Dự Lưu 2 - Làm Sao Phá Thân Kiến 3
Nikāya Giảng Giải
Dự Lưu 2 - Làm Sao Phá Thân Kiến 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cẩn trọng trong tu hành PAGEREF _Toc201584633 \h 1
II. Pháp quán vô ngã PAGEREF _Toc201584634 \h 2
III. Thánh trí về cảm thọ PAGEREF _Toc201584635 \h 10
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc201584636 \h 13
I. Cẩn trọng trong tu hành
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí chiều nay chúng ta còn một đoạn cuối trong bài kinh sáu sáu, Thế Tôn nói những cái pháp để cho mình Nhập Lưu. Nếu chúng ta đọc trong kinh là chúng ta sẽ thấy Đức Thế Tôn rất chịu khó, khi đọc là con đã lược bớt rồi, ngài nhắc là từng chi tiết, con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân, cái ý, mỗi một pháp như vậy ngài đều lặp lại và không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi, người biên tập kinh cũng dùng dấu ba chấm để lược bỏ bớt. Như vậy ba mươi sáu pháp là Đức Phật lặp lại ba mươi sáu lần, bây giờ biên tập kinh đã lược bớt rất nhiều, con người ngày nay không chịu khó nhiều, tâm dễ chán nản cho nên khi con trình bày phải thêm nhiều từ ngữ tương đồng ý nghĩa, nếu con nói y chang trong kinh là mọi người sẽ chán không muốn nghe cho nên chúng ta phải thấy được sự thuyết pháp kham nhẫn, lòng đại bi của ngài. Chính vì vậy những phần quan trọng con thường lặp tới lặp lui, lặp đi lặp lại, ví dụ hết cái này đến cái khác.
"Này các Tỳ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỉ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Mình nói con mắt nhiều bây giờ mình đổi qua cái thân chẳng hạn, hay là cái ý, Đức Phật đã nói từng cái như vậy. Do duyên có thân, có sự đụng chạm, ví dụ mình ngồi cái chỗ đó êm ấm, cái giường nệm thì lúc đó mình khởi ra sự rõ biết sự đụng chạm đó, đó là thân thức, ba pháp này hội tụ, giao thoa là thân xúc, khi có thân xúc khởi lên lạc thọ. Mình tu tới chín giờ mình về nằm xuống êm ấm có lạc thọ không? Nhiều khi nguyên ngày mình đi tu, đi học, đi làm công quả gì đó, tới khi mình nằm xuống thì cái thân hình mình chạm xuống cái tấm nệm hay là cái giường, cái chõng, khi mình chạm xuống như vậy sẽ có lạc thọ, trong lúc đó mình có nhận diện không hay hôn mê luôn, mình có thấy các pháp lúc đó đang diễn ra không cho nên tu Nikāya rất là chi tiết, chi li vì thế người ẩu tu cái này không được, người cạn cợt tu cái này không được.
Tu cái này là phải kỹ và phải sâu sắc, phải cẩn trọng, trí Huệ mới sanh, mình thấy rõ được các pháp vận hành. Lúc tỉnh thì mình thấy mà cái lúc đó mình mê là không thấy. Lúc ba-bốn giờ khuya lên ngồi thiền, lạy pháp bảo rồi bước vào bồ đoàn ngồi trong khi bên ngoài có gió thổi phớt qua mặt, không gian yên tĩnh, ngồi thở vô thở ra ó nhẹ nhàng rồi con mắt bắt đầu sụp xuống, lúc đó là mình có thấy lạc thọ sanh khởi không? Cho nên người ngủ gục nhiều là người này không có kiểm soát cảm thọ chứ có gì đâu, người này không có chịu mãnh liệt trong sự tu thì ngủ gục. Người thường hay ngủ gục trong khi ngồi thiền là cái tâm tu không có nhiệt huyết, còn người nhiệt huyết chuyện nhỏ, không có gì hết, đạp một cái là phải bước qua, không có vấn đề cứ năm năm, ba năm, bảy năm rồi mà có cái ngủ gục mà trị không được thì vậy tu cái gì.
Sau đó phải chịu được cái đau, đó là lạc thọ rồi khổ thọ, đã vậy ngồi còn nhúc nhích, trở qua trở lại, sửa tới sửa lui cái áo rồi gãi. Cái đó là cái dao động, là trạo cử, những người rơi vô năm cái triền cái dạng thô nhất ở ngoài, người ta thấy được một là ngủ gục, hai là dao động tức là người này không có nhiệt tâm trong sự tu học, không có nhiệt tâm, tinh cần thì người này rơi trong năm triền cái, còn người có nhiệt tâm là không có, người ta canh chừng nó từng giây từng phút, chiến đấu mà. Mọi người có thấy chiến đấu là vinh quang không hay ngồi đó để con ma ngủ muốn dẫn đi đâu thì dẫn, không thì con ma buông lung phóng dật, muốn làm gì thì làm? Thành ra chúng ta nhìn ra được hết, trong khi mình nghe pháp, trong khi mình ngồi thiền, trong khi mình tụng pháp bảo, trong khi mình đọc thì nhìn ra được hết, các pháp hiện rõ ra hết, mà đó là cái pháp thô đó chứ chưa phải pháp tế.
Khi cảm giác vui mà vị này không có hoan hỉ cho nên có các vị thức khuya dậy sớm ngồi thiền, có vị ngồi thiền xuyên đêm. Con nghe báo cáo lại vậy nhưng mà con nghĩ rằng được thì tốt, tuy nhiên ngồi xuyên đêm mà tới giờ tu lên mà ngủ gục là không được, con có thấy sơ sơ rồi, thành ra tinh tấn là tốt nhưng phải làm sao cho nó dài lâu, vững chắc mới. Khi nằm xuống một cái là ngủ như chết, không có thực hành dáng nằm con sư tử gì hết, không kiểm tra bên trong, không thực hành ba pháp, nội tâm cảnh giác. Có vị hỏi tỉnh giác và chánh niệm là mình tụng ở trong căn bản trí có giải thích, chánh niệm là mình biết rõ cái oai nghi ở bên ngoài, đi biết đi, nằm biết nằm, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, tỉnh giác là mình thấy rõ được thọ; tưởng; hành bên trong.
II. Pháp quán vô ngã
Vị này có một cái cảm giác vui, dễ chịu mà vị này không có hoan hỉ, nghe người ta khen mà vị này không thấy hân hoan, không thấy thích thú, vị này quay về kiểm soát cảm thọ của mình. Con đọc mấy chục bài xưng tán bậc đạo sư, ngài nghe mà không trả lời một chữ nào hết, con dùng những từ mà không còn từ nào có thể cao hơn từ đó nữa mà ngài nghe rồi vẫn không trả lời câu nào, cảm thọ của các bậc đạo sư bất động trong cái khen chê. Các vị Tăng Ni phải để ý cảm thọ khi được người ta quỳ lạy hay người ta chắp tay xá mình là lập tức phải quay cho vô coi thọ; tưởng; hành của mình nó đang như thế nào, nó có hoan hỉ, có hân hoan không, có thầy mình là hay, là giỏi, là thầy là cô không. Nếu có thì phải lặp tức tác ý liền "trong bộ đồ này là cái thân, trong cái thân này là lớp da, trong lớp da này là tim, gan, phèo, phổi, là trống rỗng, trống không, không có ai trong này hết", khi được lễ lạy phải tác ý như vậy, giống như mình niệm cái câu kinh luôn, bất cứ lúc nào ai lạy mình cũng phải niệm như vậy.
Bất lúc nào được đảnh lễ, được cúng dường, được xưng tán là điều phải quán như vậy hết, không được quên cái bài đó. "Trong đây là bộ đồ, lớp da, thịt, mủ, máu, không ai trong đấy, mau thoát ra", phải quán như vậy, còn mấy vị mới xuất gia gieo duyên cũng vậy, lên là chấp tay xá ào ào "chào sư cô, chào thầy" thì lúc đó mình phải biết quán. Chính vì mình không có được truyền cái mật pháp, đây là cái bí pháp, cái mật pháp, cái khẩu quyết của bậc đạo sư cho nên mình càng được lạy nhiều lần nào cái bản ngã mình càng lớn chừng đó, Đức Thế Tôn nói thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp bởi sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen đó. Thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp.
Nhiều nhìn thấy những cái cảnh con đau lòng nên con cũng ít muốn đi giao tiếp bên ngoài, người tu mình không có một sự quay trở lại, không có sự thực tập thì xót xa lắm, nói ít quý vị hiểu nhiều, xót xa, cay đắng lắm. Cho nên đây là pháp hành của người tu là cư sĩ hoặc là người xuất gia, tức là vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không có hoan hỉ, không có tán thán, không có trú ở ái trước, không có vui thích khi được khen, khi được đưa lên cho nên vừa rồi có những giới tử tu khá, mới vừa được lãnh thưởng đọc thuộc bài kệ diệt ngã, buổi trình pháp hôm sau là bài lỗi lầm của mình ra trào dâng nước mắt rất tốt, rất là tốt. Những vị tu sâu sắc phải để ý để mình học, quý vị có nhìn ra không? Mình rất là dễ hoan hỉ, tán thán trong cảm xúc lạc thọ, mình trú ở ái trước.
Mình được khen, được người ta đưa lên, được người ta kính trọng, con cũng thấy nhiều ở trong đạo tràng có một số vị tu cũng lâu rồi nhưng mà con thấy lần lần nhạt cái pháp hành, có những cái hành xử thô, không có giống như lúc đầu mới gặp. Thành ra cái này phải để ý lắm, con xin thưa là phải để ý lắm bởi vì cái này rất là khó nói vì nó quá vi tế, nói là người ta sẽ phiền não, sẽ chạm vào bản ngã mà không nói thì người ta không tiến bộ, thành ra có khi phải gửi vào trong những cái bài pháp để tự người đó phải để ý chứ bây giờ nói là chạm liền, không nói thì không tiến bộ, họ không thấy. Bây giờ làm sao? Phải gửi gắm vào những bài pháp, người nào có thì tự biết, chúng ta thấy vậy chứ rất khó để giữ cái tâm ban đầu.
Một vị không có hoan hỉ, không tán thán, không có trú ở ái trước thì tham tùy miên của vị đó không tăng, chỉ có mấy chữ như vậy mà tu cả đời. Được ăn ngon, được ở chỗ đẹp, được người ta tôn trọng, khen ngợi, được yêu thương, quý mến, trong những lúc đó mình coi cái tâm mình có khoái không, có thích không, có tham không, có dính mắc không. Nếu thấy có tham, có thích, có ái, có khoái, có dính mắc thì đương nhiên phải có một cái tự ngã trong đó. Cái gì tham? Ai tham? Cho nên sân cũng vậy, nó cũng có cái tự ngã cho nên vị ấy cảm xúc khổ thọ, một cái cảm giác khổ đau mà không có sầu muộn, không có buồn phiền, gặp cảnh khổ không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có rơi vào bất tỉnh, sân tùy miên của vị ấy không có tùy tăng. Gặp cảnh khổ vị này không có buồn đau, ví dụ mình tu lên tới Ni sư, Ni trưởng rồi nhưng bỗng nhiên có người không biết thì họ nói "con ơi, lại đây giúp bà cái này" thì cái thọ của mình ra sao? Hoặc là mình tu lên tới thượng tọa hoặc cao hơn nữa mà có người nói "lại đây biểu coi" thì cảm thọ lúc đó thế nào? Hay là mình đáng tuổi mẹ nhưng có đứa nhỏ thôi kêu mày tao với mình thì lúc đó mình sao?
Khi đó phải tác ý "cái nùi giẻ này có gì đâu", thấy vậy chứ phải tác ý nhiều lắm, mình như vầy mà có người nói "mày lại đây biểu coi" thì thọ; tưởng; hành mình ra sao. Người ta không kêu mình là Ni trưởng, Ni sư, sư cô, sư bà mà người ta kêu con, người không kêu là hòa thượng, thượng tọa, thầy mà kêu bằng thằng thì lúc đó mình ra sao? Có thọ gì? Mình tu sao? Quán chiếu thế nào? Đó là mới có ngôn ngữ thôi chứ chưa có tác động vật lý, lỡ người ta có tác động vật lý, cầm cái cây đánh thì cái tâm mình có điềm nhiên, không sầu đau, không bực bội không? Tâm mình có an tịnh, lắng dịu không? Đó là tiếng nói rồi tới tác động vật lý, tiếp theo là lỡ nếu mình vấp té, mình ngã đổ, bị tai nạn giao thông, bị bệnh, thân mình không còn giống như lúc xưa, sắc này bị thay đổi, hai chữ thay đổi này bao trùm cả trời đó, nó là già, bệnh, chết, tai nạn, điên khùng, ung hạch, ung thư, ung bướu, đột quỵ, đột tử, đột biến, hay chữ thay đổi đó thôi là trùm trời trùm đất cho nên đó là lý do mình phải thuộc kinh.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Khi nó bị thay đổi như vậy thì mình có cái chuẩn bị sẵn sàng một tâm lý để mình ứng phó với sự thay đổi đó không? Cho nên chúng ta thấy bữa cuối cùng con đem hai thánh vật của non thiêng ra là tràn ngập nước mắt, đó là mới có một sự quán tưởng thôi, nếu mà nó xảy ra đến với mình thật sự như vậy thì lúc đó như thế nào, cái thọ của mình như thế nào, có bất động không vì thế mình đâu có thể tu sơ sài được, đâu có thể hiểu qua loa được. Chúng ta thấy không, một tiếng kèn nổi lên, một bộ xương khiêng ra và một mâm tro cốt đặt xuống, đó là tự thay đổi cho nên gọi là sắc, thành ra có ba chữ thôi bị thay đổi là Đức Phật tóm hết càn khôn này, bao la vạn tượng, vũ trụ này ở trong ba chữ "bị thay đổi".
