Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Yểm Ly Thọ Đưa Đến Giải Thoát - Kinh Trường Trảo - Trung Bộ

2026-03-03 00:54:27
Kinh Nikāya Giảng Giải

Yểm Ly Thọ Đưa Đến Giải Thoát

Kinh Trường Trảo - Trung Bộ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cái gì được cảm thọ, cái đó nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc179398238 \h 1

II. Đối nghịch PAGEREF _Toc179398239 \h 2

III. Quán xét thân này PAGEREF _Toc179398240 \h 3

IV. Quán xét cảm thọ PAGEREF _Toc179398241 \h 5

I. Cái gì được cảm thọ, cái đó nằm trong đau khổ

Xin thưa đại chúng, trong ngày hôm nay con có thêm niềm vui, niềm vui này gọi là yểm ly lạc. Yểm ly là chán lìa. Tại sao mình yểm ly, xa lìa mà lại có niềm vui? Điều này rất đặc biệt, mình đọc trong kinh có từ "yểm ly lạc" nhưng đến giờ mình mới cảm nhận được niềm vui của sự yểm ly này. Mình nghĩ rằng mình xa lìa, chán nản thì phải buồn nhưng không phải vậy, càng xa lìa, càng nhàm chán thì mình lại càng có niềm vui, niềm vui đó là niềm vui xa lìa, niềm vui nhàm chán, niềm vui của sự viễn ly, xả ly, xuất ly, niềm vui của sự thoát ra, đi ra, hướng đến sự từ bỏ, niềm vui của Thánh pháp ấn, Thánh trí huệ, hướng đến Thánh giải thoát.

Sáng nay con biên tập về chủ đề Tương Ưng Thọ trong năm trăm chủ đề của phân loại Nikāya, khi ngồi để sắp xếp thì cảm xúc trong người khởi lên niềm hỷ lạc, an lạc và cảm động, xúc động, chấn động đến nỗi không thể ngồi để đọc tiếp, phải bước ra đi thiền hành vì dòng cảm thọ tuôn trào trong toàn thân, nó ấm lên, sung mãn một cảm xúc do trí huệ sanh, do sự lìa xa, nhàm chán, hướng đến viễn ly, ly tham, xả ly.

Khi con có dòng cảm thọ đó thì con không muốn mở cửa ra nữa, thật sự tuyệt vời và vi diệu, hạnh phúc kì lạ. Có rất nhiều chủ đề trong Tương Ưng Thọ, khi đến chủ đề yểm ly thọ đưa đến giải thoát, tức là chán lìa cảm thọ để đưa đến giải thoát thì cảm thọ trong người con cao trào, giống như vòi nước phun lên dòng cảm thọ nhàm chán, xa lìa, hoan hỉ, an lạc được trào dâng sung mãn, thấm đượm khắp châu thân, cảm thọ dâng lên trong từng huyết quản, mạch máu, làm nóng cả người và đó là sự hỷ lạc. Cảm thọ đó dâng trào suốt mấy tiếng đồng hồ, đến giờ vẫn chưa hết cho nên con muốn chia sẻ với đại chúng phải nhớ kĩ Thánh pháp ấn của Đức Phật là nhất hướng yểm ly tức là chán lìa, nhất hướng ly tham, đoạn diệt, đoạn tận, nhất hướng từ bỏ, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn.

Mình phải thầm niệm "phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ", phải thường nhớ và tác ý đều đó. Nếu không nhắc nhở bản thân thường xuyên rồi bị lạc thọ dẫn dắt là mình quên ngay, khi có cảm giác vui là mình quên mọi thứ, trí tuệ bị mờ tối, che kín, lúc đó mình sẽ sống với cái tôi, có cái ta, cái của ta, lúc đó sự hoan hỉ, sự hoan nghênh, sự an trú, dính mắc trong cảm thọ đó sanh khởi và lúc nào cũng phải nhắc tâm câu "phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ".

Cho đến khi nào mình thật sự thể nhập vào dòng trí tuệ đó, không còn thay đổi, không còn bị lung lay nữa thì lúc đó mới vững chắc, cái thấy biết đó mới không mất đi vì cái thấy biết này rất dễ bị mất đi. Mình bị một lạc thọ hay khổ thọ, một cảm giác vui hay khổ là mình mất đi trí tuệ ngay, hoặc là có cảm giác không vui không khổ mà mình không có chánh niệm tỉnh giác, không tác động tâm ý, không nhắc nhở thì lúc đó trí tuệ cũng mất luôn cho nên hôm nay chúng ta chia sẻ về yểm ly thọ đưa đến giải thoát, sự chán lìa cảm thọ đưa đến giải thoát. Sau đây là bài kinh Trường Trảo nằm trong Trung Bộ Kinh, tập II, chúng ta sẽ đi vào phần cốt lõi của bài kinh, trường trảo nghĩa là móng tay dài, đương thời vị này rất nổi tiếng bế quan luyện công không cắt móng tay, đây là một nhà luận lý vang dội danh tiếng lúc đó, mọi người đều phải khiếp sợ.

