Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Soi Gương Rửa Mặt - Kinh Tổn Giảm 3

2026-03-03 00:54:27
Soi Gương Rửa Mặt

Kinh Tổn Giảm 3

Thích Minh Thành

Ngày 18 tháng 04 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Niệm tử PAGEREF _Toc102546490 \h 1

II. Nhắc nhở tu tập – kinh Tổn Giảm PAGEREF _Toc102546491 \h 2

I. Niệm tử

Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân.

Nội tâm tỉnh giác nhìn thấy rõ những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác ở bên trong.

Kính thưa các bậc hiền trí, hôm nay là buổi học cuối chúng ta vào an cư kiết hạ. Riêng môn của Minh Thành, ngày 7/4 còn một buổi nữa nên hôm nay có khả năng là gần cuối hay cuối. Chúng ta phải luôn luôn niệm tử, có thể sau nữa chúng ta về không tới chùa, người nào còn chưa tin được điều này là còn đứng xa với pháp. Chúng ta thấy các tai nạn giao thông xảy ra, người gặp nạn có biết trước được không? Hay các tai nạn hàng không xảy ra họ cũng không biết trước được.

Nên Minh Thành đã giải thích vô thường hay tứ đột gồm đột ngột, đột biến, đột quỵ và đột tử. Chúng ta học về pháp nhưng chúng ta không tin lời Phật dạy. Ví như khi nãy vừa nói không biết mình có về tới chùa được không là ở dưới mình rầm rộ lên, tức là bên trong mình không chấp nhận pháp. Dù bất cứ lúc nào và ở đâu, tử vong hay tai nạn đều có thể xảy ra một cách bất thình lình, những thảm họa có thể xảy ra. Nếu mình chưa tin được điều đó thì sự học Phật của mình còn xa lắm. Dù mình học thêm mười năm nữa thì cũng chỉ ở ngoài cổng chùa thôi, phải tập cho mình ở trong tư thế sẵn sàng mọi lúc mọi nơi để chấp nhận cái đột ngột vô thường xảy đến. Đó là trí về vô thường.

Mình học vô thường nhưng trong tư tưởng mình chưa chấp nhận được vô thường thì khi sự việc vô thường đến thì làm sao mình chịu nổi?

Như Minh Thành vừa nói với các cô, là có thể chiều nay chúng ta không về đến chùa thì ngay trong tâm mình suy nghĩ mình không chấp nhận. Lời nói ra là mình nhốn nháo lên hết và mình thấy đây như lời nói chơi, nói đùa. Không phải vậy, trong con mắt của người học Phật là mọi lúc mọi nơi, mọi thời, mọi chốn chuẩn bị và sửa soạn.

Bất thình lình tai họa, tật bệnh, chết chóc xảy ra. Đó là vô thường trí. Mức độ chấp nhận và thấy biết của mình về vấn đề này nó ở mức độ nào thì trí huệ của mình thành tựu ở mức độ đó. Nếu mình còn chưa tin, chừng nào mình thấy cảnh tai nạn văng tung tóe, bầy nhầy một đống thì lúc đó mình mới thấy là vô thường thì lúc đó gọi là tri kiến của phàm phu, không phải là Đa văn Thánh đệ tử.

II. Nhắc nhở tu tập – kinh Tổn Giảm

Chúng ta phải thiền quán, không phải chỉ học trên lý thuyết, đặc biệt là trong giờ của Minh Thành là học với trạng thái của thiền quán, thiền tập. Học và thực hành cùng một lúc, không phải chỉ vào đó là kiến thức suông, không dính dáng về cuộc sống của mình, hay chỉ học tri thức, chữ nghĩa mà đời sống của mình thì mèo vẫn hoàn mèo. Sự thấy biết của phàm phu, của vô minh, sự chấp thủ trong năm uẩn này vẫn y nguyên như cũ thì đó không được gọi là học Phật, đó chỉ là học chữ nghĩa, kiến thức.

Vì vậy, Minh Thành mong các cô, trong giờ của Minh Thành là học và thực hành ngay tại chỗ và biến phòng học này trở thành thiền đường. Dù không biết nhân duyên của chúng ta còn bao lâu, tùy vào duyên chúng ta, Minh Thành đã giã từ hai lớp tăng cao đẳng và trung cấp vì họ không chịu học.

Chúng ta thấy, lúc gần cuối Minh Thành có những điều tâm sự với các bậc hiền trí, xuất sĩ, xuất gia, các bậc đồng phạm hạnh về chất lượng người xuất gia bây giờ đáng báo động nên khi Minh Thành vào lớp gặp các cô trang nghiêm thanh tịnh thì Minh Thành rất hoan hỷ, vui trong lòng, còn khi gặp những người buông lung phóng dật thì rất buồn, không nói ra vì quên mình là người tu.

