đầu có phương pháp để đem những cấu nhiễm, phiền não ấy ra khỏi tâm và buông xả, từ bỏ chúng. Đức Thế Tôn thường dạy rằng, khi những cảm thọ lạc hay cảm thọ khổ đến, vị Tỳ-kheo cần chánh niệm tỉnh giác, trú xả”. Cho nên, tâm xả chính địa chỉ thường trú mà mỗi người nên có.
Sâu sắc hơn, gốc rễ của vấn đề ở đây vẫn là phá thân kiến, tất cả đều quay trở về chánh kiến. Khi thấy mình chỉ là ngũ uẩn, không có cái tôi, không có tự ngã ở đây thì làm gì có ai hại “mình”; làm gì có ai dồn “mình” vào đường cùng; làm gì có ai khinh khi, “mình”, làm gì có ai làm cho “mình” trở thành gánh nặng? Khi nào còn thấy có “mình” thì lúc đó mới có gánh nặng, mới có người hại mình, mới có người làm mình khổ, mới có người áp bức, khinh khi, huỷ nhục mình. Cho nên, tất cả đều vì chữ “mình” mà ra.
Chỗ thâm sâu của người tu là thấy được “không có mình”, mà muốn thấy “không có mình” thì phải thấy ngũ uẩn từ pháp hành nhận diện ngũ uẩn. Năm uẩn cũng giống như một bàn tay, gồm năm ngón tay kết hợp lại; nếu không nhìn thấy được bàn tay gồm năm ngón tạo thành, mà chỉ thấy một nắm tay rắn chắc thì chúng ta mãi chấp chặt vào bản ngã, thân kiến, tôi, ta, tao, mày, đúng sai, hơn thua, hay dở… Ngược lại, khi mở nắm tay ra tức là mình thấy rõ được ngũ uẩn, gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nắm tay cứng chắc ban đầu dần dần được buông thả xuống, bàn tay của Phật chúng ta thường thấy cũng thả lỏng xuống như vậy.
Cho nên, mặc dù vẫn là năm thủ uẩn nhưng khi chưa nhận diện được ngũ uẩn, vẫn còn nắm chặt lại với nhau thì đó chính là bản ngã, là tôi, là ta, là mày, là tao, là đúng, là sai, là hơn, là thua… Nắm tay chấp chặt đó nhìn rất đáng sợ, đây cũng là hình ảnh đáng sợ của bản ngã. Còn khi tu tâm xả thì nắm tay ấy dần dần được mở ra và buông xả xuống. Vì vậy, khi trải tâm xả hay các tâm khác trong tứ vô lượng tâm, bàn tay chúng ta phải hoàn toàn thả lỏng.
Hãy nhớ rằng, không có ai ở đây, không có một người nào ở đây. Nơi đây chỉ toàn những sắc, thọ, tưởng, hành, thức với đầy rẫy tham, sân, si, dục, ái. Tập nhìn như vậy thì dần dần chúng ta mới xóa được những suy nghĩ, tư tưởng rằng: “Mình bị khinh khi, mình bị huỷ nhục, mình bị hãm hại, mình là người đau khổ nhất, hoàn cảnh của mình là không có ai bằng, chỉ có mình mới là khổ nhất thôi”. Nhiều người khổ mà cũng giành là mình khổ nhất, khổ nhì không chịu, khổ nhưng cũng có bản ngã trong đó.
Khi thường xuyên nhận diện được ngũ uẩn thì ta mới nhìn ra được năm nhóm tạo nên thân tâm này, chứ không phải chỉ riêng một cái tôi. Cho nên, hãy cố gắng nhận diện ngũ uẩn, như lý tác ý, kết hợp thiền quán thân trống rỗng, quán tâm xả thường xuyên. Cần thực tập như vậy trong mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, nhiều tháng, nhiều năm; nhờ đó các pháp mới được huân tập đầy đủ và ta dần dần sẽ phá được những nội kết trong tâm. Hãy cố gắng tẩy rửa từng chút một, sau này, mình sẽ được sống ở trong giây phút hiện tại nhiều hơn, pháp được thọ cũng sẽ sâu sắc hơn. Bởi lẽ, mặc dù chúng ta vẫn thọ được pháp, nhưng cứ bị thọ, tưởng, hành, pháp tưởng, pháp tư quá khứ ùa về, dẫn mình đi thì sự thọ nhận chắc chắn bị giảm sút. Vì vậy, hãy thường niệm câu: “Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm – Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải ta” (Cửa vào bất tử - Khuyên mẹ tu tập) để nhắc nhở tâm mình liên tục, từ từ sẽ xả bỏ được những nội kết trong tâm, sâu sắc hơn là phá kiến chấp về thân này.
Diệt tâm chống đối
Các vị mới bước vào dòng pháp này xin lưu ý, phần trình pháp về tâm chống đối là một tấm gương, một bài học cho chúng ta. Hãy nhớ rằng, người chân thành sẽ học được pháp chân chánh, được gặp các bậc chân nhân, được thực hành Thánh pháp, được đi trên Thánh đạo và có khả năng đạt đến Thánh quả. Vì vậy, trở ngại lớn nhất của người mới đi vào dòng pháp này là tâm chống đối. Nếu không nhìn thấy được tâm này thì nó sẽ giết chết mình, dù có gặp pháp này cũng như không được gặp.
Tâm chống đối sanh khởi do hai nguyên nhân chủ yếu: một là do sự không hiểu biết; hai là do có những kiến thức, thành kiến, kiến chấp, học vấn, tri thức, tri kiến, sở chi chướng sẵn có, tức là những sự thấy biết trước đó chính là chướng ngại, cản trở mình đi vào dòng Chánh Pháp. Bản thân Minh Thành khi bắt đầu đi vào dòng pháp này là buông bỏ ngay lập tức những gì hai mươi tám năm qua đã tu học. Vì nếu không chịu buông bỏ đi những sự thấy biết, những kiến thức, cứ chấp thủ cho rằng mình hay, mình biết mình hiểu, mình giỏi, mình hơn, mình đúng… thì rất khó đi vào dòng pháp này. Từ một người dốt cho đến một người trí thức thì người ít học có bản ngã của người ít học, người học nhiều nó có bản ngã của người học nhiều. Tất cả những vô minh ấy ngấm ngầm ở trong những suy nghĩ, những cảm thọ, những tư tưởng, hình bóng trong tâm. Chúng ta cần phải nhìn ra và dẹp bỏ tất cả những điều đó thì mới học được.
Phải tu học bằng tâm ngoan hiền, đừng tu theo bản ngã, đó là cách học của phàm phu. Không được tu học trong sự tự do theo dục, tự do bản ngã, tự do ta đây, tự do buông lung phóng dật. Đức Phật không có khuyến khích những sự tự do như vậy. Ngài dạy chúng ta phải hộ trì các căn, thu thúc lục căn, thanh tịnh giới. Lúc nào cũng phải phòng hộ, nội soi, nội quán, nhìn ra được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận.
Dòng Chánh Pháp này còn rất mới đối với chúng ta, thế nên, Minh Thành luôn dõi mắt theo từng người. Người tu chúng ta cần chịu khó nhìn mình thật kỹ, khi nhìn vào tâm, cái nào phải ra cái nấy, các pháp phải thật rõ ràng. Giống như nhìn cái chén thì phải ra cái chén, nhìn cái tô thì phải đúng là cái tô. Hơn nữa, khi nhìn bên ngoài để phán xét thì chúng ta rất nhạy bén nhưng khi nhìn vào tâm chính mình thì lại mù mờ, lẫn lộn, không được sáng tỏ. Khi nhìn vào trong mà còn như vậy, đừng nói chi đến những lúc chúng ta buông thả, dù chỉ một chút thì có biết bao sự vô minh, buông lung, phóng dật; biết bao dục, tham, ái, bản ngã liền vận hành. Cho nên, khi ngồi thiền cùng đại chúng, chúng ta có được nhiều cảm thọ sâu sắc sanh khởi hơn chính là nhờ đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh, đại chúng hiền thiện, hòa hợp. Chính sự thanh tịnh đó làm cho mình có sự tập trung, tĩnh lặng; kết hợp với sự hướng nội nhận diện ngũ uẩn thì sẽ đánh động được những cảm thọ sâu lắng, sâu sắc ở bên trong.
Ngoài kia, có rất nhiều khóa tu học mở ra nhưng Phật tử chỉ được tụng, niệm, đọc kinh xong rồi đi về. Tìm đâu được những ngày tu khiến chúng ta tuôn trào nước mắt; quỳ lạy phát lồ sám hối những lỗi từ nhỏ đến lớn, rồi lạy diệt bản ngã cho bớt tham ái! Nhờ sự nhìn lại năm uẩn một cách tỉ mỉ, nhỏ nhiệm, sâu sắc của tự thân; nhờ sự trang nghiêm, an tịnh, lắng dịu từ đạo tràng; nhờ sự thanh tịnh của thầy, của bạn, của huynh đệ; nhờ tình thương, nhờ sự dễ chịu, ngọt ngào, hiền thiện của cả đại chúng mà quý vị có được những cảm thọ tuyệt vời này. Minh Thành biết nhiều vị tuy bị bệnh nhưng cũng cố gắng lên ngồi thiền, cố gắng lên nghe pháp và vẫn thọ được pháp một cách sâu sắc. Cho nên, sự tu học của chúng ta rất cần một hội chúng thâm sâu, chứ không phải là một hội chúng nông nổi.
Đánh thức tâm mê
Hãy luôn nhớ rằng, tâm thức này trong tất cả mọi cái thấy, cái nghe, cái ngưởi, cái nếm cùng những cảm xúc, nhận thức… chỉ là một cái tâm mê, vì vậy, chúng ta không được tin tưởng và tôn thờ nó. Chúng ta mê cái gì? Chúng ta mê sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vậy, chúng ta có thể phá được cơn mê ấy bằng cách gì?
Sắc uẩn
Đầu tiên, nói về sắc uẩn, có sáu khía cạnh niệm thân chính là phương tiện để phá sự mê lầm, nắm chấp vào sắc thân này, bao gồm: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi. Hằng ngày, chúng ta thực tập sáu phương diện này được bao nhiêu? Hãy nhìn lại tự thân để xét rằng, hàng ngày mình có nhớ đến hơi thở không? Có nhớ rằng thân này đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm không? Có rõ biết mình đang làm cái gì không? Đó là niệm oai nghi, hành động. Khi bưng chén trà lên, quý vị có nhớ là mình đang mượn thủy đại hay không? Sâu sắc hơn, quý vị có nhớ đến sự tu tập tâm hiền giống như nước không; hay chỉ quan tâm đến chén trà này nguội hay nóng, thơm hay dở.
