Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KINH VÍ DỤ CON RẮN 2 - TRUNG BỘ6 Kiến Chấp Về Bản Ngã

2026-03-03 00:54:27
Nikāya Giảng Giải

SÁU KIẾN CHẤP VỀ BẢN NGÃ

Kinh Ví Dụ Con Rắn 2 - Trung Bộ Kinh

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Các kiến xứ PAGEREF _Toc130031383 \h 1

1.Tiến trình tu tập PAGEREF _Toc130031384 \h 1

2.Sáu kiến chấp của vô văn phàm phu PAGEREF _Toc130031385 \h 2

3.Trí tuệ của Đa văn Thánh đệ tử PAGEREF _Toc130031386 \h 7

II.Lo âu và không lo âu PAGEREF _Toc130031387 \h 10

1.Đối với bên ngoài PAGEREF _Toc130031388 \h 11

2.Đối với bên trong PAGEREF _Toc130031389 \h 13

Các kiến xứ

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu “Kinh Ví Dụ Con Rắn”

Này các Tỷ-kheo, có sáu kiến xứ (sáu chỗ thấy). Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không đi đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn…

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Tiến trình tu tập

“Không đi yết kiến các bậc Thánh, không đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn” chúng ta cần hiểu rộng ra là không tầm cầu, không tìm kiếm, không thăm hỏi các bậc Thánh, các bậc Chân nhân trong khi đây là điều rất quan trọng đối với sự tu học. Sở dĩ, giờ đây có đạo tràng Nikāya tại Linh Quy Pháp Ấn là vì Minh Thành rất quan tâm việc đi tìm các bậc Chân tu, Cao tăng, Thánh nhân, Chân nhân. Trước đây, khi đọc những câu này Minh Thành không sanh khởi cảm thọ gì, nhưng giờ đây mới thấy điều này vô cùng quan trọng. Bởi vì, sự thao thức, ưu tư, trăn trở, thúc giục (dục như ý túc), khắc khoải, khao khát trong việc tìm kiếm, tầm cầu các bậc chân tu, cao đức, hiền thánh… là yếu tố quyết định cho sự tu học về sau. Nếu không có tâm này, dù cho chúng ta có được gặp bậc Hiền Thánh thì cũng chỉ lướt qua, không thọ nhận được điều gì. Cho nên, với một người có tâm chân thành, khắc khoải, ưu tư, tha thiết, khát ngưỡng, kính ngưỡng thì người này mới đi tìm kiếm, tìm cầu, tìm gặp các bậc trí, đó mới được gọi là “yết kiến các bậc Thánh, các bậc Chân nhân, các bậc Chánh kiến”.

Nhờ có tâm chân thành, tha thiết, khát ngưỡng, kính ngưỡng như vậy nên khi gặp được các bậc Chân nhân thì người này sẽ dốc hết tinh thần, sức lực bằng một sự cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường để được các Ngài chỉ bảo, nhờ đó mới thuần thục pháp của các bậc Thánh. Ở đây, “thuần thục pháp các bậc Thánh” nghĩa là thuần thục về mặt pháp học; sau đó mới đến giai đoạn tu học theo pháp các bậc Thánh. Như vậy, ba giai đoạn trên đây là cả một tiến trình tu học: yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp bậc Thánh và thực hành pháp bậc Thánh.

Ngược lại, kẻ vô văn phàm phu vì không yết kiến các bậc Thánh nên không thuần thục pháp của các Ngài và sẽ không tu tập pháp các bậc Thánh. Vì không có tâm khát ngưỡng, khắc khoải, ưu tư, tìm cầu, thao thức một con đường thoát khổ nên kẻ vô văn phàm phu không đi tầm sư học đạo. Hơn nữa, dù đã có tâm khắc khoải, ưu tư nhưng người này lại đi tìm cầu một cách hời hợt trong vô minh thì cũng không thể gặp được các bậc Thánh, bậc Chân nhân, bậc Chánh kiến. Du gặp được thì ai dạy sao nghe vậy, chỉ đâu đi theo đó mà không soi rọi lại thân tâm, không kiểm điểm lại sự tu hành của bản thân trong mỗi ngày, mỗi giờ.

Cho nên, chỉ ba từ “yết kiến”, “thuần thục”, “tu tập” nhưng là cả một quy trình, một lộ trình, một tiến trình tu hành của một con người thực sự cầu pháp. Vì nếu “không yết kiến” các bậc Thánh thì sẽ “không thuần thục” pháp các bậc Thánh; nếu “không thuần thục” pháp các bậc Thánh thì sẽ “không tu tập” pháp các bậc Thánh được. Và khi không tu tập theo pháp các bậc Thánh thì chúng ta không thể nào diệt tận được khổ đau, chứng đắc Niết-bàn. Từ ba cụm từ này, chúng ta hãy chiêm nghiệm những từ này thật sâu sắc.

