Viễn Ly Lạc - Về Núi Yên Tu Thật Tuyệt Vời 2
Tinh Hoa Nikāya
Viễn Ly Lạc
Về Núi Yên Tu Thật Tuyệt Vời 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Viễn ly PAGEREF _Toc183018574 \h 1
II. Về núi yên tu PAGEREF _Toc183018575 \h 6
I. Viễn ly
Kính thưa chư tôn đức, các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, khi Đức Phật còn tại thế có một vị Tỳ-kheo tên là VanaVaccha, ngài sanh ra làm một người con của một Bà-la-môn rất giàu có ở thành Vương Xá, khi ngài gặp Đức Thế Tôn bậc đạo sư thì ngài sanh khởi lòng tin, sau đó ngài xuất gia và chứng Thánh quả A-la-hán. Khi đã chứng Thánh quả A-la-hán thì ngài sống trong rừng chuyên tu hạnh viễn ly cho nên ngài mới có tên theo đúng ý nghĩa đó.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một Bà-la-môn giàu có ở Ràjagaha (Vuơng Xá), được đặt tên là Vanavaccha. Ngài khởi lòng tin khi bậc Ðạo Sư hội kiến với vua Bimbisàra (Bình-sa). Sau ngài xuất gia, chứng quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, ngài sống trong rừng, thiên tu hạnh viễn ly, do vậy được gọi là Vanavaccha. Một hôm, ngài muốn giúp ích cho bà con đi đến Ràjagaha, sống trong một chỗ ở nhỏ, và nói với họ nếp sống của mình. Các bà con yêu cầu ngài dùng bài kệ này nói lên ngài ưa thích sống ở rừng núi và hành trì hạnh viễn ly:
Dưới tảng đá, băng đá
Có nước suối, trong chảy,
Có khỉ và có nai,
Lai vãng sống gần bên,
Cỏ cây bao trùm nước,
Núi rừng ấy, ta ưa.
Bài kệ này trở thành lời nói chánh trí của ngài". (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Phẩm Mười Hai, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), (CXIII). Vanavaccha (Thera. 16))
Ngài muốn giúp đỡ cho các bà con của ngài và những người này mong muốn ngài nói lên sự thực hành đời sống núi rừng xa vắng của ngài, vì thế ngài đã nói lên bài kệ này. Dưới những tảng đá, mỏm đá giống như chiếc ghế, như những bàn thạch có suối trong, có nước chảy, có khỉ và có nai lảng vảng sống gần một bên, xung quanh dòng suối ấy là một màu xanh của cây cỏ và ngài ưa thích núi rừng ấy. Bài kệ này trở thành bài tuyên ngôn của bậc A-la-hán.
Con tự mình sống viễn ly, khuyến khích người khác sống viễn ly, thuận theo sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Ngài Maha Ca-diếp là trọn đời sống viễn ly, tự ngài sống viễn ly, khuyến khích các vị Tỳ-kheo sống viễn ly, tùy thuận, thuận theo đức hạnh sống viễn ly và ngài tán thán những ai sống viễn ly, Đức Thế Tôn cũng như vậy cho nên hạnh sống viễn ly vô cùng quan trọng.
"Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa, Ông đã già rồi. Ðã cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.
-- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
-- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực.. mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?
-- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.
Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): Ðối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực... những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục... những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), V. Trở Về Già)
Trước kia khi chưa vào dòng pháp này thì con không khuyến khích người khác xuất gia nhưng bây giờ con khuyến khích, tán thán xuất gia trong dòng pháp này cho nên sắp tới sẽ có lễ xuất gia cho 8 vị trên núi của mình. Cũng có nhiều thầy cô trong các trường Phật học trong nước và ngoài nước xin về đây tu để nếm trải đời sống viễn ly và nhân cơ hội đó chúng ta sẽ mở khóa tu Nikāya. Hãy về núi yên tu đi, loanh quanh cho đời mỏi mệt, chạy mãi để được cái gì?
Bản tuyên ngôn của bậc A-la-hán rất đơn giản, dưới tảng đá, dưới bàn thạch có nước suối chảy quanh, có khỉ và có nai lai vãng sống gần bên, có cỏ cây bao trùm nước, núi rừng ấy ta ưa. Đây là chánh trí của bậc A-la-hán hết sức bình dị, đây là cảnh của làng tu Nikāya, đây là cảnh của Linh Quy cũng là cảnh của các bậc hiền trí ly tham, cũng là căn nhà của các bậc hiền Thánh, đó chính là núi rừng, là non bồng, là thanh sơn, non xanh mây trắng. Tìm kiếm cái gì? Bao nhiêu tai họa, bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu bất an, bao nhiêu nước mắt chưa đủ hay sao mà còn tìm thêm đau khổ nữa?
