Nghiệp & Quả Báo 19
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 19
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tôn kính Pháp PAGEREF _Toc139873898 \h 1
II. Hai loại hội chúng PAGEREF _Toc139873899 \h 5
III. Hướng về thiện PAGEREF _Toc139873900 \h 7
I. Tôn kính Pháp
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chuyên đề nghiệp trong kinh tạng Nikāya, chúng ta nghe bài kinh "Pháp" nằm trong Tăng Chi Bộ, Tập I.
"Phàm vua Chuyển Luân nào, đúng pháp, pháp vương, vị ấy cũng chuyển bánh xe (cai trị), không phải không có vua.
Được nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, ai là vua cho vua Chuyển Luân đúng pháp, pháp vương?
- Ðó là pháp, này Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, II. Phẩm Người Ðóng Xe, Pháp)
Đức Phật nói rằng một vị Thánh vương, Thánh quân, vị vua có đức độ, trị quốc bằng chánh pháp, chữ "pháp" ở đây là nhân quả, là thiện lành, là năm giới, là thập thiện, là tám giới, vị vua có đức độ, dùng đạo đức để trị quốc ngày xưa gọi là bậc Thánh vương, chuyển luân Thánh vương. Một vị Tỳ-kheo hỏi ai là người có thể giúp cho vị vua trở thành một vị vua Thánh thì Đức Phật trả lời đó là pháp.
"Thế Tôn nói:
- Ở đây, này Tỳ-kheo, vị Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng.
Lại nữa, này Tỳ-kheo, vua Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương ... ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với các Sát-đế-lỵ, đối với các tùy tùng, đối với quân đội, đối với các Bà-la-môn và gia chủ, đối với các thị trấn và quốc độ, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, đối với các loài thú và các loài chim.
Vua Chuyển Luân ấy, này các Tỳ-kheo, đúng pháp ... sau khi ra lệnh hộ trì, che chở ... đối với các loài thú và các loài chim, chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn cản sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào.
Cũng vậy, này Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đúng pháp, vị Pháp Vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với thân nghiệp, nghĩ rằng: 'Thân nghiệp như vậy cần phải hành trì, thân nghiệp như vậy không được hành trì'
Lại nữa, này Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán ... ủng hộ đúng pháp đối với khẩu nghiệp, nghĩ rằng: 'Khẩu nghiệp như vậy cần phải hành trì, Khẩu nghiệp như vậy không được hành trì, đối với ý nghiệp', nghĩ rằng 'Ý nghiệp như vậy cần phải hành trì, Ý nghiệp như vậy không được hành trì'.
Như Lai ấy, này Tỳ-kheo, bậc A-la-hán ... đúng pháp, sau khi ra lệnh hộ trì che chở ... đối với thân nghiệp ... đối với khẩu nghiệp ... đối với ý nghiệp ... chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn chặn sự chuyển vận, bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, II. Phẩm Người Ðóng Xe, Pháp)
Ngài vận chuyển bánh xe chánh pháp không bị ngăn chặn bởi tất cả những người tu hành hay chư thiên, ác ma, phạm thiên hay bất cứ một ai ở trên đời. Đó là nội dung của bài kinh pháp, như vậy Đức Phật lấy ví dụ vua chuyển luân Thánh vương là một vị vua hiền đức, minh quân cai trị quốc gia bằng những thiện pháp, đạo đức, không dùng gậy, không dùng gươm, không dùng đao, không dùng giáo mà có thể cảm hóa được tất cả nhân dân trong cả nước, dùng đạo đức, dùng đạo hạnh, đạo tâm, đạo ngôn, đạo ý, dùng tình thương, giới luật chứ không dùng gậy gộc, dao kiếm để trị quốc. Một vị Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn vì đâu mà có được một vị vua hiền đức, Thánh quân, Thánh vương như vậy thì Thế Tôn nói là do pháp.
Pháp của Đức Phật vô cùng tối thượng, đó là nhân thiên pháp và thánh pháp. Đối với nhân thiên pháp, nếu một người thực hành đúng thì trở thành Thánh quân, minh quân, Thánh vương, đất nước thái bình thịnh trị, còn nếu thực tập Thánh pháp thì trở thành Thánh chúng. Nhưng vị chuyển luân Thánh vương này không hẳn là biết Thánh pháp của Đức Phật, chữ "pháp" ban đầu là chỉ cho nhân quả, tội phước, trong kinh Nikāya có hai loại chánh kiến là hữu lậu chánh kiến và vô lậu chánh kiến, là thấy rõ được nhân quả, thấy rõ được nghiệp, kết quả của nghiệp, thấy rõ cái nào đưa đến khổ đau, cái nào đưa đến hạnh phúc, tin tưởng một cách xác quyết, minh bạch, rõ ràng và thực hành một cách trọn vẹn thì vua trở thành vua Thánh, dân trở thành những người hiền đức, gọi là quốc thái dân an, thái bình thịnh trị.
Bên Trung Quốc thường ca ngợi vua Nghêu, vua Thuấn, người ta thường dùng hình ảnh đó để chỉ cho những vị vua hiền đức, cũng như Việt Nam mình là thời Lý – Trần có ngài Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, sau này được tôn phong là Phật hoàng, nghĩa là vua Phật, đó là người dân tôn xưng còn chữ Phật trong Nikāya rất thâm sâu, nghĩa là một vị vua nhân từ, hiền đức, ngài đem thập thiện giáo hóa nhân gian, đi đến đâu cũng nói về thập thiện, ngài nói, ngài làm, ngài thực hành cho nên người dân mới tôn ngài như là một bậc giác ngộ, thật sự ngài là một vị vua dám bỏ ngai vàng để đi tu, đó là điều chưa từng có trong lịch sử nhân loại, cực kì hiếm hoi, hy hữu.
Mình mượn hình ảnh này để thấy được hình ảnh chuyển luân Thánh vương còn lớn hơn rất nhiều, nhưng tại sao lại có một vị vua Thánh quân, minh quân như vậy? Đó là nhờ pháp, vị này "đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng". Câu này được Đức Phật lặp tới lặp lui, tô đậm lên, nhấn mạnh lên để mình thấy được giá trị của pháp, đó là tối thượng.
Khi Đức Thế Tôn thành đạo cho đến 12 năm sau không có giới vì tất cả đều tôn trọng pháp, tôn kính pháp, những người xuất gia đều vì pháp, ngày đêm lo thực hành pháp, không ai muốn danh lợi, không ai muốn tham dục, hơn thua với nhau, thời đó tôn kính pháp tuyệt đối cho nên toàn là Thánh chúng, nếu chưa thành tựu Thánh quả thì cũng là những bậc hiền đức, hiền trí. Một thời gian sau mới có các hữu lậu, những người này không có chân tu, ở nhà khổ nên đi tu cho khỏe và còn nhiều lý do khác nữa cho nên mới có ra giới luật.