Lòng mình có đổi thay không? Nhìn thấy gương mặt này bị nổi lên những cái mụn, khi làn da này không còn như vậy nữa, nứt nẻ ra, máu chảy ra, mỡ lòi ra, mủ đổ ra, tâm mình có còn bình thường như bây giờ mà mình nói rằng bây giờ tôi bình thường. Những cái đó đến, mình lấy cái tâm thái nào để mà mình đối diện? Nếu mình không có một cái công phu tu tập vững trú ở trong cái thánh trí vô ngã, vô thường, khổ, thành tựu được một cái trí tuệ nhìn thấy sự bị thay đổi của các pháp thì làm sao? Cho nên mình tập cái gì mà con mắt mình nhìn tới, cái tai mình nghe tới mình không được đọc lên "cái đồ bị thay đổi", "cái thứ bị thay đổi", "cái vật bị thay đổi", ngay cả cha mẹ tứ đại này rồi cũng bị thay đổi, nhìn vô thân mình cũng là "đồ thay đổi, là cái thứ đổi thay", những chữ này đủ cho mình chứng quả Nhập Lưu, đủ cho mình chứng quả tối thượng, phá sắc uẩn.
Do thọ; tưởng; hành; thức bám vào cái sắc này làm tổ, nếu mình phá banh cái sắc thì những cái này không có chỗ đứng nữa vì thế Thân Hành Niệm gọi là hương vị của bất tử. Thọ; tưởng; hành; thức nó quấn quanh, nó làm đồn, làm trú, làm hang, làm ổ, làm xào, làm huyệt, làm căn cứ địa ở trong sắc thủ uẩn này, thế gian này chìm ngập trong bóng đêm, chừng nào cha chết, mẹ chết, cô chú bị tai nạn giao thông thì lúc đó mới thấy là khổ, lúc đó mới thấy bị thay đổi thì nó muộn rồi. cho nên làm sao đối diện với những cái đó mà cái tâm của mình bình an được, an tịnh, lắng dịu được.
Chúng ta còn nhớ một vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn, ngài nhờ các thầy Tỳ-kheo khác khiêng cái giường cùng với cái thân này ra ngoài, thân của ngài giống như nắm rơm sắp sửa tan rã. Tôi là ai mà tôi phải chết ở trong cái căn nhà? Tôi không muốn chết ở trong nhà, ngài Xá-lợi-phất và các vị thánh Tăng đến thăm thì thấy bất ngờ thì nghe nói vị thầy bị rắn cắn nhưng sắc mặt không đổi thì vị thầy nói vì từ rất lâu ngài đã thấy từ rất lâu sắc này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, đã từ rất lâu tôi thấy thọ; tưởng; hành; thức này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì làm sao có thể thay đổi sắc mặt được.
"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:
-- Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:
-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi' hay: 'Cái lưỡi là của tôi"... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi", thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: "Tôi là ý", hay: 'Ý là của tôi'.
Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)
Cái thân ngài muốn rã ra nhưng cái dung sắc, cái thần thái, tâm thức của ngài bất động. Chúng ta thấy Ni sư cười cười nhiều khi trong đang chiến đấu cơn bệnh dữ dằn lắm mà ngoài mình nhìn không biết, một cái người cạn cỡ có gì nhìn mặt biết liền, vui là như qua mùa xuân nở vậy, buồn thì giống như bánh bao chiều, còn người có tu tập thì khác, mình nhìn không biết được họ vui hay buồn vì họ nhiếp phục cảm thọ. Người ta sẽ dẫn dắt cảm thọ theo ý muốn của người ta cho nên Đức Thế Tôn bị bệnh nặng, ngài nhiếp phục cảm thọ, trú vào trong định là ngài bớt đau rất nhiều.
"Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: 'Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỳ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống'. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Mình bây giờ biết trú vào đâu? Mình không đạt được những cái định, mình không có đạt được cái pháp thì trú vào đâu? Cái tâm mình làm hang ổ trong sắc uẩn cho nên có chuyện gì chút nhìn mặt biết liền, nó không có thâm sâu, không có trầm lắng, không có nội hàm, nội lực, đạo lực, pháp lực, trí tuệ, tuệ lực. Mình không có cái lực, cái sức mạnh ở bên trong nên ở ngoài chỉ cần một cơn gió là bệnh, đổ xuống, lá vàng rơi liền thành ra phải có một cái lực, lực đó là trí tuệ nhiếp phục cảm thọ. Mình tu là nhiếp phục cảm thọ, tham, sân, si, dục ái, vô minh đều nằm trong cảm thọ hết, bây giờ mình không nhiếp phục được cảm thọ thì làm sao tu?
"Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Phải diệt vô minh làm cho minh sanh khởi thành ra cái chữ của mình này trong này thành ra chữ vô minh rất sâu sắc. Mình thấy mình sống bình thường, đều đều nhưng mà sống trong vô minh không à, mình không thấy khổ là mình sống trong vô minh. Bây giờ bưng lên quá trời đồ ăn ngon thì lúc đó có thấy khổ không?
Sư cô Pháp Linh: Dạ mô Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô toàn thể đại chúng. Khi được dọn thức ăn nhiều thì trước tiên cảm thọ trong con nghĩ là khổ tại vì thứ nhất là không biết lựa món ăn nào. Thứ hai là nếu ăn nhiều quá thì một lát nữa cái bụng nó sẽ bị đau, khổ nữa, thứ ba là nếu đồ ăn nhiều quá mà cái bụng của mình không cho phép ăn, nếu ăn món này bỏ món kia thì tiếc nữa cũng khổ nữa. Dạ mô Phật, đó là những cái con nhận thấy khi lên mà đồ ăn nhiều. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên Ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng tất cả các hiền trí và sư phụ. Với câu hỏi này khi con thấy dọn ra rất là nhiều món ăn thì trong cảm thọ của con sẽ sanh khởi ra khổ thọ tại vì nó sẽ khiến cho cái tâm tham con nó nổi lên, trong đó tâm sân cũng đồng thời nổi lên vì nó làm cho mình phải phân vân lựa chọn và ý hành nó sanh khởi nhiều thứ quá, không biết chọn lựa như thế nào cho cái tứ đại này thỏa mãn. Thành ra con sanh khởi khổ thọ là chính, bạch trên sư phụ.
Sư Phụ: Tham là khổ, cái đó là đối tượng cho mình tham, có pháp quán lắm nhưng mà ở đây nói ngắn gọn cho nên mới nói là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những thứ đó là mình tránh xa, nó khởi lên cái tham là mình thấy khổ, hậu quả của nó thì nhiều lắm, cũng như khởi lên cái sân thì thấy khổ, những cái gì sinh khởi lên những cái nguyên nhân của khổ ở trong tâm của mình là mình thấy nhàm chán, yểm ly, ly tham. Hồi xưa mình chưa biết tu mình chưa đi vô vòng chánh pháp đi ngang thấy đám cưới mình vui, mình thích nhưng giờ già bảy mươi tuổi mà thấy đám cưới thì chỉ thấy mệt, nhất là mình học cái pháp này thì càng thấy khổ "tụi nó sắp sửa khổ với nhau nữa rồi". Mình già rồi, mình trưởng thành rồi, mình có hiểu biết, có trí tuệ về đời sống này rồi, mình biết tụi nó đang đi trên con đường mà mình đã đi qua cho nên ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại nói mấy đứa cháu đâu có nghe, tụi nó đang vui, đang hạnh phúc mà nói khổ thì đâu có nghe, "lúc đó con già giống bà rồi con mới hiểu".
Đức Phật, các bậc thánh, những vị trưởng thành, những vị trưởng thượng trong trí tuệ thì mình giống như những đứa con nít đối với các ngài. Mình chưa có hiểu được, nhiều khi Đức Phật nói pháp về khổ nhưng mình lại chẳng thấy khổ, thấy vui nhiều hơn, từ khi mình thấm rồi, mình thể nhập rồi mới thấy hồi xưa mình nông cạn, ấu trĩ, trẻ thơ, trẻ con, ngu si cho nên trong cái sự tu mình phải để ý rất là kỹ.
Tôi biết mình chỉ là đom đóm
Quặn lòng nhìn bóng tối vô minh,
Ngày đêm bao phủ tâm nhân thế
Khống chế cuộc đời trong dục mê.
(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)
Những câu này rất thâm sâu, rộng lớn, đó là cái trí vũ trụ, ngày đêm là bao phủ tâm nhân thế, thấy trong vô minh, nghe trong vô minh, ngửi nếm trong vô minh, xúc trong vô minh, nhận thức trong vô minh, lấy khổ làm vui, lấy nguy làm an, lấy cái tai họa, lấy quả báo làm cái sung sướng, cái hạnh phúc. Ví dụ như đi ăn cắp, ăn trộm của người ta được là thấy vui, họ hỷ hả, thích thú, vui trong cái đau khổ của người khác và cái đau khổ về sau của họ mà họ không biết, đó chính là ngày đêm bao phủ tâm nhân thế. Ví dụ mình nói dối, lừa gạt người ta được là mình thích thú, đó là cái thô, ngoài ra còn những cái tế hơn nữa, chẳng hạn quý vị đi tu, khi chưa đến đạo tràng Bửu Liên thì quý vị đâu có biết hôm nay con đi về núi, không có mặt ở đó, quý vị nghĩ tới là sẽ gặp con thì cái tưởng đó là cái tưởng chấp thường, hôm nào con chết cũng giống y vậy, cái hòm đặt ngay chính giữa nhà.
Tất cả điều diễn ra một cách bất ngờ, bất trắc, bất thường, bất an, bất ổn, bất định, mình phải suy nghĩ được những cái đó thì mình mới trân trọng, trân quý, trân kính những cái gì mình đang tu học, những cái gì mình đang được gặp gỡ, những cái gì mình đang được hành trì thì cái đó mới phá vô minh. Còn giờ như đại chúng nghĩ rằng tối nay hoặc sáng mai là con sẽ giảng nữa, không có nghĩ như vậy, nghĩ vậy là vô minh, bất cứ lúc nào hơi thở mình cũng có thể là tàn hơi tại chỗ này, thầy cũng có thể tàn hơi tại chỗ này, huynh đệ, người thân mình có thể bất cứ lúc nào ra đi, như vậy mình mới phá được vô minh, minh mới sinh khởi. Thành ra muốn phá vô minh là phải siêng năng tác ý.
Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, căn – trần – thức – xúc – thọ – ái khởi ra ba cảm thọ, vị ấy cảm xúc với cảm thọ vui mà không có hoan hỉ, không có tán thán, không có trú ở nơi ái trước cho nên tham tùy miên không có tăng, cảm xúc khổ thọ mà vị ấy không khó chịu, bực bội, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, rơi vào bất tỉnh thì sân tùy miên vị ấy không tăng, vị ấy cảm xúc ở trong cái cảm thọ không khổ không vui, không khó chịu không dễ chịu nhưng vị ấy như thật biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi các cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của vị ấy không có tùy tăng. Đức Phật lặp lại nhiều lắm, ngài đinh ninh, ngài nhắc nhở cho mình thuộc lòng luôn giống như hồi sáng con hướng dẫn, mỗi câu cho niệm cả chục lần nhưng rồi về nhà cũng quên.
III. Thánh trí về cảm thọ
"Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Ở đây năm cái trí tuệ này Đức Phật nhấn mạnh sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của các cảm thọ. Tại sao có thọ? Do mình tiếp xúc nên có thọ, đó là thọ sanh. Tại sao hết cảm thọ, không còn cảm xúc nữa? Do không còn tiếp xúc nữa. Vị ngọt của nó cảm thọ là gì?
Bảy Trí Về Thọ
• Thọ: Được cảm thọ nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, nên gọi là thọ
• Thọ sanh: Do Xúc tập khởi nên Thọ tập khởi.