Cái dục, tham, ái của chúng ta có đục và trong, có thanh và trược, cũng như nghiệp thì có nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp đen trắng và chấm dứt hết tất cả nghiệp. Cũng vậy, người chưa biết tu thì thích cái đục, cái trược, còn mình biết tu thì mình phải chuyển từ từ, cho phép mình thích núi rừng vì phải đổi cái thích, thay vì mình thích ồn ào, náo nhiệt, ăn chơi, ca hát, nhậu nhẹt thì bây giờ mình thích tiếng chim hót, mây bay, thích đồi trà xanh biếc trải dài vô tận, mình nhìn tâm thì hoan hỉ, vậy là đổi cái đục thành cái trong, đổi cái trược thành cái thanh, đó là bước đầu nên cho phép mình thích.
Sáng nay con ngồi thiền nhẹ nhàng, hạnh phúc, hỷ lạc vô bờ bến, nhìn mây trời bao la, trong người cảm giác an tịnh, lắng dịu, không đòi hỏi, không tìm kiếm, không mong muốn gì nữa, một sự bình an trùm khắp vô tận, mình thấy hương vị của viễn ly, mình thấy cái lạc thú của rời xa, mình thấy được đặc sản của người xuất gia, mình thấy được nếp sống thanh bần, thanh đạm, thanh cao, thanh nhã, Thánh thiện của một người tu cho nên con rất mong tất cả các Phật tử ở xa sắp xếp thời gian về núi tu học, ai xuất gia được thì cứ về xuất gia, mai đây cho xuất gia gieo duyên nửa tháng trên núi để họ nếm được hương vị xuất ly lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, giải thoát lạc.
Suốt cuộc đời của người ta chỉ biết niềm vui trong sự ồn ào, trong tham dục, trong sự đấu đá, hơn thua chứ họ chưa biết niềm vui của sự rời xa, đó cũng là một niềm vui. Mình tránh xa được hầm lửa thì có thấy khỏe không? Mình đi ra khỏi đầm lầy có thấy an lạc không? Tại sao mấy cái vui đó mình không biết mà cứ thích cầm vào cục lửa than rồi mình khóc la, gào lên, đi tìm bác sĩ lương y trị cho bớt đau rồi mình nói hạnh phúc nhưng thật ra không có hạnh phúc trong những cục lửa than đó. Đức Phật đã nói sắc là lửa than, cảm giác là lửa than, hình bóng trong tâm là lửa than, những suy nghĩ là lửa than, là than đỏ, những nhận thức theo chiều tham, sân, si là lửa đỏ, là than đỏ.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Nếu cứ bốc vào những cục than đỏ này cho phỏng tay, bỏng người rồi lấy thuốc thoa lên cho đỡ rồi lấy đó làm hạnh phúc mà không biết rằng có một niềm vui cao thượng hơn, vi diệu hơn, tối thắng hơn, đó là niềm vui ra khỏi những cục lửa than này. Vì thế các Phật tử đạo tràng Nikāya sắp xếp về núi tu cùng với các quý thầy, quý cô, cùng đại chúng Linh Quy để nếm được hương vị của viễn ly lạc, niềm vui của sự rời xa. Rời xa những cái trần tục, những cái hệ lụy, phàm tục, những cái thế tục, những bụi bặm, ô nhiễm, cấu uế, uế trược, rời xa những tham muốn thấp hèn, tầm thường, hạ liệt, rời xa những hố than hừng, rời xa những đầm lầy, rời xa bóng đêm.
Con thường ví dụ những đống lửa là cảm giác sân, đầm lầy là những cảm giác dục, tham, ái và bóng đêm và những cảm giác vô minh, si mê, bản ngã chất lên vai mỗi bên 50kg, ngày đêm bị đè như vậy, nếu mình trút được gánh nặng này xuống thì khỏe biết bao nhiêu, còn mình thoát ra khỏi tâm sân hận, bực bội giống như ra khỏi căn nhà lửa, còn vượt ra khỏi tâm dục, tham, ái giống như thoát ra khỏi đầm lầy, thoát ra khỏi hôn trầm, lơ ngơ, si mê, ngáo ngơ là mình thấy được ánh sáng mặt trời, đó là viễn ly lạc, xuất ly lạc, giải thoát lạc.