Thời chuyển luân Thánh vương người dân cũng rất hiền lành, nhân hậu, không có nhiều hiến chương, hiến pháp, pháp luật nhiều vì họ y cứ pháp, mọi người đều cung kính, kính trọng pháp. Lúc chúng ta giảng pháp, lễ pháp, nếu là người cung kính pháp là tự động không có buông lung phóng dật, còn người buông lung phóng dật, làm động niệm mọi người phải ra sám hối, đó là do không tôn kính pháp, người cung kính pháp trọn vẹn là không có như vậy. Một người tôn kính pháp có thể hi sinh cả thân mạng người ta vì pháp, ngoài pháp ra không có gì trên cuộc đời này nữa, nếu như vậy sẽ không có những lỗi lầm cho nên thời Thánh vương là thời mà tất cả người dân đều dựa vào pháp mà sống, tôn kính pháp, kính trọng pháp.
Ai cũng cung kính nhân quả, ai cũng kính trọng thiện hạnh, thiện lành, thiện pháp, ai cũng quý trọng cái thiện, ai cũng tán dương cái thiện, ai cũng ca ngợi cái thiện, ai cũng đội cái thiện trên đầu, tuyên dương cái thiện, truyền bá, lan tỏa thiện pháp thì lúc đó không cần phải có nhiều hình phạt, đây là một biện pháp để giáo dục.
Buổi sáng khi làm lễ xong thì có một chú xuống gặp con nói có con trai 14-15 tuổi mê game đến nỗi bỏ học, bỏ nhà, cha mẹ nói không nghe, không biết làm sao cả. Đây là tình hình chung của giới trẻ, kế đó có một chú Phật tử tài xế được tới lui tam bảo, biết được pháp nên hướng dẫn con từ nhỏ rất kĩ càng cho nên hai đứa con tương đối ngoan, tốt. Con chia sẻ một chút về pháp, còn muốn học thực tế thì mời gặp chú tài xế dạy con thành công, người thật việc thật.
Trên mặt báo chỉ toàn là chém giết, cướp của, hiếp dâm, thật sự rất lo, ít khi thấy xưng tán, tán thưởng những việc thiện, những cái xấu ác rất nhiều, những gương sáng thiện lành rất ít, như vậy cái tâm nghiêng về ác nhiều, thích cái ác, thích cái xấu. Từ đây mình thấy được rằng khi cái tâm nghiêng về cái gì thì cái đó sẽ phát khởi vì tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác, nếu nói hay hành động theo tâm tư nhiễm ô thì cái tội, cái khổ theo mình như con bò đi theo chiếc xe, chiếc xe đi theo con vật kéo xe.
Sở dĩ thành tựu được Thánh vương, Thánh quân, Thánh đức là vì tất cả người dân và vị vua đó "đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng. Lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tối thắng nghĩa là đẹp nhất, thắng là thù thắng, tối là tối thượng, pháp là thù thắng và tối thượng, không còn cái gì đẹp hơn nữa, chữ pháp ở đây nghĩa là thiện pháp, là thập thiện. Khi nào con thấy có cơ hội thiện pháp là con cho vợ chồng lễ lạy nhau, anh em có những lời chia sẻ cảm ơn nghĩa tình, mẹ con, thực hành hiếu đạo, đó là con đang y cứ vào pháp, cung kính thiện pháp, kính trọng thiện pháp, tôn kính thiện pháp, nêu cao thiện pháp.
Cái tâm của con người bây giờ là vô cảm với thiện pháp, những Youtuber, Tiktoker làm về những cái hiền lành, tốt đẹp thì ít người xem, nhưng làm những cái giật gân, bậy bạ thì vào coi rần rần, đó là vì tâm của con người hướng về bất thiện pháp, chính vì có tâm đó nên lời nói đi theo, hành động cũng đi theo, hoàn cảnh cũng đi theo nên thiên tai, lũ lụt, sóng thần, động đất, dịch bệnh là từ bên trong chuyển chứ không phải chỉ bên ngoài.
Sự giáo dục rất quan trọng, từ trong nhà ra ngoài phố cho đến trong chùa, trong đạo tràng, khi có thiện pháp thì phải nêu cao lên, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm tối thắng, lấy pháp làm chỗ nương tựa y cứ, khi có điều thiện của một người nào đó là mình tán thưởng, tán dương, khen ngợi, moi móc cái xấu của mình chứ đừng moi móc cái xấu của người, hãy tán dương thiện pháp của người, mình có trách nhiệm, có tình thương, có từ tâm muốn giúp cho người, mình phải từ bỏ cái tâm muốn soi mói người khác.
"Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian giấu bài".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Đó là người không sống với thiện pháp mà sống với ác pháp. Do nhà vua sống thiện lành nên nhà vua sẽ lan tỏa thiện pháp ra, giữ gìn thiện pháp, che chở cho những người thiện, ủng hộ cho những người đúng pháp, thiện lành. Ở Linh Quy sống nhẹ nhàng, an lành, hiền thiện, hiền trí, từ đây chúng ta có thể biết được hội chúng ngày xưa của các bậc vua hiền đức hay hội chúng của các bậc hiền Thánh thời Đức Thế Tôn.
II. Hai loại hội chúng
Mình chỉ mới tu tập tâm hiền được tương đối thôi mà đã dễ thương như vầy, các bậc hiền Thánh thời Đức Phật thì đến mức độ nào cho nên hội chúng hàng ngàn người vẫn không nghe tiếng động gì cả, hoặc là vài người tu thì vài ba ngày hội họp lại pháp đàm một lần, đi khất thực về thì tự mình chuẩn bị chỗ ngồi, nước uống, hết thì tự đi lấy hoặc ra dấu, ai cũng lắng dịu, ai cũng hiền thiện, ai cũng ngọt ngào, ai cũng sống với tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả. Đó là hội chúng hiền Thánh, đó là hội chúng tinh ba, đó là hội chúng thâm sâu, không phải là hội chúng phàm phu, hội chúng nông nổi, hội chúng cặn bã.
"Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng nông nổi và hội chúng thâm sâu. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng nông nổi? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào có các Tỳ-kheo tháo động, kiêu căng, lắm mồm lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng nông nổi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng thâm sâu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào có các Tỳ-kheo, không tháo động, không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm lắm miệng, không lắm lời, không thất niệm, tỉnh giác, có định tĩnh, có nhất tâm, có các căn được bảo vệ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng thâm sâu.
Này các Tỳ-kheo, có hai hội chúng này. Hội chúng tối thượng giữa hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng thâm sâu" (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Đức Phật dạy hãy làm hội chúng thâm sâu chứ đừng làm hội chúng nông nổi, hãy làm hội chúng tinh ba chứ đừng làm hội chúng cặn bã, hãy làm hội chúng của bậc Thánh chứ đừng làm hội chúng phàm phu tham, sân, si, vô minh. Trong Nikāya chỉ cho mình tất cả đạo lộ nhân thiên, Thánh phàm, chịu khó tìm tòi, nghiền ngẫm thì có thể biến thế giới này thành thái bình thịnh trị, quốc thái dân an, những vị vua nào chịu học Nikāya có khả năng trở thành chuyển luân Thánh vương, trong Nikāya chỉ cho mình trở thành tối thượng Thánh, xuất thế gian Thánh còn được thì huống hồ gì cái này là Thánh phàm phu, chuyển luân Thánh vương là một vị Thánh nhưng còn ở trong phàm phu, đây là Thánh của thiện pháp, còn các vị A-la-hán là Thánh của xuất thế. Đức Phật đưa ra ví dụ bậc Thánh trong thế gian rồi mới nói đến sự giáo hóa của ngài.