• Thọ diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Thọ đoạn diệt.
• Thọ diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thọ đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
• Vị ngọt của thọ: Do duyên Thọ khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Thọ.
• Sự nguy hại của thọ: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thọ, đó là nguy hại của Thọ.
• Sự xuất ly của: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thọ, đó là sự xuất ly của Thọ.
Phật tử: con cúi đầu lễ Đức Thế Tôn, con cúi đầu đảnh lễ bậc đạo sư, con cúi đầu quý chư Tăng Ni và thiền chúng, Dạ con xin trình bày bảy trí về thọ, trí thứ nhất thế nào là thọ, này các Tỳ-kheo có ba cảm thọ, thọ khổ, thọ lạc thọ, bất khổ bất lạc. Trí thứ hai là thọ sanh, trí thứ ba là thọ diệt, trí thứ tư là con đường đưa đến thọ diệt khổ, trí thứ năm là vị ngọt của thọ, thứ sáu là sự nguy hại của thọ và trí thứ bảy là sự xuất ly của thọ. Vị ngọt của thọ là do duyên thọ khởi lên hỷ lạc gì thì hỷ lạc đó là vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ là sự vô thường, biến đổi đưa đến thọ hoại diệt và sự xuất ly của thọ là sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham, đó là sự xuất ly của họ.
Sư Phụ: Mình phải thấy được vị ngọt của nó, sự nguy hiểm và tác hại của nó, làm cách nào thoát ra khỏi nó, phải nắm vững được. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì thì cái lạc, cái hỷ đó là vị ngọt, tức là trong cái cảm giác mà mình thấy, mình khoái, mình thích, mình muốn, đó là vị ngọt và tất cả chúng sanh chết trong vị ngọt này. Nhớ câu chuyện ngày xưa chúng ta hay nghe kể, anh chàng bị thú dữ rượt thì anh lọt xuống cái giếng khô trong rừng, anh may mắn chụp được sợi dây leo, ở trên sợi dây leo anh nhìn lên thấy có hai con chuột trắng chuột đen đang gặm sợi dây leo, ở phía dưới có con rắn độc. Đang trong cơn nguy hiểm thì tự nhiên có đàn ong nhỏ xuống vài giọt mật rồi anh này đưa miệng ra hứng vị ngọt của mật, thế là anh chàng quên hết đau khổ, ở trên thì voi dữ, sợi dây thì bị hai con chuột đen trắng gặm, xung quanh là bốn con rắn độc đang phùng mang.
Con voi dữ ở trên là chỉ cho vô thường, cái chết đang rượt đuổi mình, cái sợi dây đó là ví dụ cho cái sinh mạng, con chuột trắng ruột đen ví dụ cho ngày đêm cắn sợi dây trên mạng của mình, bốn con rắn ở dưới là tứ đại. Biết bao cái khổ, nào là tam độc, tứ đại vô thường, quỹ thời gian cạn kiệt nhưng mà chỉ cần mấy giọt mật chảy xuống là quên hết, quên cái khổ hết, quên cái nguy hiểm, quên cái tai họa. Những vị cư sĩ không đi xuất gia được là vì mấy cái giọt mật, có đủ lý do hết, nào là bệnh đau, gia đình không yên ổn, sầu, bi, ưu, não đủ thứ hết.
Chúng ta quên hết cái nguy hiểm, quên hết cái tai nạn đang rình rập, mình rơi xuống cái hố thành ra mình có cái sự quán chiếu mới thấy mình đang lâm nguy, mình đang bị vây hãm, mình đang bị lọt hầm, lọt hố, mình đang gặp tai họa, mình có quán chiếu thì mình thấy được như vậy cái vô minh mới tan biến một phần nào đó, còn mình không có thấy gì hết, sáng ăn, trưa ăn, chiều ăn, tối ăn, đi làm thấy bình thường thì cái đó là cái khổ. Mỗi một ngày mình được đến chùa, được đến tu, được đến đạo tràng như vầy là cái ngày mình được thoát vô minh, được lìa tham ái, được bớt chấp thủ, được đi vào trong ánh sáng.
Mình phải có từ tâm với chư hiền của mình, nãy con có nhìn thấy một hai vị mắt liếc liếc, người ta đọc không thuộc liếc người ta, tội nghiệp họ. Mình phải có từ tâm, tình thương, mình đọc không được mà người ta đọc được là quý rồi, biết rằng các vị đó cũng cố gắng nhiều lắm. Hãy thương nhau, làm sao trong đạo tràng nhìn bằng mắt thương nhau hết, ánh nhìn thiện cảm, đây là nếp nhà của đạo tràng Nikāya, phải kiểm soát từng chút một vậy đó. Sau này khi vào đạo tràng là ấm áp, là ngọt ngào, là êm ái, là mái ấm, là tình thương, là quê hương, là căn nhà. Từng lời nói, từng ánh mắt, từng cử chỉ phải lan tỏa được tâm hiền và tình thương, từ có tâm hiền, có cái tình thương này ở trong đạo tràng này rồi chúng ta mới về gia đình mới lan tỏa được, ngay trong đạo tràng không có tình thương thì làm sao về cái nhà lửa mà có tình thương. Thương là phải thương từ trong ruột thương ra, từ ở trong tim, ở trong cái cảm thọ, trong cái ánh mắt, trong mỗi lời nói, trong hành động, từng cử chỉ tôn trọng, tôn kính, tôn quý, trân kính, từ ái với nhau là rất quan trọng.
Từ chỗ căn bản đó mình mới đi tới những cái pháp đang học này được, những cái đó mình chưa có là mình không có vào được cái pháp thâm sâu, cái pháp tột cùng. Bài kinh này là bài pháp tột cùng phá vỡ tất cả các pháp để mình giải thoát.
"Này các Tỳ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng...; yếm ly mũi, yếm ly các hương...; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị...; yếm ly thân, yếm ly các xúc...; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Yểm ly tức là chán lìa, do thấy mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, khổ, vô ngã, những cảm giác khi nhìn thấy sanh khởi lên vị này chán lìa. Dù cho đó là cảm thọ vui, cảm thọ buồn hay cảm thọ không vui không buồn thì vị này đều chán lìa ba cảm thọ.
"Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: 'Ta đã được giải thoát'. Và vị ấy tuệ tri: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Vị ấy biết bằng trí tuệ sanh đã tận, dòng sanh tử đến đây đã chấm dứt, đức hạnh cao thượng đã viên thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa. Do chán lìa vị ấy không còn tham, do không còn tham vị ấy được giải thoát khỏi ngũ uẩn, do giải thoát vị ấy biết rõ ta đã thoát ra năm uẩn một cách hoàn toàn. Vị ấy biết bằng trí tuệ sanh tử đến đây đã cùng tận, đức hạnh cao thượng đã viên thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui lại trạng thái dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã này nữa.
"Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỳ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Sáu mươi vị Tỳ-kheo chứng thánh quả A-la-hán sau khi Đức Phật giảng bài kinh này, sáu mươi vị thánh Tăng khi bài kinh này được tuyên thuyết xong, sáu mươi vị được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Bây giờ mình nghe bài kinh này rồi cái tâm mình như thế nào? Cảm thọ như thế nào? Thọ; tưởng; hành của mình như thế nào?
IV. Trình pháp
Phật tử 2: Con cúi đầu đảnh lễ sư phụ, con cúi đầu đảnh lễ quý sư thầy, sư Ni và các bậc hiền trí. Hôm nay khi nghe xong bài pháp này một cảm xúc của con dâng trào lên, trời ơi con không biết nói sao, thời Đức Phật các vị có một trí tuệ thật là vô cùng quý báu, chỉ nghe xong một bài pháp mà các ngài đã chứng được bậc A-la-hán, còn sự tu hành của con cứ thụt lùi, lúc nhớ lúc quên, con vô cùng xúc động. Trời ơi con cũng muốn như các vị nhưng làm sao đây, Thế Tôn ơi hãy chỉ cho con, con lớn tuổi rồi, bất cứ ở đâu con nghe thấy có các bậc chứng được đạo quả con vô cùng hoan hỉ nhưng không biết tại sao con tu hoài không tiến bộ, cứ lui sụt hoài.
Hôm nay được nghe bài giảng của thầy, thọ của con xúc động quá, con xúc động thật sự, con cố gắng, cố gắng nhiều lắm, cố gắng thật nhiều nhưng mà tuổi con càng này càng lớn lên, trí của con người đó cũng không còn minh mẫn nữa, con rất là buồn nhưng mà con chỉ mong sao con cố gắng để được nhập vào dòng Du Lư để tiến bước trên con đường sau này. Con quyết chí dù là cơ thể của mình có già nhưng tâm hồn của con không bao giờ già hết, con cố gắng, cố gắng để trong đời này con phải đạt được kết quả Dự Lưu để con không bị cái dòng thác sinh tử cuốn con đi nữa. Con phải nắm lấy thật chắc dòng pháp này để không bị trôi trên biển sanh tử, con không bị nó dập xuống trôi theo dòng sanh tử này nữa. Dòng cảm xúc của con quá hoan hỉ khi gặp được bài pháp này, khi gặp được sáu mươi vị la-hán đắc đạo. Trời ơi con mừng lắm nhưng mà không thể với được, con xin chân thành cảm ơn sư phụ nhiều lắm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 3: Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các hiền trí. Kính thưa sư phụ bản thân con từ khi thâm nhập được chánh pháp Nikāya đã giúp con thay đổi rất nhiều, con biết nhìn vào tâm của mình, cũng nhìn thấy những pháp bất thiện pháp sanh khởi. Con cũng biết cách tác ý quán tưởng để đẩy những bất thiện pháp dần loại khỏi tâm mình, mỗi lần nghe những bài giảng của sư phụ gần đây trên Linh Quy con thấy các vị bịt mắt dẫn nhau đi, khởi đầu nhìn những hình ảnh đó thọ trong con rất là bồi hồi xúc động. Nhìn các vị con quán tưởng lại thân mình, con cũng như những người mù, vô minh đã thấy được dòng chánh pháp này nhưng vẫn còn mông lung, phóng dật, vẫn biết rằng chánh pháp này là con đường đưa đến thoát khỏi sanh tử luân hồi nhưng khi nhìn vào cảm thọ của con vẫn thấy có những điều làm cản trở nên đôi lúc con không gây dám trình pháp với sư phụ.
Con thấy mình rất ư là xấu hổ, học pháp cũng lúc trồi lúc sụt, con cố gắng an trú vào hỷ thọ khi nghe pháp để cản ngăn những pháp bất thiện từ bên ngoài xâm nhập vào tâm con. Con luôn muốn đánh đuổi chúng nhưng không hiểu sao cư sĩ tại gia của con luôn bị những xúc chạm bên ngoài, nhĩ xúc, nhãn xúc, thân xúc luôn làm cho con có những điều cứ băn khoăn. Những lúc như thế con phải mở pháp của sư phụ để trấn an lại mình, những tiếng nói của sư phụ, giọng nói của người có lúc mạnh lúc nhẹ quán tưởng con giống như có lúc con bị roi đánh vào người cho tỉnh lại, cũng có lúc nước mắt con trào dâng. Con nhìn thấy tận tâm, tận lực của sư phụ mà thân cư sĩ tại gia con học pháp lúc nhớ lúc quên, con lấy làm xấu hổ. Hằng ngày con chỉ biết mỗi lần thắp nhang trên bàn Phật con cứ gọi Thế Tôn ơi, con cố gắng nhớ những đức hạnh của ngài để dõi theo và học tập, sửa đổi chính tâm mình cho càng ngày càng tốt hơn để không phụ lòng bậc ân sư, bậc đạo sư đã tận tâm dẫn dắt chúng con, con kính tri ân sư phụ nhiều lắm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Đầu tiên cho con xin cảm ơn Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con cảm ơn sư phụ, khi con nghe lời bài pháp sư phụ bảo sắc là vô thường con nhớ lại khi con nằm trong bệnh viện thì con nhớ những lời sư phụ "đây là khổ, khổ là đây". Con đang khỏe tự nhiên nó thay đổi rồi phải đi vào trong bệnh viện cấp cứu, con nằm trong bệnh viện mấy ngày con thấm thía những lời dạy của sư phụ, nước mắt con tuôn trào con cảm ơn sư phụ rất là nhiều, con thấy khổ nhưng con phải cảm ơn sư phụ rất nhiều bởi vì con đã thấy được khổ và những lời sư phụ từng dạy cho con hàng ngày. Con nằm trong bệnh viện mấy ngày thì con cứ niệm bài Tứ Niệm Xứ, đó là một con đường mà con nghe sư phụ nhắc nhở con hằng ngày.
Đây là khổ, khổ là đây!
Thánh nhân đã đánh chuông này rền vang.