Đức Phật nói vô thường để mình nhàm chán, thoát ra chứ không phải ngài nói vô thường để mình rút lui cho nên cách tác ý của mình phải nhìn ra được sự lươn lẹo của hành uẩn, nó mở ra nhiều lối để có đường lui. Hôm trước có người nói cảm ơn vô thường thì những cái đó không phải là Đức Phật dạy, đừng cảm ơn vô thường mà hãy sợ hãi vô thường, phải nhàm chán vô thường, đừng cảm ơn vô thường, Đức Phật không có dạy nhờ vô thường mà bông hoa nở, cái đó không phải chánh trí của Đức Phật, những lời dạy nào hướng đến nhất hướng nhàm chán, đưa đến ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn thì đó mới là lời dạy của Như Lai.
"Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn'". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn'". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX). Thông Điệp)
Không có cám ơn vô thường, vô thường là các hành, bất an là các hành, không có kiên cố là các hành, đến đây là vừa đủ để nhàm chán, đến đây là vừa đủ để từ bỏ, đến đây là vừa đủ để thoát ra tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Tâm của mình phải nhất hướng như vậy, phải trạch pháp rạch ròi như vậy chứ không phải nói một hồi là quẹo qua lối tẻ, đó là ý hành dẫn dắt, ngũ uẩn đang dẫn dắt mình, vô minh và tham ái bóp méo, xuyên tạc lời dạy của Đức Phật. Chỉ một ý nghĩ cũng có thể bóp méo Thánh trí của Đức Phật cho nên mình phải nắm bắt trí huệ của Đức Phật, an trú trong đó, y cứ vào đó, nương dựa vào đó chứ không nương dựa một điều gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa bất cứ một điều gì khác,
II. Về núi yên tu
Ở núi phong cảnh thật oai hùng
Độc tọa, thiền hành tự ung dung
Ngắm nhìn trần thế đầy khổ ải
Lệ lòng thầm chảy quá não nùng.
Ở núi trời mây rộng thênh thang
Bao la thế giới khắp ba ngàn
Làu làu một cõi trong tầm mắt
Lòng từ vô lượng thấm chứa chan.
Ở núi phong cảnh tự thiên nhiên
Trúc xanh, mây trắng, sương ảo huyền
Quán sâu ngũ uẩn như mộng huyễn
Khử trừ tam độc chứng tứ thiền.
Ở núi trời đất thật tuyệt vời
Trí tuệ chiếu soi pháp sáng ngời
Bao đời sanh tử trong quá khứ
Sầu bi ưu não tợ biển khơi.
Ở núi trong lòng thật tịnh thanh
Bao nhiêu thế vật chẳng tranh giành
Giã từ thế sự tuồng mộng ảo
Tiêu dao tự tại đại bình an.
Ở núi không gian rộng thênh thang
Bao la thế giới khắp đại ngàn
Từ bi hỷ xả tâm vô lượng
Hồng trần rũ bỏ vào Niết-bàn.
Ở núi khí hậu thật tuyệt vời
Mát mẻ, an lành, thời tiết thanh
Nhiệt tâm, tinh cần thêm tinh tấn
Phạm hạnh cao thượng sớm đạt thành.
Ở núi tâm tư thật an hòa
Tỉnh giác thấy rõ thân tâm ta
Ung dung, thong thả trong chánh niệm
Độc cư thiền tịnh tâm bao la.
Ở núi lòng này thật chứa chan
Tình thương rộng mở khắp trần hoàn
Thọ hiền vô lượng không ngằn mé
Bản ngã cúi đầu đã hiền ngoan.
Ở núi lợi danh bỏ ngoài tai
Hơn thua, phải quấy cùng sắc tài
Thiền quán thâm sâu soi tỏa thấu
Không người, không vật, chẳng ai đâu.
Ở núi thân nhẹ, tâm an nhiên
Ngày đêm tinh luyện giới hạnh thiền
Trong ngoài thanh sạch như băng tuyết
Ngũ uẩn an tịnh sạch não phiền.
Ở núi hồng trần nhẹ gót rồi
Bao nhiêu tục lụy chẳng còn vương
Bụi đời lắng hết lòng tịch tịnh
Chánh trí rực sáng tỏ vô thường.
Ở núi tâm cảnh thật bình an
Ra khỏi cảnh dục hưởng an nhàn
Niềm vui vi diệu khôn thể tả
Hạnh phúc cao tột chính Niết-bàn.
Ở núi trời mây sương phủ giăng
Huyền huyền ảo ảo tợ thiên thăng
An cư lạc nghiệp lòng yên tịnh
Trí tuệ công đức như hằng hà.