Chính vì không tỉnh giác chánh niệm, không nhớ quán chiếu theo pháp nên chúng ta có một cái tôi chình ình, ai đụng vô một chút là có chuyện, nói chuyện lúc nào cũng biểu lộ khoe khoang… và cứ như vậy, mình cứ tiếp tục đau khổ. Cho nên, phải cố gắng niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi để phá cái tâm bị mê mờ ở trong sắc uẩn này. Khi nào tâm này còn cho rằng thân này là mình, là của mình, là đẹp, là hơn, là hay, là tài, là giỏi, là tôi, là của tôi thì khi đó tâm mình vẫn là tâm mê. Chừng nào thấy sắc uẩn này là tứ đại, luôn quán chiếu ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, hoàn toàn không có tôi, của tôi gì hết thì lúc đó tâm được thức tỉnh, không còn mê nữa.
Trong suốt 24 giờ, lúc nào cũng phải thấy đây là tứ đại đang vận hành, chỉ là sắc đang đi, đứng, ngồi, nằm; không có cái tôi nào đang đi, đứng, ngồi, nằm hết; chỉ thực chất đây là tim, gan, phèo, phổi, ruột non, ruột già, đống phân, nước tiểu… đang di động. Thấy được như vậy, lúc đó mình mới không bị tâm mê dẫn dắt, lúc nào cũng nhìn thấy thân xác này là bộ xương, là phình trương, là đóng giòi, là cát bụi… khi ấy mình mới thoát khỏi tâm mê và sống với tâm tỉnh giác.
Một ngày mình sống được với tâm tỉnh sáng này được bao lâu? Bao nhiêu tiếng đồng hồ? Lúc không thấy sự thật là lúc đó mình sống trong tâm mê. Ngay cả thời nghe pháp chưa chắc đã trọn vẹn, tỉnh thức. Thời ngồi thiền, mở các bài thiền quán tứ đại, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi; người nào có tâm khéo léo, nhu nhuyến, mềm mại, thuận duyên chấp nhận học pháp thì mới được 50% tỉnh thức hoặc hơn một chút, qua đó chúng ta mới biết tâm mê mờ này bủa vây mình khủng khiếp như thế nào. Đó chỉ mới là mê trong sắc uẩn, mê trong sắc pháp. Chính vì mình mê như vậy nên có chuyện xảy đến là mình liền khổ đau.
Thọ uẩn
Kế đến là tâm mê trong thọ uẩn, khi được khen thì thấy thích; bị chê chút xíu thì thấy buồn, khó chịu. Đó là mê trong thọ, vì cho rằng cảm thọ này là của tôi nên người ta đưa lên là mình khoan khoái; hạ xuống một chút là bực bội; còn khi không được đưa lên hay hạ xuống thì vẫn tồn tại một cái tôi chình ình, một cái tôi đang hiện hữu. Cho nên, ba cảm thọ đều làm chúng ta mê mờ.
Đức Phật có dạy cách quán chiếu ba cảm thọ. Khi có cảm giác vui – lạc thọ thì ta quán cảm thọ đó là khổ; cảm giác khổ thì quán đó như một mũi tên; cảm giác không vui, không khổ thì quán đó là vô thường. Đó là cách để phá tâm mê trong ba cảm thọ. Tâm mê này vô cùng khủng khiếp, chúng ta hết sức vô minh, cứ cho rằng mình đang tỉnh sáng, vẫn đang tính toán được mất, hơn thua thì mê chỗ nào! Thế nhưng, thực thế là chúng ta đang chết trong những cảm thọ vui; đắm chìm trong những cảm thọ khổ; còn khi không khổ không vui thì cứ đơ đơ, si mê với một tự ngã đang có mặt.
Cho nên Đức Phật dạy mình phải thấy cái cảm giác vui là khổ. Đối với cảm giác khổ phải quán nó là mũi tên, đâm mình đau nhức. Dù nỗi khổ ấy đã mười năm, hai mươi năm, thậm chí ba mươi năm trước nhưng nó vẫn như một mũi tên, một vết thương ghim vào trong tim, mỗi lần nhớ tới là mình đau khổ. Đức Phật dạy mình quán như vậy để chúng ta nhàm chán rồi thoát ra, chứ không phải để mình bị nhận chìm ở trong đó. Nhờ thực tập theo lời dạy của Đức Phật, chúng ta thấy được những đau khổ, thấy được sự nguy hiểm, tác hại, tai họa trong đó để nhàm chán và thoát ra.
Chúng ta đều bị mê đắm trong ba cảm thọ này. Nếu không nhìn ra được đó là thọ gì, không biết trong cảm thọ vui có tham; trong cảm thọ khó chịu có sân; trong cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si thì ta sẽ không biết cách đối trị. Chúng ta phải nhớ thật kỹ trí tuệ này và cố gắng nhận diện được ba cảm thọ này để thấy được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si. Khi phát hiện và nhiếp phục được tham, sân, si trong các cảm thọ thì tâm chúng ta mới đc tỉnh giác, tâm như vậy mới là tâm Phật. Còn tâm mà lúc nào cũng “tôi đang vui”, “tôi đang bực”, “tôi đang giận hờn” hay “ tâm tôi cũng thường thường thôi” thì đó là tâm mê mờ.
Bản ngã
Vừa lạy sám hối diệt ngã vừa thiền quán là một cách tu mới. Chúng ta không những thiền quán khi ngồi, mà còn có thể thiền quán khi lễ lạy. Có một vị trình pháp nói rằng, khi thực tập như vậy, giống như có người đứng lên và quở trách bản ngã đang quỳ dưới đất, trong người như bị phân làm hai. Điều này có thể thấy trong bài Sám Hối Diệt Ngã, nhờ có trí tuệ, chúng ta kêu bản ngã quỳ xuống sám hối:
Mau quỳ xuống lạy bậc chân nhân
Mau quỳ xuống lễ bậc cha, thầy
Mau quỳ xuống lạy bậc chánh kiến
Mau quỳ xuống lạy bậc thiện lương.
Vì vậy, ở đây, chúng ta nên hiểu rằng, cái nhìn ra được ngũ uẩn chính là trí tuệ, chứ không phải ngũ uẩn nào khác. Cũng vậy, cái nhìn thấy được bản ngã chính là trí tuệ.
Bản ngã ẩn mình trong năm uẩn
Bản ngã ẩn mình trong tâm mê.
Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết
Trước ngũ uẩn này, bản ngã sanh.
Bản ngã ẩn mình trong thân xác này, trong cảm giác này, trong hình bóng nội tâm, trong những suy nghĩ, trong sự rõ biết. Cho nên, nếu không thấy ngũ uẩn thì sẽ không thấy được bản ngã. Nói cách khác, chúng ta tu học hướng tới vô ngã nhưng không nhiếp phục được bản ngã thì không thể nào đạt tới vô ngã. Bởi lẽ, mình không thấy bản ngã thì làm sao có thể phá tan được. Mà muốn thấy bản ngã phải nhận diện được ngũ uẩn, vì bản ngã ẩn mình ở trong đó.
Vậy, chúng ta có thấy bản ngã trốn ở trong thọ, tưởng, hành, thức không? Làm sao biết lúc đó mình đang khởi bản ngã? Khi có suy nghĩ hơn thua, có cảm giác bị xúc phạm, khó chịu, bị xem thường thì trong tâm sẽ có suy nghĩ “xem thường tôi hả?”. Nhờ có sự nhận diện ngũ uẩn, chúng ta biết được suy nghĩ đó là hành uẩn; cảm giác khó chịu là thọ uẩn; hình bóng mình bị khinh khi, bị xem thường, bị hạ thấp là tưởng uẩn. Ngay lúc đó, sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức có ý niệm về tự ngã ở trong đó. Bên cạnh đó, mình có trí tuệ tự xem xét mình: “Tại sao mình cứ hơn thua hoài vậy? Tại sao ngươi cứ ta đây hoài vậy? Người ta về tu mà ngươi cũng bản ngã nữa?”. Như vậy, cái nhìn thấy được bản ngã, cái đang rầy la bản ngã như vậy không phải là bản ngã. Bản ngã ở trong tâm mê cho nên cái mà thấy biết được không phải là bản ngã, mà chính là trí tuệ. Nhờ sống với trí tuệ, chúng ta phá những cái cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, những hình bóng vô minh, si mê, làm cho mình khổ đau.
Cũng như ngay từ những ngày đầu tu học, ta thấy rõ được những điều bất thiện, đó là khởi đầu của sự thiện lành. Khi thấy được mình có lỗi thì nhờ sự thấy biết ấy không có lỗi nên mới nhìn thấy được cái kia là có lỗi. Cái thấy mà phát hiện được lỗi sai của bản thân thì cái thấy đó phải là đúng thì mới biết được mình đang sai. Tương tự, thấy được cái này là khổ đau thì sự thấy biết đó là trí tuệ để nhìn thấy ra khổ đau là như thế nào.
Cho nên, Minh Thành xin chia sẻ để các vị hiền trí hiểu được tấm lòng. Dầu cho chỉ còn một vài phút nữa, quý vị sẽ xuống núi, nhưng một khi quý vị còn ở nơi đây thì Minh Thành vẫn nhất tâm hộ niệm cho đại chúng, hướng đại chúng quay trở về với Chánh Pháp. Bằng tất cả từ tâm, tình thương và tấm lòng, Minh Thành tha thiết mong mỏi tất cả đại chúng, dầu chỉ ở đây một vài giây phút thôi cũng sẽ thấm nhuần và an trú trong Chánh Pháp của Đức Thế Tôn.
Chúng ta đã đọc bài Sám Hối Diệt Ngã nhiều lần nhưng có khi mình không có hiểu trọn vẹn ý nghĩa của những câu kệ:
Bản ngã ẩn mình trong ngũ uẩn
Bản ngã ẩn mình trong tâm mê
Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết
Trước ngũ uẩn này, bản ngã sanh.
Bản ngã ẩn mình trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó ẩn mình bằng cách cho rằng: “Con mắt này là của tôi, cái mũi này là của tôi, gương mặt này là của tôi, đôi chân này là của tôi, hình hài này là của tôi, đôi dép này là của tôi, mắt kính này là của tôi, cái đãi này là của tôi, tiền là của tôi”… tất cả những điều đó đều là mê lầm. Chỉ cần tai nạn xảy đến, nghe một cái “rầm” thì tấm thân này liền trở thành một đống tro, thành một đống thịt, khi đó thì tôi ở đâu, cái gì là của tôi?
Cho nên, nếu không thấy được bản chất thật sự của sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng này thì mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não vĩnh viễn và mãi mãi khi ngũ uẩn này biến hoại. Chỉ khi tâm được tỉnh giác thì tâm mới thấy được sự thật đó. Tâm mê lầm, chấp thủ ở trong thọ là cảm giác vui thì sẽ bảo là “tôi vui”; cảm giác buồn cũng cho là “tôi buồn”; cảm giác thường thường đơ đơ, nó cũng nói rằng “tôi không có vui, cũng không có buồn”. Cảm giác nào nó cũng cho đó là “tôi” thì đó chính là tâm mê.