Đa số những vị trong đạo trạng Nikāya đều là những người khát khao, khắc khoải, ưu tư, khát ngưỡng sự thoát khổ nên mới có mặt trong đạo tràng Nikāya này. Sau khi có mặt, chúng ta gặp được bậc Đạo sư thì chúng ta phải nghe, phải học, phải suy tư, phải tác ý, phải ghi nhớ, phải thọ trì. Hơn nữa, chỉ nghe thôi chưa đủ, mà phải đọc tới đọc lui, học thuộc lòng và luôn luôn chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, suy tư để thành tựu trí tuệ. Sau khi nghe, hiểu, tư duy, nhận diện được thân tâm bằng một sự hiểu pháp một cách thuần thục, rõ ràng, xác quyết, tịnh tín bất động, tối thiểu là Hướng Dự Lưu thì lúc đó chúng ta bắt đầu tu tập pháp các bậc Thánh.

Sáu kiến chấp của vô văn phàm phu

Nếu không được yết kiến, không thuần thục và không tu tập theo pháp các bậc Thánh, các bậc Chân nhân thì kẻ vô văn phàm phu sẽ “xem sắc pháp: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem cảm thọ: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem tưởng: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem các hành: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi", xem như vậy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đừng nói chi người cư sĩ, ngay cả tu sĩ nếu không gặp được bậc Chân nhân, bậc Chánh kiến thì cũng nghĩ như vậy và đời tu chỉ có được một chút thiện pháp, nghĩ điều thiện, nói điều thiện, việc điều thiện. Chỉ khi nào gặp được bậc Chân nhân, bậc Chánh kiến thì chúng ta mới được chỉ dạy về ngũ uẩn để phá thân kiến, phá cái nhìn sai lầm về thân tâm; tức là phá chấp thủ xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; không còn xem mọi thứ là thường hằng, không biến chuyển nữa. Cho nên, nhận diện ngũ uẩn là phương pháp của bậc Thánh, nếu không phải bậc Thánh thì không thể chỉ ra được pháp hành này. Khi nhận diện được ngũ uẩn một cách chính xác thì chúng ta đã phá được các tà kiến trên.

Vì vậy, chúng ta cần phải cố gắng nhận diện ngũ uẩn liên tục; trong huynh đệ, tỷ muội thường xuyên kiểm tra, bất thình lình nhắc nhở nhau xem “ngũ uẩn bây giờ như thế nào”. Đây là một Thánh chuông, một sự khảo sát Thánh trí tuệ, một sự nhắc nhở linh thiêng, thần diệu bằng tình thương, bằng từ tâm. Cho nên, chúng ta phải thuần thục pháp nhận diện ngũ uẩn. Nhiều vị khi mới học ngũ uẩn còn trình bày được rõ ràng, nhưng một thời gian sau là nhận diện lung tung, lang tang, điều gì nói ra cũng gắn tự ngã vào đó mà không hay biết, như vậy là đi sai đường.

Chỉ cần một giây phút quên nhận diện ngũ uẩn là trở thành kẻ vô văn phàm phu, sống trong vô minh, ngu si, u mê, si ám, chỉ toàn thân kiến và chấp ngã. Bởi vì, khi không thấy ngũ uẩn là sẽ thấy có tôi, có của tôi, có tự ngã của tôi; khi thấy được ngũ uẩn thì không thấy tôi, không thấy của tôi, không thấy tự ngã của tôi nữa. Những câu này là liên khúc trong tạng kinh Nikāya, đọc vô số lần nhưng để thấm thía được ý nghĩa, giá trị, công năng, tác dụng thật sự của những câu kinh này là cả một công trình tu học.

Chúng ta phải thường xuyên tự làm bài tập cho chính mình; huynh đệ giúp nhau làm bài tập; các vị lớn phải để tâm chăm sóc cho các huynh đệ còn nhỏ, mới đến. Đó là lí do vì sao Minh Thành luôn nhắc quý thầy cô phải hướng dẫn cho các vị mới đến tu học thành tựu được căn bản về thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn trước khi xuống núi. Hơn nữa, đừng nói chi người mới đến, kể cả người đã tu tập lâu, khi trình pháp mới nhớ nhận diện ngũ uẩn, còn lúc bình thường ra là quên nhận diện nên trở về sống với tâm mê mờ, sống với bản ngã, sống với cái tôi, cái ta. Đến khi nói chuyện, hành xử với nhau đều bằng cái tôi, chứ không thấy được ngũ uẩn; tất cả cũng là vì không chịu nhận diện ngũ uẩn thường xuyên nên không thuần thục được pháp.