II. Đối nghịch

Ông này đi đến gặp Đức Phật rồi đưa ra những quan điểm rằng ông này có cái thấy biết tất cả đều không làm cho ông này thích thú. Đức Phật hỏi ngược lại rằng nếu ông có quan điểm tất cả đều không làm ông thích thú thì ông có thích thú với quan điểm đó không, ông này trả lời nếu ông thích thú quan điểm đó thì cũng giống như mọi người khác. Sau đó Đức Phật nêu ra ba quan điểm:

Tất cả đều làm cho tôi thích thú.

Tất cả đều làm cho tôi không thích thú.

Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú.

Đức Phật nói những cái này là những kiến chấp. Những cái này đều là cảm thọ, thích là lạc thọ, không thích là khổ thọ, vừa thích vừa không thích là bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều nằm trong cảm thọ. Đức Phật nói rằng nếu người có quan điểm tất cả đều làm cho tôi không thích thì họ sẽ đối nghịch với quan điểm tất cả đều làm cho tôi thích và cũng đối nghịch với quan điểm vừa thích vừa không thích. Đức Phật nói khi nào có đối nghịch thì sẽ có tranh luận, khi nào có tranh luận thì sẽ có chống đối, khi nào có chống đối thì sẽ có bực mình, bực mình tức là sự phiền não.

"Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình nên từ bỏ tri kiến này, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Đức Phật nói tất cả những chủ trương, chủ thuyết, những cái thấy biết theo tư kiến cá nhân, kiếp chấp, cái thấy của riêng mình, mình có cái thấy như vầy, người kia có cái thấy khác, người nọ lại thấy khác nữa, nếu mỗi người đều giữ quan điểm của mình thì đưa đến sự đối nghịch, đã có đối nghịch sẽ có tranh cãi, đã có tranh cãi thì sẽ có chống đối, đã có chống đối sẽ có bực bội, bực mình, buồn phiền.

Cũng như hiện tại chúng ta tu, nếu không thấy được cốt lõi của giáo pháp thì mình sẽ chấp trên những cách tu, những đường lối tu của mình, quan điểm tu của mình hay nói rộng ra là tông phái, như vậy sẽ không đưa đến chấm dứt mọi sự tranh luận, không đưa đến sự tịch tịch, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Trong kinh Phạm Võng ghi lại 62 kiến chấp của tà kiến, tất cả đều từ cảm thọ, từ cảm xúc, cảm giác, cảm nhận trong cái tu đó, do chưa phá trừ thân kiến, chưa phá trừ kiến chấp về thân nên khi tu mà được một cái gì trong cảm thọ là họ khoan khoái, ái luyến, chấp thủ trong đó, cái này đưa đến sự tranh luận, chống đối, bực bội không có ngày chấm dứt.

III. Quán xét thân này

"Nhưng này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Khi vị ấy quán sát thân này là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã, thời thân, thân dục, thân ái, thân phục tòng được đoạn diệt". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Những chữ này là định lý, là định luật, là khẩu quyết của bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác. Phải học thuộc lòng những chữ này và phải thường đọc lên, thân này là sắc chất, là tứ đại, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, phải thường nhìn vào thân này để thấy rằng nó là phèo phổi, gan ruột, xương da, mỗi lần nhìn vào thân này là nhìn xuyên qua lớp da và thấy được tim gan, mủ máu, mỗi lần nhìn vào bàn tay là thấy được gân cốt, mỗi lần nhìn vào gương mặt là thấy được hộp sọ.