Con nhớ ngày đó con không biết nói gì, con cứ bị chỉ biết những lời sư phụ vang lên thì con lại nước mắt con lại tuôn rơi, con lại cảm ơn sư phụ rất nhiều, sư phụ là một người cha lành đã đem đến cho con những cái lời giáo huấn, những lời mà con thấm thía trong cuộc đời của con. Một lần nữa con chỉ có biết cảm ơn sư phụ rất là nhiều và nói về cảm thọ của con lúc sáng khi con bước chân vào chùa thì con gặp thầy Thiện Huệ và con không thấy sư phụ cảm thọ của con tự nhiên nó buồn, nó tụt xuống. Con thấy ý hành "sư phụ dạy đúng là vô thường, hôm qua sư phụ nói sư phụ ở đây, hôm nay sư phụ lại đi về trên đó thì mình phải nhớ lại những sư phụ nói như vậy". Con nhớ lại những lời đó rồi ý hành của con nói "nếu một mai mà sư phụ nhập khất mình phải nương vào ai" tự nhiên trong lòng con nó buồn, con nhớ sư phụ. Con biết thọ thì buồn, ý hành nhắc con nếu sư phụ nhập thất thì mình phải cố gắng lên, có thầy Thiện Huệ ở đây thì con cũng rất mừng, rất hoan hỉ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con pháp danh Hiền Giang xin đảnh lễ sư phụ, xin đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Con xin trình bày cảm thọ khi sáng giờ được nghe pháp sư phụ giảng, hồi nãy sư phụ có nói hai vị ngồi kế bên con có trình bày bảy trí về thọ, lúc đó là con không có thuộc, con có lo lắng là sợ sư phụ kêu. Ý hành con cũng nói là ráng lắng nghe quý vị trình pháp để học theo, con không biết con có liếc không, thực sự con không có ý liếc mà con có ý là lo lắng, là không thuộc sợ sư phụ kêu trả bài không thuộc bài, ý hành con cũng có cố gắng để học và ý hành cũng có nói là về nhà sẽ cố gắng học cho thuộc bảy trí về thọ. Cái đó là sự trình bày của con. giờ cho con xin được phép trình bày cảm thọ khi được nghe pháp, sư phụ có nhắc là sự học hỏi sáng giờ và con nhớ lại bữa xả y sư phụ đem hai thánh vật quý báu trên non thiêng ra để cho giới tử chúng con được lấy đó làm định tướng đi theo suốt cả cuộc đời.
Hôm qua con có nghe pháp sư phụ và hôm nay và cái buổi xả y hôm đó sư phụ cũng nhắc là làm định tướng và con cũng lấy đó làm định tướng suốt cả cuộc đời. Con không bao giờ quên, con là ăn mặn nhưng con có về thực hành là con quyết tâm ăn chay ăn trường, mấy ngày nay con cũng thực tập và con rất khó khăn nhưng mà con cũng quyết chí nỗ lực. Như mấy câu thơ hồi nãy thầy Huệ có đọc, con nhớ một câu là "buông tất cả sẽ được tất cả", "càng hạ thấp thì càng được cao", con rất là vui mừng và hiểu được hai câu ý nghĩa đó. Con cũng xin nguyện là sẽ lấy hai câu sư phụ dạy hồi nãy để làm bài thiền quán và định tướng, hai báu vật bộ xương và hủ tro cốt kia làm định tướng, làm hình hành trang cho con đến suốt cuộc đời đến khi nào con có đủ nhân duyên đi xuất gia chính thức, chưa đủ nhân duyên thì con ở nhà. Con nguyện trong tâm con là một Sa-di Ni, con giữ định tướng đó trong tâm con và con thực hành tu tập định tướng đó trong tâm con không cần ai biết, con chính làm cho bản thân con và con xin nguyện như vậy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Chúng ta cứ việc chia sẻ những cái khó khăn của mình những cái lợi ích của mình trong tu học đừng có ngại.
Phật tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con xin phép trình bày cảm thọ con trong buổi tu ngày hôm nay, sáng nay con bước chân tới chùa thì con cũng được nghe thầy Thiện Huệ nói là sư phụ không có mặt ở đây, sư phụ về ngày hôm qua rồi cho nên là cảm thọ con cũng hơi buồn chút vì con cũng muốn lên đảnh lễ sư phụ. Trong buổi giảng pháp của sư phụ sáng nay thì cảm thọ con cũng hơi khó chịu một tí bi do âm thanh không có nghe rõ lời sư phụ nói cho nên cảm thọ cũng hơi khó chịu trong tâm của con. Ngồi trong đó con nhận diện ngũ uẩn, con tác ý bảo "thôi kệ cứ nghe được lúc nào hay lúc đó, nghe được từ nào cũng hay từ đó thôi", con cũng không có chấp vào cái việc là mình nghe được hay không.
Lúc nhận diện như vậy và cái thức con cũng rõ biết được cái thọ; tưởng; hành đó và con cũng xin tri ân, cám ơn sư phụ bởi vì qua những cái bài pháp của sư phụ giảng thì bản thân con cũng đã thấy rất là vui, khi được nghe những bài pháp của sư phụ con đã thực hành được nhận diện ngũ uẩn. Khi con gặp những việc trái ý hoặc thời gian vừa qua cũng có một số việc do công việc thay đổi và cái việc làm ăn nó cũng không thuận lợi thì con cũng đã nhờ vào những bài hát sư phụ thì con cũng đã tác ý, con dũng mãnh, con cố gắng tác ý rất là nhiều và từ đó thì con cũng thấy rất là an lạc, con cũng thấy bình thường, các pháp đều là do duyên sanh cho nên cái việc không được như ý mình muốn thì đó là có sanh thì có diệt cho nên con cũng rất là an lạc. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Bài pháp sáng nay chúng ta nghe được bao nhiêu phần trăm ạ?
Phật tử 6: Dạ cỡ sáu mươi phần trăm ạ.
Sư Phụ: Còn buổi chiều nay?
Phật tử 6: Dạ buổi chiều nay thì nghe rõ hơn ạ.
Sư Phụ: Chúng ta thấy không nằm ở trong bệnh viện rồi lúc đó mới thấm được cái pháp, khi gặp những cái việc bất như ý thì chúng ta mới thấy được giá trị của pháp. Nhiều khi bình thường mình không thấy, hữu sự rồi lúc đó mình mới thấy là do ngày bình thường mình có tu tập, cũng như cô Diệu Nhi chia sẻ rất là tốt, đó là cư sĩ đương nhiên có nhiều cái trong đời sống gia đình, nhiều phiền não, nhiều duyên xúc, nhiều thọ sanh khởi nhưng mà mình đừng có trú ở trong cái cảm giác mà bi quan, tiêu cực nhiều quá. Mình biến sự khó khăn, trở ngại đó thành sức mạnh, thay vì mình buồn bã, mình than trách thì mình hãy lấy cái thời gian đó đổi lại thành một cái sự dũng mãnh, thành một cái động lực, thành một cái đòn bẩy để mình bật lên, mình vượt ra.
Con biết rằng đời sống cư sĩ rất là khó để thực tập nhưng mà nhân chứng, vật chứng sống để chúng ta thấy vị hướng dẫn pháp cho chúng ta là một vị cư sĩ thì mình lấy đó làm cái tấm gương, ngay trước mắt của mình, ngay hiện tiền chứ không phải mấy trăm năm trước, hay là mấy ngàn năm trước cho nên bỏ bớt vấn đề than vãn, biến cái trở ngại khó khăn để trở thành sức mạnh, trở thành đòn bẩy, trở thành động lực, trở thành sinh lực, trở thành hùng dũng lực để mình tiến lên. Chính cái trở ngại đó thì mình mới tu cho nên trong kinh Đức Phật nói khổ sanh tín.
"Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)
Từ cái khổ làm cho mình phát khởi lên lòng tin về chánh pháp cho nên người mà khổ càng nhiều thì người đó tu càng sâu, người ít khổ, thường thường đều đều thì người đó rất khó tu, không có một cái dũng lực, không có cái mãnh lực, không có cái hùng lực, không có cái đại lực cho nên người càng khó khăn, càng trắc trở thì người đó lại càng có một sức mạnh. Có cô trình pháp nói lúc ở trong bệnh viện thì Minh Thành chợt nhớ lại có loạt bài "Làm an tâm người bệnh" được giảng trong mùa dịch. Bây giờ phương tiện tu tập chúng ta quá dễ dàng, chỉ cần bấm lên là có hết, học trực tuyến mỗi ngày nữa cho nên không có cái cớ gì bảo tu không được.
Ngày xưa đi cầu đạo, cầu pháp bỏ mạng, mình giờ ngồi sẵn tại nhà, quẹt lên là được học, được nghe, được tu, được chỉ, được dẫn, được cầm tay dắt thành ra không có cái cớ mình than khó, tham khổ mà chỉ có cái vấn đề là mình chưa dốc hết sức mạnh của, mình chưa dốc hết sự nỗ lực của mình.
Cô Mai Đỗ: Con xin đảnh lễ sư phụ ân sư, trong thời gian gần đây con bị cái nghiệp ái, con không thắng được nó nên con không dám trình. Con thấy mọi người vào tu tập không ai bị nghiệp ái như con nên con trình ra không có là bài học cho ai hết. Con nghe bài quán chiếu cảm thọ 3 của sư phụ con thấy đúng là hay quá trời, con mới biết tại sao con bị tham tùy miên trói cột, bây giờ con nhìn ra được rồi, con hi vọng là con sẽ thoát ra được cái tâm tham tái tùy miên này, nó cột con mấy chục năm nay, nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm căn cứ địa, làm sào huyệt. Con tạ ơn thánh pháp đã cứu con, con đã nhìn ra nó rồi, con hứa sư phụ là con cách ly được nó trong thời gian sớm nhất.
Sư Phụ: Các vị cố gắng sắp xếp các khóa tu ngắn hạn này trở về tu, nhất là các vị chưa từng về núi một lần nào cố gắng sắp xếp khóa tu tới 30 tháng 8 cho đến 4 tây tháng 9, không bỏ sớm cũng bỏ muộn, không bỏ trước cũng bỏ sau, bỏ vài ngày đi tu không sao hết. Mình đi học, mình làm bài tập không được rồi mình bỏ, mình không học luôn, mình trốn cô giáo luôn hay là mình đem cái bài khó đó lại nhờ thầy cô dạy giùm? Thành ra quý vị đừng nghĩ rằng bây giờ con bị vướng mắc cái này, vướng mắc cái kia con không trình, chúng ta phải trình cái vướng mắc đó, không sao hết, các bạn bè, các thầy cô yểm trợ cho mình, giúp đỡ cho mình, tạo thêm sức mạnh cho mình. Nếu mình im im rồi mình lùi lùi là mình rút luôn cho nên tiến cũng phải trình, thối lui cũng phải trình mà dậm chân tại chỗ cũng trình, không phải bữa nào tiến thì hân hoan, hạnh phúc quá trình hoài, tới khi thối lui thì im luôn, trốn tránh.
Mình phải trình trạng thái đang tu học của mình diễn biến như vậy, đánh giặc thì thắng bại là lẽ thường của nhà binh, vấn đề là mình không chịu buông tay, keo này mình bày keo khác, tiếp tục coi tại sao mình thua, mình thua ở chỗ nào, vì lý do gì mình thua để lần tới mình đánh tiếp. Đó là tinh thần chiến sĩ, tinh thần dũng sĩ, mạnh mẽ, thành ra đó là lý do tại sao chúng ta phải hội tụ, gặp mặt nhau để tu học giữ lửa, trong thời gian vừa qua đạo tràng Nikāya chúng ta không có mạnh, mỗi lần con đi ra đường rất là xa như vậy, bỏ bao nhiêu công việc về mà có mấy người cho nên mới nhập chung vô bên đạo tràng thọ bát luôn.