Nhà vua che chở cho cả các loài muôn thú, tức là khuyến khích không sát sanh, có những nơi chim hải âu, bồ câu đậu đầy ngoài đường, người dân cho đồ ăn rất thân thiện. Vị vua che chở, bảo hộ, giữ gìn cho các loài thú vật, có những con chó bị bỏ đói nên xuống chùa, các thầy cho ăn rồi nó xuống ở luôn, những con mèo cũng vậy, cho ăn rồi đến ở luôn, như vậy mình hộ trì, mình che chở cho nó thì nó ở lại, người ta gọi là đất lành chim đậu, chỗ nào chim muôn về nhiều hót vang lừng thì chỗ đó đất lành, con người hiền thiện. Bây giờ chúng ta tu có chánh pháp, có lòng bao dung, hiền từ, tha thứ, độ lượng thì tự động tứ phương, tám hướng, mười phương quy tụ trở về tu học, vì mình tôn kính pháp, kính trọng pháp, y cứ vào pháp, lấy pháp làm chỗ y cứ tối thắng. Một vị vua như vậy khi "chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn cản sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào".
Mình đi cho từ thiện chỗ này mà người ta không đồng ý thì mình đi cho chỗ khác cho nên cái thiện là không có gì ngăn cản được, đối với cái thương cũng vậy, dù có sanh ly tử biệt, ngăn cách nửa vòng trái đất nhưng thương thì vẫn thương cho nên thiện pháp là không thể ngăn cản được.
Người đó thù mình, ghét mình, phá mình nhưng mình vẫn thương, vẫn giúp họ, họ không thể ngăn cản tình thương của mình được, họ không thể ngăn cản thiện pháp của mình được nhưng cái thiện của mình phải viên mãn, còn cái thiện yếu quá sẽ bị sự sân giận xâm chiếm, giận lên không thương nữa cho nên cái thiện của bậc Thánh quân phải viên mãn cho nên muốn làm vua Thánh không phải chuyện đơn giản, làm vua đã khó, huống hồ gì vừa là vua vừa là bậc hiền Thánh thì phải có phước đức, trí tuệ và năng lực rất lớn.
Đức Phật cũng là người y cứ vào pháp, "Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đúng pháp, vị Pháp Vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với thân nghiệp", chữ pháp của Đức Phật là Thánh pháp, còn chữ pháp ở trước là thiện pháp, thập thiện của chuyển luân Thánh vương, còn chữ pháp ở phía sau này là Thánh pháp, Thánh đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Thân nghiệp như thế nào không nên hành trì? Đó là sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Khẩu nghiệp như thế nào không nên hành trì? Đó là nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm. Ý nghiệp như thế nào không nên hành trì? Đó là từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ tà kiến, tức là cái thấy biết sai lầm, như vậy thân, miệng, ý như vậy không nên hành trì.
III. Hướng về thiện
Chúng ta nên hành trì cái gì? Bước thứ nhất là từ bỏ những thứ đã nói ở trên, bước thứ hai là thân làm thiện, miệng nói thiện, tâm nghĩ thiện. Cái thiện ở đây cần hiểu rộng ra là từ, bi, hỷ, xả, bốn tâm vô lượng cho nên mỗi lần quán chiếu về tâm từ là thiện, mình phát ra lời nói từ tâm là thiện, những hành động bằng tâm từ là thiện pháp, là nên hành trì. Như vậy không phải Đức Phật che chở cho một người nào đó để người này đừng bị nguy hiểm, không phải như mình hiểu là cầu mong cho Phật độ cái này độ cái kia để đừng bị tai nạn, mình gặp tai nạn là do ác nghiệp của mình nên mình phải chịu cái quả, còn mình gặp may mắn là do thiện nghiệp của mình, không phải Phật thương người này rồi cho người này được cái này được cái kia, còn Phật không thương là mình bị cái này bị cái nọ.
Ngài ra lệnh hộ trì, che chở cho người đúng pháp, đến chư thiên, chư thần cũng ủng hộ. Tất cả chư thiên, chư thần, loài vật cũng ủng hộ, giúp đỡ người đúng pháp, những chư thiên, chư thần, những loài vật đó giúp đỡ mình là do trước đây mình đã từng giúp cho họ cho nên bây giờ họ giúp lại, như vậy không có gì là tự nhiên cả, cái này cũng nhằm trong nhân quả, cũng là thiện pháp. Như vậy không có cầu xin gì cả, nếu có cầu xin thì xin "tâm ơi mày hiền thiện giùm tao", "cái miệng ơi mày ni cho dễ thương giùm tao", "thân ơi làm ơi làm những hành động từ ái, ngọt ngào", đó chính là cầu nguyện, cầu xin chính mình.
Khi mình đã có những ý nghĩ hiền thiện, những hành động từ ái, dễ thương thì người tiếp xúc với mình sẽ sanh ra cảm thọ ngọt ngào và họ đối đãi ngược lại với mình cũng bằng sự ngọt ngào, cho nên tất cả không phải là cầu xin gì cả, ngay cả các chư thiên, chư thần cũng không cần xin được gì ở các ngài, còn cầu xin được là do lúc trước mình cho các ngài nên bây giờ các ngài giúp mình lại, Đức Phật chỉ là người chỉ đường. Một vị Bà-la-môn là một thầy toán số hỏi Đức Phật tại sao có thầy là bậc đạo sư, tại sao có Niết-bàn là cảnh giới an lạc, tại sao có con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát Thánh Đạo nhưng tại sao Đức Phật hướng dẫn đệ tử có người đi tới, có người đi không tới, Đức Phật trả lời ngài chỉ là người chỉ đường.
"Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường" (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Ngày nào lên cũng mở tâm hiền, cũng tác ý tâm hiền, thiền quán tâm hiền nhưng trở ra vẫn hung dữ thì biết làm sao bây giờ? Không chịu tu mà vẫn giữ lấy những cảm thọ hung bạo, hung tàn, hung hăng đó thì biết làm sao bây giờ? Chỉ cách làm cho hiền mà không chịu làm thì làm sao thành hiền được? Chỉ dẫn cho khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, thậm chí làm cho thấy luôn mà trở ra vẫn hất mặt lên, kiêu mạn thì biết làm sao bây giờ? Ta chỉ là người chỉ đường, chỉ phương pháp thôi, còn làm hay không thì tùy thuộc vào mọi người cho nên đạo sư là người chỉ đường, người dẫn đường cho nên Đức Phật chỉ có thể che chở, hộ trì, ủng hộ cho người đúng pháp đối với thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, ý nghiệp thiện.
Phật chính là pháp, pháp cũng chính là Phật, đó là nguyên lý vận hành của ngũ uẩn, của nhân quả, nhân duyên, nó là định luật nên không có bất cứ ai thay đổi được. Đức Thế Tôn có xuất hiện hay không xuất hiện thì pháp cũng như vậy, nếu ngài xuất hiện, ngài chứng ngộ cái pháp đó rồi nói ra cho chúng sanh biết rồi mới tu tập, còn nếu ngài không xuất hiện thì không ai nhìn thấy pháp cả, trước khi có Đức Phật người ta vẫn biết thiện pháp và ác pháp nhưng để nhìn ra được cái pháp xuất thế, nhìn thấy ngũ uẩn, đoạn tận tham, sân, si, xuất ly, nhàm chán, thoát ra thì không ai thấy, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới thấy.