Mình là người tu thì mình có nhớ mình là người tu không? Nếu căn bản đó mình không nhớ được thì làm sao mình nói tới hiền thánh, Phật quả? Khi mình ngồi thì mình có nhớ đây là dáng ngồi của người tu không? Một người tu đang ngồi, một người xuất gia đang ngồi, khi mình đi thì mình có nhớ một người tu đang đi không? Khi mình nói chuyện, ứng xử thì mình có biết đây là nói chuyện của một người xuất sĩ? Hay là mình nói theo phàm phu, thói quen, tập khí, vô minh, bản ngã, phàm tục, thấp kém, hèn hạ của thế gian, nói qua nói lại rồi lại thị phi, hờn giận? Vậy là mình không có niệm oai nghi, niệm hành động.

Không cần học cho nhiều kiến thức, không cần bằng cấp cho cao, học được lõi của giáo pháp và đời sống của mình tương ứng. Mình phải thường ưu tư, trầm tư, suy tư về đời sống xuất gia của mình. Mình phải thường lo lắng, ray rứt, bứt rứt đối với những ác bất thiện pháp mà mình chưa diệt tận, tẩy sạch được. Mình phải thấy xấu hổ với những tập khí, với những thói quen phàm tục mà mình chưa bỏ được, rũ bỏ được, vứt bỏ được.

Chúng ta nên về nghe bài Nhục nhã sanh Thánh quả, hãy nghe thật kĩ bài đó, câu đó là tinh hoa của tạng kinh Nikāya – nhục nhã sanh Thánh quả - tức là tàm quý. Một người tu mà không thấy xấu hổ đối với tham, sân, si, đối với buông lung phóng dật thì người đó chưa phải là người tu, đúng nghĩa một người tu theo tiêu chuẩn của Đức Thế Tôn. Một người tu thật sự là lúc nào cũng nhìn lại và thấy mình xấu hổ vì trong lòng mình còn tham như chúng ta đang học bài kinh Tổn giảm.

“Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Nếu ta nhìn lại nội tâm, ta nhìn lại những lời nói, hành vi của ta mà ta thấy là ta còn nhiều tham muốn quá, còn nhiều đòi hỏi, còn nhiều ưa thích quá thì ta thấy ta xấu hổ, nhục nhã. Giờ ta sống nhiều với tâm không sân hay là ta sống nhiều với tâm sân hận, bức xúc, bực bội?

Khi mình còn năm triền cái này là mình còn xấu hổ, nhục nhã, lo lắng, sợ hãi, bất an, còn ưu tư, trằn trọc, thao thức, day dứt thì mới được. Còn giờ tu mà vẫn trơ trơ, dù sai quấy, lỗi lầm nhiều khi được thầy, bậc giáo thọ nhắc nhở còn phản ứng, chống đối, sân hận thì đó không phải tâm của người tu. Nên trong đạo tràng Nikāya và Minh Thành đang thực tập tâm hiền trí suốt ba tháng trời và trình pháp liên tục, thực tập tâm hiền. Minh Thành giờ cũng đang thực tập tâm hiền.

Tâm hiền là gì? Là lời nói, cử chỉ, hành vi, suy nghĩ của mình luôn hướng về sự hiền thiện, hiền lành, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền từ, hiền trí để mình mới tiến tới bậc Hiền Thánh. Mình kéo cái bàn một tiếng rầm là không hiền, mình nói chuyện mà giọng bức xúc, sân hận lên là không hiền, ánh mắt mình nhìn ngó nghiêng ngó dọc là không hiền, bước đi lẹp xẹp đánh đằng xa thì đó không phải là bước đi của bậc hiền trí.

Nhất cử nhất động của mình phải được kiểm soát trong sự chánh niệm tỉnh giác, niệm oai nghi, niệm hành động. Mình thỉnh chuông mà nghe tiếng “rổn” thì cũng không là hiền. Có nhiều người đánh chuông nghe qua đến hết hồn. Vì thường muốn thỉnh chuông thì trước tiên mình phải chập vài tiếng để người khác biết, sau đó là mình thỉnh chuông, khi tiếng chuông ngân gần hết thì mới tới tiếng chuông thứ hai. Không thể đánh liên tục vì đó là tâm cẩu thả, tâm không cung kính, đánh trong sự thúc giục, nên tu càng sâu sắc thì càng nhỏ nhiễm, càng vi tế, mình nhìn thì có thể thấy được tâm ngũ uẩn đang vận hành của người đó và của chính mình.

Khi mình thỉnh chuông phải thỉnh nhẹ nhàng trước để người ta biết là chuẩn bị có tiếng chuông, nhưng nhiều lúc người khác đang làm gì mà bất thình lình nghe thì giật mình. Nên đánh từ tốn, lắng nghe tiếng chuông ngân rồi mới tới tiếng chuông thứ hai, ở khoảng giữa có lặng để tới tiếng thứ ba là tiếng kết thúc cuối cùng.