Vô số lớp vô minh bao phủ trong tâm này, nếu chúng sanh không nhận diện được ngũ uẩn, không được truyền trao Thánh trí thì làm sao có thể nhìn ra được bản ngã? Làm sao có thể phát giác, phát hiện ra được cái mê? Khi phân tích sâu sắc thì chúng ta mới thấy bao nhiêu năm tháng qua, chúng ta cứ sống trong tâm mê mờ. Hình bóng, suy nghĩ trong tâm cũng vậy, bản ngã cho đó là tôi, là của tôi. Chính tâm mê mới thấy có cái tôi ở trong đó, còn tâm tỉnh sáng không thấy có “tôi” nào hết, mà chỉ thấy sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn đang giăng lưới, bủa vây làm tâm mờ mịt, u mê. “Bản ngã ẩn mình trong tâm mê”, chính tâm mê cho rằng hình hài, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết chính là tôi. Bản ngã ẩn mình trong tâm mê này nhưng chúng sanh không ai hay biết.
Phá si mê
Ví như có một người đang nằm hôn mê, mê man, ai kêu cũng không biết, ai gọi cũng không nghe. Người đó lại chính là cha của mình, là mẹ của mình, là con của mình, mình có lo lắng, xót xa, đau lòng không? Sự đau xót đó cũng giống là tâm của các bậc Chánh kiến khi nhìn thấy chúng sanh bị hôn mê trong sự vô minh, mờ tối. Các bậc Thánh nhìn chúng ta như một người hôn mê. Mà điều đau đớn nhất trong tất cả sự đau đớn; cái khổ tột cùng trong tất cả nỗi khổ là mình hôn mê mà mình không biết là mình đang hôn mê. Đây mới là cái chỗ đau nhói, xót xa và cay đắng. Chúng sanh đang mê, mà lại vỗ ngực tự cho là mình tỉnh. Mê mà không biết mình mê. Nếu biết mình mê thì lúc đó mình đã tỉnh. Cũng như khi giật mình thức dậy, biết mình vừa chiêm bao thì lúc đó, mình không còn muốn chìm đắm trong đó nữa.
Khi đã biết bản chất, bộ mặt của tâm mê như vậy, ta mới tự hỏi, có được bao nhiêu người sống với tâm tỉnh sáng trên thế gian này! Cho nên, một lần Đức Thế Tôn khảy đất ở trong móng tay đưa lên, Ngài hỏi các thầy Tỳ-kheo rằng đất ở địa cầu và đất ở móng tay Ngài cái nào nhiều hơn? Các thầy Tỷ-kheo nói đất ở trong tay Đức Phật là quá ít so với đất ngoài địa đại. Đức Phật mới dạy rằng, cũng vậy, người thấy được Khổ Thánh Đế, thấy được tâm mê, thấy được bản ngã, vô minh ít như đất trên đầu móng tay; còn người không thấy Khổ Thánh Đế thì nhiều như đất ở địa cầu.
Vì chúng sanh mãi sống trong tâm mê ấy cho nên khổ đau không có ngày cùng tận và chấm dứt. Ý niệm nào suy nghĩ lên cũng cho đó là tôi, là của tôi. Hình bóng nào sanh khởi trong tâm cũng nói đó là tôi, là của tôi. Cảm xúc, cảm giác nào sanh khởi lên là cũng nói là tôi, là của tôi. Đến khi tâm mê ấy trôi lăn, sanh vào thân con giòi cũng nói là của tôi, mình có đống phân to bự hơn, có nhiều đồ ăn hơn và chê những con giòi khác không có phân để ăn: “Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: “Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này”. (Tương ưng Bộ II, VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, bài kinh Trùng Phẩn)
Cho nên, tâm mê này dù vào thân con giòi, con muỗi hay con sán, con lãi, con kiến, con trùng, con mối, con mọt… cũng đều do tâm hôn mê. Vậy mà tất cả chúng sanh cứ dửng dưng, không lo lắng tìm cầu sự tỉnh thức. Chỉ có bậc Hiền trí – những bậc sống trong sự trầm mặc, ưu tư, trăn trở, thao thức về đời sống này mới cố gắng tìm cầu một đạo lộ, một phương pháp, một cách thức, một đường lối để thoát ra đời sống hôn mê này.
Thử đặt vào trường hợp phải đứng nhìn đứa con thơ của mình nằm đó hôn mê thì chúng ta sẽ lo lắng, thương xót, bi mẫn như thế nào! Khi đó, chúng ta mới hiểu được bậc Đạo sư thương chúng ta đến mức độ nào! Các bậc Hiền Thánh thương chúng ta đến ra sao! Đức Thế Tôn đại từ đại bi thương chúng ta nhiều như thế nào! Tất cả là vì Ngài nhìn thấy mình mãi sống trong hôn mê, si ám. Những lúc chúng ta vỡ òa, bật khóc, đấm ngực, kêu gào, dâng trào những xúc cảm đau đớn là những lúc chúng ta được bừng tỉnh thêm một chút. Cho nên, người thật sự nhận thức được tâm mê này thì sống trong cảm thọ ưu tư, lo lắng và sợ hãi, bất an. Cho đến khi nào hoàn toàn tỉnh thức khỏi cái tâm mê này, thì lúc đó mới thật sự là bình an. Thật sự mới nở được một nụ cười viên mãn.
Tâm hôn mê cần phải được nhìn thấy, cần phải được đánh thức, cần phải được gọi dậy. Đôi khi, cần phải có những cây roi quất vào tâm thật mạnh để cho tâm tỉnh ra, thức dậy và bừng sáng. Cây roi ấy chính là như lý giác sát, như lý tác ý, chính là thiền quán. Phải dùng những cú trời giáng, sấm sét để đánh thẳng, chém thẳng vào trong cái tâm mê hồn, đập thẳng vào cái đầu cao ngạo, kiêu ngạo, ngã mạn đó. Những người chịu được những cú trời giáng, sấm sét đó, chịu đựng được những cú tát thẳng vào mặt, chịu được những trận đòn bầm mình thì người đó mới chết đi sống lại, tuyệt hậu tái tô, chết cái tâm mê để sống lại với một cái tâm tỉnh giác, chết cái tâm ngu để sống lại với một cái tâm khôn lên, chết cái tâm bản ngã để sống lại với một cái tâm vô ngã, hiền thiện. Chúng ta phải chịu những trận đòn mà tự mình đánh mình, dùng thần đao Thánh kiếm, Pháp trượng để mà tự mình đánh vào thân tâm bằng như lý tác ý. Sau khi đã được truyền trao Thánh Pháp thần diệu này thì chúng ta phải tự chăn con trâu trong tâm mình. Luôn dòm ngó, canh chừng, quản lý, quản thúc nó, làm cho tâm được tỉnh thức.
Thọ của một bậc Hiền trí là một cảm thọ an tịnh, lắng dịu, ưu tư, tàm quý, hiền thiện, khiêm cung, ngọt ngào. Những cảm thọ này không mất đi, mà an trú rất vững chắc, vững chãi. Đó là Minh Thành giải thích thay chữ “tâm mê” trong bài Sám Hối Diệt Ngã. Mong rằng những cảm thọ này sẽ được tồn tại, được cất giữ, được tiếp nhận, giữ gìn, thọ trì trong tâm của mỗi hành giả Nikāya. Hãy thường xuyên phải nhắc nhở tự thân rằng: “Ngươi có nhìn thấy cái tâm mê của ngươi hay không?”. Đây là món quà mà Minh Thành dành tặng quý vị trong buổi phám đàm này.
Sa-di gieo duyên Hiền Châu
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con cung kính đảnh lễ trên Sư Phụ tôn kính của chúng con. Con cung kính đảnh lễ trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.
Con xin được trình pháp. Pháp danh con là Hiền Châu. Sau khi bị thầy quất roi vào cái tâm mê này, con xin sám hối với sư phụ và đại chúng. Nãy giờ con bị hôn trầm, nó xâm chiếm cái tâm của mình. Con ngồi nghe pháp nhưng phải ngồi chiến đấu với tâm mê này rất là mệt mỏi. Từ ngày con lên Linh Quy Pháp Ấn thì con cảm nhận sâu sắc những cảm thọ ngấm ngầm bên trong người mình. Khi con được tu học dòng pháp này, lồng ngực của con bắt đầu có sự nóng, rất là khó chịu. Ngực con giống như bị chèn ép, giống như chực chờ bung ra, vỡ tan ra vậy.
Đôi lúc, con cảm giác cái tưởng bên trong giống như một khí căng lên, muốn bung ra. Mùi hôi thối trong đó rất nhiều. Mỗi lần như vậy con thọ pháp rất là khó khăn, con phải cố gắng nhất tâm chuyên chú thọ nhận những lời pháp, lời nhắn nhủ của Sư Phụ. Mỗi lần như thế, con lại bị phiền não quấy rầy, không cho con được thọ pháp và con phải chiến đấu với cái hôn trầm này tới cùng để thọ nhận Chánh Pháp. Những lời của Sư Phụ con không có thọ hết được, vì con phải dùng hết lực của con để đánh bại triền cái hôn trầm này trước. Sau khi con quyết tâm hết sức lắng nghe từng lời của Sư Phụ, những lời thiền quán thật là sắc bén, thật là mạnh mẽ, quất thẳng vào cảm thọ của con, làm tâm mê mờ bị bung ra. Con nhận thấy bây giờ con được thoát ra khỏi cái tâm mê mờ ấy. Thân con bị chấn động hoàn toàn, lông tóc dựng đứng, run rẩy toàn thân Sư Phụ ơi! Con không thể diễn tả được cảm giác như thế này. Con chưa bao giờ có được cả.
Sau đó trong con có một sự biết ơn sâu sắc. Sư Phụ đã giúp con giải tỏa được tâm mê này, nó chất chứa từ ngày con lên đây tới giờ. Xin Sư Phụ, quý sư cô và các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
./.
ĐÁNH THỨC TÂM MÊ 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chia sẻ cảm nhận tu học PAGEREF _Toc129085344 \h 1
II.Nghệ thuật trình pháp PAGEREF _Toc129085345 \h 7
III.Thực tập tâm xả - phá thân kiến PAGEREF _Toc129085346 \h 9
IV.Diệt tâm chống đối PAGEREF _Toc129085347 \h 11
V.Đánh thức tâm mê PAGEREF _Toc129085348 \h 13
1.Sắc uẩn PAGEREF _Toc129085349 \h 13
2.Thọ uẩn PAGEREF _Toc129085350 \h 14
3.Bản ngã PAGEREF _Toc129085351 \h 15
4.Phá si mê PAGEREF _Toc129085352 \h 18
Kính lễ Đức Phật, Chánh Pháp, chúng Tăng, bậc Đạo sư và Thánh giới. Kính thưa Chư Tôn Đức cùng các bậc Hiền trí, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, vùng đất này, trời đất này. Cảm nhận sự an tịnh của không gian nơi này, cảm nhận sự bình an trong giây phút này, sự ấm áp, thiện lành, lắng dịu và dễ chịu trong giờ phút này. Kính mời Chư Tôn Hiền Đức dùng trà trong tâm thương rộng lớn.