Những người ngoại đạo có thể tu đến tứ thiền bát định nhưng họ không biết phá ngã, không biết thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, họ cũng không biết thân tâm này là ngũ uẩn, chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới chứng ngộ ngũ uẩn, sau đó mới chỉ ra từ đâu ngũ uẩn sanh, ngũ uẩn vận hành như thế nào, ngũ uẩn chấm dứt ra sao và làm sao để thoát ra khỏi ngũ uẩn. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới biết được điều này, sau đó ngài truyền thụ cho các bậc đệ tử, hàng đệ tử nghe và thực hành theo thành công thì gọi là Thanh văn Thánh đệ tử, thanh là âm thanh, văn là nghe, các vị này thành tựu theo lời dạy của Đức Phật thì gọi là bậc Thánh Thanh văn.
Như vậy mình có cầu xin thì hãy cầu xin tâm hiền thiện, vào lạy thì cầu "Phật độ cho con hiền lành", "Phật độ cho miệng con ngọt ngào", "Phật độ cho hành động con dễ thương. Đừng vào cầu xin "Phật độ cho con trúng số", cầu như vậy là không hiểu Phật, ngài là người từ bỏ ngai vàng, điện ngọc mà mình đi xin những thứ ngài từ bỏ. Trong sự tu học thâm sâu về Thánh trí ngũ uẩn là không có cầu xin, chỗ này rất thâm sâu, phải thành tựu chánh kiến mới làm được điều này chứ không hề đơn giản, tất cả đều do sắc; thọ; tưởng; hành; thức vận hành chứ không hề có thế lực nào ở bên ngoài xen vô đây.
Nếu cầu xin thì hãy cầu xin chính mình "ngũ uẩn ơi, tâm mê ơi nhìn thấy khổ giùm tao đi, sao mày cứ mê hoài mà cứ tưởng là sướng. Mày làm ơn mở con mắt ra giùm tao để thấy khổ", hãy cầu xin thấy khổ, cầu xin để thấy được nguy hiểm trong luân hồi, cầu xin để thấy được cái tai nạn, cái bệnh hoạn, đớn đau trong đời sống này cho nên những thiện nam tử từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong quá khứ, hiện tại hay vị lai đều với mục đích thấy được đây là khổ, thấy được nguyên nhân của khổ là tham, sân, si, để diệt trừ nguyên nhân của khổ, đi đến hết khổ, mới là người chân tu.
"-- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ' Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử)
Như vậy mỗi ngày vào lạy Phật độ cho thấy được cái khổ, thấm cái khổ, nhớ cái khổ, không bao giờ quên khổ vì chỉ có nhớ khổ mới không tạo ác nghiệp, mới tu thiện pháp, nhớ khổ mới hăng hái bước mau, bước lẹ, bước nhanh, thoát xa, thoát lẹ, thoát nhanh chốn này, còn không thấy khổ thì vẫn còn mê lắm, còn hơn thua lắm, còn cao thấp lắm, "ta là cao hơn", đó là kiêu mạn.
Đây là khổ, khổ là đây!
Hỡi này nhân thế có nhìn thấy chăng?
Thấy rồi hãy cố thoát ra,
Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này,
Phải kiểm tra thân, miệng, ý của mình, khi Đức Phật chuyển bánh xe chánh pháp thì không một ai có thể ngăn chặn được Thánh pháp luân của ngài. Ai có thể cãi lại ngũ uẩn là vô thường, ngũ uẩn là vô ngã, dù cho cãi hơn đi nữa nhưng nó vẫn là như vậy chứ không phải cãi thắng rồi thì ngũ uẩn này thành thường. Nếu có dùng vũ lực, thế lực ép người ta phải nhận cái này là thường, dù có chịu đi nữa nhưng cái pháp vẫn không thay đổi, từ Bồ-đề đạo tràng cho đến tala song thọ, ở khoảng giữa đó những gì ngài nói là không đổi khác, không sai khác.
Nếu những gì Như Lai nói không phải là chân lý vĩnh hằng thì làm sao có thể trải qua 25 thế kỉ - 2500 năm vẫn còn cho đến bây giờ, từng lời của Đức Phật được học thuộc lòng từ thế hệ này cho đến thế hệ khác trong 2500 năm qua. Có đạo thứ hai nào trên thế giới được như vậy không? Khắc những lời dạy của Đức Phật vào đá để thờ trong tháp hoặc là học thuộc lòng, liên tục có những bậc Thánh Tăng xuất hiện cho đến ngày hôm nay là 2500 năm mà vẫn có những vị, thậm chí là cư sĩ tu hành chứng đắc thì chúng ta thấy rằng hiệu năng, hiệu quả, giá trị của Thánh pháp là bất khả tư nghì, siêu việt thời không, từ tại gia cho đến xuất gia, từ Tăng đến tục, bất cứ hình thức nào chỉ cần nghe hiểu được lời Đức Phật và thực hành theo thì vẫn có khả năng đoạn tận tham, sân, si, chứng nhập được các Thánh quả, Thánh vị.
Trong kinh dùng từ "y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng", sáng nay chúng ta làm lễ mà không có bông hoa nào cả nhưng trong tâm con cúng bằng trời mây, bằng thái hư, cúng bằng ngàn non muôn núi, đại ngàn cho nên có thể làm cho cảm động được các vị vì thế cần vận dụng cái tâm hiền thiện, tâm từ bi, tâm Thánh trí tuệ đúng theo chánh pháp là bất khả tư nghì, thậm chí những vị đã mất cũng được lợi lạc rất lớn, cầu xin được nương nhờ công đức uy lực của Thánh pháp tối thượng để được siêu thoát cho nên chúng ta hãy cố gắng tôn kính pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, đừng có quên.
Trời đất này có thể sụp đổ, cả thái dương hệ, cả dải ngân hà có thể tan hoại nhưng Thánh trí năm uẩn của Đức Phật, Tứ Thánh Đế của Đức Phật là bất diệt, trừ khi nào chúng sanh không chấp nhận nữa thì pháp mất, hễ còn có người nghe hiểu, chấp nhận và tu hành thì pháp còn tồn tại bất diệt, còn người chứng ngộ được Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế thì thế gian này còn ngọn đèn soi sáng giữa bóng tối vô minh. Cho nên hãy cố gắng thâm nhập Khổ Thánh Trí, hằng ngày, hằng giờ phải cố gắng tác ý để thâm nhập, một khi cái khổ đã đi sâu, thẩm thấu vào trong con người mình rồi, vào thân tâm mình rồi, mỗi một suy nghĩ, cảm giác, nhận thức của mình đều thấy cái khổ pháp trong đó thì tham, sân, si, dục ái, bản ngã sẽ giảm thiểu, sẽ đi đến chỗ diệt tận. Dòng pháp có khả năng đưa mình về phía trước, đẩy mình về phía trước, đưa mình vào biển cả của Niết-bàn thanh lương, tịch tịnh./.