Qua đó, chúng ta thấy sự tu tập không đơn giản chút nào, nếu không để tâm, không muốn một cách mạnh mẽ để thay đổi chính mình, chấp nhận con người hiện tại của mình, một con người phàm phu, tục tử, vô minh, buông lung, phóng dật, tham, sân, si, bản ngã, chấp nhận một đời sống hèn hạ, thấp kém, si mê thì làm sao mình có thể tăng thượng trong giới đức thiền định, trí tuệ được? Mình không chấp nhận con người hiện tại của mình, mình không chấp nhận sự buông lung phóng dật, sự cẩu thả, thả lỏng các căn, mình không chấp nhận và mỗi lần thấy vậy là mình về lạy sám hối, mình quở trách thân tâm của mình rồi mình cảm thấy xấu hổ, nhục nhã.

Chúng ta thấy tu như vậy dễ hay khó? Không đơn giản chút nào. Giờ chúng ta tu thì chúng ta lấy hai thời khóa tụng đó, đó không phải của Đức Phật. Ngọc Lâm quốc sư đời Thanh bên Tàu soạn ra. Đức Phật đã dạy rất kĩ, từng chút một, chúng ta đọc kinh Tứ niệm xứ phần niệm thân, đọc thật kĩ, khi đi phải biết rõ mình đang đi, khi đứng phải biết rõ mình đang đứng, khi ngồi, nằm, co tay, duỗi chân, khi đại, tiểu tiện, khi đắp y, khi ôm bát, khi thức, khi ngủ, nói, im lặng… Đều phải rõ biết việc mình đang làm.

Giờ chúng ta tu học thì không chịu khó trong nền tảng căn bản của đức hạnh một người tu mà chúng ta muốn ăn to, nói lớn, học những nghĩa lý thâm sâu, to lớn nhưng nền móng không có. Như chưa học bò đã học chạy, đi chưa vững đã tập, đòi lái máy bay. Nên cách học bây giờ bị hỏng ở căn bản, là đức hạnh, phẩm chất, đạo đức của một người tu không có, từ căn bản đó. Phẩm chất là đi, đứng, ngồi, nằm, cử chỉ, lời nói, hành động, oai nghi của mình, tất cả đều phải kiểm soát, quản lý, tu chỉnh, tu sửa.

Giờ có được mấy vị thầy hướng dẫn cho đệ tử và mấy người đệ tử mà chịu học? Nếu như ở trong trường Phật học không giảng dạy, hướng dẫn cái này thì ở đâu dạy? Khi mình tốt nghiệp ra trường, mình cầm một tờ giấy bằng một số kiến thức Phật học thì như vậy cư sĩ cũng giảng được? Giờ có rất nhiều cư sĩ còn giỏi hơn người tu.

Vậy nên, bài kinh này rất quan trọng, bài kinh Soi gương rửa mặt. Xem lại năm triền cái xem có sống nhiều với hôn trầm không? Với trạo cử, lăn xăn, buông thả, phóng dật. Thật sự tu rất nhỏ nhiễm, tu từ dáng ngồi trong lớp học, mình có để ý dáng ngồi của mình không? Ngồi như thế nào, khi mình chắp tay, khi xá, lạy thì phải làm như thế nào? Không phải ai sao mình cũng vậy, thấy ai lạy thì mình cũng lạy, cúi xuống. Đó là máy móc, hình thức, chúng ta phải để ý học, học rất nhiều. Chỉ một tiếng chuông reo tan lớp thì lúc đó nhìn ra được đức hạnh của từng người tu, khi ăn cơm mới nhìn ra được đức hạnh của người tu, chính lúc đó là nhìn ra được bản chất thật của họ, quán chiếu và phải hết sức sâu sắc, để tâm thật nhiều vào sự tu của mình, không phải chỉ cạo đầu, đắp y lên là xong.

Giờ có những người giả tu rất nhiều, họ cạo đầu, khoác y rồi đi xin tiền, nếu mình tu không khéo cũng sẽ giống vậy, đừng nghĩ những người đó là giả tu còn mình tu thật. Nếu không có thật tâm, tha thiết để diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã, nếu không có dóc lòng ưu tư trong sự thành tựu tăng thượng giới đức thiền định và trí tuệ mà lại mượn hình thức này để chạy theo địa vị, danh lợi, lợi dưỡng thì đó cũng là tu giả, không phải là chơn tu. Đừng nghĩ là nhìn “Những người đó là tu giả, phạm pháp còn mình đây là tu thật, đúng pháp!” Tu thật là những vị Bốn đôi tám chúng hiền thánh của Đức Phật, tức từ Hướng dự lưu tới A-la-hán quả mới là những bậc chân tu. Còn chưa tham dự vào Bốn đôi tám chúng hiền thánh đó thì sự tu của chúng ta chưa phải là chân xác, chân thật, chân chánh.