Như vậy, khi mới bắt đầu tu tập nhất định phải tập nhận diện ngũ uẩn; trong suốt quá trình tu, dù bao nhiêu lâu cũng phải tiếp tục nhận diện ngũ uẩn; đến cuối cùng của sự tu, khi chứng Thánh quả cũng là sự nhận diện ngũ uẩn một cách viên mãn. Cho nên, mở đầu, chặn giữa, kết thúc của sự tu tập vẫn là nhận diện ngũ uẩn. Nếu quên nhận diện ngũ uẩn là sống với tâm mê mờ; sống với tự ngã, với cái tôi, cái ta to lớn; sống với bóng đêm ngu si, ngu dại, ngu mờ, ngu muội.

Kẻ vô văn phàm phu“xem sắc pháp: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem cảm thọ: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem tưởng: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem các hành: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Người không thấy được ngũ uẩn sẽ xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; kể cả những gì tầm cầu, suy tư, mong muốn đạt được cũng xem đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Họ xem những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức là tôi, là của tôi; những hình hài, sắc vóc, đồ vật, cảnh vật là tôi, là của tôi…

“Bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã…”, kẻ vô văn phàm phu xem quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn là tôi, là của tôi; nhìn đến Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Phi cũng xem đó là thế giới của mình, cho rằng mình đang ở trong thế giới này, thế giới này là của mình. Trong khi “thế giới” trong kinh tạng Nikāya chính là ngũ uẩn, chỉ gồm vật chất và tinh thần.

…và sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi", xem như vậy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".

Người này nghĩ rằng sau khi chết sẽ trở lại như cũ, mặt mày như cũ, đời sống vẫn vậy, không có gì thay đổi, đó gọi là chấp thường, cho rằng mình sẽ thường còn, vô số người đều nghĩ như vậy. Trong những bộ phim kiếm hiệp, thường có câu “hai mươi năm sau vẫn là trang hảo hán”, câu này là sự chấp thường, không biến biến chuyển, họ nghĩ sau khi chết đi sẽ được tiếp tục sanh ra với mắt, mũi, miệng y chang như đời trước. Người tu chúng ta nếu không thành tựu Chánh kiến, không có sự quán chiếu, không có sự thấy biết đúng cũng sẽ nghĩ như vậy. Đó là cái nhìn của vô văn phàm phu, là cái nhìn của tà kiến, sai lầm.

Hơn nữa, không cần nói xa đến lúc chết, gần hơn là những suy nghĩ về tương lai sẽ trở thành người này, người kia thì suy nghĩ đó cũng là tà kiến “tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển”. Cho rằng năm năm sau, mười năm sau tôi cũng sẽ như hiện tại; tương lai tôi sẽ được lên Hòa thượng; ngôi chùa của tôi sẽ còn hoài, ngày càng đẹp hơn… những suy nghĩ này là của vô minh, chấp ngã, chấp thường.

Sâu sắc hơn, đừng nói chi đến năm sau, tháng sau, mà suy nghĩ cho rằng tuần sau mình cũng vẫn như cũ cũng là vô minh, si mê. Đừng nói chi đến tuần sau, suy nghĩ cho rằng ngay mai mình vẫn được ngồi nghe pháp như hiện tại cũng là suy nghĩ ngu si, phàm phu, vô minh. Tất cả những suy nghĩ như vậy đều không đúng, bởi vì, tất cả đang vận hành, các hành là vô thường, là sanh-diệt pháp. Tất cả mọi thứ đều đang vận hành, vận chuyển, chuyển biến; làm sao có thể có một thứ gì là thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, trú như thế này cho đến mãi mãi được! Những tư tưởng, suy nghĩ, cảm giác, nhận thức như vậy là đang trú trong vô minh, trú trong tự ngã, trú trong thân kiến, chấp thủ, tà kiến. Cho nên, không có giây phút nào là chắc chắn, năm phút sau cũng chưa chắc mình vẫn bình thường như hiện tại.