Con mong rằng chúng ta cố gắng lên, đoàn kết, hòa hợp, tinh tấn, nỗ lực, tu cho mình và cùng lan tỏa sự tu học nhiệt huyết, nhiệt tình, nhiệt tâm cho các đồng đạo, chư hiền của mình. Mình lan tỏa ra các người thân trong gia đình, những người bạn, những người có duyên với mình, nếu không thì uổng lắm, không có gì quý bằng cái tu này đâu, mình may mắn nhìn thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được con đường diệt khổ, còn có ai may mắn, phúc báo hơn mình nữa. Mình nắm vào đó tác ý lên để mình hân hoan, hạnh phúc, mình chiến đấu, tăng thượng, phát triển, đừng để cho cái tâm mình lệch hướng, nghiêng về những cái mục đích gọi là lối tẻ, những cái lối rẽ, những cái tiêu cực là lần lần nó đẩy mình xa ra cái pháp thì uổng lắm nên mọi người cần cố gắng lên, mạnh mẽ lên, nỗ lực lên.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Dự Lưu 2 - Làm Sao Phá Thân Kiến 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cẩn trọng trong tu hành PAGEREF _Toc201584633 \h 1
II. Pháp quán vô ngã PAGEREF _Toc201584634 \h 2
III. Thánh trí về cảm thọ PAGEREF _Toc201584635 \h 10
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc201584636 \h 13
I. Cẩn trọng trong tu hành
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí chiều nay chúng ta còn một đoạn cuối trong bài kinh sáu sáu, Thế Tôn nói những cái pháp để cho mình Nhập Lưu. Nếu chúng ta đọc trong kinh là chúng ta sẽ thấy Đức Thế Tôn rất chịu khó, khi đọc là con đã lược bớt rồi, ngài nhắc là từng chi tiết, con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân, cái ý, mỗi một pháp như vậy ngài đều lặp lại và không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi, người biên tập kinh cũng dùng dấu ba chấm để lược bỏ bớt. Như vậy ba mươi sáu pháp là Đức Phật lặp lại ba mươi sáu lần, bây giờ biên tập kinh đã lược bớt rất nhiều, con người ngày nay không chịu khó nhiều, tâm dễ chán nản cho nên khi con trình bày phải thêm nhiều từ ngữ tương đồng ý nghĩa, nếu con nói y chang trong kinh là mọi người sẽ chán không muốn nghe cho nên chúng ta phải thấy được sự thuyết pháp kham nhẫn, lòng đại bi của ngài. Chính vì vậy những phần quan trọng con thường lặp tới lặp lui, lặp đi lặp lại, ví dụ hết cái này đến cái khác.
"Này các Tỳ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỉ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Mình nói con mắt nhiều bây giờ mình đổi qua cái thân chẳng hạn, hay là cái ý, Đức Phật đã nói từng cái như vậy. Do duyên có thân, có sự đụng chạm, ví dụ mình ngồi cái chỗ đó êm ấm, cái giường nệm thì lúc đó mình khởi ra sự rõ biết sự đụng chạm đó, đó là thân thức, ba pháp này hội tụ, giao thoa là thân xúc, khi có thân xúc khởi lên lạc thọ. Mình tu tới chín giờ mình về nằm xuống êm ấm có lạc thọ không? Nhiều khi nguyên ngày mình đi tu, đi học, đi làm công quả gì đó, tới khi mình nằm xuống thì cái thân hình mình chạm xuống cái tấm nệm hay là cái giường, cái chõng, khi mình chạm xuống như vậy sẽ có lạc thọ, trong lúc đó mình có nhận diện không hay hôn mê luôn, mình có thấy các pháp lúc đó đang diễn ra không cho nên tu Nikāya rất là chi tiết, chi li vì thế người ẩu tu cái này không được, người cạn cợt tu cái này không được.
Tu cái này là phải kỹ và phải sâu sắc, phải cẩn trọng, trí Huệ mới sanh, mình thấy rõ được các pháp vận hành. Lúc tỉnh thì mình thấy mà cái lúc đó mình mê là không thấy. Lúc ba-bốn giờ khuya lên ngồi thiền, lạy pháp bảo rồi bước vào bồ đoàn ngồi trong khi bên ngoài có gió thổi phớt qua mặt, không gian yên tĩnh, ngồi thở vô thở ra ó nhẹ nhàng rồi con mắt bắt đầu sụp xuống, lúc đó là mình có thấy lạc thọ sanh khởi không? Cho nên người ngủ gục nhiều là người này không có kiểm soát cảm thọ chứ có gì đâu, người này không có chịu mãnh liệt trong sự tu thì ngủ gục. Người thường hay ngủ gục trong khi ngồi thiền là cái tâm tu không có nhiệt huyết, còn người nhiệt huyết chuyện nhỏ, không có gì hết, đạp một cái là phải bước qua, không có vấn đề cứ năm năm, ba năm, bảy năm rồi mà có cái ngủ gục mà trị không được thì vậy tu cái gì.
Sau đó phải chịu được cái đau, đó là lạc thọ rồi khổ thọ, đã vậy ngồi còn nhúc nhích, trở qua trở lại, sửa tới sửa lui cái áo rồi gãi. Cái đó là cái dao động, là trạo cử, những người rơi vô năm cái triền cái dạng thô nhất ở ngoài, người ta thấy được một là ngủ gục, hai là dao động tức là người này không có nhiệt tâm trong sự tu học, không có nhiệt tâm, tinh cần thì người này rơi trong năm triền cái, còn người có nhiệt tâm là không có, người ta canh chừng nó từng giây từng phút, chiến đấu mà. Mọi người có thấy chiến đấu là vinh quang không hay ngồi đó để con ma ngủ muốn dẫn đi đâu thì dẫn, không thì con ma buông lung phóng dật, muốn làm gì thì làm? Thành ra chúng ta nhìn ra được hết, trong khi mình nghe pháp, trong khi mình ngồi thiền, trong khi mình tụng pháp bảo, trong khi mình đọc thì nhìn ra được hết, các pháp hiện rõ ra hết, mà đó là cái pháp thô đó chứ chưa phải pháp tế.
Khi cảm giác vui mà vị này không có hoan hỉ cho nên có các vị thức khuya dậy sớm ngồi thiền, có vị ngồi thiền xuyên đêm. Con nghe báo cáo lại vậy nhưng mà con nghĩ rằng được thì tốt, tuy nhiên ngồi xuyên đêm mà tới giờ tu lên mà ngủ gục là không được, con có thấy sơ sơ rồi, thành ra tinh tấn là tốt nhưng phải làm sao cho nó dài lâu, vững chắc mới. Khi nằm xuống một cái là ngủ như chết, không có thực hành dáng nằm con sư tử gì hết, không kiểm tra bên trong, không thực hành ba pháp, nội tâm cảnh giác. Có vị hỏi tỉnh giác và chánh niệm là mình tụng ở trong căn bản trí có giải thích, chánh niệm là mình biết rõ cái oai nghi ở bên ngoài, đi biết đi, nằm biết nằm, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, tỉnh giác là mình thấy rõ được thọ; tưởng; hành bên trong.
II. Pháp quán vô ngã
Vị này có một cái cảm giác vui, dễ chịu mà vị này không có hoan hỉ, nghe người ta khen mà vị này không thấy hân hoan, không thấy thích thú, vị này quay về kiểm soát cảm thọ của mình. Con đọc mấy chục bài xưng tán bậc đạo sư, ngài nghe mà không trả lời một chữ nào hết, con dùng những từ mà không còn từ nào có thể cao hơn từ đó nữa mà ngài nghe rồi vẫn không trả lời câu nào, cảm thọ của các bậc đạo sư bất động trong cái khen chê. Các vị Tăng Ni phải để ý cảm thọ khi được người ta quỳ lạy hay người ta chắp tay xá mình là lập tức phải quay cho vô coi thọ; tưởng; hành của mình nó đang như thế nào, nó có hoan hỉ, có hân hoan không, có thầy mình là hay, là giỏi, là thầy là cô không. Nếu có thì phải lặp tức tác ý liền "trong bộ đồ này là cái thân, trong cái thân này là lớp da, trong lớp da này là tim, gan, phèo, phổi, là trống rỗng, trống không, không có ai trong này hết", khi được lễ lạy phải tác ý như vậy, giống như mình niệm cái câu kinh luôn, bất cứ lúc nào ai lạy mình cũng phải niệm như vậy.
Bất lúc nào được đảnh lễ, được cúng dường, được xưng tán là điều phải quán như vậy hết, không được quên cái bài đó. "Trong đây là bộ đồ, lớp da, thịt, mủ, máu, không ai trong đấy, mau thoát ra", phải quán như vậy, còn mấy vị mới xuất gia gieo duyên cũng vậy, lên là chấp tay xá ào ào "chào sư cô, chào thầy" thì lúc đó mình phải biết quán. Chính vì mình không có được truyền cái mật pháp, đây là cái bí pháp, cái mật pháp, cái khẩu quyết của bậc đạo sư cho nên mình càng được lạy nhiều lần nào cái bản ngã mình càng lớn chừng đó, Đức Thế Tôn nói thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp bởi sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen đó. Thật là đắng cay, thật là ác độc, thật là chướng ngại pháp.
Nhiều nhìn thấy những cái cảnh con đau lòng nên con cũng ít muốn đi giao tiếp bên ngoài, người tu mình không có một sự quay trở lại, không có sự thực tập thì xót xa lắm, nói ít quý vị hiểu nhiều, xót xa, cay đắng lắm. Cho nên đây là pháp hành của người tu là cư sĩ hoặc là người xuất gia, tức là vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không có hoan hỉ, không có tán thán, không có trú ở ái trước, không có vui thích khi được khen, khi được đưa lên cho nên vừa rồi có những giới tử tu khá, mới vừa được lãnh thưởng đọc thuộc bài kệ diệt ngã, buổi trình pháp hôm sau là bài lỗi lầm của mình ra trào dâng nước mắt rất tốt, rất là tốt. Những vị tu sâu sắc phải để ý để mình học, quý vị có nhìn ra không? Mình rất là dễ hoan hỉ, tán thán trong cảm xúc lạc thọ, mình trú ở ái trước.
Mình được khen, được người ta đưa lên, được người ta kính trọng, con cũng thấy nhiều ở trong đạo tràng có một số vị tu cũng lâu rồi nhưng mà con thấy lần lần nhạt cái pháp hành, có những cái hành xử thô, không có giống như lúc đầu mới gặp. Thành ra cái này phải để ý lắm, con xin thưa là phải để ý lắm bởi vì cái này rất là khó nói vì nó quá vi tế, nói là người ta sẽ phiền não, sẽ chạm vào bản ngã mà không nói thì người ta không tiến bộ, thành ra có khi phải gửi vào trong những cái bài pháp để tự người đó phải để ý chứ bây giờ nói là chạm liền, không nói thì không tiến bộ, họ không thấy. Bây giờ làm sao? Phải gửi gắm vào những bài pháp, người nào có thì tự biết, chúng ta thấy vậy chứ rất khó để giữ cái tâm ban đầu.
Một vị không có hoan hỉ, không tán thán, không có trú ở ái trước thì tham tùy miên của vị đó không tăng, chỉ có mấy chữ như vậy mà tu cả đời. Được ăn ngon, được ở chỗ đẹp, được người ta tôn trọng, khen ngợi, được yêu thương, quý mến, trong những lúc đó mình coi cái tâm mình có khoái không, có thích không, có tham không, có dính mắc không. Nếu thấy có tham, có thích, có ái, có khoái, có dính mắc thì đương nhiên phải có một cái tự ngã trong đó. Cái gì tham? Ai tham? Cho nên sân cũng vậy, nó cũng có cái tự ngã cho nên vị ấy cảm xúc khổ thọ, một cái cảm giác khổ đau mà không có sầu muộn, không có buồn phiền, gặp cảnh khổ không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có rơi vào bất tỉnh, sân tùy miên của vị ấy không có tùy tăng. Gặp cảnh khổ vị này không có buồn đau, ví dụ mình tu lên tới Ni sư, Ni trưởng rồi nhưng bỗng nhiên có người không biết thì họ nói "con ơi, lại đây giúp bà cái này" thì cái thọ của mình ra sao? Hoặc là mình tu lên tới thượng tọa hoặc cao hơn nữa mà có người nói "lại đây biểu coi" thì cảm thọ lúc đó thế nào? Hay là mình đáng tuổi mẹ nhưng có đứa nhỏ thôi kêu mày tao với mình thì lúc đó mình sao?
Khi đó phải tác ý "cái nùi giẻ này có gì đâu", thấy vậy chứ phải tác ý nhiều lắm, mình như vầy mà có người nói "mày lại đây biểu coi" thì thọ; tưởng; hành mình ra sao. Người ta không kêu mình là Ni trưởng, Ni sư, sư cô, sư bà mà người ta kêu con, người không kêu là hòa thượng, thượng tọa, thầy mà kêu bằng thằng thì lúc đó mình ra sao? Có thọ gì? Mình tu sao? Quán chiếu thế nào? Đó là mới có ngôn ngữ thôi chứ chưa có tác động vật lý, lỡ người ta có tác động vật lý, cầm cái cây đánh thì cái tâm mình có điềm nhiên, không sầu đau, không bực bội không? Tâm mình có an tịnh, lắng dịu không? Đó là tiếng nói rồi tới tác động vật lý, tiếp theo là lỡ nếu mình vấp té, mình ngã đổ, bị tai nạn giao thông, bị bệnh, thân mình không còn giống như lúc xưa, sắc này bị thay đổi, hai chữ thay đổi này bao trùm cả trời đó, nó là già, bệnh, chết, tai nạn, điên khùng, ung hạch, ung thư, ung bướu, đột quỵ, đột tử, đột biến, hay chữ thay đổi đó thôi là trùm trời trùm đất cho nên đó là lý do mình phải thuộc kinh.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Khi nó bị thay đổi như vậy thì mình có cái chuẩn bị sẵn sàng một tâm lý để mình ứng phó với sự thay đổi đó không? Cho nên chúng ta thấy bữa cuối cùng con đem hai thánh vật của non thiêng ra là tràn ngập nước mắt, đó là mới có một sự quán tưởng thôi, nếu mà nó xảy ra đến với mình thật sự như vậy thì lúc đó như thế nào, cái thọ của mình như thế nào, có bất động không vì thế mình đâu có thể tu sơ sài được, đâu có thể hiểu qua loa được. Chúng ta thấy không, một tiếng kèn nổi lên, một bộ xương khiêng ra và một mâm tro cốt đặt xuống, đó là tự thay đổi cho nên gọi là sắc, thành ra có ba chữ thôi bị thay đổi là Đức Phật tóm hết càn khôn này, bao la vạn tượng, vũ trụ này ở trong ba chữ "bị thay đổi".