Chúng ta có nhìn lại nội tâm của mình và thấy là tâm của mình thật sự là hoàn toàn chánh trực không? Tâm mình có dối trá không? Như vậy thì chưa gọi là chân tu, chân nhân. Người thiệt cũng có nghĩa là bậc chân tu, giờ đa số lại là người giả, tu cũng giả, thấy hình thức như vậy nhưng khi đụng vào thì tham, sân, si, bản ngã ngút trời mây. Như vậy không phải là bậc chân tu, vì vừa đụng vào gì cũng tham lam, chạm tới thôi là phẫn nộ, phừng phựt lên.

Chúng ta thấy tham, sân, si, tùy miên, hôn trầm, trạo cử, nghi ngờ, năm triền cái còn quấn quanh thân, buộc chặt tâm. Vậy nhưng lại không biết lo lắng, sợ hãi, xấu hổ, không ưu tư, ray rứt, không thao thức, trăn trở. Chúng ta nên về nghe bài “Với khổ với ưu nước mắt đầy mặt”, đó là câu kinh, sau khi nghe thì quý thầy, quý cô đều nước mắt đầy mặt. Khóc là vì lo lắng cho các ác bất thiện pháp, phiền não, tham sân si, bản ngã còn trong người mình.

Các vị chân tu thường hay thao thức, trăn trở, buồn rầu vì công việc làm chưa xong, còn mình nhiều khi lại bỏ phế luôn phận sự của người xuất gia, lấy những hình thức bên ngoài làm sự nghiệp mà quên đi trọng trách, trọng tâm, trọng điểm, trọng yếu quan trọng nhất của người tu là diệt tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Không lo cái đó mà cứ lo bề ngoài, cứ tô bồi trên sắc uẩn này, lấy đó làm công phu, thành tựu, thành công, lấy đó làm thành quả, thành tích.

Trong khi Đức Phật dạy mình trong bài kinh Lõi cây ra sao? Từ vỏ cây là giới hạnh, sau đó vào giác cây, thiền định rồi đi vào lõi cây là trí tuệ. Trí tuệ ở đây không phải là trí tuệ thông thường chúng ta học ở đây mà là tri kiến của bậc Thánh, Thánh tri kiến.

Thánh tri kiến tức là mình tin chắc một trăm phần trăm và luôn luôn trong lòng mình nhớ rằng bất cứ lúc nào mình cũng có thể xảy ra tai nạn, chết chóc, bệnh tật. Đó là một góc độ của Thánh tri kiến. Thường trú trong vô thường tưởng, luôn luôn tâm mình đặt vào trong tình trạng vô thường của ngũ uẩn, của đời sống này, của thân xác này, đó là tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết.

Tri kiến phàm phu của mình là nay đi học, mai đi học, tuần sau đi học, năm sau đi học… rồi sau này mình ra làm này làm kia. Đó là ảo tưởng của tự ngã, sự thấy biết của phàm phu. Tri kiến của bậc Thánh là nhìn thấy ngũ uẩn này sanh diệt từng phút từng giây, từng khoảnh khắc, nhìn thấy tính chất khổ đau trong này. Tất cả thân xác đều có tính chất khổ đau, lo lắng, bất an, bệnh tật, sợ hãi trong đó, tan nát, hủy hoại và hoại diệt trong đó. Nhìn thấy tính chất vô thường, khổ, vô ngã của năm thủ uẩn nên luôn luôn thấy, luôn luôn nhớ, thường biết, không lúc nào không nhớ, thấy, biết.

Khi đó thì mình mới thành tựu được tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết của bậc Thánh. Không phải thành tựu sắc pháp, sắc uẩn, vô thường, tan hoại này, giành giựt, lo toan và bất an này.

Vậy nên bài kinh này nhắc chúng ta:

“Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có?

Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Phẫn nộ là tức giận, phừng phừng lên, chỉ chạm tới là phừng phừng, phừng phựt lên, phựt cháy lên, chứng tỏ bên trong là một đống lửa, đống củi, nhiên liệu, những đồ bắt cháy đầy rẫy trong tâm nên chạm vào là phừng lên, cháy lên.

Chúng ta tu tập tâm hiền trí, tâm từ như Đức Phật dạy: Giống như hồ nước một ngàn mét vuông, bảy ngàn, chín ngàn mét vuông, hồ nước này trong, xanh, sạch, tràn đầy tới mặt hồ. Nước vừa trong, vừa xanh, vừa sạch, vừa mát, vừa ngọt, chung quanh mặt hồ là sen nở rộ, có sắc có hương. Có một người đang lúc trưa hè nóng bức, người này mệt mỏi, khát nước và vừa đi tới thì thấy hồ nước đó vừa trong, xanh, sạch, mát, thơm, đẹp thì người này nhào xuống, được tắm mát, uống nước, giải khát cơn nhiệt não, nóng bức đó.

Đó là dạy tâm của người tu an trú trong tâm từ, quán tưởng mình giống như thân thể của mình, tâm của mình giống như một hồ nước chín ngàn mét vuông, trong, xanh, sạch, mát, thơm. Không phải tâm mình như đồ nhiên liệu, thứ bắt cháy, tu tập tâm từ như vậy.