Phải thường xuyên nhìn được như vậy, thường soi rọi, quán chiếu như vậy, mỗi lần vào toilet là thấy sự tanh hôi, bẩn thỉu, hôi thối, cảm nhận sâu sắc những mùi bất tịnh đó, những chất đáng ghê tởm, những sự xú uế đó, mỗi lần tắm rửa phải nhìn được chất dơ trong quần áo của mình, hôi hám, bẩn thỉu, xú uế, không có gì đáng tự hào, không có gì đáng vênh váo, không có gì đáng để nhận là tôi, là của tôi trong này cả mà chỉ đáng khinh chê, đáng ghê tởm, đây là pháp thấp hèn, hạ liệt, bất tịnh. Mỗi lần bệnh nước mũi chảy ra thì phải thấy xấu hổ, ngủ mà nước dãi chảy ra thì phải thấy xót xa, khốn khổ, thật là đau lòng khi tâm ngu mê cứ bám chấp vào thân này.

Thật là đau lòng, đau xót, đau khổ đối với những sự chấp thủ trong thân xác vô thường, bất tịnh này, thấy một sự bi ai cho tâm si ám, ngu mê này. Hằng ngày, hằng giờ, thường xuyên tác ý, thường xuyên tư duy, thường xuyên nghĩ ngợi để đuổi những suy nghĩ đẹp đẽ, vui sướng ra khỏi thân tâm mình, đuổi những suy nghĩ vô minh, si ám, chấp ngã, chấp thủ ra khỏi thân tâm mình, loại nó ra khỏi suy nghĩ của mình từ từ. Mỗi lần ăn cơm phải thấy nhàm chán, "ta mệt mỏi với nhà ngươi quá rồi, suốt ngày phải phục vụ, phụng sự cho ngươi để rồi ngươi tham dục, tham ăn, tham chơi, tham nói, tham buông lung phóng dật, để rồi người bắt ta phải hầu hạ, cung phụng cho ngươi. Ta nhàm chán ngươi quá rồi, ta ngao ngán ngươi quá rồi, ta mệt mỏi với ngươi quá rồi, ngươi đừng có đòi hỏi nữa", trong khi ăn phải quán chiếu cái thân vô thường, biến hoại, tan nát, hoại diệt này, lúc nào cũng nhớ nó là đồ dễ vỡ, là món đồ gốm, là thứ sớm muộn cũng tan nát, là thứ khổ đau.

Mang đống thịt này không vui sướng gì cả, mang ung nhọt này không thấy hạnh phúc gì cả, mang cục bướu này thật là nặng nề, khổ sầu, buồn lo, trúng phải mũi tên của tham ái, tham dục này là mũi tên độc. Phải quán thân này giống như điều bất hạnh, "thật là bất hạnh thay cho ta khi ta phải luẩn quẩn trong đời sống máu thịt, xương da này. Thật là một bất hạnh khi ta còn yêu thích, còn khoan khoái, còn thèm muốn, tìm kiếm. Thật là một điều bất hạnh lớn lao".

Cứ phát huy, tăng trưởng sự nhàm chán cho đến cùng cực, tột độ để phá nát, phá tung dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã trong này, mình không diệt nó thì nó diệt mình, mình không giết nó thì nó giết mình, mình không ra tay với nó trước thì nó sát phạt mình. "Thật là bất hạnh cho ta khi phải mang lấy một thân thể như vầy, một đống xương da, mủ máu, phân và nước tiểu, vậy mà cứ yêu thích, say đắm, dính mắc, chấp thủ trong đó. Bất hạnh… bất hạnh… bất hạnh", "thật là hiểm nạn thay cho ta, thật là hoạn nạn thay cho ta, thật là ách nạn thay cho ta".

Phải cảm thấy sự nhàm chán, xấu hổ, ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê đối với cái tâm u mê, vô minh và tham ái trong thể xác này, đây là một bệnh chướng, là kẻ thù địch, là kẻ phá hoại sự giải thoát của mình, nó phá hoại sự viễn ly của mình, nó phá hoại sự từ bỏ của mình, nó phá hoại sự xuất ly của mình cho nên nó là kẻ thù địch của mình. Mình bị mắc nạn trong cái thân này, mình bị mắc bẫy trong cái thân này, mình bị sập bẫy trong cái thân này, mình bị gài bẫy trong thân này, mình dính mồi trong lưỡi câu rồi dính mắc vào thân xác vô thường, bất tịnh này.