Lòng mình có đổi thay không? Nhìn thấy gương mặt này bị nổi lên những cái mụn, khi làn da này không còn như vậy nữa, nứt nẻ ra, máu chảy ra, mỡ lòi ra, mủ đổ ra, tâm mình có còn bình thường như bây giờ mà mình nói rằng bây giờ tôi bình thường. Những cái đó đến, mình lấy cái tâm thái nào để mà mình đối diện? Nếu mình không có một cái công phu tu tập vững trú ở trong cái thánh trí vô ngã, vô thường, khổ, thành tựu được một cái trí tuệ nhìn thấy sự bị thay đổi của các pháp thì làm sao? Cho nên mình tập cái gì mà con mắt mình nhìn tới, cái tai mình nghe tới mình không được đọc lên "cái đồ bị thay đổi", "cái thứ bị thay đổi", "cái vật bị thay đổi", ngay cả cha mẹ tứ đại này rồi cũng bị thay đổi, nhìn vô thân mình cũng là "đồ thay đổi, là cái thứ đổi thay", những chữ này đủ cho mình chứng quả Nhập Lưu, đủ cho mình chứng quả tối thượng, phá sắc uẩn.
Do thọ; tưởng; hành; thức bám vào cái sắc này làm tổ, nếu mình phá banh cái sắc thì những cái này không có chỗ đứng nữa vì thế Thân Hành Niệm gọi là hương vị của bất tử. Thọ; tưởng; hành; thức nó quấn quanh, nó làm đồn, làm trú, làm hang, làm ổ, làm xào, làm huyệt, làm căn cứ địa ở trong sắc thủ uẩn này, thế gian này chìm ngập trong bóng đêm, chừng nào cha chết, mẹ chết, cô chú bị tai nạn giao thông thì lúc đó mới thấy là khổ, lúc đó mới thấy bị thay đổi thì nó muộn rồi. cho nên làm sao đối diện với những cái đó mà cái tâm của mình bình an được, an tịnh, lắng dịu được.
Chúng ta còn nhớ một vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn, ngài nhờ các thầy Tỳ-kheo khác khiêng cái giường cùng với cái thân này ra ngoài, thân của ngài giống như nắm rơm sắp sửa tan rã. Tôi là ai mà tôi phải chết ở trong cái căn nhà? Tôi không muốn chết ở trong nhà, ngài Xá-lợi-phất và các vị thánh Tăng đến thăm thì thấy bất ngờ thì nghe nói vị thầy bị rắn cắn nhưng sắc mặt không đổi thì vị thầy nói vì từ rất lâu ngài đã thấy từ rất lâu sắc này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, đã từ rất lâu tôi thấy thọ; tưởng; hành; thức này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi thì làm sao có thể thay đổi sắc mặt được.
"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:
-- Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:
-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi' hay: 'Cái lưỡi là của tôi"... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi", thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: "Tôi là ý", hay: 'Ý là của tôi'.
Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)
Cái thân ngài muốn rã ra nhưng cái dung sắc, cái thần thái, tâm thức của ngài bất động. Chúng ta thấy Ni sư cười cười nhiều khi trong đang chiến đấu cơn bệnh dữ dằn lắm mà ngoài mình nhìn không biết, một cái người cạn cỡ có gì nhìn mặt biết liền, vui là như qua mùa xuân nở vậy, buồn thì giống như bánh bao chiều, còn người có tu tập thì khác, mình nhìn không biết được họ vui hay buồn vì họ nhiếp phục cảm thọ. Người ta sẽ dẫn dắt cảm thọ theo ý muốn của người ta cho nên Đức Thế Tôn bị bệnh nặng, ngài nhiếp phục cảm thọ, trú vào trong định là ngài bớt đau rất nhiều.
"Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: 'Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỳ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống'. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Mình bây giờ biết trú vào đâu? Mình không đạt được những cái định, mình không có đạt được cái pháp thì trú vào đâu? Cái tâm mình làm hang ổ trong sắc uẩn cho nên có chuyện gì chút nhìn mặt biết liền, nó không có thâm sâu, không có trầm lắng, không có nội hàm, nội lực, đạo lực, pháp lực, trí tuệ, tuệ lực. Mình không có cái lực, cái sức mạnh ở bên trong nên ở ngoài chỉ cần một cơn gió là bệnh, đổ xuống, lá vàng rơi liền thành ra phải có một cái lực, lực đó là trí tuệ nhiếp phục cảm thọ. Mình tu là nhiếp phục cảm thọ, tham, sân, si, dục ái, vô minh đều nằm trong cảm thọ hết, bây giờ mình không nhiếp phục được cảm thọ thì làm sao tu?
"Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Phải diệt vô minh làm cho minh sanh khởi thành ra cái chữ của mình này trong này thành ra chữ vô minh rất sâu sắc. Mình thấy mình sống bình thường, đều đều nhưng mà sống trong vô minh không à, mình không thấy khổ là mình sống trong vô minh. Bây giờ bưng lên quá trời đồ ăn ngon thì lúc đó có thấy khổ không?
Sư cô Pháp Linh: Dạ mô Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô toàn thể đại chúng. Khi được dọn thức ăn nhiều thì trước tiên cảm thọ trong con nghĩ là khổ tại vì thứ nhất là không biết lựa món ăn nào. Thứ hai là nếu ăn nhiều quá thì một lát nữa cái bụng nó sẽ bị đau, khổ nữa, thứ ba là nếu đồ ăn nhiều quá mà cái bụng của mình không cho phép ăn, nếu ăn món này bỏ món kia thì tiếc nữa cũng khổ nữa. Dạ mô Phật, đó là những cái con nhận thấy khi lên mà đồ ăn nhiều. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên Ni sư, quý thầy, quý sư cô cùng tất cả các hiền trí và sư phụ. Với câu hỏi này khi con thấy dọn ra rất là nhiều món ăn thì trong cảm thọ của con sẽ sanh khởi ra khổ thọ tại vì nó sẽ khiến cho cái tâm tham con nó nổi lên, trong đó tâm sân cũng đồng thời nổi lên vì nó làm cho mình phải phân vân lựa chọn và ý hành nó sanh khởi nhiều thứ quá, không biết chọn lựa như thế nào cho cái tứ đại này thỏa mãn. Thành ra con sanh khởi khổ thọ là chính, bạch trên sư phụ.
Sư Phụ: Tham là khổ, cái đó là đối tượng cho mình tham, có pháp quán lắm nhưng mà ở đây nói ngắn gọn cho nên mới nói là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Những thứ đó là mình tránh xa, nó khởi lên cái tham là mình thấy khổ, hậu quả của nó thì nhiều lắm, cũng như khởi lên cái sân thì thấy khổ, những cái gì sinh khởi lên những cái nguyên nhân của khổ ở trong tâm của mình là mình thấy nhàm chán, yểm ly, ly tham. Hồi xưa mình chưa biết tu mình chưa đi vô vòng chánh pháp đi ngang thấy đám cưới mình vui, mình thích nhưng giờ già bảy mươi tuổi mà thấy đám cưới thì chỉ thấy mệt, nhất là mình học cái pháp này thì càng thấy khổ "tụi nó sắp sửa khổ với nhau nữa rồi". Mình già rồi, mình trưởng thành rồi, mình có hiểu biết, có trí tuệ về đời sống này rồi, mình biết tụi nó đang đi trên con đường mà mình đã đi qua cho nên ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại nói mấy đứa cháu đâu có nghe, tụi nó đang vui, đang hạnh phúc mà nói khổ thì đâu có nghe, "lúc đó con già giống bà rồi con mới hiểu".
Đức Phật, các bậc thánh, những vị trưởng thành, những vị trưởng thượng trong trí tuệ thì mình giống như những đứa con nít đối với các ngài. Mình chưa có hiểu được, nhiều khi Đức Phật nói pháp về khổ nhưng mình lại chẳng thấy khổ, thấy vui nhiều hơn, từ khi mình thấm rồi, mình thể nhập rồi mới thấy hồi xưa mình nông cạn, ấu trĩ, trẻ thơ, trẻ con, ngu si cho nên trong cái sự tu mình phải để ý rất là kỹ.
Tôi biết mình chỉ là đom đóm
Quặn lòng nhìn bóng tối vô minh,
Ngày đêm bao phủ tâm nhân thế
Khống chế cuộc đời trong dục mê.
(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)
Những câu này rất thâm sâu, rộng lớn, đó là cái trí vũ trụ, ngày đêm là bao phủ tâm nhân thế, thấy trong vô minh, nghe trong vô minh, ngửi nếm trong vô minh, xúc trong vô minh, nhận thức trong vô minh, lấy khổ làm vui, lấy nguy làm an, lấy cái tai họa, lấy quả báo làm cái sung sướng, cái hạnh phúc. Ví dụ như đi ăn cắp, ăn trộm của người ta được là thấy vui, họ hỷ hả, thích thú, vui trong cái đau khổ của người khác và cái đau khổ về sau của họ mà họ không biết, đó chính là ngày đêm bao phủ tâm nhân thế. Ví dụ mình nói dối, lừa gạt người ta được là mình thích thú, đó là cái thô, ngoài ra còn những cái tế hơn nữa, chẳng hạn quý vị đi tu, khi chưa đến đạo tràng Bửu Liên thì quý vị đâu có biết hôm nay con đi về núi, không có mặt ở đó, quý vị nghĩ tới là sẽ gặp con thì cái tưởng đó là cái tưởng chấp thường, hôm nào con chết cũng giống y vậy, cái hòm đặt ngay chính giữa nhà.
Tất cả điều diễn ra một cách bất ngờ, bất trắc, bất thường, bất an, bất ổn, bất định, mình phải suy nghĩ được những cái đó thì mình mới trân trọng, trân quý, trân kính những cái gì mình đang tu học, những cái gì mình đang được gặp gỡ, những cái gì mình đang được hành trì thì cái đó mới phá vô minh. Còn giờ như đại chúng nghĩ rằng tối nay hoặc sáng mai là con sẽ giảng nữa, không có nghĩ như vậy, nghĩ vậy là vô minh, bất cứ lúc nào hơi thở mình cũng có thể là tàn hơi tại chỗ này, thầy cũng có thể tàn hơi tại chỗ này, huynh đệ, người thân mình có thể bất cứ lúc nào ra đi, như vậy mình mới phá được vô minh, minh mới sinh khởi. Thành ra muốn phá vô minh là phải siêng năng tác ý.
Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, căn – trần – thức – xúc – thọ – ái khởi ra ba cảm thọ, vị ấy cảm xúc với cảm thọ vui mà không có hoan hỉ, không có tán thán, không có trú ở nơi ái trước cho nên tham tùy miên không có tăng, cảm xúc khổ thọ mà vị ấy không khó chịu, bực bội, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, rơi vào bất tỉnh thì sân tùy miên vị ấy không tăng, vị ấy cảm xúc ở trong cái cảm thọ không khổ không vui, không khó chịu không dễ chịu nhưng vị ấy như thật biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi các cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của vị ấy không có tùy tăng. Đức Phật lặp lại nhiều lắm, ngài đinh ninh, ngài nhắc nhở cho mình thuộc lòng luôn giống như hồi sáng con hướng dẫn, mỗi câu cho niệm cả chục lần nhưng rồi về nhà cũng quên.
III. Thánh trí về cảm thọ
"Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Ở đây năm cái trí tuệ này Đức Phật nhấn mạnh sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của các cảm thọ. Tại sao có thọ? Do mình tiếp xúc nên có thọ, đó là thọ sanh. Tại sao hết cảm thọ, không còn cảm xúc nữa? Do không còn tiếp xúc nữa. Vị ngọt của nó cảm thọ là gì?
Bảy Trí Về Thọ
• Thọ: Được cảm thọ nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, nên gọi là thọ
• Thọ sanh: Do Xúc tập khởi nên Thọ tập khởi.