Nếu thường quán chiếu những hình ảnh, cảm thọ như vậy, suy nghĩ như vậy thì thường tâm của chúng ta dần dần sẽ lắng dịu, mát mẻ, thanh lương, không dễ gì làm cho chúng ta nổi giận. Dù cho có bị người ta mắng chửi, chỉ trích thì cũng rất khó khăn để mình sanh khởi lên được cảm giác tức giận vì mình luôn an trú trong cảm giác thanh lương, mát mẻ, ngọt ngào giống như hồ nước chín ngàn mét vuông đó, thường trú, thường ngâm tâm mình thấm đẫm trong đó. Vậy nên rất khó làm cho mình sanh khởi lên sân hận, tức giận, phẫn nộ.

Một ngày hai mươi bốn tiếng thì chúng ta trải tâm từ được bao nhiêu tiếng? Hay như lúc nào người ta kêu thì trải, không thì thôi? Chúng ta thấy mình có tu thụ động không? Chúng ta không có vốn liếng gì cả. Nên một lời nói hay hành động trái ý, nghịch lòng, chỉ trích thì chúng ta sân hận lên ngay, vì bên trong không có gì, không có nước mát.

Chúng ta không có một chút vốn liếng, tài sản, không có chút tư lương trong bốn tâm vô lượng thì làm sao chúng ta không sân khi đối diện với những thứ đáng giận? Vậy nhưng không biết lo, giống như lục bình trôi sông, hết ngày, hết tháng, ngơ ngáo, đơ đơ ra, trôi lên thì chạy lên, trôi xuống thì chạy xuống, không thì tấp vào.

Như được kêu nhập từ bi quán một phút thì nhập, nhưng lúc đó không biết được là có nhập được một phút không. Chúng ta thấy đó chính là sự thật hiện tại.

Vậy nên nói tới đâu là có bài tới đó, về nghe lại bài Trải tâm từ để thực tập, trong đó là những cảm thọ ngọt ngào, mát mẻ, bình an trong đó, thực tập thường xuyên cho đến khi nước mắt giàn giụa đầy mặt, thấm thía, thấm đẫm, thấm đượm, từ đảnh tóc tới gót chân của mình là một cảm giác ngọt ngào, yêu thương, bi mẫn, xót xa cho chính mình và chúng sanh. Phải thực tập nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm và thực tập đến suốt đời.

Hằng ngày mình quán chiếu vô thường được bao nhiêu? Nhìn ra ngũ uẩn được bao nhiêu? Thuyết phục và chế ngự bản ngã được bao nhiêu? Hay là ai chạm tới một cái là tôi, là ta, là hơn thua, là đúng, là sai, là phải, quấy?

Bài kinh này quan trọng là dạy cho chúng ta pháp hành, tại sao chúng ta học tới ba buổi? Đây là tổng cương lĩnh, yếu chỉ, tinh hoa, cốt lõi của tạng kinh Nikāya. Ghi chép lại và về đọc tụng bài kinh, nghe tới nghe lui bài này nhiều lần, một trăm lần, ba trăm, năm trăm, một ngàn lần bài kinh này. Nghe đến khi thấm trong xương, trong não, trong tủy của mình, làm pháp hành, làm chất liệu của đời sống người xuất gia.

“Có phải ta sống nhiều với tâm không nhiễm ô? Không biết trong ta có pháp này hay không có?”

Chữ nhiễm ô này bao trùm, tâm nhiễm ô hay tâm không nhiễm ô? Thế nào là tâm nhiễm ô? Ganh tị, tật đố là tâm nhiễm ô, ích kỷ, nhỏ hẹp, gay gắt, cay cú, hơn thua, ganh tị là tâm nhiễm ô… Những tâm ác, bất thiện pháp, cấu nhiễm của mình đầy rẫy bên trong nhưng mình không thấy, vì mình không nhận diện được ngũ uẩn nên không thấy được, không biết được ngũ uẩn là gì, dù đã chỉ xong nhưng hỏi lại về ngũ uẩn lại nói nhầm tưởng qua hành. Nên chúng ta thấy vô minh rất nặng, che hết mọi thứ.

Phương pháp nhận diện ngũ uẩn không phải kẻ phàm phu bình thường mà có thể chỉ ra được mà phải là bậc tối tôn, tối thượng trong tam thiên, đại thiên thế giới và chỉ xuất hiện có một lần mới chỉ ra được phương pháp nhận diện ngũ uẩn nhưng chúng ta lại xem thường, xem qua rồi bỏ. Nhưng chúng ta lại nói là học pháp để đi cầu pháp, học pháp nhưng trong khi pháp chỉ thì mình không để tâm, không chịu chú tâm, không chịu thực tập, để ý thì chúng ta học pháp gì? Vậy thì chúng ta chỉ có thể học kiến thức, chữ nghĩa, chứ không thể học được Thánh pháp, Thánh trí tuệ.