Nghiệp & Quả Báo 19
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tôn kính Pháp PAGEREF _Toc139873898 \h 1
II. Hai loại hội chúng PAGEREF _Toc139873899 \h 5
III. Hướng về thiện PAGEREF _Toc139873900 \h 7
I. Tôn kính Pháp
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chuyên đề nghiệp trong kinh tạng Nikāya, chúng ta nghe bài kinh "Pháp" nằm trong Tăng Chi Bộ, Tập I.
"Phàm vua Chuyển Luân nào, đúng pháp, pháp vương, vị ấy cũng chuyển bánh xe (cai trị), không phải không có vua.
Được nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, ai là vua cho vua Chuyển Luân đúng pháp, pháp vương?
- Ðó là pháp, này Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, II. Phẩm Người Ðóng Xe, Pháp)
Đức Phật nói rằng một vị Thánh vương, Thánh quân, vị vua có đức độ, trị quốc bằng chánh pháp, chữ "pháp" ở đây là nhân quả, là thiện lành, là năm giới, là thập thiện, là tám giới, vị vua có đức độ, dùng đạo đức để trị quốc ngày xưa gọi là bậc Thánh vương, chuyển luân Thánh vương. Một vị Tỳ-kheo hỏi ai là người có thể giúp cho vị vua trở thành một vị vua Thánh thì Đức Phật trả lời đó là pháp.
"Thế Tôn nói:
- Ở đây, này Tỳ-kheo, vị Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng.
Lại nữa, này Tỳ-kheo, vua Chuyển Luân, đúng pháp, pháp vương ... ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với các Sát-đế-lỵ, đối với các tùy tùng, đối với quân đội, đối với các Bà-la-môn và gia chủ, đối với các thị trấn và quốc độ, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, đối với các loài thú và các loài chim.
Vua Chuyển Luân ấy, này các Tỳ-kheo, đúng pháp ... sau khi ra lệnh hộ trì, che chở ... đối với các loài thú và các loài chim, chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn cản sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào.
Cũng vậy, này Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đúng pháp, vị Pháp Vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với thân nghiệp, nghĩ rằng: 'Thân nghiệp như vậy cần phải hành trì, thân nghiệp như vậy không được hành trì'
Lại nữa, này Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán ... ủng hộ đúng pháp đối với khẩu nghiệp, nghĩ rằng: 'Khẩu nghiệp như vậy cần phải hành trì, Khẩu nghiệp như vậy không được hành trì, đối với ý nghiệp', nghĩ rằng 'Ý nghiệp như vậy cần phải hành trì, Ý nghiệp như vậy không được hành trì'.
Như Lai ấy, này Tỳ-kheo, bậc A-la-hán ... đúng pháp, sau khi ra lệnh hộ trì che chở ... đối với thân nghiệp ... đối với khẩu nghiệp ... đối với ý nghiệp ... chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn chặn sự chuyển vận, bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ác ma, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, II. Phẩm Người Ðóng Xe, Pháp)
Ngài vận chuyển bánh xe chánh pháp không bị ngăn chặn bởi tất cả những người tu hành hay chư thiên, ác ma, phạm thiên hay bất cứ một ai ở trên đời. Đó là nội dung của bài kinh pháp, như vậy Đức Phật lấy ví dụ vua chuyển luân Thánh vương là một vị vua hiền đức, minh quân cai trị quốc gia bằng những thiện pháp, đạo đức, không dùng gậy, không dùng gươm, không dùng đao, không dùng giáo mà có thể cảm hóa được tất cả nhân dân trong cả nước, dùng đạo đức, dùng đạo hạnh, đạo tâm, đạo ngôn, đạo ý, dùng tình thương, giới luật chứ không dùng gậy gộc, dao kiếm để trị quốc. Một vị Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn vì đâu mà có được một vị vua hiền đức, Thánh quân, Thánh vương như vậy thì Thế Tôn nói là do pháp.
Pháp của Đức Phật vô cùng tối thượng, đó là nhân thiên pháp và thánh pháp. Đối với nhân thiên pháp, nếu một người thực hành đúng thì trở thành Thánh quân, minh quân, Thánh vương, đất nước thái bình thịnh trị, còn nếu thực tập Thánh pháp thì trở thành Thánh chúng. Nhưng vị chuyển luân Thánh vương này không hẳn là biết Thánh pháp của Đức Phật, chữ "pháp" ban đầu là chỉ cho nhân quả, tội phước, trong kinh Nikāya có hai loại chánh kiến là hữu lậu chánh kiến và vô lậu chánh kiến, là thấy rõ được nhân quả, thấy rõ được nghiệp, kết quả của nghiệp, thấy rõ cái nào đưa đến khổ đau, cái nào đưa đến hạnh phúc, tin tưởng một cách xác quyết, minh bạch, rõ ràng và thực hành một cách trọn vẹn thì vua trở thành vua Thánh, dân trở thành những người hiền đức, gọi là quốc thái dân an, thái bình thịnh trị.
Bên Trung Quốc thường ca ngợi vua Nghêu, vua Thuấn, người ta thường dùng hình ảnh đó để chỉ cho những vị vua hiền đức, cũng như Việt Nam mình là thời Lý – Trần có ngài Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, sau này được tôn phong là Phật hoàng, nghĩa là vua Phật, đó là người dân tôn xưng còn chữ Phật trong Nikāya rất thâm sâu, nghĩa là một vị vua nhân từ, hiền đức, ngài đem thập thiện giáo hóa nhân gian, đi đến đâu cũng nói về thập thiện, ngài nói, ngài làm, ngài thực hành cho nên người dân mới tôn ngài như là một bậc giác ngộ, thật sự ngài là một vị vua dám bỏ ngai vàng để đi tu, đó là điều chưa từng có trong lịch sử nhân loại, cực kì hiếm hoi, hy hữu.
Mình mượn hình ảnh này để thấy được hình ảnh chuyển luân Thánh vương còn lớn hơn rất nhiều, nhưng tại sao lại có một vị vua Thánh quân, minh quân như vậy? Đó là nhờ pháp, vị này "đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng". Câu này được Đức Phật lặp tới lặp lui, tô đậm lên, nhấn mạnh lên để mình thấy được giá trị của pháp, đó là tối thượng.
Khi Đức Thế Tôn thành đạo cho đến 12 năm sau không có giới vì tất cả đều tôn trọng pháp, tôn kính pháp, những người xuất gia đều vì pháp, ngày đêm lo thực hành pháp, không ai muốn danh lợi, không ai muốn tham dục, hơn thua với nhau, thời đó tôn kính pháp tuyệt đối cho nên toàn là Thánh chúng, nếu chưa thành tựu Thánh quả thì cũng là những bậc hiền đức, hiền trí. Một thời gian sau mới có các hữu lậu, những người này không có chân tu, ở nhà khổ nên đi tu cho khỏe và còn nhiều lý do khác nữa cho nên mới có ra giới luật.
Thời chuyển luân Thánh vương người dân cũng rất hiền lành, nhân hậu, không có nhiều hiến chương, hiến pháp, pháp luật nhiều vì họ y cứ pháp, mọi người đều cung kính, kính trọng pháp. Lúc chúng ta giảng pháp, lễ pháp, nếu là người cung kính pháp là tự động không có buông lung phóng dật, còn người buông lung phóng dật, làm động niệm mọi người phải ra sám hối, đó là do không tôn kính pháp, người cung kính pháp trọn vẹn là không có như vậy. Một người tôn kính pháp có thể hi sinh cả thân mạng người ta vì pháp, ngoài pháp ra không có gì trên cuộc đời này nữa, nếu như vậy sẽ không có những lỗi lầm cho nên thời Thánh vương là thời mà tất cả người dân đều dựa vào pháp mà sống, tôn kính pháp, kính trọng pháp.