• Thọ diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Thọ đoạn diệt.
• Thọ diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thọ đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
• Vị ngọt của thọ: Do duyên Thọ khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Thọ.
• Sự nguy hại của thọ: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thọ, đó là nguy hại của Thọ.
• Sự xuất ly của: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thọ, đó là sự xuất ly của Thọ.
Phật tử: con cúi đầu lễ Đức Thế Tôn, con cúi đầu đảnh lễ bậc đạo sư, con cúi đầu quý chư Tăng Ni và thiền chúng, Dạ con xin trình bày bảy trí về thọ, trí thứ nhất thế nào là thọ, này các Tỳ-kheo có ba cảm thọ, thọ khổ, thọ lạc thọ, bất khổ bất lạc. Trí thứ hai là thọ sanh, trí thứ ba là thọ diệt, trí thứ tư là con đường đưa đến thọ diệt khổ, trí thứ năm là vị ngọt của thọ, thứ sáu là sự nguy hại của thọ và trí thứ bảy là sự xuất ly của thọ. Vị ngọt của thọ là do duyên thọ khởi lên hỷ lạc gì thì hỷ lạc đó là vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm của thọ là sự vô thường, biến đổi đưa đến thọ hoại diệt và sự xuất ly của thọ là sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham, đó là sự xuất ly của họ.
Sư Phụ: Mình phải thấy được vị ngọt của nó, sự nguy hiểm và tác hại của nó, làm cách nào thoát ra khỏi nó, phải nắm vững được. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì thì cái lạc, cái hỷ đó là vị ngọt, tức là trong cái cảm giác mà mình thấy, mình khoái, mình thích, mình muốn, đó là vị ngọt và tất cả chúng sanh chết trong vị ngọt này. Nhớ câu chuyện ngày xưa chúng ta hay nghe kể, anh chàng bị thú dữ rượt thì anh lọt xuống cái giếng khô trong rừng, anh may mắn chụp được sợi dây leo, ở trên sợi dây leo anh nhìn lên thấy có hai con chuột trắng chuột đen đang gặm sợi dây leo, ở phía dưới có con rắn độc. Đang trong cơn nguy hiểm thì tự nhiên có đàn ong nhỏ xuống vài giọt mật rồi anh này đưa miệng ra hứng vị ngọt của mật, thế là anh chàng quên hết đau khổ, ở trên thì voi dữ, sợi dây thì bị hai con chuột đen trắng gặm, xung quanh là bốn con rắn độc đang phùng mang.
Con voi dữ ở trên là chỉ cho vô thường, cái chết đang rượt đuổi mình, cái sợi dây đó là ví dụ cho cái sinh mạng, con chuột trắng ruột đen ví dụ cho ngày đêm cắn sợi dây trên mạng của mình, bốn con rắn ở dưới là tứ đại. Biết bao cái khổ, nào là tam độc, tứ đại vô thường, quỹ thời gian cạn kiệt nhưng mà chỉ cần mấy giọt mật chảy xuống là quên hết, quên cái khổ hết, quên cái nguy hiểm, quên cái tai họa. Những vị cư sĩ không đi xuất gia được là vì mấy cái giọt mật, có đủ lý do hết, nào là bệnh đau, gia đình không yên ổn, sầu, bi, ưu, não đủ thứ hết.
Chúng ta quên hết cái nguy hiểm, quên hết cái tai nạn đang rình rập, mình rơi xuống cái hố thành ra mình có cái sự quán chiếu mới thấy mình đang lâm nguy, mình đang bị vây hãm, mình đang bị lọt hầm, lọt hố, mình đang gặp tai họa, mình có quán chiếu thì mình thấy được như vậy cái vô minh mới tan biến một phần nào đó, còn mình không có thấy gì hết, sáng ăn, trưa ăn, chiều ăn, tối ăn, đi làm thấy bình thường thì cái đó là cái khổ. Mỗi một ngày mình được đến chùa, được đến tu, được đến đạo tràng như vầy là cái ngày mình được thoát vô minh, được lìa tham ái, được bớt chấp thủ, được đi vào trong ánh sáng.
Mình phải có từ tâm với chư hiền của mình, nãy con có nhìn thấy một hai vị mắt liếc liếc, người ta đọc không thuộc liếc người ta, tội nghiệp họ. Mình phải có từ tâm, tình thương, mình đọc không được mà người ta đọc được là quý rồi, biết rằng các vị đó cũng cố gắng nhiều lắm. Hãy thương nhau, làm sao trong đạo tràng nhìn bằng mắt thương nhau hết, ánh nhìn thiện cảm, đây là nếp nhà của đạo tràng Nikāya, phải kiểm soát từng chút một vậy đó. Sau này khi vào đạo tràng là ấm áp, là ngọt ngào, là êm ái, là mái ấm, là tình thương, là quê hương, là căn nhà. Từng lời nói, từng ánh mắt, từng cử chỉ phải lan tỏa được tâm hiền và tình thương, từ có tâm hiền, có cái tình thương này ở trong đạo tràng này rồi chúng ta mới về gia đình mới lan tỏa được, ngay trong đạo tràng không có tình thương thì làm sao về cái nhà lửa mà có tình thương. Thương là phải thương từ trong ruột thương ra, từ ở trong tim, ở trong cái cảm thọ, trong cái ánh mắt, trong mỗi lời nói, trong hành động, từng cử chỉ tôn trọng, tôn kính, tôn quý, trân kính, từ ái với nhau là rất quan trọng.
Từ chỗ căn bản đó mình mới đi tới những cái pháp đang học này được, những cái đó mình chưa có là mình không có vào được cái pháp thâm sâu, cái pháp tột cùng. Bài kinh này là bài pháp tột cùng phá vỡ tất cả các pháp để mình giải thoát.
"Này các Tỳ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng...; yếm ly mũi, yếm ly các hương...; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị...; yếm ly thân, yếm ly các xúc...; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Yểm ly tức là chán lìa, do thấy mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, khổ, vô ngã, những cảm giác khi nhìn thấy sanh khởi lên vị này chán lìa. Dù cho đó là cảm thọ vui, cảm thọ buồn hay cảm thọ không vui không buồn thì vị này đều chán lìa ba cảm thọ.
"Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: 'Ta đã được giải thoát'. Và vị ấy tuệ tri: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Vị ấy biết bằng trí tuệ sanh đã tận, dòng sanh tử đến đây đã chấm dứt, đức hạnh cao thượng đã viên thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa. Do chán lìa vị ấy không còn tham, do không còn tham vị ấy được giải thoát khỏi ngũ uẩn, do giải thoát vị ấy biết rõ ta đã thoát ra năm uẩn một cách hoàn toàn. Vị ấy biết bằng trí tuệ sanh tử đến đây đã cùng tận, đức hạnh cao thượng đã viên thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui lại trạng thái dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã này nữa.
"Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỳ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ" (Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Sáu mươi vị Tỳ-kheo chứng thánh quả A-la-hán sau khi Đức Phật giảng bài kinh này, sáu mươi vị thánh Tăng khi bài kinh này được tuyên thuyết xong, sáu mươi vị được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Bây giờ mình nghe bài kinh này rồi cái tâm mình như thế nào? Cảm thọ như thế nào? Thọ; tưởng; hành của mình như thế nào?
IV. Trình pháp
Phật tử 2: Con cúi đầu đảnh lễ sư phụ, con cúi đầu đảnh lễ quý sư thầy, sư Ni và các bậc hiền trí. Hôm nay khi nghe xong bài pháp này một cảm xúc của con dâng trào lên, trời ơi con không biết nói sao, thời Đức Phật các vị có một trí tuệ thật là vô cùng quý báu, chỉ nghe xong một bài pháp mà các ngài đã chứng được bậc A-la-hán, còn sự tu hành của con cứ thụt lùi, lúc nhớ lúc quên, con vô cùng xúc động. Trời ơi con cũng muốn như các vị nhưng làm sao đây, Thế Tôn ơi hãy chỉ cho con, con lớn tuổi rồi, bất cứ ở đâu con nghe thấy có các bậc chứng được đạo quả con vô cùng hoan hỉ nhưng không biết tại sao con tu hoài không tiến bộ, cứ lui sụt hoài.
Hôm nay được nghe bài giảng của thầy, thọ của con xúc động quá, con xúc động thật sự, con cố gắng, cố gắng nhiều lắm, cố gắng thật nhiều nhưng mà tuổi con càng này càng lớn lên, trí của con người đó cũng không còn minh mẫn nữa, con rất là buồn nhưng mà con chỉ mong sao con cố gắng để được nhập vào dòng Du Lư để tiến bước trên con đường sau này. Con quyết chí dù là cơ thể của mình có già nhưng tâm hồn của con không bao giờ già hết, con cố gắng, cố gắng để trong đời này con phải đạt được kết quả Dự Lưu để con không bị cái dòng thác sinh tử cuốn con đi nữa. Con phải nắm lấy thật chắc dòng pháp này để không bị trôi trên biển sanh tử, con không bị nó dập xuống trôi theo dòng sanh tử này nữa. Dòng cảm xúc của con quá hoan hỉ khi gặp được bài pháp này, khi gặp được sáu mươi vị la-hán đắc đạo. Trời ơi con mừng lắm nhưng mà không thể với được, con xin chân thành cảm ơn sư phụ nhiều lắm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 3: Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các hiền trí. Kính thưa sư phụ bản thân con từ khi thâm nhập được chánh pháp Nikāya đã giúp con thay đổi rất nhiều, con biết nhìn vào tâm của mình, cũng nhìn thấy những pháp bất thiện pháp sanh khởi. Con cũng biết cách tác ý quán tưởng để đẩy những bất thiện pháp dần loại khỏi tâm mình, mỗi lần nghe những bài giảng của sư phụ gần đây trên Linh Quy con thấy các vị bịt mắt dẫn nhau đi, khởi đầu nhìn những hình ảnh đó thọ trong con rất là bồi hồi xúc động. Nhìn các vị con quán tưởng lại thân mình, con cũng như những người mù, vô minh đã thấy được dòng chánh pháp này nhưng vẫn còn mông lung, phóng dật, vẫn biết rằng chánh pháp này là con đường đưa đến thoát khỏi sanh tử luân hồi nhưng khi nhìn vào cảm thọ của con vẫn thấy có những điều làm cản trở nên đôi lúc con không gây dám trình pháp với sư phụ.
Con thấy mình rất ư là xấu hổ, học pháp cũng lúc trồi lúc sụt, con cố gắng an trú vào hỷ thọ khi nghe pháp để cản ngăn những pháp bất thiện từ bên ngoài xâm nhập vào tâm con. Con luôn muốn đánh đuổi chúng nhưng không hiểu sao cư sĩ tại gia của con luôn bị những xúc chạm bên ngoài, nhĩ xúc, nhãn xúc, thân xúc luôn làm cho con có những điều cứ băn khoăn. Những lúc như thế con phải mở pháp của sư phụ để trấn an lại mình, những tiếng nói của sư phụ, giọng nói của người có lúc mạnh lúc nhẹ quán tưởng con giống như có lúc con bị roi đánh vào người cho tỉnh lại, cũng có lúc nước mắt con trào dâng. Con nhìn thấy tận tâm, tận lực của sư phụ mà thân cư sĩ tại gia con học pháp lúc nhớ lúc quên, con lấy làm xấu hổ. Hằng ngày con chỉ biết mỗi lần thắp nhang trên bàn Phật con cứ gọi Thế Tôn ơi, con cố gắng nhớ những đức hạnh của ngài để dõi theo và học tập, sửa đổi chính tâm mình cho càng ngày càng tốt hơn để không phụ lòng bậc ân sư, bậc đạo sư đã tận tâm dẫn dắt chúng con, con kính tri ân sư phụ nhiều lắm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Đầu tiên cho con xin cảm ơn Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con cảm ơn sư phụ, khi con nghe lời bài pháp sư phụ bảo sắc là vô thường con nhớ lại khi con nằm trong bệnh viện thì con nhớ những lời sư phụ "đây là khổ, khổ là đây". Con đang khỏe tự nhiên nó thay đổi rồi phải đi vào trong bệnh viện cấp cứu, con nằm trong bệnh viện mấy ngày con thấm thía những lời dạy của sư phụ, nước mắt con tuôn trào con cảm ơn sư phụ rất là nhiều, con thấy khổ nhưng con phải cảm ơn sư phụ rất nhiều bởi vì con đã thấy được khổ và những lời sư phụ từng dạy cho con hàng ngày. Con nằm trong bệnh viện mấy ngày thì con cứ niệm bài Tứ Niệm Xứ, đó là một con đường mà con nghe sư phụ nhắc nhở con hằng ngày.
Đây là khổ, khổ là đây!
Thánh nhân đã đánh chuông này rền vang.