Thánh pháp, Thánh tuệ, trí huệ của bậc Thánh là nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhìn ra được các cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế ở trong những cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta, nhìn ra được những cái đó, thấy được cái đó là chúng ta đắc pháp nhãn tịnh. Mắt pháp phải trong sáng mới thấy được cái đó, thấy được cái đó là thấy pháp, gọi là đắc pháp, kiến pháp, kiến đế. Thấy được nội tâm Năm triền cái này, tâm ô nhiễm rồi, chính sự thấy những cái đó gọi là thấy pháp, thấy sự thật, kiến đế.

Tại sao chúng ta cứ hơn thua người này, phiền não, thị phi, nói lỗi… vì mình không thấy được lỗi của mình. Một khi mình thấy được lỗi của mình thì “Ôi thật xấu hổ, nhục nhã quá, thấy tồi bại, hèn hạ quá.” Nhìn vào bên trong thấy những ham lam, hơn thua, ích kỉ, ganh tị, nhỏ mọn, cay cú, cay độc, ta đây, vênh váo, xảo trá, hư ngụy, quanh co.

Nhìn và thấy được hết các ác bất thiện pháp bên trong thì lúc đó chúng ta đi thì không dám nhìn ai, đó là từ bậc Hướng dự lưu đến Nhập lưu Thánh quả, là đi cúi xuống, không ngẩng lên. Còn người đi ngẩng lên thì hiểu được là ai không? Người càng chân tu là người đó càng cúi xuống và càng nhìn thấy được nội tâm của mình một cách đầy đủ những phương diện, khía cạnh, góc độ, về mức độ ô uế, cấu nhiễm của nội tâm.

Người còn ta đây, hơn thua, vênh váo, xem ai không ra gì là phàm phu chay, chưa thấy gì trong thân tâm của mình, nên mình học và hiểu thì mình phải thương những người đó, không ghét họ, mình thấy những con người như vậy thì mình trải tình thương, vì họ không thấy bản thân của họ nên họ mới như vậy, vì nếu họ thấy thì họ sẽ không có vậy. Và mỗi khi mình nhìn thấy mình vênh váo, bản ngã vương cao lên, ta đây thì tự nhắc “Nhục! Nhục!” Cứ đọc chữ đó mãi như thần chú.

Lúc nào trong chùa và mình ưỡn ngực lên thì phải cúi xuống, “Nhục tới! Xấu hổ tới rồi! Vô xem gương đi!” Bản ngã này giết hết tất cả chúng sanh, chúng sanh gục ngã vì bản ngã! Thế gian, thế giới này gục ngã trước bản ngã, trước cái tôi. Không phải chúng sanh gục ngã với người khác mà chính vì cái bản ngã của họ làm cho họ gục ngã, sụp đổ “Thế gian gục ngã vì bản ngã, thế gian gục ngã trong cái tôi, cái ta, hơn thua của họ.” Tất cả chúng ta đều là nạn nhân của bản ngã.

“Thương thật là thương, thương sao là thương, thương ơi là thương, thương vô cùng thương, thương không còn chỗ nào để mà nói nữa!”

Giờ chúng ta thấy thương chỗ nào? Một chú điệu mới vào chùa nửa tháng, hay một tháng, nhưng chú nhỏ sau vừa vào sau người đó thì ông ấy có bản ngã của chú điệu hay không? Hay lên thọ sa-di thì giữa huynh đệ với nhau thì có sự cao thấp, hơn thua không? Sau đó lên tới đại đức, thiên đăng giới phẩm, tài năng giới phẩm thì “Tiện xưng ngã thị Tỳ-kheo?” Hay như mới vừa thọ giới thì đã nói là “Tôi là Tỳ-kheo rồi đấy! Không phải còn nhỏ đâu!” Sau đó lên thượng tọa, hòa thượng.

Nếu tu không đúng Chánh pháp thì ngày tháng, năm và chức vị đó giết mình chết. Sự giả danh giết mình chết. Tối trước khi ngủ, giờ mình mới kiểm tra lại, tối trước khi ngủ ngồi kiểm tra lại. Tối trước khi ngủ ngồi kiểm tra lại từ ngày mình vào chùa mình quán chiếu kĩ gương mặt của mình ra sao, mình mới vào chùa cung cách của mình ra sao và giờ thì cung cách của mình ra sao? Nếu bây giờ nó thay đổi theo chiều tích cực thì “Nhục! Nhục! Tồi bại, hèn hạ, xấu xa! Bỉ ổi, đê tiện, nhục nhã! Tại sao tu mà bản ngã lại tăng cao như vậy?”