Hôm nay, chúng ta có buổi trà đạo pháp đàm. Sáng mai là chúng ta đã viên mãn bảy ngày tu học. Giờ lúc này, chúng ta vừa dùng trà, vừa chia sẻ những cảm nhận tu học hoặc những nghi vấn, những điều tâm đắc, lợi ích, mang lại nhiều cảm thọ trong bảy ngày vừa qua.
Chia sẻ cảm nhận tu học
Ni Sư Nhật:
Con kính ngưỡng bạch Thầy, kính thưa chư huynh đệ hiện hữu cùng đoàn thể đại chúng. Lần này tuy con trở về chỉ có được vài ngày nhưng trong con luôn là niềm hạnh phúc dâng trào. Con cảm thấy rất vui, ấm áp và cảm nhận rất rõ tình thương bao la, sự che chở của Thầy, cùng toàn thể đại chúng. Bên cạnh đó, con cũng xin có một câu hỏi, kính xin thầy chỉ dạy thêm cho con.
Trong khoảng thời gian về nơi đây tu học, có hai lần con được Thầy cho phép lên trình pháp. Tuy nhiên, con nhận thấy khi con trình pháp thì nội kết trong con rất nhiều và con đi xa trong sự trình pháp. Con nhận ra những nội kết, nỗi khổ, niềm đau trong quá khứ cứ dồn về như tắc nghẽn trong con. Con xin được mạn phép đặt một câu hỏi, ngưỡng mong thầy có thể chỉ dẫn thêm cho con: “Làm thế nào để con có thể thực hành tâm xả với những người đã từng đem đến nhiều nỗi khổ, niềm đau cho con, ngay cả trong những sinh hoạt hàng ngày”. Khi con trở về, ngoài những thời thiền tập nhất định, con cần nên ứng dụng pháp hành như thế nào trong khoảng thời gian sinh hoạt hằng ngày? Vì con thấy rất rõ khi con thực hành thiền tập, con nghĩ về hình ảnh của những người đã gây tạo nội kết cùng với mình. Con thấy mình có thể thả lòng ra, có thể hoan hỷ và gửi gắm niềm biết ơn đến họ. Tâm của con rất lắng dịu, rất nhẹ nhàng nhưng sau đó, khi thường nhật, con cũng gặp lại họ và cũng với những lời nói, hành động như thế dành cho con thì con phải như thế nào? Kính trên thầy chỉ dạy thêm cho con. Con kính niệm ơn thầy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử Hạnh Chánh:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con bạch trên Sư Phụ, bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng con xin chia sẻ khóa tu học trong tuần.
Trước hết, con xin phép Sư Phụ cho con cảm ơn cô Chi nấu bếp, cảm ơn cô đã nấu cơm thọ thực cho chúng con đi học trong tuần. Khóa tu này, con cầm micro nói bớt run hơn. Sáng nay, con khóc nhiều và cũng thấy tim con bớt đập như hồi lúc trước nhờ y theo lời Sư Phụ chỉ dạy, tác ý an tịnh, lắng dịu. Con cũng cảm ơn Sư Phụ cùng mấy thầy đã cực khổ, mở ra khóa tu cho chúng con có một nơi tu học Chánh Pháp vi diệu của Đức Phật, để được thầy chỉ dạy cho chúng con những điều hay lẽ phải, đưa chúng con từ bóng tối vô minh ra ánh sáng chân lý. Con vô cùng tri ân Tam Bảo đã cho con cơ hội được tề tựu cùng đại chúng, tu học thiện pháp tại Linh Quy Pháp Ấn.
Con thấy con vô cùng hạnh phúc, mà xét lại nếu có làm gì khiến cho đại chúng buồn thì con cũng xin được tha thứ cho những lỗi lầm của mình. Con rất hoan hỷ, có nhiều cảm xúc trong khóa tu này. Trước khi vào tu, con tự nhắc mình sẽ cứng rắn hơn, không khóc nhiều nữa, nhưng hình như ngày tu nào con cũng khóc, sau khi khóc con lại rất vui trong pháp.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Cô Lan Chi:
Con kính trên Sư Phụ, con kính trên quý thầy, con kính trên quý ni sư, cùng quý sư cô và tất cả đại chúng có mặt hôm nay.
Mới đây là cũng một tuần thấp thoát đã qua, sắp kết thúc khóa tu. Con công quả ở dưới bếp nên cũng ít khi được tham gia những cuộc họp mặt. Bữa nay, phước báu thay khi con được tham gia buổi phám đàm này. Con xin được có vài lời thì trước hết, con xin tri ân cảm ơn Sư Phụ. Con cảm ơn thầy Nghĩa, cùng quý sư cô đã sắp xếp thời gian phân công trực để giúp con hoàn thành các bữa cơm chay cúng dường. Con cảm ơn cô Liên, cô Hằng đã cận kề, cùng con và đại chúng, nhín chút thời gian để tham gia những ca trực mỗi ngày, giúp con hoàn tất buổi ăn. Con cũng xin tri ân, hồi hướng công đức đến gia đình cô Sương đã gửi một số rau củ quả, cùng đạo tràng ở Sài Gòn đã cúng dường những thực phẩm chay cần thiết giúp bếp. Con cũng xin cảm ơn quý ni sư ở Úc đã cúng dường các thanh sôcôla, những viên kẹo ngọt ngào như tình thương của Ni Sư dù ở nơi xa nhưng luôn hướng về đại chúng.
Trong thời gian qua, con cũng cố gắng sắp xếp, về phụ nấu bếp để những bữa ăn thêm sinh động và tốt hơn, cúng dường cho quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng trong khóa tu học được thành tựu viên mãn. Có thể còn nhiều sai sót và lầm lỡ trong khi công quả, con cũng xin trước Sư Phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng hoan hỷ thứ tha cho con. Bếp như là nơi cần nhiều ấm áp theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trực tiếp và cả gián tiếp trao gởi nhiều tình thương bao la và rộng lớn qua những thực phẩm được cúng dường đến cho chúng sanh. Mỗi ngày, được công quả nơi đây là thêm một ngày con biết ơn và vô cùng xúc động vì tình cảm và sự chân thành mà mọi người đã gởi trao. Con nguyện sẽ cố gắng hiến tặng tốt hơn nữa những khả năng và tâm sức của mình để tạo thêm nhiều lợi lạc đến những khóa tu học kế tiếp và cả những ngày con được phụng sự cho Tam Bảo.
Con xin phép được lễ ba lạy để bày tỏ lòng tri ân đến tất cả. Nguyện cho con luôn sống trong tâm khiêm cung. Nguyện cho con luôn sống trong từ ái. Nguyện cho con diệt tận bản ngã.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sa-di ni gieo duyên Hiền Hỷ:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con cung kính đảnh lễ trên Sư Phụ, con cung kính đảnh lễ quý ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Lần này con lên về lại ngôi nhà của mình – chùa Linh Quy Pháp Ấn. Con cảm nhận rất là hoan hỷ. Khi con vừa bước qua cửa nhà thì con được gặp các quý ni sư, sư cô đã hoan hỉ chào đón con, đã dành cho con một tình cảm thật tuyệt vời. Khi được gặp Sư Phụ ở thành phố Hồ Chí Minh thì con đã rất xúc động vì như được thấy Chánh Pháp đang tỏa rạng, sáng soi tâm vô minh của mình. Khi trở về Linh Quy Pháp Ấn, người đầu tiên con gặp là các ni Sư và sư cô đang lao tác, hoan hỷ chào đón con khiến con bất giác cảm thấy mình như đứa con lạc loài, lang thang bấy lâu, nay được trở về ngôi nhà thân thương. Sau đó, lại thấy bao la tình cảm, sự trân quý của các quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, con rất vui mừng.
Con cũng xin chia sẻ về sự tu học trong Chánh Pháp Nikāya thời gian vừa rồi ở Linh Quy Pháp Ấn, con có thêm rất nhiều hành trang mang về áp dụng trong đời sống thường ngày. Nhờ Sư Phụ và các quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng đã hướng dẫn cho con tu tập về tâm hiền, tâm từ. Nên khi về đến đời thường, những hạt giống tâm từ đã được gieo, tưới tẩm những thiện pháp từ trước, trong con không còn có sự hơn thua, ganh ghét hay tranh đấu với mọi người.
Đặc biệt trong khóa tu học lần này, con cũng được các sư cô và các Ni sư hướng dẫn rất nhiều cho con, đây sẽ là hành trang cho con tiếp tục tu học khi trở về. Thật xúc động khi khóa tu xuất gia gieo duyên này là cả một mơ ước trong con từ rất lâu. Vô cùng phước báu, nhờ sự trợ duyên của Sư Phụ, cùng quý thầy, quý sư cô mà chúng con có được một cơ duyên quý giá, cơ hội hiếm có trong đời này. Con cứ nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ có được duyên lành phước báu như thế nhưng được Sư Phụ và các quý thầy, quý sư cô, tất cả đại chúng đã tạo duyên lành cho chúng con được đứng trong hàng Sa di – những vị đệ tử chính thức của Đức Phật, con cảm thấy rất là xúc động. Không biết nói gì hơn, con xin tri ân Đức Như Lai, tri ân giáo Pháp ly tham, tri ân Sư Phụ, cùng toàn thể quý ni sư, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sa-di ni gieo duyên Hiền Quyên:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Từ lúc được lên Linh Quy Pháp Ấn tu học thì con nhận được rất nhiều lợi lạc trong dòng pháp Nikāya. Trước đây, con cứ nghĩ là mình đã và đang kham nhẫn, vậy là ổn rồi. Khi con được ở chùa lâu thì con mới thấy sự khiêm nhẫn ấy là chưa đủ. Con kìm nén, không dám và cũng không thể bộc phát, vì cho đó là bất thiện nên con chỉ có khóc nhưng con hiểu khóc không giải quyết được hoàn toàn cái tâm còn vô minh của mình.
Trước khi con lên tu học thì con có nghe Sư Phụ giảng về khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường. Con quyết tâm trong lòng lúc nào cũng giữ được những phẩm hạnh đó. Mỗi khi có sai pham, con đều cúi đầu xin lỗi, sám hối và nguyện không bao giờ tái phạm, nhất quyết đoạn tuyệt, không để cho mình lặp lại các lỗi này. Khi Sư Phụ giảng pháp an tịnh, lắng dịu, con đã y theo và thực hành được một thời gian. Do con niệm Phật quen rồi nên con có mang theo một cái máy và tập niệm một ngày mấy trăm lần. Có khi con quên, có khi con nhớ nên con giao mục tiêu cho con một ngày niệm phải niệm năm trăm, một ngàn lần. Từ từ con quen rồi con bỏ máy. Con niệm được thì tâm con cũng lắng dịu, cũng biết một bước an tịnh, một bước lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Con nhận thấy tâm ngọt ngào con chưa phát huy được. Tâm an tịnh tạm thời con phát huy được 50%, nhưng mà đôi lúc tâm vẫn còn khởi sân đôi chút. Thì con cũng nén, khi con nén lại thì con mới tác ý chửi rủa bản ngã đang sanh khởi. Con cảm thấy tức trong lồng ngực, con thở không được nhưng khi con tác ý như thế thì nó quên dần dần rồi nó tan đi.