Con nhớ ngày đó con không biết nói gì, con cứ bị chỉ biết những lời sư phụ vang lên thì con lại nước mắt con lại tuôn rơi, con lại cảm ơn sư phụ rất nhiều, sư phụ là một người cha lành đã đem đến cho con những cái lời giáo huấn, những lời mà con thấm thía trong cuộc đời của con. Một lần nữa con chỉ có biết cảm ơn sư phụ rất là nhiều và nói về cảm thọ của con lúc sáng khi con bước chân vào chùa thì con gặp thầy Thiện Huệ và con không thấy sư phụ cảm thọ của con tự nhiên nó buồn, nó tụt xuống. Con thấy ý hành "sư phụ dạy đúng là vô thường, hôm qua sư phụ nói sư phụ ở đây, hôm nay sư phụ lại đi về trên đó thì mình phải nhớ lại những sư phụ nói như vậy". Con nhớ lại những lời đó rồi ý hành của con nói "nếu một mai mà sư phụ nhập khất mình phải nương vào ai" tự nhiên trong lòng con nó buồn, con nhớ sư phụ. Con biết thọ thì buồn, ý hành nhắc con nếu sư phụ nhập thất thì mình phải cố gắng lên, có thầy Thiện Huệ ở đây thì con cũng rất mừng, rất hoan hỉ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con pháp danh Hiền Giang xin đảnh lễ sư phụ, xin đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Con xin trình bày cảm thọ khi sáng giờ được nghe pháp sư phụ giảng, hồi nãy sư phụ có nói hai vị ngồi kế bên con có trình bày bảy trí về thọ, lúc đó là con không có thuộc, con có lo lắng là sợ sư phụ kêu. Ý hành con cũng nói là ráng lắng nghe quý vị trình pháp để học theo, con không biết con có liếc không, thực sự con không có ý liếc mà con có ý là lo lắng, là không thuộc sợ sư phụ kêu trả bài không thuộc bài, ý hành con cũng có cố gắng để học và ý hành cũng có nói là về nhà sẽ cố gắng học cho thuộc bảy trí về thọ. Cái đó là sự trình bày của con. giờ cho con xin được phép trình bày cảm thọ khi được nghe pháp, sư phụ có nhắc là sự học hỏi sáng giờ và con nhớ lại bữa xả y sư phụ đem hai thánh vật quý báu trên non thiêng ra để cho giới tử chúng con được lấy đó làm định tướng đi theo suốt cả cuộc đời.
Hôm qua con có nghe pháp sư phụ và hôm nay và cái buổi xả y hôm đó sư phụ cũng nhắc là làm định tướng và con cũng lấy đó làm định tướng suốt cả cuộc đời. Con không bao giờ quên, con là ăn mặn nhưng con có về thực hành là con quyết tâm ăn chay ăn trường, mấy ngày nay con cũng thực tập và con rất khó khăn nhưng mà con cũng quyết chí nỗ lực. Như mấy câu thơ hồi nãy thầy Huệ có đọc, con nhớ một câu là "buông tất cả sẽ được tất cả", "càng hạ thấp thì càng được cao", con rất là vui mừng và hiểu được hai câu ý nghĩa đó. Con cũng xin nguyện là sẽ lấy hai câu sư phụ dạy hồi nãy để làm bài thiền quán và định tướng, hai báu vật bộ xương và hủ tro cốt kia làm định tướng, làm hình hành trang cho con đến suốt cuộc đời đến khi nào con có đủ nhân duyên đi xuất gia chính thức, chưa đủ nhân duyên thì con ở nhà. Con nguyện trong tâm con là một Sa-di Ni, con giữ định tướng đó trong tâm con và con thực hành tu tập định tướng đó trong tâm con không cần ai biết, con chính làm cho bản thân con và con xin nguyện như vậy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Chúng ta cứ việc chia sẻ những cái khó khăn của mình những cái lợi ích của mình trong tu học đừng có ngại.
Phật tử 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con xin phép trình bày cảm thọ con trong buổi tu ngày hôm nay, sáng nay con bước chân tới chùa thì con cũng được nghe thầy Thiện Huệ nói là sư phụ không có mặt ở đây, sư phụ về ngày hôm qua rồi cho nên là cảm thọ con cũng hơi buồn chút vì con cũng muốn lên đảnh lễ sư phụ. Trong buổi giảng pháp của sư phụ sáng nay thì cảm thọ con cũng hơi khó chịu một tí bi do âm thanh không có nghe rõ lời sư phụ nói cho nên cảm thọ cũng hơi khó chịu trong tâm của con. Ngồi trong đó con nhận diện ngũ uẩn, con tác ý bảo "thôi kệ cứ nghe được lúc nào hay lúc đó, nghe được từ nào cũng hay từ đó thôi", con cũng không có chấp vào cái việc là mình nghe được hay không.
Lúc nhận diện như vậy và cái thức con cũng rõ biết được cái thọ; tưởng; hành đó và con cũng xin tri ân, cám ơn sư phụ bởi vì qua những cái bài pháp của sư phụ giảng thì bản thân con cũng đã thấy rất là vui, khi được nghe những bài pháp của sư phụ con đã thực hành được nhận diện ngũ uẩn. Khi con gặp những việc trái ý hoặc thời gian vừa qua cũng có một số việc do công việc thay đổi và cái việc làm ăn nó cũng không thuận lợi thì con cũng đã nhờ vào những bài hát sư phụ thì con cũng đã tác ý, con dũng mãnh, con cố gắng tác ý rất là nhiều và từ đó thì con cũng thấy rất là an lạc, con cũng thấy bình thường, các pháp đều là do duyên sanh cho nên cái việc không được như ý mình muốn thì đó là có sanh thì có diệt cho nên con cũng rất là an lạc. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Bài pháp sáng nay chúng ta nghe được bao nhiêu phần trăm ạ?
Phật tử 6: Dạ cỡ sáu mươi phần trăm ạ.
Sư Phụ: Còn buổi chiều nay?
Phật tử 6: Dạ buổi chiều nay thì nghe rõ hơn ạ.
Sư Phụ: Chúng ta thấy không nằm ở trong bệnh viện rồi lúc đó mới thấm được cái pháp, khi gặp những cái việc bất như ý thì chúng ta mới thấy được giá trị của pháp. Nhiều khi bình thường mình không thấy, hữu sự rồi lúc đó mình mới thấy là do ngày bình thường mình có tu tập, cũng như cô Diệu Nhi chia sẻ rất là tốt, đó là cư sĩ đương nhiên có nhiều cái trong đời sống gia đình, nhiều phiền não, nhiều duyên xúc, nhiều thọ sanh khởi nhưng mà mình đừng có trú ở trong cái cảm giác mà bi quan, tiêu cực nhiều quá. Mình biến sự khó khăn, trở ngại đó thành sức mạnh, thay vì mình buồn bã, mình than trách thì mình hãy lấy cái thời gian đó đổi lại thành một cái sự dũng mãnh, thành một cái động lực, thành một cái đòn bẩy để mình bật lên, mình vượt ra.
Con biết rằng đời sống cư sĩ rất là khó để thực tập nhưng mà nhân chứng, vật chứng sống để chúng ta thấy vị hướng dẫn pháp cho chúng ta là một vị cư sĩ thì mình lấy đó làm cái tấm gương, ngay trước mắt của mình, ngay hiện tiền chứ không phải mấy trăm năm trước, hay là mấy ngàn năm trước cho nên bỏ bớt vấn đề than vãn, biến cái trở ngại khó khăn để trở thành sức mạnh, trở thành đòn bẩy, trở thành động lực, trở thành sinh lực, trở thành hùng dũng lực để mình tiến lên. Chính cái trở ngại đó thì mình mới tu cho nên trong kinh Đức Phật nói khổ sanh tín.
"Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, III. Duyên)
Từ cái khổ làm cho mình phát khởi lên lòng tin về chánh pháp cho nên người mà khổ càng nhiều thì người đó tu càng sâu, người ít khổ, thường thường đều đều thì người đó rất khó tu, không có một cái dũng lực, không có cái mãnh lực, không có cái hùng lực, không có cái đại lực cho nên người càng khó khăn, càng trắc trở thì người đó lại càng có một sức mạnh. Có cô trình pháp nói lúc ở trong bệnh viện thì Minh Thành chợt nhớ lại có loạt bài "Làm an tâm người bệnh" được giảng trong mùa dịch. Bây giờ phương tiện tu tập chúng ta quá dễ dàng, chỉ cần bấm lên là có hết, học trực tuyến mỗi ngày nữa cho nên không có cái cớ gì bảo tu không được.
Ngày xưa đi cầu đạo, cầu pháp bỏ mạng, mình giờ ngồi sẵn tại nhà, quẹt lên là được học, được nghe, được tu, được chỉ, được dẫn, được cầm tay dắt thành ra không có cái cớ mình than khó, tham khổ mà chỉ có cái vấn đề là mình chưa dốc hết sức mạnh của, mình chưa dốc hết sự nỗ lực của mình.
Cô Mai Đỗ: Con xin đảnh lễ sư phụ ân sư, trong thời gian gần đây con bị cái nghiệp ái, con không thắng được nó nên con không dám trình. Con thấy mọi người vào tu tập không ai bị nghiệp ái như con nên con trình ra không có là bài học cho ai hết. Con nghe bài quán chiếu cảm thọ 3 của sư phụ con thấy đúng là hay quá trời, con mới biết tại sao con bị tham tùy miên trói cột, bây giờ con nhìn ra được rồi, con hi vọng là con sẽ thoát ra được cái tâm tham tái tùy miên này, nó cột con mấy chục năm nay, nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm căn cứ địa, làm sào huyệt. Con tạ ơn thánh pháp đã cứu con, con đã nhìn ra nó rồi, con hứa sư phụ là con cách ly được nó trong thời gian sớm nhất.
Sư Phụ: Các vị cố gắng sắp xếp các khóa tu ngắn hạn này trở về tu, nhất là các vị chưa từng về núi một lần nào cố gắng sắp xếp khóa tu tới 30 tháng 8 cho đến 4 tây tháng 9, không bỏ sớm cũng bỏ muộn, không bỏ trước cũng bỏ sau, bỏ vài ngày đi tu không sao hết. Mình đi học, mình làm bài tập không được rồi mình bỏ, mình không học luôn, mình trốn cô giáo luôn hay là mình đem cái bài khó đó lại nhờ thầy cô dạy giùm? Thành ra quý vị đừng nghĩ rằng bây giờ con bị vướng mắc cái này, vướng mắc cái kia con không trình, chúng ta phải trình cái vướng mắc đó, không sao hết, các bạn bè, các thầy cô yểm trợ cho mình, giúp đỡ cho mình, tạo thêm sức mạnh cho mình. Nếu mình im im rồi mình lùi lùi là mình rút luôn cho nên tiến cũng phải trình, thối lui cũng phải trình mà dậm chân tại chỗ cũng trình, không phải bữa nào tiến thì hân hoan, hạnh phúc quá trình hoài, tới khi thối lui thì im luôn, trốn tránh.
Mình phải trình trạng thái đang tu học của mình diễn biến như vậy, đánh giặc thì thắng bại là lẽ thường của nhà binh, vấn đề là mình không chịu buông tay, keo này mình bày keo khác, tiếp tục coi tại sao mình thua, mình thua ở chỗ nào, vì lý do gì mình thua để lần tới mình đánh tiếp. Đó là tinh thần chiến sĩ, tinh thần dũng sĩ, mạnh mẽ, thành ra đó là lý do tại sao chúng ta phải hội tụ, gặp mặt nhau để tu học giữ lửa, trong thời gian vừa qua đạo tràng Nikāya chúng ta không có mạnh, mỗi lần con đi ra đường rất là xa như vậy, bỏ bao nhiêu công việc về mà có mấy người cho nên mới nhập chung vô bên đạo tràng thọ bát luôn.
Con mong rằng chúng ta cố gắng lên, đoàn kết, hòa hợp, tinh tấn, nỗ lực, tu cho mình và cùng lan tỏa sự tu học nhiệt huyết, nhiệt tình, nhiệt tâm cho các đồng đạo, chư hiền của mình. Mình lan tỏa ra các người thân trong gia đình, những người bạn, những người có duyên với mình, nếu không thì uổng lắm, không có gì quý bằng cái tu này đâu, mình may mắn nhìn thấy được khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được con đường diệt khổ, còn có ai may mắn, phúc báo hơn mình nữa. Mình nắm vào đó tác ý lên để mình hân hoan, hạnh phúc, mình chiến đấu, tăng thượng, phát triển, đừng để cho cái tâm mình lệch hướng, nghiêng về những cái mục đích gọi là lối tẻ, những cái lối rẽ, những cái tiêu cực là lần lần nó đẩy mình xa ra cái pháp thì uổng lắm nên mọi người cần cố gắng lên, mạnh mẽ lên, nỗ lực lên.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.