Phải dùng các từ mạnh như vậy, tác ý, cho trong này nhức nhối, đau đớn, xót xa cho chính mình, sau khi thu mình thì mình thấy được những cấu uế, ác bất thiện pháp, cấu nhiễm, tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong này rồi mình thấm thía, thấm đượm, mình thấy xấu hổ, nhục nhã, tàm quý rồi thì mình nhìn ra ngoài rồi mình mới thấy thương huynh đệ của mình, thương cha mẹ, những người ở chung mình, rộng ra thì mới thương được hữu tình vạn loại, chúng sanh. Tất cả đều là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, thì đó mới là từ bi của đạo Phật.

Không phải thương bình thường, thương là sau khi hiểu, hiểu ngũ uẩn, những cấu bẩn bên trong ngũ uẩn, hiểu sự nguy hiểm và tác hại của những cấu bẩn đó, tham, sân, si, bản ngã đó làm cho tất cả đày đọa, tàn phá tất cả thân tâm của chúng sanh.

Ví dụ một câu chuyện vừa xảy ra để chúng ta thấy được sự tàn phá của nó khủng khiếp như thế nào? Rất đau đớn, tham, sân, si, bản ngã tàn phá thế giới này, hủy hoại tất cả những tình thương trên thế gian này.

Một cậu thanh niên này là cột trụ của gia đình, bốn mươi ba tuổi, làm rất nhiều công việc để lo cho gia đình nên gia đình khá giả. Trong vùng quê đó, nhiều năm qua mọi người nhìn vào gia đình đó với ánh mắt ngưỡng mộ, cuộc sống đầy đủ, vợ chồng ít to tiếng, cả nhà luôn đầy ắp tiếng cười. “Nhưng có nằm mơ tôi cũng không nghĩ đến bi kịch như ngày hôm nay!” lời của cậu đó nói.

Đột ngột cảm thấy cơ thể của mình bị thay đổi liên tục và mệt mỏi, ăn không ngon, sút cân. Người này đi khám bệnh và xét nghiệm ra là mắc bệnh liên quan đến dạ dày nên giờ bác sĩ khuyên nên nghỉ ngơi một thời gian dài để phục hồi, cậu này dồn tiền để chữa bệnh nhiều nơi nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Từ chỗ làm ra tiền mà giờ nằm một chỗ, sức khỏe yếu dần, cảm thấy bất lực, chán nản khi nhìn các hóa đơn thuốc tiền triệu như vậy, làm cho kinh tế gia đình dần dần khó khăn. Những khoản tích góp đã chi tiêu hết cho chữa bệnh.

Và từ khi anh này bị bệnh thì người vợ có nhiều thay đổi trong cư xử khiến cho anh phải chạnh lòng. Lúc trước là làm ra tiền, hái ra tiền, trụ cột gia đình thì đối xử khác, giờ nằm một chỗ, không làm ra tiền mà còn tiêu hao hết tiền của thì người vợ đổi thái độ. Những cử chỉ, hành động của người vợ không còn tôn trọng như khi xưa nữa, nhạt nhẽo, mệt mỏi vì phải chăm sóc người bệnh hoài. Một ngày người vợ đang nằm nghỉ trưa thì cậu đó nhờ nấu thuốc, cách chỉ vài mét, vì không nghe trả lời nên cậu ta tiến lại gần giường.

Khi đó đã dồn nhiều chuyện, bất hòa, không còn tôn trọng nhau nữa, mệt mỏi khi chăm sóc người bệnh, người chồng gọi người vợ thức dậy, lời qua tiếng lại nên cầm lấy con dao đâm người vợ và gây án mạng, cô con gái mười tám tuổi vào can ngăn cũng bị bố gây thương tích. Một số người khác đến giằng co để lấy hung khí thì người đàn ông này chạy vào bếp tự lấy một con dao khác đâm vào bụng tự tử nhưng không chết.

Khi đó chủ tọa hỏi người đàn ông đó “Liệu lúc đó ông có ý thức được hành vi của ông hay không?” thì ông ta cúi mặt xuống vài chục giây rồi đáp “Lúc nhờ nấu thuốc, gọi vợ không phản hồi nên nghĩ vợ giả bộ ngủ! Và thời gian qua không làm ra tiền nên có lẽ bị cô ấy xem thường. Do căng thẳng lâu ngày, tôi không làm chủ được bản thân. Tỉnh dậy trong bệnh viện thì thấy mọi sự đã đi quá giới hạn, không thể sửa chữa được nữa.”

Hai đứa con đau khổ, không dám tiếp xúc với mọi người. Mẹ đã mất, cha phải chịu tù nhiều năm. Ở nhà hai đứa con có khi phải ăn cơm chan nước mắt, không dám tiếp xúc với mọi người, chỉ nhìn nhau khóc.

Qua đó, chúng ta thấy được tâm sân hận, bản ngã, cái tôi bị xem thường, dù lúc xưa là trụ cột gia đình, gánh vác tất cả mà giờ bị bệnh nằm một chỗ, không những không làm ra tiền mà còn tiêu tan tài sản, giờ phải trở thành phế nhân, phải chăm sóc, thuốc men, không được xem trọng, bị xúc phạm tới cái tôi, cái ta, trong đó là những cảm giác bức xúc, sân hận, bản ngã sân hận. Tất cả đã phá vỡ một gia đình đang đầm ấm, yên vui, đang yêu thương, hạnh phúc.