Minh Thành mỗi sáng được ngồi giảng pháp cũng không phải chuyện dễ, Minh Thành phải sắp xếp rất nhiều công việc để giữ được buổi giảng pháp hàng ngày. Cũng như hôm nay, lát nữa Minh Thành phải họp tổng kết cuối năm, có thể sẽ không kịp ăn sáng nhưng cũng cố gắng để giảng pháp. Mọi việc không đơn giản như chúng ta nghĩ là cứ đến giờ thì gặp Minh Thành nghe pháp như bình thường. Cũng vậy, suy nghĩ ngày nào cũng gặp nhau, ngày nào cũng ăn, ngày nào cũng ngủ, ngày nào cũng đi học… tuần nào cũng vậy, tháng nào cũng vậy thì suy nghĩ đó là ngu si, mê lầm, si ám, vô minh; suy nghĩ của thường kiến, kiến chấp, chấp thủ; suy nghĩ của tâm mê, của bản ngã. Còn suy nghĩ của Thánh trí, Thánh tư duy, Thánh tri kiến là suy nghĩ “không có một thứ gì đứng yên”. Tất cả đều đang chạy, cũng như chiếc xe đang chạy ngoài kia thì sắc này cũng đang chạy, cảm thọ này đang chạy, tưởng này đang chạy, hành này đang chạy, thức này đang chạy… Chạy đến đâu? Chạy vào nhà thương, chạy vào hòm, chạy xuống huyệt, chạy đến nghĩa địa, chạy đến lò thiêu, chạy vào hũ cốt, chạy để nhanh thành miếng tro tàn, chạy vào địa ngục, chạy vào ngạ quỷ, chạy vào súc sanh… Từng giây từng phút mọi thứ đều đang chạy như vậy. Một người nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và liên tục sẽ thấy được “chư hành là vô thường”:

Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Ðược hoan hỷ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết.

(Kinh Pháp Cú, phẩm Tỷ Kheo, kệ 374)

Đức Phật dạy rằng, người nào luôn luôn chánh niệm, sẽ thấy được sanh diệt của các uẩn. Và khi thấy được sự sanh diệt này thì không thể cho rằng mọi thứ là thường trú, thường hằng, thường còn, không biến chuyển. Một người có Chánh kiến không thể có những suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm, nhìn nhận, thấy biết như vậy được. Cho nên, khi nào chưa thật sự thấy vô thường, vấn thấy mọi thứ là thường còn thì chúng ta phải lo lắng, ưu tư, trăn trở, thao thức vì mình còn ngu si, mê muội quá nhiều. Phải luôn luôn nhắc nhở mình về vô thường để cố gắng tu học.

Khi có suy nghĩ “hôm nay bỏ nghe pháp để ngay mai nghe cũng được”; “hôm nay bỏ ngồi thiền để ngày mai ngồi cũng chẳng sau”; “hôm nay nghỉ ngơi để ngày mai học cũng kịp” thì chúng ta phải lập tức dập tắt những ý hành này. Vì có thể một giây lát sau là mình có thể ngả ra chết; có thể bị xe đụng; có thể bị tai biến, đột quỵ, lên tăng xông; có thể biết mình bị bệnh nan y, dịch bệnh, ung thư giai đoạn cuối; thậm chí một lát sau là có thể sóng thần, động đất, nhà sập, chiến tranh…

Cho nên, không có một giây phút nào là yên ổn, nhìn sâu hơn ta sẽ thấy thọ, tưởng, hành, thức luôn chạy trong vô minh, khát ái, chạy trong ngu si, trong bóng đêm để rồi té sưng đầu mẻ trán, lọt xuống hố xuống hầm. Chúng phải cần có đèn pin, cần có ánh sáng, cần có ngọn đèn, cần có mặt trời. Khi thấy được những thứ đang chìm nổi trong bóng đêm là lúc chúng ta bắt đầu có ánh sáng. Lúc đó, phải diệt tận tất cả những tư tưởng cho rằng “đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi; sau khi chết tôi sẽ thường hằng, thường còn, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ như thế này mãi mãi”. Hơn thế nữa, chúng ta không chỉ diệt những tư tưởng về thường còn sau khi chết; mà còn phải diệt những tư tưởng về thường còn trong tương lai, diệt luôn tư tưởng này ngay trong hiện tại và cả trong quá khứ. Như vậy là phá thân kiến, phá kiến chấp về thân, phá nhìn nhận sai lầm về đống thịt thối này.

Trí tuệ của Đa văn Thánh đệ tử

Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem cảm thọ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem tưởng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem các hành: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi", xem như vậy là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Vị Đa văn Thánh đệ tử yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân xem các sắc pháp, thân này, cảnh vật, đồ vật, trời đất này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi; xem mọi cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức không có gì là tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Những gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được nhận thức, được đạt tới, được tìm cầu, được suy tư cũng không xem đó là mình, là của mình. Nhĩ thức, nhãn thức còn không phải là mình, là của mình thì huống hồ gì là đối tượng của những cái thấy, cái nghe. Cho nên, phải loại bỏ quan điểm về tôi, về của tôi trong từng cái thấy, cái nghe, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức; những thứ tìm cầu cũng không phải tôi, không phải của tôi.