Ai cũng cung kính nhân quả, ai cũng kính trọng thiện hạnh, thiện lành, thiện pháp, ai cũng quý trọng cái thiện, ai cũng tán dương cái thiện, ai cũng ca ngợi cái thiện, ai cũng đội cái thiện trên đầu, tuyên dương cái thiện, truyền bá, lan tỏa thiện pháp thì lúc đó không cần phải có nhiều hình phạt, đây là một biện pháp để giáo dục.
Buổi sáng khi làm lễ xong thì có một chú xuống gặp con nói có con trai 14-15 tuổi mê game đến nỗi bỏ học, bỏ nhà, cha mẹ nói không nghe, không biết làm sao cả. Đây là tình hình chung của giới trẻ, kế đó có một chú Phật tử tài xế được tới lui tam bảo, biết được pháp nên hướng dẫn con từ nhỏ rất kĩ càng cho nên hai đứa con tương đối ngoan, tốt. Con chia sẻ một chút về pháp, còn muốn học thực tế thì mời gặp chú tài xế dạy con thành công, người thật việc thật.
Trên mặt báo chỉ toàn là chém giết, cướp của, hiếp dâm, thật sự rất lo, ít khi thấy xưng tán, tán thưởng những việc thiện, những cái xấu ác rất nhiều, những gương sáng thiện lành rất ít, như vậy cái tâm nghiêng về ác nhiều, thích cái ác, thích cái xấu. Từ đây mình thấy được rằng khi cái tâm nghiêng về cái gì thì cái đó sẽ phát khởi vì tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác, nếu nói hay hành động theo tâm tư nhiễm ô thì cái tội, cái khổ theo mình như con bò đi theo chiếc xe, chiếc xe đi theo con vật kéo xe.
Sở dĩ thành tựu được Thánh vương, Thánh quân, Thánh đức là vì tất cả người dân và vị vua đó "đúng pháp, pháp vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với quần chúng. Lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tối thắng nghĩa là đẹp nhất, thắng là thù thắng, tối là tối thượng, pháp là thù thắng và tối thượng, không còn cái gì đẹp hơn nữa, chữ pháp ở đây nghĩa là thiện pháp, là thập thiện. Khi nào con thấy có cơ hội thiện pháp là con cho vợ chồng lễ lạy nhau, anh em có những lời chia sẻ cảm ơn nghĩa tình, mẹ con, thực hành hiếu đạo, đó là con đang y cứ vào pháp, cung kính thiện pháp, kính trọng thiện pháp, tôn kính thiện pháp, nêu cao thiện pháp.
Cái tâm của con người bây giờ là vô cảm với thiện pháp, những Youtuber, Tiktoker làm về những cái hiền lành, tốt đẹp thì ít người xem, nhưng làm những cái giật gân, bậy bạ thì vào coi rần rần, đó là vì tâm của con người hướng về bất thiện pháp, chính vì có tâm đó nên lời nói đi theo, hành động cũng đi theo, hoàn cảnh cũng đi theo nên thiên tai, lũ lụt, sóng thần, động đất, dịch bệnh là từ bên trong chuyển chứ không phải chỉ bên ngoài.
Sự giáo dục rất quan trọng, từ trong nhà ra ngoài phố cho đến trong chùa, trong đạo tràng, khi có thiện pháp thì phải nêu cao lên, lấy pháp làm ngọn cờ, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm tối thắng, lấy pháp làm chỗ nương tựa y cứ, khi có điều thiện của một người nào đó là mình tán thưởng, tán dương, khen ngợi, moi móc cái xấu của mình chứ đừng moi móc cái xấu của người, hãy tán dương thiện pháp của người, mình có trách nhiệm, có tình thương, có từ tâm muốn giúp cho người, mình phải từ bỏ cái tâm muốn soi mói người khác.
"Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian giấu bài".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Đó là người không sống với thiện pháp mà sống với ác pháp. Do nhà vua sống thiện lành nên nhà vua sẽ lan tỏa thiện pháp ra, giữ gìn thiện pháp, che chở cho những người thiện, ủng hộ cho những người đúng pháp, thiện lành. Ở Linh Quy sống nhẹ nhàng, an lành, hiền thiện, hiền trí, từ đây chúng ta có thể biết được hội chúng ngày xưa của các bậc vua hiền đức hay hội chúng của các bậc hiền Thánh thời Đức Thế Tôn.
II. Hai loại hội chúng
Mình chỉ mới tu tập tâm hiền được tương đối thôi mà đã dễ thương như vầy, các bậc hiền Thánh thời Đức Phật thì đến mức độ nào cho nên hội chúng hàng ngàn người vẫn không nghe tiếng động gì cả, hoặc là vài người tu thì vài ba ngày hội họp lại pháp đàm một lần, đi khất thực về thì tự mình chuẩn bị chỗ ngồi, nước uống, hết thì tự đi lấy hoặc ra dấu, ai cũng lắng dịu, ai cũng hiền thiện, ai cũng ngọt ngào, ai cũng sống với tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả. Đó là hội chúng hiền Thánh, đó là hội chúng tinh ba, đó là hội chúng thâm sâu, không phải là hội chúng phàm phu, hội chúng nông nổi, hội chúng cặn bã.
"Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng nông nổi và hội chúng thâm sâu. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng nông nổi? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào có các Tỳ-kheo tháo động, kiêu căng, lắm mồm lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng nông nổi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng thâm sâu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào có các Tỳ-kheo, không tháo động, không kiêu căng, không dao động, không lắm mồm lắm miệng, không lắm lời, không thất niệm, tỉnh giác, có định tĩnh, có nhất tâm, có các căn được bảo vệ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng thâm sâu.
Này các Tỳ-kheo, có hai hội chúng này. Hội chúng tối thượng giữa hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng thâm sâu" (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Đức Phật dạy hãy làm hội chúng thâm sâu chứ đừng làm hội chúng nông nổi, hãy làm hội chúng tinh ba chứ đừng làm hội chúng cặn bã, hãy làm hội chúng của bậc Thánh chứ đừng làm hội chúng phàm phu tham, sân, si, vô minh. Trong Nikāya chỉ cho mình tất cả đạo lộ nhân thiên, Thánh phàm, chịu khó tìm tòi, nghiền ngẫm thì có thể biến thế giới này thành thái bình thịnh trị, quốc thái dân an, những vị vua nào chịu học Nikāya có khả năng trở thành chuyển luân Thánh vương, trong Nikāya chỉ cho mình trở thành tối thượng Thánh, xuất thế gian Thánh còn được thì huống hồ gì cái này là Thánh phàm phu, chuyển luân Thánh vương là một vị Thánh nhưng còn ở trong phàm phu, đây là Thánh của thiện pháp, còn các vị A-la-hán là Thánh của xuất thế. Đức Phật đưa ra ví dụ bậc Thánh trong thế gian rồi mới nói đến sự giáo hóa của ngài.