Vì xảy ra những việc vô thường, bất thình lình cùng với tâm sân hận và bản ngã, một người phải vô tù, một người chết, một đứa con trai, con gái phải sống trong đau khổ suốt cuộc đời.

Đưa ra câu chuyện đó để chúng ta thấy, chính bản ngã và tâm sân hủy hoại hết hạnh phúc, hết bình an, hết sự đầm ấm của cuộc đời chúng sanh, của hữu tình. Không chỉ đối với hai vợ chồng đó thôi, đừng nghĩ là mình chỉ nhìn người đó, mà mình phải nhìn vào tâm của mình để thấy rằng những cảm xúc ta tôi, hơn thua, bản ngã, những cảm giác bực bội, nóng giận, sân hận đó đã phá vỡ đi sự bình an, an ổn, sự hài hòa trong tự thân của mình hay trong chùa, đạo tràng, huynh đệ. Nó làm hại chúng sanh, hữu tình.

Giờ có một phương pháp cần phải nhận diện nữa, ngay hiện tại nghe tiếng hồi hướng bên kia là bên đây dao động. Chúng ta thấy thật sợ không? Đó là xúc sanh ra thọ, tưởng, hành. Chỉ cần nghe bên kia hồi hướng là bên đây nôn nao lên, nhận diện ngũ uẩn là nhận diện như vậy. Từng chút như vậy mới là sự tu.

Nên khi nhận diện được như vậy, thì từ từ:

“Có phải ta có được nội tâm pháp hỷ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?

Có phải ta đã được nội tâm an chỉ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?

Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có?"

(Bài kinh Tổn giảm – Phẩm Tâm của mình – Chương Mười pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 4)

Nội tâm pháp hỷ là sau khi mình dẹp được năm triền cái, những thứ ô uế tâm thì bắt đầu mình sẽ có niềm vui, pháp hỷ. Mình nhìn lại tâm mình không thấy có tham, sân, si, hôn trầm, trạo cử, phẫn nộ, ô nhiễm… Dần dần được sạch hết thì mình vui sướng, hoan hỷ, hạnh phúc, hân hoan trong tâm thanh tịnh đó.

Phải qua những pháp trước thì mới tới pháp này và khi mình hoan hỷ thì lòng của mình nhẹ nhàng, thanh tịnh nên nội tâm an chỉ. An chỉ là yên ổn dừng lặng, một nội tâm trầm lặng, an yên. Một nội tâm không thúc giục, thèm thuồng, khao khát, khát ái, tìm kiếm những gì bên ngoài, nội tâm đó là nội tâm của bậc Thánh, không còn thấy thiếu thốn, thèm thuồng, không còn thấy khao khát, không còn đòi hỏi bất cứ cái gì trong năm dục trưởng dưỡng, gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, không tìm kiếm nữa, không thèm muốn, khao khát nữa.

Một tâm nhìn lại chỉ có an yên, trầm lắng, an tịnh, lắng dịu, bất cứ ở chỗ nào, nơi đâu thì người này luôn có nội tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào trong tâm từ bi, hỷ xả. Đầu tiên là nội tâm pháp hỷ, kế đến là nội tâm an chỉ.

Có khi nào chúng ta được tâm này không? Giờ có đang thúc giục không? Phải xem lại thật kĩ bên trong, đừng phản ứng nhanh, trả lời mau. Khi được hỏi thì nhìn vào sâu trong cảm thọ, nhìn kĩ xem có hay không, nếu có thì “Dạ thưa có!” vậy mới là chân nhân. Còn nếu hỏi thì trả lời ngay là “Không!” thì coi chừng đó là trả lời trong dục, bản ngã, trong bào chữa. Đây là phân tích sâu vì còn một buổi nữa thôi là mình nghỉ ba tháng, vậy nên phải gửi tư lương này trong ba tháng để tu. Vì ba tháng saukhông biết có còn được gặp nữa hay không?

Trong lớp mình có ai đã ra đi vĩnh viễn không trở lại không? Trong mùa covid?

Cuối cùng là “Có phải ta đã có được tối thắng tuệ pháp quán? Không biết trong ta có pháp này hay không có?"

Tối thắng tuệ pháp quán là pháp quán trí tuệ thù thắng, tối thắng. Đó là quán vô thường, quán khổ, vô ngã, thấy được sự vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng của ngũ uẩn thì đó gọi là tối thắng tuệ pháp quán. Đó là mình nói tổng cương lĩnh, nếu đi sâu vào thì có rất nhiều chi tiết mà mình cần phải tu học.

Chúng ta thấy việc học kĩ, tu kĩ, thực tập cho thật kĩ. Hôm nay chúng ta đã học đến buổi thứ ba.

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.