Ví dụ, khi suy nghĩ muốn có một thứ gì đó, nếu có sự nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì chúng ta thấy rằng ý muốn đó không phải là mình, mà đó chỉ là hành uẩn; đối tượng mình hướng đến cũng không phải của mình, tất cả đều là vô thường, sanh diệt. Khi nhận diện được ngũ uẩn như vậy là chúng ta phá tan được cả hai phương diện: sự mong muốn và đối tượng mong muốn, nhờ vậy thoát ra được sự trói buộc đó, như trăng thoát khỏi mây. Cho nên, khi có sự nhận diện ngũ uẩn sắc bén thì chúng ta vượt ra khỏi căn, trần, thức một cách mạnh mẽ, được trú trong trí tuệ. Ngược lại, nếu không biết nhận diện ngũ uẩn, không có trí tuệ sắc bén, tinh vi là mình nhập cuộc với những thọ, tưởng, hành của vô minh rồi buồn đau, khổ sầu, sân hận, tham ái, hơn thua.

Chúng ta phải tụng niệm, ghi nhớ câu “cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi” như trước đây mình trì chú Vãng Sanh, chú Đại Bi, niệm A Di Đà Phật vậy. Sáng, trưa, chiều, tối cứ niệm câu này; gặp bất cứ cái gì cũng nhắc nhở như vậy. Chẳng hạn, một cảm thọ sân giận sanh khởi thì tác ý rằng: “Cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, ngươi hãy tan biến đi”. Chúng ta hãy lấy câu này làm Thánh chỉ – ý chỉ của bậc Thánh; Pháp chỉ – chiếu chỉ của giáo pháp; tối thượng chỉ – ý chỉ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Khi Thánh chỉ này được tuyên đọc lên là tất cả tà ma, rác bẩn cứng đầu, ngang bướm trong tâm đều hoảng sợ mà chạy mất.

Bất cứ chỗ nào vị Đa văn Thánh đệ tử thấy đều xem đó không là mình, không xem mình là thường hằng, thường trú, không xem mình là không chuyển biến, không xem mình là mãi mãi. Vị này biết mình là đổi thay, vô thường, tan hoại, hoại diệt. Nhìn điều gì cũng thấy sự tan thương, vô thường, biến hoại, hoại diệt. Bằng một trí tuệ thâm sâu, người này nhìn một bông hoa tươi thắm cũng thấy được sự héo tàn; nhìn một người trẻ tuổi thấy được cái già; nhìn những người có địa vị, chức quyền thấy được sự tranh giành lẫn nhau; nhìn một người đang cười cũng thấy sự khổ đang có mặt, vì họ đang bị dục chi phối, buông lung phóng dật, làm nô lệ cho ngũ uẩn.

Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn.

Đoạn kinh này Đức Phật dạy cách quán sát cách nhìn đối với mọi sự vật giả dối, nhờ vậy chúng ta không còn lo âu, phiền muộn, có được bình an, an lạc, an tịnh, an ổn, an lành, an vui. Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy những thứ khổ nhiều, buồn đau nhiều, lo lắng nhiều, nguy hiểm nhiều, tai họa nhiều, từ đó học được cách sống không có lo âu, không có phiền muộn, được an ổn, an bình, an lành, an vui. Những lời kinh tối thượng này chúng ta không học, không thực hành thì còn tìm kiếm điều gì nữa! Vì vậy, mỗi một ngày chúng ta phải chiêm nghiệm càng nhiều càng tốt, nghe pháp càng nhiều càng tốt. Nghe thật nhiều để huân tập trí tuệ cho thật sâu sắc. Mỗi lần ngồi lại nghe pháp, học pháp là mỗi một lần chúng ta được sống với Thánh trí, hoặc ít nhất là chúng ta cũng sống với thiện pháp. Chỉ cần ngồi yên nghe pháp là thọ, tưởng, hành, thức của chúng ta được vận hành trong Thánh Pháp, Thánh trí tuệ. Đó là lí do Minh Thành thường cho đại chúng pháp đàm, chia sẻ tâm đắc tu học, chia nhóm tu học, với mong muốn giúp mọi người được phấn khởi, hân hoan, được an trú trong thiện pháp, trong Thánh Pháp, trong Thánh trí tuệ càng nhiều càng tốt. Vì lúc bình thường chúng ta không an trú nhiều trong pháp mà lại sống trong bất khổ bất lạc thọ; sống trong cái lạc của buông lung, buông thả, buông trôi, buông xuôi; sống trong sầu, bi, khổ, ưu, não, sân hận, buồn phiền, hờn, trách; sống trong năm triền cái…