Nhà vua che chở cho cả các loài muôn thú, tức là khuyến khích không sát sanh, có những nơi chim hải âu, bồ câu đậu đầy ngoài đường, người dân cho đồ ăn rất thân thiện. Vị vua che chở, bảo hộ, giữ gìn cho các loài thú vật, có những con chó bị bỏ đói nên xuống chùa, các thầy cho ăn rồi nó xuống ở luôn, những con mèo cũng vậy, cho ăn rồi đến ở luôn, như vậy mình hộ trì, mình che chở cho nó thì nó ở lại, người ta gọi là đất lành chim đậu, chỗ nào chim muôn về nhiều hót vang lừng thì chỗ đó đất lành, con người hiền thiện. Bây giờ chúng ta tu có chánh pháp, có lòng bao dung, hiền từ, tha thứ, độ lượng thì tự động tứ phương, tám hướng, mười phương quy tụ trở về tu học, vì mình tôn kính pháp, kính trọng pháp, y cứ vào pháp, lấy pháp làm chỗ y cứ tối thắng. Một vị vua như vậy khi "chuyển bánh xe đúng pháp. Bánh xe ấy không bị ngăn cản sự chuyển vận, bởi bất cứ người nào, hay bởi loài hữu tình thù nghịch nào".
Mình đi cho từ thiện chỗ này mà người ta không đồng ý thì mình đi cho chỗ khác cho nên cái thiện là không có gì ngăn cản được, đối với cái thương cũng vậy, dù có sanh ly tử biệt, ngăn cách nửa vòng trái đất nhưng thương thì vẫn thương cho nên thiện pháp là không thể ngăn cản được.
Người đó thù mình, ghét mình, phá mình nhưng mình vẫn thương, vẫn giúp họ, họ không thể ngăn cản tình thương của mình được, họ không thể ngăn cản thiện pháp của mình được nhưng cái thiện của mình phải viên mãn, còn cái thiện yếu quá sẽ bị sự sân giận xâm chiếm, giận lên không thương nữa cho nên cái thiện của bậc Thánh quân phải viên mãn cho nên muốn làm vua Thánh không phải chuyện đơn giản, làm vua đã khó, huống hồ gì vừa là vua vừa là bậc hiền Thánh thì phải có phước đức, trí tuệ và năng lực rất lớn.
Đức Phật cũng là người y cứ vào pháp, "Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đúng pháp, vị Pháp Vương, y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng, ra lệnh hộ trì, che chở, ủng hộ đúng pháp đối với thân nghiệp", chữ pháp của Đức Phật là Thánh pháp, còn chữ pháp ở trước là thiện pháp, thập thiện của chuyển luân Thánh vương, còn chữ pháp ở phía sau này là Thánh pháp, Thánh đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Thân nghiệp như thế nào không nên hành trì? Đó là sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Khẩu nghiệp như thế nào không nên hành trì? Đó là nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm. Ý nghiệp như thế nào không nên hành trì? Đó là từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ tà kiến, tức là cái thấy biết sai lầm, như vậy thân, miệng, ý như vậy không nên hành trì.
III. Hướng về thiện
Chúng ta nên hành trì cái gì? Bước thứ nhất là từ bỏ những thứ đã nói ở trên, bước thứ hai là thân làm thiện, miệng nói thiện, tâm nghĩ thiện. Cái thiện ở đây cần hiểu rộng ra là từ, bi, hỷ, xả, bốn tâm vô lượng cho nên mỗi lần quán chiếu về tâm từ là thiện, mình phát ra lời nói từ tâm là thiện, những hành động bằng tâm từ là thiện pháp, là nên hành trì. Như vậy không phải Đức Phật che chở cho một người nào đó để người này đừng bị nguy hiểm, không phải như mình hiểu là cầu mong cho Phật độ cái này độ cái kia để đừng bị tai nạn, mình gặp tai nạn là do ác nghiệp của mình nên mình phải chịu cái quả, còn mình gặp may mắn là do thiện nghiệp của mình, không phải Phật thương người này rồi cho người này được cái này được cái kia, còn Phật không thương là mình bị cái này bị cái nọ.
Ngài ra lệnh hộ trì, che chở cho người đúng pháp, đến chư thiên, chư thần cũng ủng hộ. Tất cả chư thiên, chư thần, loài vật cũng ủng hộ, giúp đỡ người đúng pháp, những chư thiên, chư thần, những loài vật đó giúp đỡ mình là do trước đây mình đã từng giúp cho họ cho nên bây giờ họ giúp lại, như vậy không có gì là tự nhiên cả, cái này cũng nhằm trong nhân quả, cũng là thiện pháp. Như vậy không có cầu xin gì cả, nếu có cầu xin thì xin "tâm ơi mày hiền thiện giùm tao", "cái miệng ơi mày ni cho dễ thương giùm tao", "thân ơi làm ơi làm những hành động từ ái, ngọt ngào", đó chính là cầu nguyện, cầu xin chính mình.
Khi mình đã có những ý nghĩ hiền thiện, những hành động từ ái, dễ thương thì người tiếp xúc với mình sẽ sanh ra cảm thọ ngọt ngào và họ đối đãi ngược lại với mình cũng bằng sự ngọt ngào, cho nên tất cả không phải là cầu xin gì cả, ngay cả các chư thiên, chư thần cũng không cần xin được gì ở các ngài, còn cầu xin được là do lúc trước mình cho các ngài nên bây giờ các ngài giúp mình lại, Đức Phật chỉ là người chỉ đường. Một vị Bà-la-môn là một thầy toán số hỏi Đức Phật tại sao có thầy là bậc đạo sư, tại sao có Niết-bàn là cảnh giới an lạc, tại sao có con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát Thánh Đạo nhưng tại sao Đức Phật hướng dẫn đệ tử có người đi tới, có người đi không tới, Đức Phật trả lời ngài chỉ là người chỉ đường.
"Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường" (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)
Ngày nào lên cũng mở tâm hiền, cũng tác ý tâm hiền, thiền quán tâm hiền nhưng trở ra vẫn hung dữ thì biết làm sao bây giờ? Không chịu tu mà vẫn giữ lấy những cảm thọ hung bạo, hung tàn, hung hăng đó thì biết làm sao bây giờ? Chỉ cách làm cho hiền mà không chịu làm thì làm sao thành hiền được? Chỉ dẫn cho khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, thậm chí làm cho thấy luôn mà trở ra vẫn hất mặt lên, kiêu mạn thì biết làm sao bây giờ? Ta chỉ là người chỉ đường, chỉ phương pháp thôi, còn làm hay không thì tùy thuộc vào mọi người cho nên đạo sư là người chỉ đường, người dẫn đường cho nên Đức Phật chỉ có thể che chở, hộ trì, ủng hộ cho người đúng pháp đối với thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, ý nghiệp thiện.
Phật chính là pháp, pháp cũng chính là Phật, đó là nguyên lý vận hành của ngũ uẩn, của nhân quả, nhân duyên, nó là định luật nên không có bất cứ ai thay đổi được. Đức Thế Tôn có xuất hiện hay không xuất hiện thì pháp cũng như vậy, nếu ngài xuất hiện, ngài chứng ngộ cái pháp đó rồi nói ra cho chúng sanh biết rồi mới tu tập, còn nếu ngài không xuất hiện thì không ai nhìn thấy pháp cả, trước khi có Đức Phật người ta vẫn biết thiện pháp và ác pháp nhưng để nhìn ra được cái pháp xuất thế, nhìn thấy ngũ uẩn, đoạn tận tham, sân, si, xuất ly, nhàm chán, thoát ra thì không ai thấy, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới thấy.