Khi Sư Phụ giảng trên Quán Chiếu Đường, lúc nào cũng phải quán chiếu như có “ngọn lửa đang cháy trên đầu” để cố gắng tu tập. Con đã được nghe Sư Phụ chỉ dạy cho nhiều pháp khi ở Giảng đường nhưng do con chủ quan, tác ý ít nên khi con đi vào thiền quán, con thấy ngọn lửa trong con thì con giật mình. Con rất là sợ, nhìn ngọn lửa sân của mình cao nghi ngút thì lúc đó con run lắm. Vì mình sống trong từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày mà do vô minh, mình không biết ngọn lửa đó đang đốt mình trong từ sát-na như thế mà mình không hay biết. Con rất là sợ, sợ vô cùng.
Con tự hứa với lòng mình là từ hôm nay, con sẽ tỉnh giác quán chiếu thân khẩu ý, nhận diện ngũ uẩn, Như lý tác ý thường xuyên. Con ra quy định một ngày phải nhận diện ngũ uẩn, niệm về đề mục đang tu học bao nhiêu lần, nếu làm không đủ thì không được ăn, không được ngủ. Thỉnh thoảng, con có quên, con đi vào một góc và tát vào hai bên mặt rồi hỏi “Mày còn phóng dật nữa không?”. Con cố gắng luôn thường trực quán tâm là khi đi biết mình đi, khi đứng biết mình đứng, khi nằm biết mình nằm. Con biết rằng mình chưa thể đoạn tận triệt để tham, sân, si nhưng cần hạn chế tối đa phóng dật, giải đãi và sự cung phụng cho bản thân.
Khi được nghe câu chuyện về Đức Phật lúc tu khổ hạnh, Ngài chỉ ăn một hạt mè trong suốt một ngày một đêm để thành tựu, chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, giáo hóa chúng sanh lìa khổ được an vui, con thầm nghĩ tại sao mình không tu ngay, đợi khi nào nữa?
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sa-di gieo duyên Hiền Duy
Con kính bạch Sư Phụ, con kính bạch quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng.
Được về Linh Quy Pháp Ấn cầu đạo, được tu theo Chánh Pháp là niềm mơ ước trong con từ rất lâu rồi. Bốn ngày đầu tiên của khóa xuất gia gieo duyên, con bị tâm đố kỵ, chống đối và thách thức rất nhiều, không muốn cho con được tu học trọn vẹn. Nhờ những lần Sư Phụ giảng giải và tác ý dẫn dắt chúng con đi khất thực ở vườn trúc, đi chiêm bái bốn nơi Thánh tích của Đức Phật thì con vô cùng xúc động. Con cảm nhận rõ cảm thọ của mình và rất thương Phật. Tự nhiên, đôi lúc con kìm nén, không cho các cảm thọ ấy bộc lộ ra.
Lúc Sư Phụ chuẩn bị đi TP. HCM vì có Phật sự, con được nghe giảng và được Sư Phụ đánh phá vào trong tâm. Con cảm thấy rất đau, không ăn gì được do tự chất vấn bản thân rằng mình về đây để làm gì mà không chịu tu học? Sư Phụ có nói nếu không có pháp này thì có thể chúng con đã trùm mền đi ngủ rồi thì tự nhiên lúc đó con thấy hoang mang và lo sợ Sư Phụ sẽ nhìn ra tâm chống đối của mình, không cho con được tu học tiếp. Điều đó khiến con rất buồn và lo lắng. Lúc trưa này con có nói chuyện với sư cô Hạnh Tánh là rất muốn sám hối với Sư Phụ, với quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng ở đây. Do vô minh, con không biết bản thân đã gây tạo bao nhiêu nghiệp ác từ nhiều đời nhiều kiếp cho đến hiện tại. Nay con xin phát tâm sám hối. Kính xin Sư Phụ, quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng cho con được sám hối nghiệp – ngã mạn này.
Con xin tri ân Sư Phụ, con xin tri ân quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng. Con cũng xin đặc biệt tri ân cô Chi. Hôm lên đây, con có nhiều lo lắng vì là lần đầu tiên nhưng khi bước vào chùa, được cô Chi niềm nở hỏi thăm đói bụng không, ăn cơm đi rồi từ từ gặp thầy. Cô Chi đã xua tan đi bao lạ lẫm trong con từ những ngày đầu tiên như thế. Cảm thấy như con được trở về nhà, vô cùng ấm lòng và thân thương. Ngày mai là con xuống núi rồi. Dù con đã bỏ lỡ bốn ngày đầu do tâm chống đối và lười nhác, nhưng lành thay ba ngày còn lại con đã cảm nhận được pháp và cố gắng tu tập trở lại. Con xin tri ân tất cả.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nghệ thuật trình pháp
Câu hỏi của Ni sư đại diện cho tất cả đại chúng, vừa hỏi cho tự thân mà cũng là muốn cho tất cả chúng ta được học. Đây là tình thương của Ni sư đối với tất cả chúng ta. Trước khi chia sẻ cách tu tâm xả thì Minh Thành chia sẻ thêm về cách trình pháp. Khi trình pháp, lúc đó, thọ, tưởng, hành sẽ sanh khởi; mức độ tỉnh giác chánh niệm của chúng ta sẽ được thể hiện trong nội dung trình pháp. Trong khóa tu năm trước, có một vị đang trình pháp, Minh Thành đề nghị vị ấy dừng lại hai lần thì vị ấy xin phép rằng: “Thầy ơi, xin phép thầy để cho con nói thêm chút nữa ạ”. Không phải lúc đó Minh Thành không cho vị ấy nói mà do thọ, tưởng, hành của vị ấy đi lệch ra khỏi đề mục đang quán chiếu. Hơn nữa, Minh Thành ngồi đây thực tâm là để nghe các vị trình pháp, sao không cho các vị nói thêm được.
Ví dụ, có vị trong lúc niệm ân đức của Phật chỉ nói về bản thân mà không nêu lên được những ân đức của Phật trong đề tài thiền quán. Ở ngoài đời gọi đó là lạc đề; còn ở trong đạo, gọi là tâm mình không thuận theo pháp được đang hướng dẫn. Đây là chỗ vi tế, mọi người cần lưu tâm, để ý. Trong Thanh Quy Đạo Tràng Nikāya có nêu rõ, mỗi vị được trình pháp trong vòng năm phút, nhưng nhiều vị trình pháp một hồi mất 20 phút, thậm chí các thầy đánh chuông mà cũng chưa chịu dừng, đó chính là thiếu chánh niệm tỉnh giác. Thay vào đó, nếu muốn chia sẻ thêm điều gì, các vị có thể gặp riêng Minh Thành để trình bày thêm.
Cho nên, chúng ta cần kiểm soát dục nói trong khi trình pháp, đồng thời nắm kỹ đề mục mình đang tu tập, đang quán chiếu là gì để đừng đi lệch hướng. Vừa rồi, khi đang trình bày tâm đắc tu học thì có vi đi lạc sang sám hối. Mặc dù đó vẫn là thiện pháp, chứ không phải bất thiện pháp; nhưng điều Minh Thành muốn chỉ rõ cho mọi người thấy là khi đó tâm mình đang đi lạc. Có vị không trình bày tâm đắc nhưng lại nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền buổi sáng; đó cũng là thiện pháp nhưng mức độ tỉnh giác chánh niệm của vị này chưa được vững nên bị thọ, tưởng, hành dẫn đi.
Ban đầu, Minh Thành nhắc rất nhiều lần rằng chúng ta nên trình bày thọ, tưởng, hành trong khi ngồi thiền. Tức là trong buổi thiền có cảm giác gì, có suy nghĩ gì, có hình bóng gì thì chỉ trình bày ngay lúc. Khi trình bày chính xác như vậy thì chứng tỏ mức độ chánh niệm và tỉnh giác, sự đọc tâm của mình là chính xác. Muốn được như vậy thì lúc ngồi thiền phải ít bị năm triền cái chi phối. Cũng như đến khi trình pháp, mình cũng không bị năm triền cái xâm chiếm thì mới nói được chính xác thọ, tưởng, hành lúc ngồi thiền.
Thế nên, việc trình pháp tuy thấy đơn giản nhưng chúng ta cần phải biết được cách nói cũng như cần có sự chánh niệm tỉnh giác. Mặt khác, có vị nghe Minh Thành chỉ bảo thấy khó khăn nên lần sau lo lắng, không dám trình pháp nữa, mình phải thấy được như vậy là bản ngã. Các vị nên hiểu rằng, khi được chia sẻ, chỉ dẫn, chúng ta nên lắng nghe để học hỏi, sau đó hành pháp để tiến bộ thêm.
Ngoài ra, có trường hợp trình pháp một hồi thì bị những thọ, tưởng, hành, pháp tưởng, pháp tư của quá khứ ùa về và dẫn mình đi. Thường người lớn tuổi hay phạm phải vấn đề này. Vì người tuổi càng cao thì trong tâm càng chất chứa nhiều kỷ niệm quá khứ, thường sống với những hình bóng, những cảm xúc, những tư duy của dĩ vãng. Cho nên, nếu tâm mình chưa vững chắc thì sẽ bị thọ, tưởng, hành cuốn đi. Nếu đó là buổi chia sẻ thì sẽ phù hợp hơn so với khi nói buổi trình pháp.
Vì vậy, hãy lưu ý, nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền là chỉ trình bày về sắc, thọ, tưởng, hành, thức lúc đó. Như vậy mới gọi là nhận diện ngũ uẩn trong khi ngồi thiền. Còn phát lồ tâm bất chánh là vào lúc khác, nói về tâm đắc tu học là vào lúc khác, chia sẻ cảm nhận cũng nói vào lúc khác. Tâm đắc tu học là những cái gì mà mình tâm đắc, nói về những lợi ích, an lạc, thành công, thành tựu, thành quả trong quá trình tu học. Mỗi một đề mục như vậy là nói lên một khía cạnh tu học khác nhau. Cái chén là cái chén, cái ly là cái ly, không được lẫn lộn. Cái chén, cái dĩa, cái tô đều có hình dạng và chức năng rõ ràng. Pháp cũng vậy, chúng ta nhận diện được rõ ràng thì cái nào ra cái nấy, không còn bị lẫn lộn nữa.
Nhiều vị khi trình pháp hay kể chuyện ngày xưa, khóc than vì sống với quá khứ quá nhiều; khi đó sự tỉnh thức ở trong hiện tại không đủ lực để giữ cho mình đứng vững. Như vậy, đây là những chỗ chúng ta cần lưu ý trong sự trình pháp.
Thực tập tâm xả - phá thân kiến
Trong sự tu này, việc thực tập tâm xả, tâm buông bỏ rất quan trọng. Bài Xả Vô Lượng Tâm có câu: “Xe ơi tội xe quá – Xả bớt hàng đi xe”, tâm chúng ta giống nh chiếc xe, phải chất trên quá nhiều món đồ, phải chuyên chở rất là nặng, có khi quá tải.