Cho nên, chúng ta phải trú pháp càng nhiều càng tốt, quý thầy cô dẫn chúng cần ghi nhớ điều này và khéo léo, thiện xảo tổ chức tu học. Thấy không khí trầm buồn thì tổ chức pháp đàm cho hân hoan, phấn khởi. Thấy thời tiết lạnh thì cho lạy Sám Hối Diệt Ngã, Đảnh lễ Đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất… đọc mỗi câu thì lạy một lạy để đốt lên ngọn lửa sưởi ấm cho mọi người. Chúng ta phải khéo léo trong cách thức, nghi thức tu học. Quý thầy cô có trách nhiệm nếu thấy đại chúng có chút giải đãi thì sách tấn tu học; đồng thời đại chúng thấy quý thầy lớn đã lâu không tổ chức chương trình tu học thì phải thưa gửi, xin được tu học. Thậm chí nếu quý thầy bận việc hoặc phải nhập thất thì quý cô có thể tự tổ chức tu học ở Ni xá, Vân Thủy Đường, Tăng xá hoặc trả bài nhau tại vườn trúc, bãi đất trống; không phải đợi đến lúc Minh Thành nhắc thì mới làm. Vì Minh Thành thường đi công việc, không phải lúc nào cũng ở nhà, mọi người có thể tự tổ chức tu học với nhau và ghi âm để nghe lại; đồng thời những tư liệu đó sẽ được những người tu học sau này làm thành kỷ yếu tu hành của đạo tràng Nikāya. Ngày xưa các bậc Thánh phải học thuộc lòng để lưu giữ lại, còn chúng ta chỉ cần bấm nút ghi âm là được. Đây cũng là cách hộ trì pháp, giữ gìn pháp, lưu bố pháp, “y cứ pháp, cung kính pháp, kính trọng pháp, tôn kính pháp, lấy pháp làm tràng phan, lấy pháp làm cờ xí, lấy pháp làm tối thắng”.

Lo âu và không lo âu

Đối với bên ngoài

Sau khi nghe Thế Tôn thuyết: “Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn”, một vị Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

-- Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người nghĩ như sau: "Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy". Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy, có cái không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu, phiền muộn.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đức Thế Tôn dạy, ai quán sát không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi thì vị này đối với tất cả những sự vật không có thật sẽ không còn lo âu, phiền muộn. Vì khi biết rằng không có gì là mình, không có gì là của mình thì không có gì để lo âu nữa.

Người không biết quán sát theo trí tuệ trên thì họ có thể lo âu, phiền muộn vì những thứ không có thật. Bởi lẽ, họ cho rằng những thứ từng là của họ, bây giờ bị mất đi; hoặc họ cho rằng một thứ gì đó rõ ràng là của họ, những vật đáng yêu, thích thú, yêu quý, cất giữ nhưng bây giờ họ không có được, bị người khác lấy đi, bị hư hoại… vì có những suy nghĩ như vậy nên họ sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người này đau khổ, thậm chí ngất xỉu bởi vì họ cho rằng “cái là của tôi mà giờ bị lấy mất”, “cái này là của tôi mà giờ bị cướp”, “cái này là của tôi mà giờ không còn nữa”.

Sau đó, thầy Tỳ-kheo tiếp tục hỏi:

-- Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể không gây lo âu phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

-- Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người không nghĩ như sau: "Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy". Người đó không sầu muộn, than vãn, khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Như vậy, này Tỷ-kheo, có cái không thực có ở ngoài, không gây lo âu phiền muộn.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Nhờ không nghĩ là mình, là của mình nên một thứ gì đó có mất đi thì người này không buồn đau, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không ngất xỉu.

Khi được hỏi bất cứ điều gì, Thế Tôn đều trả lời sâu vào trọng tâm câu hỏi, đưa mọi vấn đề trở về lõi của pháp, cụ thể ở đây là đưa tất cả trở về vô ngã, câu trả lời của Ngài giúp cho người nghe được giác ngộ, sáng trí, bừng tỉnh