Những người ngoại đạo có thể tu đến tứ thiền bát định nhưng họ không biết phá ngã, không biết thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, họ cũng không biết thân tâm này là ngũ uẩn, chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới chứng ngộ ngũ uẩn, sau đó mới chỉ ra từ đâu ngũ uẩn sanh, ngũ uẩn vận hành như thế nào, ngũ uẩn chấm dứt ra sao và làm sao để thoát ra khỏi ngũ uẩn. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới biết được điều này, sau đó ngài truyền thụ cho các bậc đệ tử, hàng đệ tử nghe và thực hành theo thành công thì gọi là Thanh văn Thánh đệ tử, thanh là âm thanh, văn là nghe, các vị này thành tựu theo lời dạy của Đức Phật thì gọi là bậc Thánh Thanh văn.
Như vậy mình có cầu xin thì hãy cầu xin tâm hiền thiện, vào lạy thì cầu "Phật độ cho con hiền lành", "Phật độ cho miệng con ngọt ngào", "Phật độ cho hành động con dễ thương. Đừng vào cầu xin "Phật độ cho con trúng số", cầu như vậy là không hiểu Phật, ngài là người từ bỏ ngai vàng, điện ngọc mà mình đi xin những thứ ngài từ bỏ. Trong sự tu học thâm sâu về Thánh trí ngũ uẩn là không có cầu xin, chỗ này rất thâm sâu, phải thành tựu chánh kiến mới làm được điều này chứ không hề đơn giản, tất cả đều do sắc; thọ; tưởng; hành; thức vận hành chứ không hề có thế lực nào ở bên ngoài xen vô đây.
Nếu cầu xin thì hãy cầu xin chính mình "ngũ uẩn ơi, tâm mê ơi nhìn thấy khổ giùm tao đi, sao mày cứ mê hoài mà cứ tưởng là sướng. Mày làm ơn mở con mắt ra giùm tao để thấy khổ", hãy cầu xin thấy khổ, cầu xin để thấy được nguy hiểm trong luân hồi, cầu xin để thấy được cái tai nạn, cái bệnh hoạn, đớn đau trong đời sống này cho nên những thiện nam tử từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong quá khứ, hiện tại hay vị lai đều với mục đích thấy được đây là khổ, thấy được nguyên nhân của khổ là tham, sân, si, để diệt trừ nguyên nhân của khổ, đi đến hết khổ, mới là người chân tu.
"-- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ' Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, III. Thiện Nam Tử)
Như vậy mỗi ngày vào lạy Phật độ cho thấy được cái khổ, thấm cái khổ, nhớ cái khổ, không bao giờ quên khổ vì chỉ có nhớ khổ mới không tạo ác nghiệp, mới tu thiện pháp, nhớ khổ mới hăng hái bước mau, bước lẹ, bước nhanh, thoát xa, thoát lẹ, thoát nhanh chốn này, còn không thấy khổ thì vẫn còn mê lắm, còn hơn thua lắm, còn cao thấp lắm, "ta là cao hơn", đó là kiêu mạn.
Đây là khổ, khổ là đây!
Hỡi này nhân thế có nhìn thấy chăng?
Thấy rồi hãy cố thoát ra,
Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này,
Phải kiểm tra thân, miệng, ý của mình, khi Đức Phật chuyển bánh xe chánh pháp thì không một ai có thể ngăn chặn được Thánh pháp luân của ngài. Ai có thể cãi lại ngũ uẩn là vô thường, ngũ uẩn là vô ngã, dù cho cãi hơn đi nữa nhưng nó vẫn là như vậy chứ không phải cãi thắng rồi thì ngũ uẩn này thành thường. Nếu có dùng vũ lực, thế lực ép người ta phải nhận cái này là thường, dù có chịu đi nữa nhưng cái pháp vẫn không thay đổi, từ Bồ-đề đạo tràng cho đến tala song thọ, ở khoảng giữa đó những gì ngài nói là không đổi khác, không sai khác.
Nếu những gì Như Lai nói không phải là chân lý vĩnh hằng thì làm sao có thể trải qua 25 thế kỉ - 2500 năm vẫn còn cho đến bây giờ, từng lời của Đức Phật được học thuộc lòng từ thế hệ này cho đến thế hệ khác trong 2500 năm qua. Có đạo thứ hai nào trên thế giới được như vậy không? Khắc những lời dạy của Đức Phật vào đá để thờ trong tháp hoặc là học thuộc lòng, liên tục có những bậc Thánh Tăng xuất hiện cho đến ngày hôm nay là 2500 năm mà vẫn có những vị, thậm chí là cư sĩ tu hành chứng đắc thì chúng ta thấy rằng hiệu năng, hiệu quả, giá trị của Thánh pháp là bất khả tư nghì, siêu việt thời không, từ tại gia cho đến xuất gia, từ Tăng đến tục, bất cứ hình thức nào chỉ cần nghe hiểu được lời Đức Phật và thực hành theo thì vẫn có khả năng đoạn tận tham, sân, si, chứng nhập được các Thánh quả, Thánh vị.
Trong kinh dùng từ "y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng", sáng nay chúng ta làm lễ mà không có bông hoa nào cả nhưng trong tâm con cúng bằng trời mây, bằng thái hư, cúng bằng ngàn non muôn núi, đại ngàn cho nên có thể làm cho cảm động được các vị vì thế cần vận dụng cái tâm hiền thiện, tâm từ bi, tâm Thánh trí tuệ đúng theo chánh pháp là bất khả tư nghì, thậm chí những vị đã mất cũng được lợi lạc rất lớn, cầu xin được nương nhờ công đức uy lực của Thánh pháp tối thượng để được siêu thoát cho nên chúng ta hãy cố gắng tôn kính pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, đừng có quên.
Trời đất này có thể sụp đổ, cả thái dương hệ, cả dải ngân hà có thể tan hoại nhưng Thánh trí năm uẩn của Đức Phật, Tứ Thánh Đế của Đức Phật là bất diệt, trừ khi nào chúng sanh không chấp nhận nữa thì pháp mất, hễ còn có người nghe hiểu, chấp nhận và tu hành thì pháp còn tồn tại bất diệt, còn người chứng ngộ được Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế thì thế gian này còn ngọn đèn soi sáng giữa bóng tối vô minh. Cho nên hãy cố gắng thâm nhập Khổ Thánh Trí, hằng ngày, hằng giờ phải cố gắng tác ý để thâm nhập, một khi cái khổ đã đi sâu, thẩm thấu vào trong con người mình rồi, vào thân tâm mình rồi, mỗi một suy nghĩ, cảm giác, nhận thức của mình đều thấy cái khổ pháp trong đó thì tham, sân, si, dục ái, bản ngã sẽ giảm thiểu, sẽ đi đến chỗ diệt tận. Dòng pháp có khả năng đưa mình về phía trước, đẩy mình về phía trước, đưa mình vào biển cả của Niết-bàn thanh lương, tịch tịnh./.