Thật là bất hạnh thay cho ta khi đến ngày giờ này còn dính mắc, dục, tham, ái, còn chấp thủ, đam mê, thích thú với những thứ vô thường, hư ảo, tạm bợ, mong manh, những thứ giả dối, ảo ảnh này. Hãy diệt tận hết đi, tan biến hết đi, chết hết đi, phải quán chiếu, tác ý, tư duy, nhắc nhở bản thân thường xuyên và liên tục như vậy, thường nghiền ngẫm thì cái thân ngay trong hiện thời này sẽ được chấm dứt những dục vọng về thân, những yêu thích về thân, những sự phục tùng, nô lệ về thân sẽ được đoạn diệt, những sự tham ái, vô minh và chấp thủ của thân này sẽ đi đến sự tàn hoại, nó sẽ đi đến chỗ rã nát, rã tan, rệu rã. Không còn làm nô lệ cho thân xác nữa, không còn phục tùng thân xác này nữa, không còn thèm thuồng thân xác này nữa, không còn bám víu thân xác này nữa, không còn nắm chặt vào thân xác này nữa, tất cả đều đưa đến sự đoạn diệt, chấm dứt từ đây. Đó là Đức Phật dạy chúng ta như lý tác ý, quán chiếu thân này để xuất ly, thoát ra khỏi thân này.

IV. Quán xét cảm thọ

"Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Khi có cảm giác này thì không có cảm giác kia, khi có cảm giác kia thì không có những cảm giác này.

"Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Cảm giác vui này bị thay đổi, không còn hoài, cảm giác vui này vô thường, do những nhân duyên xúc làm ra, nó làm cái thứ bị làm ra, những điều kiện, những nhân duyên làm sanh khởi nên cảm giác vui này sẽ bị tan rã, sẽ hủy hoại, bị tiêu vong, bị chấm dứt. Những cảm giác, cảm xúc của đau khổ này là vô thường, là do làm ra, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Những cảm thọ không khổ không vui này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.

"Thấy vậy, này Aggivessana, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly lạc thọ, yểm ly khổ thọ, yểm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yểm ly, vị ấy không có tham dục. Do không tham dục, vị ấy được giải thoát. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: 'Ta đã giải thoát'. Vị ấy biết: 'Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa'". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Vị ấy thấy được tính chất của ba loại cảm thọ này là tiêu diệt, suy tàn, hủy hoại như vậy cho nên vị này tu hành theo chánh pháp, chán lìa đối với cảm giác vui sướng, chán nản và xa lìa đối với cảm giác khổ đau, chán nản và xa lìa đối với cảm giác không vui không khổ, không cho rằng đó là tôi, là của tôi. Do chán lìa nên vị ấy không tham dục, không tham muốn đối với ba cảm thọ đó, do không tham muốn đối với ba cảm thọ đó nên vị ấy được giải thoát, được xuất ly, ra khỏi ba cảm thọ đó. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, vị ấy khởi lên sự hiểu biết "ta đã giải thoát".

Đây là cốt tủy trong sự tu mà chúng ta phải để ý thật kĩ lưỡng, quán chiếu cảm giác vui là vô thường. Có ai lấy lại được ngày mùng 1 tết không? Có ai lấy giùm con khoảnh khắc giao thừa lại được không? Nó là vô thường, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Có ai tìm lại được bà Năm không? Vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt, tất cả chúng ta đang ngồi đây rồi cũng sẽ bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.

Bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy như vậy nên nhàm chán, xa lìa với cảm giác vui, có làm ra đường hoa đẹp đến thế nào trong dịp tết nhưng cũng chỉ được vài ngày cũng phải dọn hết, hoa tàn liễu úa rồi cuối cùng nằm trong thùng rác. Hãy quán chiếu cảm giác vui đó không đáng để hoan hỉ, không đáng để ưa thích, không đáng để bám chấp vào nó. Tết ở đâu? Mùng 1 ở đâu? Mùng 2 ở đâu? Vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.

Khi có cảm giác vui sanh khởi lên hãy nhớ lấy câu này, đừng để cảm giác vui đó nhận chìm chúng ta. Khi có cảm giác khổ cũng đừng để cảm giác khổ đó nhận chìm chúng ta, phải biết nó là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt, chán lìa cảm giác khổ đó. Bị người ta nói nặng, bị người ta vu oan, vu khống nên cảm giác khổ sanh khởi thì phải biết cảm giác này là vô thường, do duyên sanh, do nghe, do tiếp xúc nên mới sanh ra cảm giác này, cảm giác này đáng chán, đáng lìa, cảm giác này bị tiêu diệt, bị tan nát.

Phải nhàm chán cảm giác đó, không đi theo cảm giác đó để sân hận, để đau khổ, sầu bi, phải diệt trừ tham ưu ở đời, phải quán thọ trên các cảm thọ, dù là ưu hay ghét cũng xả ly, phải thường trú trong tâm xả. Có gì để ưa thích trong này? Thích cái bị đoạn diệt à? Thích cái bị suy tàn sao? Thích cái bị hủy hoại để rồi sầu, bi, khổ, ưa, não, để rồi nước mắt đầm đìa, để rồi bị quay cuồng, bị điên đảo trong đó.