Có một đoạn video ngắn nhưng vô cùng xúc động kể về một người đàn ông cho một con ngựa chở đồ rất nặng trong khi con ngựa đang rất mệt. Đến lúc chịu hết nổi, chú ngựa sụp xuống nhưng người này vẫn cầm cây roi quất thúc, bắt ngựa phải dậy để chở đồ. Đánh ngựa liên tục một hồi như thế thì ngựa quỳ sập hẳn xuống, nằm dài ra. Dù đã gắng gượng nhưng chú ngựa vẫn gục ngã và không thể nào đứng dậy được nữa vì bị đánh liên tục. Cuối cùng, chú ngựa nằm đó bất động rồi tắt thở trong sự thương tiếc của nhiều người bên cạnh.
Tâm thức chúng ta cũng giống vậy, chất chứa biết bao thương, buồn, giận, hận, hờn, tủi; biết bao những hơn thua, đấu đá của cuộc đời này… cứ từng lớp này qua lớp khác chồng chất lên thân vạn khổ sầu, làm cho mình có những lúc như muốn gục ngã. Giờ đây, khi đã biết Chánh Pháp, chúng ta bắt đầu có phương pháp để đem những cấu nhiễm, phiền não ấy ra khỏi tâm và buông xả, từ bỏ chúng. Đức Thế Tôn thường dạy rằng, khi những cảm thọ lạc hay cảm thọ khổ đến, vị Tỳ-kheo cần chánh niệm tỉnh giác, trú xả”. Cho nên, tâm xả chính địa chỉ thường trú mà mỗi người nên có.
Sâu sắc hơn, gốc rễ của vấn đề ở đây vẫn là phá thân kiến, tất cả đều quay trở về chánh kiến. Khi thấy mình chỉ là ngũ uẩn, không có cái tôi, không có tự ngã ở đây thì làm gì có ai hại “mình”; làm gì có ai dồn “mình” vào đường cùng; làm gì có ai khinh khi, “mình”, làm gì có ai làm cho “mình” trở thành gánh nặng? Khi nào còn thấy có “mình” thì lúc đó mới có gánh nặng, mới có người hại mình, mới có người làm mình khổ, mới có người áp bức, khinh khi, huỷ nhục mình. Cho nên, tất cả đều vì chữ “mình” mà ra.
Chỗ thâm sâu của người tu là thấy được “không có mình”, mà muốn thấy “không có mình” thì phải thấy ngũ uẩn từ pháp hành nhận diện ngũ uẩn. Năm uẩn cũng giống như một bàn tay, gồm năm ngón tay kết hợp lại; nếu không nhìn thấy được bàn tay gồm năm ngón tạo thành, mà chỉ thấy một nắm tay rắn chắc thì chúng ta mãi chấp chặt vào bản ngã, thân kiến, tôi, ta, tao, mày, đúng sai, hơn thua, hay dở… Ngược lại, khi mở nắm tay ra tức là mình thấy rõ được ngũ uẩn, gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nắm tay cứng chắc ban đầu dần dần được buông thả xuống, bàn tay của Phật chúng ta thường thấy cũng thả lỏng xuống như vậy.
Cho nên, mặc dù vẫn là năm thủ uẩn nhưng khi chưa nhận diện được ngũ uẩn, vẫn còn nắm chặt lại với nhau thì đó chính là bản ngã, là tôi, là ta, là mày, là tao, là đúng, là sai, là hơn, là thua… Nắm tay chấp chặt đó nhìn rất đáng sợ, đây cũng là hình ảnh đáng sợ của bản ngã. Còn khi tu tâm xả thì nắm tay ấy dần dần được mở ra và buông xả xuống. Vì vậy, khi trải tâm xả hay các tâm khác trong tứ vô lượng tâm, bàn tay chúng ta phải hoàn toàn thả lỏng.
Hãy nhớ rằng, không có ai ở đây, không có một người nào ở đây. Nơi đây chỉ toàn những sắc, thọ, tưởng, hành, thức với đầy rẫy tham, sân, si, dục, ái. Tập nhìn như vậy thì dần dần chúng ta mới xóa được những suy nghĩ, tư tưởng rằng: “Mình bị khinh khi, mình bị huỷ nhục, mình bị hãm hại, mình là người đau khổ nhất, hoàn cảnh của mình là không có ai bằng, chỉ có mình mới là khổ nhất thôi”. Nhiều người khổ mà cũng giành là mình khổ nhất, khổ nhì không chịu, khổ nhưng cũng có bản ngã trong đó.
Khi thường xuyên nhận diện được ngũ uẩn thì ta mới nhìn ra được năm nhóm tạo nên thân tâm này, chứ không phải chỉ riêng một cái tôi. Cho nên, hãy cố gắng nhận diện ngũ uẩn, như lý tác ý, kết hợp thiền quán thân trống rỗng, quán tâm xả thường xuyên. Cần thực tập như vậy trong mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, nhiều tháng, nhiều năm; nhờ đó các pháp mới được huân tập đầy đủ và ta dần dần sẽ phá được những nội kết trong tâm. Hãy cố gắng tẩy rửa từng chút một, sau này, mình sẽ được sống ở trong giây phút hiện tại nhiều hơn, pháp được thọ cũng sẽ sâu sắc hơn. Bởi lẽ, mặc dù chúng ta vẫn thọ được pháp, nhưng cứ bị thọ, tưởng, hành, pháp tưởng, pháp tư quá khứ ùa về, dẫn mình đi thì sự thọ nhận chắc chắn bị giảm sút. Vì vậy, hãy thường niệm câu: “Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm – Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải ta” (Cửa vào bất tử - Khuyên mẹ tu tập) để nhắc nhở tâm mình liên tục, từ từ sẽ xả bỏ được những nội kết trong tâm, sâu sắc hơn là phá kiến chấp về thân này.
Diệt tâm chống đối
Các vị mới bước vào dòng pháp này xin lưu ý, phần trình pháp về tâm chống đối là một tấm gương, một bài học cho chúng ta. Hãy nhớ rằng, người chân thành sẽ học được pháp chân chánh, được gặp các bậc chân nhân, được thực hành Thánh pháp, được đi trên Thánh đạo và có khả năng đạt đến Thánh quả. Vì vậy, trở ngại lớn nhất của người mới đi vào dòng pháp này là tâm chống đối. Nếu không nhìn thấy được tâm này thì nó sẽ giết chết mình, dù có gặp pháp này cũng như không được gặp.
Tâm chống đối sanh khởi do hai nguyên nhân chủ yếu: một là do sự không hiểu biết; hai là do có những kiến thức, thành kiến, kiến chấp, học vấn, tri thức, tri kiến, sở chi chướng sẵn có, tức là những sự thấy biết trước đó chính là chướng ngại, cản trở mình đi vào dòng Chánh Pháp. Bản thân Minh Thành khi bắt đầu đi vào dòng pháp này là buông bỏ ngay lập tức những gì hai mươi tám năm qua đã tu học. Vì nếu không chịu buông bỏ đi những sự thấy biết, những kiến thức, cứ chấp thủ cho rằng mình hay, mình biết mình hiểu, mình giỏi, mình hơn, mình đúng… thì rất khó đi vào dòng pháp này. Từ một người dốt cho đến một người trí thức thì người ít học có bản ngã của người ít học, người học nhiều nó có bản ngã của người học nhiều. Tất cả những vô minh ấy ngấm ngầm ở trong những suy nghĩ, những cảm thọ, những tư tưởng, hình bóng trong tâm. Chúng ta cần phải nhìn ra và dẹp bỏ tất cả những điều đó thì mới học được.
Phải tu học bằng tâm ngoan hiền, đừng tu theo bản ngã, đó là cách học của phàm phu. Không được tu học trong sự tự do theo dục, tự do bản ngã, tự do ta đây, tự do buông lung phóng dật. Đức Phật không có khuyến khích những sự tự do như vậy. Ngài dạy chúng ta phải hộ trì các căn, thu thúc lục căn, thanh tịnh giới. Lúc nào cũng phải phòng hộ, nội soi, nội quán, nhìn ra được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận.
Dòng Chánh Pháp này còn rất mới đối với chúng ta, thế nên, Minh Thành luôn dõi mắt theo từng người. Người tu chúng ta cần chịu khó nhìn mình thật kỹ, khi nhìn vào tâm, cái nào phải ra cái nấy, các pháp phải thật rõ ràng. Giống như nhìn cái chén thì phải ra cái chén, nhìn cái tô thì phải đúng là cái tô. Hơn nữa, khi nhìn bên ngoài để phán xét thì chúng ta rất nhạy bén nhưng khi nhìn vào tâm chính mình thì lại mù mờ, lẫn lộn, không được sáng tỏ. Khi nhìn vào trong mà còn như vậy, đừng nói chi đến những lúc chúng ta buông thả, dù chỉ một chút thì có biết bao sự vô minh, buông lung, phóng dật; biết bao dục, tham, ái, bản ngã liền vận hành. Cho nên, khi ngồi thiền cùng đại chúng, chúng ta có được nhiều cảm thọ sâu sắc sanh khởi hơn chính là nhờ đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh, đại chúng hiền thiện, hòa hợp. Chính sự thanh tịnh đó làm cho mình có sự tập trung, tĩnh lặng; kết hợp với sự hướng nội nhận diện ngũ uẩn thì sẽ đánh động được những cảm thọ sâu lắng, sâu sắc ở bên trong.
Ngoài kia, có rất nhiều khóa tu học mở ra nhưng Phật tử chỉ được tụng, niệm, đọc kinh xong rồi đi về. Tìm đâu được những ngày tu khiến chúng ta tuôn trào nước mắt; quỳ lạy phát lồ sám hối những lỗi từ nhỏ đến lớn, rồi lạy diệt bản ngã cho bớt tham ái! Nhờ sự nhìn lại năm uẩn một cách tỉ mỉ, nhỏ nhiệm, sâu sắc của tự thân; nhờ sự trang nghiêm, an tịnh, lắng dịu từ đạo tràng; nhờ sự thanh tịnh của thầy, của bạn, của huynh đệ; nhờ tình thương, nhờ sự dễ chịu, ngọt ngào, hiền thiện của cả đại chúng mà quý vị có được những cảm thọ tuyệt vời này. Minh Thành biết nhiều vị tuy bị bệnh nhưng cũng cố gắng lên ngồi thiền, cố gắng lên nghe pháp và vẫn thọ được pháp một cách sâu sắc. Cho nên, sự tu học của chúng ta rất cần một hội chúng thâm sâu, chứ không phải là một hội chúng nông nổi.
Đánh thức tâm mê
Hãy luôn nhớ rằng, tâm thức này trong tất cả mọi cái thấy, cái nghe, cái ngưởi, cái nếm cùng những cảm xúc, nhận thức… chỉ là một cái tâm mê, vì vậy, chúng ta không được tin tưởng và tôn thờ nó. Chúng ta mê cái gì? Chúng ta mê sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vậy, chúng ta có thể phá được cơn mê ấy bằng cách gì?