Ở núi lặng yên tuyệt điểm trần
Không gian thênh thang tâm bình an
Cây cỏ xanh mượt, sương trang điểm
Nhìn toàn vũ trụ trong nguy nan.
Ở núi vui nhàn một mình ta
Chẳng phiền, chẳng động đến mọi nhà
Ngày ăn một bữa không nhọc phí
Nội tâm đột phá bất tư nghì.
Ở núi thông thả đi vào ra
Thiền hành quanh thất hét chúng ma
Tuệ tri tham, dục, sân, bản ngã
Sớm chiều rồi cũng sẽ thoát xa.
Ở núi mình ngồi thật lặng yên
Mái hiên trúc biếc mây thành viền
Chim hót líu lo chào ngày mới
Mặt trời Thánh tuệ soi cuộc đời.
Ở núi diệt dục suốt ngày đêm
Không lơi tay súng dù phút giây
Lơ là khoảnh khắc không chánh niệm
Ác ma dẫn lối vào bóng đêm.
Ở núi buông bỏ hết mọi điều
Bỏ danh, bỏ lợi, bỏ chùa chiền
Bỏ dục, bỏ tham, bỏ bản ngã
Bỏ luôn tất cả thành Thánh hiền.
Ở núi cơ hội vô lượng kiếp
Muôn ngàn đời sống chạy triền miên
Giờ này độc tọa trên bàn thạch
Tinh cần dứt sạch dòng tử sanh.
Ở núi trí tuệ bất tư nghì
Nhìn ra lậu hoặc rất tinh vi
Ruồng tận hang ổ, sào huyệt giặc
Tàn sát chúng mi chẳng còn gì.
Ở núi sức mạnh khó nghĩ bàn
Vô thượng Thánh trí được phát huy
Phát sạch gian manh, tâm trá ngụy
Lộ chân hiển chánh thật huyền vi.
Ở núi tín lực mạnh cực kì
Một mình khai chiến vạn muôn binh
Đánh ngã, đánh gục, đánh tan tác
Phất cờ chiến thắng giặc hãi kinh.
Ở núi chánh niệm rất tỏ tường
Nội tâm cực sáng chẳng suy lường
Hừng hừng nhiệt huyết tiêu diệt địch
Khí thế hùng anh dập đối phương.
Ở núi niệm xứ an trú tầm
Thân, thọ, tâm, pháp vững nhất tâm
Ngày đêm soi rọi luôn sáng tỏ
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đủ năm.
Ở núi chánh cần luôn để tâm
Diệt ác sanh thiện gắng công làm
Hộ trì tu tập và diệt tận
Giữ gìn định tướng cứ chăm chăm.
Ở núi Như Ý Túc gồm thâu
Dục tham thẩm sát thật nhiệm màu
Tư duy quán chiếu cho tường tận
Ngộ ra chánh pháp thật thâm sâu.
Ở núi Ngũ Căn lực uy dũng
Tín, tấn, niệm, định, tuệ chung cùng
Nhất tề tu tập thêm sức mạnh
Phải đạt thành công đỉnh tuyệt cùng.
Ở núi mưa rơi như nhạc trời
Trà xanh, hoa trắng, sương mây trôi
Bao la vạn tượng tâm thâu hết
Vô thường, trống rỗng là cuộc đời.
Ở núi an nhiên tự tại rồi
Thương về dĩ vãng kiếp luân hồi
Quay cuồng sống chết chìm khát ái
Lậu hoặc tẩy sạch tuệ chiếu soi.
Ở núi lợi ích thật vô vàn
Thân thể an nhàn thần trí sáng
Độc cư thiền tịnh tâm an nhiên
Giới hạnh trong sạch sống an lành.
Dục tham nhiếp phục thật khinh an
Bản ngã khiêm hạ thường cúi đầu
Hướng ngoại dừng rồi, lòng tịnh lạc
Ngắm nhìn đồi núi thương chứa chan.
Thênh thang một cõi không chướng ngại
Yên lặng riêng mình chẳng gặp ai
Nội soi, phản tỉnh hằng tác ý
Như lý chuyên tu thể nhập mau.
Thâm sâu ngũ uẩn càng tinh tế
Nhìn ra lậu hoặc đến cực vi
Tẩy trừ cấu nhiễm không khó nhọc
Ly tham hỷ lạc bất tư nghì.
Ngày càng thâm nhập chánh trí tuệ
Giải thoát từng phần hiển lộ ra
Giới hạnh, trí tuệ dần thành tựu
Thiền định không lâu thể nhập sâu.