Còn chúng ta, có khi nói một lúc là diễn đi rất xa, chia sẻ pháp một hồi không biết nói về đâu; trình pháp thật nhiều nhưng không biết mình đang nói điều gì, có khi được hỏi cái này lại trình cái khác. Thậm chí, có người còn kể về cả cuộc đời, từ nhỏ đến lớn, gia đình, chồng con đau khổ thế nào, sau đó tìm pháp ra sao rồi sau đó mới trình pháp. Nếu là buổi pháp đàm thì có thể chia sẻ như vậy; còn ngay khi trình pháp, được hỏi thọ, tưởng, hành lúc ngồi thiền thế nào thì chỉ nhận diện và trình bày thọ, tưởng, hành lúc đó là đủ. Cho nên, đạo tràng Nikāya cần lưu ý, khi được mời trình pháp thì chỉ trình bày thọ, tưởng, hành ngay lúc nghe pháp hoặc lúc ngồi thiền đó. Còn khi pháp đàm, được mời phát biểu cảm cảm nhận tu học thì quý vị được chia sẻ nhiều hơn, vì vậy, phải tùy chỗ, hợp thời mà chia sẻ. Hơn nữa, phải chánh niệm khi trình pháp hoặc chia sẻ, bằng không, nói một chút là chìm hoàn toàn vào những cảm xúc. Trong khi Chánh Pháp là đánh thẳng vào thân kiến, mà trình pháp lại đưa toàn thân kiến vào, đắm chìm trong quá khứ, đặc biệt là các vị lớn tuổi thường mắc phải điều này.

Như vậy, qua hai câu hỏi trên, Đức Thế Tôn dạy rằng, đối với những thứ bên ngoài, người nào xem đó là tôi, là của tôi thì người này sẽ lo âu, phiền muộn; ngược lại, khi thấy được vô ngã, không có tôi, không có của tôi thì người này không lo âu, phiền muộn. Chúng ta thấy rằng, thầy Tỳ-kheo hỏi câu nào là Đức Phật trả câu đó, không hơn không bớt, hỏi thế nào thì Đức Phật đều đưa về vô ngã.

Đối với bên trong

Thầy Tỳ-kheo đặt câu hỏi cũng rất độc đáo. Sau khi đưa ra hai câu hỏi về những thứ bên ngoài, vị này tiếp tục hỏi về bên trong:

-- Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong, có thể gây ra lo âu phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

-- Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người có (tà) kiến như sau: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú không biến chuyển. Tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi". Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Người đó có thể nghĩ như sau: "Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại". Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Có nhiều người với tà kiến cho rằng “có tôi, có của tôi, tôi vẫn thường còn hoài, không biến chuyển”. Nhưng khi nghe lời Đức Phật hoặc đệ tử của Đức Phật tuyên thuyết để phá trừ chỗ thấy đó, phá trừ thiên chấp, kiến chấp, thiên kiến, tùy miên, chấp thủ cho rằng có tôi, có của tôi, nghe giảng về sự từ bỏ sanh y, diệt trừ khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn thì người này buồn rầu, lo lắng. Vì họ cho rằng tu như vậy là đến chỗ chấm dứt, không còn gì nữa, không còn cái tôi, cái của tôi nữa; người này lo âu vì muốn bảo vệ cái ngã, muốn có cái mình. Còn Đức Phật thuyết giảng về sự từ bỏ sanh y, từ bỏ chỗ nương tựa tái sanh, chấm dứt, thoát khỏi ngũ uẩn thì người này lo âu phiền muộn, vì mất cái tôi, không còn có mình, có của mình nữa. Người này còn muốn có “mình” để còn thương yêu, ưa thích; muốn còn có “mình” để thấy bản ngã được giỏi, được cao hơn người khác. Bây giờ diệt hết tất cả thì người này buồn vì sợ mất “mình”.

Nhiều vị hỏi tu đến chỗ từ bỏ ngũ uẩn thì mình đi đâu? Câu hỏi này giống như đoạn kinh trên, người này lo lắng, sợ không còn cái mình nữa. Trong khi chúng ta tu là để đạt đến chỗ không có cái mình nữa; nhưng khi nghe phương pháp để thoát khỏi cái mình thì người này sợ mất đi ngũ uẩn.