Sắc uẩn
Đầu tiên, nói về sắc uẩn, có sáu khía cạnh niệm thân chính là phương tiện để phá sự mê lầm, nắm chấp vào sắc thân này, bao gồm: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi. Hằng ngày, chúng ta thực tập sáu phương diện này được bao nhiêu? Hãy nhìn lại tự thân để xét rằng, hàng ngày mình có nhớ đến hơi thở không? Có nhớ rằng thân này đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm không? Có rõ biết mình đang làm cái gì không? Đó là niệm oai nghi, hành động. Khi bưng chén trà lên, quý vị có nhớ là mình đang mượn thủy đại hay không? Sâu sắc hơn, quý vị có nhớ đến sự tu tập tâm hiền giống như nước không; hay chỉ quan tâm đến chén trà này nguội hay nóng, thơm hay dở.
Chính vì không tỉnh giác chánh niệm, không nhớ quán chiếu theo pháp nên chúng ta có một cái tôi chình ình, ai đụng vô một chút là có chuyện, nói chuyện lúc nào cũng biểu lộ khoe khoang… và cứ như vậy, mình cứ tiếp tục đau khổ. Cho nên, phải cố gắng niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi để phá cái tâm bị mê mờ ở trong sắc uẩn này. Khi nào tâm này còn cho rằng thân này là mình, là của mình, là đẹp, là hơn, là hay, là tài, là giỏi, là tôi, là của tôi thì khi đó tâm mình vẫn là tâm mê. Chừng nào thấy sắc uẩn này là tứ đại, luôn quán chiếu ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, hoàn toàn không có tôi, của tôi gì hết thì lúc đó tâm được thức tỉnh, không còn mê nữa.
Trong suốt 24 giờ, lúc nào cũng phải thấy đây là tứ đại đang vận hành, chỉ là sắc đang đi, đứng, ngồi, nằm; không có cái tôi nào đang đi, đứng, ngồi, nằm hết; chỉ thực chất đây là tim, gan, phèo, phổi, ruột non, ruột già, đống phân, nước tiểu… đang di động. Thấy được như vậy, lúc đó mình mới không bị tâm mê dẫn dắt, lúc nào cũng nhìn thấy thân xác này là bộ xương, là phình trương, là đóng giòi, là cát bụi… khi ấy mình mới thoát khỏi tâm mê và sống với tâm tỉnh giác.
Một ngày mình sống được với tâm tỉnh sáng này được bao lâu? Bao nhiêu tiếng đồng hồ? Lúc không thấy sự thật là lúc đó mình sống trong tâm mê. Ngay cả thời nghe pháp chưa chắc đã trọn vẹn, tỉnh thức. Thời ngồi thiền, mở các bài thiền quán tứ đại, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi; người nào có tâm khéo léo, nhu nhuyến, mềm mại, thuận duyên chấp nhận học pháp thì mới được 50% tỉnh thức hoặc hơn một chút, qua đó chúng ta mới biết tâm mê mờ này bủa vây mình khủng khiếp như thế nào. Đó chỉ mới là mê trong sắc uẩn, mê trong sắc pháp. Chính vì mình mê như vậy nên có chuyện xảy đến là mình liền khổ đau.
Thọ uẩn
Kế đến là tâm mê trong thọ uẩn, khi được khen thì thấy thích; bị chê chút xíu thì thấy buồn, khó chịu. Đó là mê trong thọ, vì cho rằng cảm thọ này là của tôi nên người ta đưa lên là mình khoan khoái; hạ xuống một chút là bực bội; còn khi không được đưa lên hay hạ xuống thì vẫn tồn tại một cái tôi chình ình, một cái tôi đang hiện hữu. Cho nên, ba cảm thọ đều làm chúng ta mê mờ.
Đức Phật có dạy cách quán chiếu ba cảm thọ. Khi có cảm giác vui – lạc thọ thì ta quán cảm thọ đó là khổ; cảm giác khổ thì quán đó như một mũi tên; cảm giác không vui, không khổ thì quán đó là vô thường. Đó là cách để phá tâm mê trong ba cảm thọ. Tâm mê này vô cùng khủng khiếp, chúng ta hết sức vô minh, cứ cho rằng mình đang tỉnh sáng, vẫn đang tính toán được mất, hơn thua thì mê chỗ nào! Thế nhưng, thực thế là chúng ta đang chết trong những cảm thọ vui; đắm chìm trong những cảm thọ khổ; còn khi không khổ không vui thì cứ đơ đơ, si mê với một tự ngã đang có mặt.
Cho nên Đức Phật dạy mình phải thấy cái cảm giác vui là khổ. Đối với cảm giác khổ phải quán nó là mũi tên, đâm mình đau nhức. Dù nỗi khổ ấy đã mười năm, hai mươi năm, thậm chí ba mươi năm trước nhưng nó vẫn như một mũi tên, một vết thương ghim vào trong tim, mỗi lần nhớ tới là mình đau khổ. Đức Phật dạy mình quán như vậy để chúng ta nhàm chán rồi thoát ra, chứ không phải để mình bị nhận chìm ở trong đó. Nhờ thực tập theo lời dạy của Đức Phật, chúng ta thấy được những đau khổ, thấy được sự nguy hiểm, tác hại, tai họa trong đó để nhàm chán và thoát ra.
Chúng ta đều bị mê đắm trong ba cảm thọ này. Nếu không nhìn ra được đó là thọ gì, không biết trong cảm thọ vui có tham; trong cảm thọ khó chịu có sân; trong cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si thì ta sẽ không biết cách đối trị. Chúng ta phải nhớ thật kỹ trí tuệ này và cố gắng nhận diện được ba cảm thọ này để thấy được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si. Khi phát hiện và nhiếp phục được tham, sân, si trong các cảm thọ thì tâm chúng ta mới đc tỉnh giác, tâm như vậy mới là tâm Phật. Còn tâm mà lúc nào cũng “tôi đang vui”, “tôi đang bực”, “tôi đang giận hờn” hay “ tâm tôi cũng thường thường thôi” thì đó là tâm mê mờ.
Bản ngã
Vừa lạy sám hối diệt ngã vừa thiền quán là một cách tu mới. Chúng ta không những thiền quán khi ngồi, mà còn có thể thiền quán khi lễ lạy. Có một vị trình pháp nói rằng, khi thực tập như vậy, giống như có người đứng lên và quở trách bản ngã đang quỳ dưới đất, trong người như bị phân làm hai. Điều này có thể thấy trong bài Sám Hối Diệt Ngã, nhờ có trí tuệ, chúng ta kêu bản ngã quỳ xuống sám hối:
Mau quỳ xuống lạy bậc chân nhân
Mau quỳ xuống lễ bậc cha, thầy
Mau quỳ xuống lạy bậc chánh kiến
Mau quỳ xuống lạy bậc thiện lương.
Vì vậy, ở đây, chúng ta nên hiểu rằng, cái nhìn ra được ngũ uẩn chính là trí tuệ, chứ không phải ngũ uẩn nào khác. Cũng vậy, cái nhìn thấy được bản ngã chính là trí tuệ.
Bản ngã ẩn mình trong năm uẩn
Bản ngã ẩn mình trong tâm mê.
Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết
Trước ngũ uẩn này, bản ngã sanh.
Bản ngã ẩn mình trong thân xác này, trong cảm giác này, trong hình bóng nội tâm, trong những suy nghĩ, trong sự rõ biết. Cho nên, nếu không thấy ngũ uẩn thì sẽ không thấy được bản ngã. Nói cách khác, chúng ta tu học hướng tới vô ngã nhưng không nhiếp phục được bản ngã thì không thể nào đạt tới vô ngã. Bởi lẽ, mình không thấy bản ngã thì làm sao có thể phá tan được. Mà muốn thấy bản ngã phải nhận diện được ngũ uẩn, vì bản ngã ẩn mình ở trong đó.
Vậy, chúng ta có thấy bản ngã trốn ở trong thọ, tưởng, hành, thức không? Làm sao biết lúc đó mình đang khởi bản ngã? Khi có suy nghĩ hơn thua, có cảm giác bị xúc phạm, khó chịu, bị xem thường thì trong tâm sẽ có suy nghĩ “xem thường tôi hả?”. Nhờ có sự nhận diện ngũ uẩn, chúng ta biết được suy nghĩ đó là hành uẩn; cảm giác khó chịu là thọ uẩn; hình bóng mình bị khinh khi, bị xem thường, bị hạ thấp là tưởng uẩn. Ngay lúc đó, sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức có ý niệm về tự ngã ở trong đó. Bên cạnh đó, mình có trí tuệ tự xem xét mình: “Tại sao mình cứ hơn thua hoài vậy? Tại sao ngươi cứ ta đây hoài vậy? Người ta về tu mà ngươi cũng bản ngã nữa?”. Như vậy, cái nhìn thấy được bản ngã, cái đang rầy la bản ngã như vậy không phải là bản ngã. Bản ngã ở trong tâm mê cho nên cái mà thấy biết được không phải là bản ngã, mà chính là trí tuệ. Nhờ sống với trí tuệ, chúng ta phá những cái cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, những hình bóng vô minh, si mê, làm cho mình khổ đau.
Cũng như ngay từ những ngày đầu tu học, ta thấy rõ được những điều bất thiện, đó là khởi đầu của sự thiện lành. Khi thấy được mình có lỗi thì nhờ sự thấy biết ấy không có lỗi nên mới nhìn thấy được cái kia là có lỗi. Cái thấy mà phát hiện được lỗi sai của bản thân thì cái thấy đó phải là đúng thì mới biết được mình đang sai. Tương tự, thấy được cái này là khổ đau thì sự thấy biết đó là trí tuệ để nhìn thấy ra khổ đau là như thế nào.
Cho nên, Minh Thành xin chia sẻ để các vị hiền trí hiểu được tấm lòng. Dầu cho chỉ còn một vài phút nữa, quý vị sẽ xuống núi, nhưng một khi quý vị còn ở nơi đây thì Minh Thành vẫn nhất tâm hộ niệm cho đại chúng, hướng đại chúng quay trở về với Chánh Pháp. Bằng tất cả từ tâm, tình thương và tấm lòng, Minh Thành tha thiết mong mỏi tất cả đại chúng, dầu chỉ ở đây một vài giây phút thôi cũng sẽ thấm nhuần và an trú trong Chánh Pháp của Đức Thế Tôn.
Chúng ta đã đọc bài Sám Hối Diệt Ngã nhiều lần nhưng có khi mình không có hiểu trọn vẹn ý nghĩa của những câu kệ:
Bản ngã ẩn mình trong ngũ uẩn
Bản ngã ẩn mình trong tâm mê
Sắc, thọ, tưởng, hành và thức biết
Trước ngũ uẩn này, bản ngã sanh.