Ngay cả cảm giác không vui không khổ, thường thường đều đều cũng phải thấy nó là vô thường, nó sẽ bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt, phải thấy được như vậy mới gọi là sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động. Vị Đa văn Thánh đệ tử chán lìa cảm giác vui, chán lìa cảm giác khổ, chán lìa cảm giác không vui không khổ, do vị ấy yểm ly, chán nản, xa lìa nên không ham muốn, do không ham muốn nên được giải thoát. Đó gọi là yểm ly thọ đưa đến giải thoát, sự chán lìa cảm thọ đưa đến giải thoát, một năm tết chỉ có một lần mà còn tất bật chuẩn bị trước một hai tháng, nếu một năm tết bảy lần thì không biết sẽ như thế nào để rồi chẳng có gì ngoài sự tàn hoại, hủy hoại, tan nát, diệt vong, suy tàn.

Làm thế nào để trong cái không khổ không vui đó mà quán chiếu được như vậy thì rất quan trọng, trong cái thường thường đều đều đó không chịu tu vì khi thấy khổ thì cảm thấy sợ nên sẽ tu, còn thấy vui thì quên tu, thậm chí có khi khổ cũng không tu được. Nếu thấy khổ mà tu được là người biết tư duy quán chiếu, còn khi khổ tâm bị động không tu được, vui thì tâm động cũng không tu được, còn không khổ không vui thì bị dính mắc trong cảm giác đều đều đó. Trong cả ba loại cảm thọ cái nào mình cũng bị dính mắc, chấp thủ, tham ái trong đó.

"Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỳ-kheo không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ (từ ngữ ấy)". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Một vị đã giải thoát rồi thì không nói theo ai và cũng không tranh cãi với ai, tự mình đã chứng biết thấy rõ nên không nói theo ai nữa, đã thấy sự thật hiển bày nên không tranh cãi với ai, sở dĩ còn tranh cãi vì không có trí tuệ, không thấy rõ sự thật, còn vị đã giải thoát, đã thấy biết chỉ nói theo từ ngữ ở đời chứ không chấp thủ, người đó xưng là tôi nhưng chữ "tôi" đó không có chấp ngã trong đó vì ngôn ngữ phải dùng chữ đó để hiểu thôi, Đức Phật cũng xưng là tôi, ta, các bậc A-la-hán cũng xưng là tôi, ta nhưng các ngài nói như vậy để mọi người hiểu, còn trong tâm các ngài thân kiến đã được đoạn diệt từ lâu.

"Lúc bấy giờ Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) đứng sau lưng Thế Tôn và đang quạt Thế Tôn. Rồi Tôn giả Sariputta suy nghĩ như sau: 'Thế Tôn đã thuyết cho chúng ta sự đoạn trừ các pháp ấy nhờ thắng trí. Thiện Thệ đã thuyết cho chúng ta sự tự bỏ các pháp ấy nhờ thắng trí'. Khi Tôn giả Sariputta suy nghĩ như vậy, tâm (của Tôn giả) được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Ngài Xá-lợi-phất chứng Thánh quả ngay lúc đứng quạt cho Thế Tôn để nghe Thế Tôn giảng pháp cho ông Phạm Chí Trường Trảo. Khi ở gần các bậc đạo sư có rất nhiều lợi ích, trong cuộc đối thoại này ngài Xá-lợi-phất sạch hết các lậu hoặc, chứng Thánh quả A-la-hán.

"Còn đối với du sĩ ngoại đạo Dighanakha, pháp nhãn ly trần, vô cấu được khởi lên: 'Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy được đoạn diệt'. Rồi du sĩ ngoại đạo Dighanakha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư, liền bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng". (Trung Bộ Kinh, 74. Kinh Trường Trảo)

Người này cũng thấy pháp, chứng pháp, thể nhập vào pháp, ngộ pháp là thành tựu Nhập Lưu Thánh quả, chánh kiến viên mãn, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Người này có thể tự mình tu để thành tựu, tức là thành tựu chánh kiến viên mãn, Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn. Buổi đối thoại của Đức Phật với ông du sĩ ngoại đạo Phạm Chí Trường Trảo này giúp cho ngài Xá-lợi-phất chứng đắc lậu tận, ông Phạm Chí này chứng nhập Tu-đà-hoàn quả.

./.