---

-- Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

-- Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người không có (tà) kiến như sau: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi". Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy không nghĩ như sau: "Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại". Vị ấy không sầu muộn, than vãn, khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Khi nắm được yếu nghĩa cốt lõi của kinh tạng, việc nghiên cứu kinh tạng sẽ rất sâu sắc. Câu kinh “sự tịnh chỉ mọi hành động” trong một số bản kinh khác được dịch sáng nghĩa hơn là “sự tịnh chỉ các hành”, trong đó, từ “các hành” có nghĩa rất rộng, không phải chỉ là hành động bình thường của tay chân. “Sự tịnh chỉ các hành”, tức là sự dừng lại đối với các hành; “các hành” ở đây gồm sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành – sự vận hành của ngũ uẩn, động cơ bên trong sự vận hành này là vô minh, khát ái, tham, sân, si, bản ngã. Như vậy, sự tịnh chỉ các hành tức là sự dập tắt tất cả vô minh, tham ái đối với năm uẩn. “Sự từ bỏ mọi sanh y” nghĩa là từ bỏ mọi chỗ y cứ đưa đến tái sanh, thọ sanh, sanh khởi; từ bỏ mọi chỗ dựa để sanh ra một đời sống tiếp tục. Bạt trừ “Tùy miên” là diệt trừ những thứ đi theo ta miên man tham tùy miên, sân tùy miên, si tùy miên, vô minh tùy miên, kiết sử tùy miên… Từ bỏ những cố chấp, thiên chấp; tức là không còn cứng đầu, nắm chắc, ghì chặt, không chịu buông những tà kiến sai lầm nữa. Có người dù biết mình làm điều đó là sai nhưng cũng không chấp nhận mình sai, dù trong tâm biết rằng mình sai nhưng vẫn cứng đầu không nhận, hoặc bao biện, ngụy biện, đổ thừa người khác, cho rằng vì người kia nên kết quả mới như vậy, nếu không thì mình đã không sai… Những từ trong kinh tạng rất thâm sâu, cần nghiên cứu, chiêm nghiệm thật kỹ thì mới thật sự hiểu được.

Như vậy, lúc đầu người này cũng có tà kiến chấp thường, chấp ngã như vậy nhưng người này chấp nhận nghe Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai thuyết pháp về sự diệt trừ những thiên kiến, kiến chấp, sai lầm, thấy biết nghiêng lệch, từ bỏ những cố chấp, thiên chấp, từ đó sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn và người này không sầu muộn mà hoan hỷ, chấp nhận. Đây được gọi là người không lo âu, phiền muộn đối với những thứ không thật ở bên trong.

---

Tóm lại, đoạn kinh trên có nghĩa là, những thứ bên ngoài bao gồm đồ vật, cảnh vật, nhà cửa, những món đồ yêu quý, người thân, người thương… cùng với thân xác này là những thứ không có thật bên ngoài nhưng làm chúng sanh buồn đau, khổ sầu vì họ không thành tựu trí tuệ vô ngã “không có gì là tôi, không có gì là của tôi”. Những người này cho rằng những đồ vật, cảnh vật, nhà cửa, thân xác, những người thân sẽ như vậy hoài; nếu chúng biến đổi người này sẽ lo âu, khổ sầu. Ngược lại, nếu người này biết bản chất của những thứ đó là biến hoại, thay đổi thì khi nó biến đổi, người này sẽ không đau khổ.

Còn những thứ bên trong là những tư tưởng, suy nghĩ, quan điểm, cách nhìn nhận, những thứ yêu thích, thèm muốn những cảm giác, nghĩ, tưởng cho rằng thật sự có “tôi”, có “của tôi” … Tất cả những thứ này là cái giả dối ở bên trong. Khi nghe được Thánh Pháp của Đức Phật, thuyết về sự thật của những thứ bên trong là trống rỗng để chấm dứt nó thì một hạng người lo sợ vì sợ không còn “mình” nữa; một hạng người lại hoan hỷ vì tìm được đạo lộ xuất ly, giải thoát.

---

(Vô thường và vô ngã)

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nắm giữ một vật sở hữu gì, và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không? Chư Tỷ-kheo, các Ông có thể thấy một vật sở hữu nào được nắm giữ và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không?

-- Bạch Thế Tôn, không.

-- Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một vật sở hữu được nắm giữ nào, mà vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đức Phật bằng tất cả tấm lòng, dạt dào tình thương, tràn đầy lòng bi mẫn để dạy cho đệ tử thấy rằng không ai có thể nắm giữ bất cứ cái gì là thường còn, thường trú, vĩnh hằng, mãi mãi; không có thứ gì là không đổi thay, không tan hoại. Đây là tấm lòng của một người mẹ, bằng một tình thương một tình thương dạt dào, bao la, không bờ bến dạy cho con mình. Khi đọc những lời này, chúng ta thấy được tấm lòng của Đức Thế Tôn dành chúng sanh, Ngài thương chúng Tỷ-kheo, Ngài thương tất cả chúng ta cho đến tận bây giờ. Cho nên, Ngài vận dụng tất cả phương tiện, cách thức để dạy dỗ, giúp chúng ta thấm được Thánh trí tuệ của sự thật. Vì vậy, chúng ta phải nghiền ngẫm, chiêm nghiệm thật sâu sắc những lời dạy này và đừng bao giờ quên.

./.