Bản ngã ẩn mình trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó ẩn mình bằng cách cho rằng: “Con mắt này là của tôi, cái mũi này là của tôi, gương mặt này là của tôi, đôi chân này là của tôi, hình hài này là của tôi, đôi dép này là của tôi, mắt kính này là của tôi, cái đãi này là của tôi, tiền là của tôi”… tất cả những điều đó đều là mê lầm. Chỉ cần tai nạn xảy đến, nghe một cái “rầm” thì tấm thân này liền trở thành một đống tro, thành một đống thịt, khi đó thì tôi ở đâu, cái gì là của tôi?
Cho nên, nếu không thấy được bản chất thật sự của sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng này thì mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não vĩnh viễn và mãi mãi khi ngũ uẩn này biến hoại. Chỉ khi tâm được tỉnh giác thì tâm mới thấy được sự thật đó. Tâm mê lầm, chấp thủ ở trong thọ là cảm giác vui thì sẽ bảo là “tôi vui”; cảm giác buồn cũng cho là “tôi buồn”; cảm giác thường thường đơ đơ, nó cũng nói rằng “tôi không có vui, cũng không có buồn”. Cảm giác nào nó cũng cho đó là “tôi” thì đó chính là tâm mê.
Vô số lớp vô minh bao phủ trong tâm này, nếu chúng sanh không nhận diện được ngũ uẩn, không được truyền trao Thánh trí thì làm sao có thể nhìn ra được bản ngã? Làm sao có thể phát giác, phát hiện ra được cái mê? Khi phân tích sâu sắc thì chúng ta mới thấy bao nhiêu năm tháng qua, chúng ta cứ sống trong tâm mê mờ. Hình bóng, suy nghĩ trong tâm cũng vậy, bản ngã cho đó là tôi, là của tôi. Chính tâm mê mới thấy có cái tôi ở trong đó, còn tâm tỉnh sáng không thấy có “tôi” nào hết, mà chỉ thấy sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn đang giăng lưới, bủa vây làm tâm mờ mịt, u mê. “Bản ngã ẩn mình trong tâm mê”, chính tâm mê cho rằng hình hài, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết chính là tôi. Bản ngã ẩn mình trong tâm mê này nhưng chúng sanh không ai hay biết.
Phá si mê
Ví như có một người đang nằm hôn mê, mê man, ai kêu cũng không biết, ai gọi cũng không nghe. Người đó lại chính là cha của mình, là mẹ của mình, là con của mình, mình có lo lắng, xót xa, đau lòng không? Sự đau xót đó cũng giống là tâm của các bậc Chánh kiến khi nhìn thấy chúng sanh bị hôn mê trong sự vô minh, mờ tối. Các bậc Thánh nhìn chúng ta như một người hôn mê. Mà điều đau đớn nhất trong tất cả sự đau đớn; cái khổ tột cùng trong tất cả nỗi khổ là mình hôn mê mà mình không biết là mình đang hôn mê. Đây mới là cái chỗ đau nhói, xót xa và cay đắng. Chúng sanh đang mê, mà lại vỗ ngực tự cho là mình tỉnh. Mê mà không biết mình mê. Nếu biết mình mê thì lúc đó mình đã tỉnh. Cũng như khi giật mình thức dậy, biết mình vừa chiêm bao thì lúc đó, mình không còn muốn chìm đắm trong đó nữa.
Khi đã biết bản chất, bộ mặt của tâm mê như vậy, ta mới tự hỏi, có được bao nhiêu người sống với tâm tỉnh sáng trên thế gian này! Cho nên, một lần Đức Thế Tôn khảy đất ở trong móng tay đưa lên, Ngài hỏi các thầy Tỳ-kheo rằng đất ở địa cầu và đất ở móng tay Ngài cái nào nhiều hơn? Các thầy Tỷ-kheo nói đất ở trong tay Đức Phật là quá ít so với đất ngoài địa đại. Đức Phật mới dạy rằng, cũng vậy, người thấy được Khổ Thánh Đế, thấy được tâm mê, thấy được bản ngã, vô minh ít như đất trên đầu móng tay; còn người không thấy Khổ Thánh Đế thì nhiều như đất ở địa cầu.
Vì chúng sanh mãi sống trong tâm mê ấy cho nên khổ đau không có ngày cùng tận và chấm dứt. Ý niệm nào suy nghĩ lên cũng cho đó là tôi, là của tôi. Hình bóng nào sanh khởi trong tâm cũng nói đó là tôi, là của tôi. Cảm xúc, cảm giác nào sanh khởi lên là cũng nói là tôi, là của tôi. Đến khi tâm mê ấy trôi lăn, sanh vào thân con giòi cũng nói là của tôi, mình có đống phân to bự hơn, có nhiều đồ ăn hơn và chê những con giòi khác không có phân để ăn: “Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: “Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này”. (Tương ưng Bộ II, VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, bài kinh Trùng Phẩn)
Cho nên, tâm mê này dù vào thân con giòi, con muỗi hay con sán, con lãi, con kiến, con trùng, con mối, con mọt… cũng đều do tâm hôn mê. Vậy mà tất cả chúng sanh cứ dửng dưng, không lo lắng tìm cầu sự tỉnh thức. Chỉ có bậc Hiền trí – những bậc sống trong sự trầm mặc, ưu tư, trăn trở, thao thức về đời sống này mới cố gắng tìm cầu một đạo lộ, một phương pháp, một cách thức, một đường lối để thoát ra đời sống hôn mê này.
Thử đặt vào trường hợp phải đứng nhìn đứa con thơ của mình nằm đó hôn mê thì chúng ta sẽ lo lắng, thương xót, bi mẫn như thế nào! Khi đó, chúng ta mới hiểu được bậc Đạo sư thương chúng ta đến mức độ nào! Các bậc Hiền Thánh thương chúng ta đến ra sao! Đức Thế Tôn đại từ đại bi thương chúng ta nhiều như thế nào! Tất cả là vì Ngài nhìn thấy mình mãi sống trong hôn mê, si ám. Những lúc chúng ta vỡ òa, bật khóc, đấm ngực, kêu gào, dâng trào những xúc cảm đau đớn là những lúc chúng ta được bừng tỉnh thêm một chút. Cho nên, người thật sự nhận thức được tâm mê này thì sống trong cảm thọ ưu tư, lo lắng và sợ hãi, bất an. Cho đến khi nào hoàn toàn tỉnh thức khỏi cái tâm mê này, thì lúc đó mới thật sự là bình an. Thật sự mới nở được một nụ cười viên mãn.
Tâm hôn mê cần phải được nhìn thấy, cần phải được đánh thức, cần phải được gọi dậy. Đôi khi, cần phải có những cây roi quất vào tâm thật mạnh để cho tâm tỉnh ra, thức dậy và bừng sáng. Cây roi ấy chính là như lý giác sát, như lý tác ý, chính là thiền quán. Phải dùng những cú trời giáng, sấm sét để đánh thẳng, chém thẳng vào trong cái tâm mê hồn, đập thẳng vào cái đầu cao ngạo, kiêu ngạo, ngã mạn đó. Những người chịu được những cú trời giáng, sấm sét đó, chịu đựng được những cú tát thẳng vào mặt, chịu được những trận đòn bầm mình thì người đó mới chết đi sống lại, tuyệt hậu tái tô, chết cái tâm mê để sống lại với một cái tâm tỉnh giác, chết cái tâm ngu để sống lại với một cái tâm khôn lên, chết cái tâm bản ngã để sống lại với một cái tâm vô ngã, hiền thiện. Chúng ta phải chịu những trận đòn mà tự mình đánh mình, dùng thần đao Thánh kiếm, Pháp trượng để mà tự mình đánh vào thân tâm bằng như lý tác ý. Sau khi đã được truyền trao Thánh Pháp thần diệu này thì chúng ta phải tự chăn con trâu trong tâm mình. Luôn dòm ngó, canh chừng, quản lý, quản thúc nó, làm cho tâm được tỉnh thức.
Thọ của một bậc Hiền trí là một cảm thọ an tịnh, lắng dịu, ưu tư, tàm quý, hiền thiện, khiêm cung, ngọt ngào. Những cảm thọ này không mất đi, mà an trú rất vững chắc, vững chãi. Đó là Minh Thành giải thích thay chữ “tâm mê” trong bài Sám Hối Diệt Ngã. Mong rằng những cảm thọ này sẽ được tồn tại, được cất giữ, được tiếp nhận, giữ gìn, thọ trì trong tâm của mỗi hành giả Nikāya. Hãy thường xuyên phải nhắc nhở tự thân rằng: “Ngươi có nhìn thấy cái tâm mê của ngươi hay không?”. Đây là món quà mà Minh Thành dành tặng quý vị trong buổi phám đàm này.
Sa-di gieo duyên Hiền Châu
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con cung kính đảnh lễ trên Sư Phụ tôn kính của chúng con. Con cung kính đảnh lễ trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.
Con xin được trình pháp. Pháp danh con là Hiền Châu. Sau khi bị thầy quất roi vào cái tâm mê này, con xin sám hối với sư phụ và đại chúng. Nãy giờ con bị hôn trầm, nó xâm chiếm cái tâm của mình. Con ngồi nghe pháp nhưng phải ngồi chiến đấu với tâm mê này rất là mệt mỏi. Từ ngày con lên Linh Quy Pháp Ấn thì con cảm nhận sâu sắc những cảm thọ ngấm ngầm bên trong người mình. Khi con được tu học dòng pháp này, lồng ngực của con bắt đầu có sự nóng, rất là khó chịu. Ngực con giống như bị chèn ép, giống như chực chờ bung ra, vỡ tan ra vậy.
Đôi lúc, con cảm giác cái tưởng bên trong giống như một khí căng lên, muốn bung ra. Mùi hôi thối trong đó rất nhiều. Mỗi lần như vậy con thọ pháp rất là khó khăn, con phải cố gắng nhất tâm chuyên chú thọ nhận những lời pháp, lời nhắn nhủ của Sư Phụ. Mỗi lần như thế, con lại bị phiền não quấy rầy, không cho con được thọ pháp và con phải chiến đấu với cái hôn trầm này tới cùng để thọ nhận Chánh Pháp. Những lời của Sư Phụ con không có thọ hết được, vì con phải dùng hết lực của con để đánh bại triền cái hôn trầm này trước. Sau khi con quyết tâm hết sức lắng nghe từng lời của Sư Phụ, những lời thiền quán thật là sắc bén, thật là mạnh mẽ, quất thẳng vào cảm thọ của con, làm tâm mê mờ bị bung ra. Con nhận thấy bây giờ con được thoát ra khỏi cái tâm mê mờ ấy. Thân con bị chấn động hoàn toàn, lông tóc dựng đứng, run rẩy toàn thân Sư Phụ ơi! Con không thể diễn tả được cảm giác như thế này. Con chưa bao giờ có được cả.
Sau đó trong con có một sự biết ơn sâu sắc. Sư Phụ đã giúp con giải tỏa được tâm mê này, nó chất chứa từ ngày con lên đây tới giờ. Xin Sư Phụ, quý sư cô và các bậc hiền trí chỉ dạy thêm cho con.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
./.