Chứng ngộ Thánh pháp chân truyền thụ
Trao truyền người học hiệu quả cao
Tuyên dương diệu nghĩa khôn cùng tận
Báo đền ân Phật Thiên Nhân Sư.
Kế thừa mạng mạch, không dứt đoạn
Mới mong chánh pháp được bền lâu
Ở núi quán xét bất tịnh hay
Miên miên mật mật trí tuệ đầy
Nửa đêm chợt tỉnh liền tác ý
Diệt tận dục tham công phu dày.
Ở núi tu hành thật nhẹ nhàng
Thâm sâu tuệ quán chẳng rộn ràng
Nhìn xuyên thọ, tưởng, hành thật kĩ
Suốt ngày mắng chửi tâm bình an.
Ở núi thiền quán cực tinh anh
Chiếu soi hữu lậu chạy quẩn quanh
Thổi còi, đạp thắng cho dừng lại
Ở yên trong thất lòng tịnh thanh.
Ở núi suốt ngày cứ vui vui
Hồng trần nhẹ gánh thật tuyệt vời
Hơn nửa cuộc đời theo mộng ảo
Hôm nay bắt đầu làm lại mới.
Ở núi thời gian qua rất nhanh
Giờ giờ phút phút đi thiền hành
Như lý tác ý thêm tuệ lực
Triệt hạ bản ngã, vô ngã sanh.
Ở núi công phu rất thảnh thơi
Nhiếp phục lậu hoặc giống như chơi
Nhẹ nhàng cười mỉm khi nhìn thấy
Rọi luồng Thánh trí chúng tơi bời.
Ở núi tu hành thú vị thay
Mong ai nếm được hương vị này
Viễn ly dục lạc hưởng Thánh lạc
An tâm tự tại tuyệt diệu hay.
Ở núi vô sự cùng vô tâm
Vượt ngoài bụi trần lòng nhẹ tênh
Từ bỏ trần lao tâm vắng lặng
Thoát dòng sống chết hết khổ đau.
Ở núi chân nhân đến viếng thăm
Không cần hướng ngoại mãi kiếm tầm
Thánh hiền lai vãng trao diệu pháp
Mới hay thể nhập tuệ thậm thâm.
Ở núi yên tu thật là vui
Tắc kè làm bạn, chim chẳng nuôi
Ngày đêm kêu hót mình tỉnh thức
Tọa thiền công phu chớ dễ vui.
Ở núi một mình thật u huyền
Cảm giác, nghĩ tưởng nắm bắt liền
Không để đứa nào qua mặt được
Phản nghịch chém đầu trị quốc yên.
Ở núi một mình thật thậm thâm
Bao nhiêu diệu nghĩa lòng hiểu thầm
Thân tâm hiện rõ rành mọi pháp
Ngũ uẩn phân minh tại nhất tâm.
Ở núi một mình thật hay ghê
Thắp đèn trí huệ mờ chẳng hề
Nội soi dục, ái, tham, bản ngã
Phơi bày ánh sáng dứt đường mê.
Ở núi một mình thật tuyệt vời
Bất cứ lúc nào cũng chẳng lơi
Chúng vừa xuất hiện liền rượt đuổi
Thảm sát máu đổ tới đầu rơi.
Ở núi một mình quá thích rồi
Sớm chiều chuyên nhất chẳng tạp khoa
Nhất tâm, nhất ý, nhất trí tuệ
Nhất thiết, nhất quyết diệt tà ma.
Ở núi mình ngồi ngắm bình minh
Sương mây bao phủ khắp thân hình
Núi đồi trắng xóa thần tiên cảnh
Tuệ nhật vừa lên tâm an bình.
Ở núi chuyên tu thật là hăng
Trong lòng hừng hực ngọn lửa Tăng
Tham sân sanh khởi đều cháy sạch
Thân tâm mát lạnh như giá băng.
Ở núi chuyên tu thật uy hùng
Ngày đêm ra trận đánh tận cùng
Diệt tân, diệt sạch cùng diệt tận
Diệt hết vô minh, minh tương phùng.
Ở núi không gian lặng như tờ
Thiền hành quanh thất, vườn trong mơ
Bao năm xuôi ngược theo trần cảnh
Giờ đây mình ngồi vui vô bờ.
Ở núi không gian tự thiên nhiên
Thánh tri kiến hiện tại mục tiền
Vận hành tư sát tiêu lậu hoặc
Buổi sáng diệu kì thật bình yên.
Ở núi không gian thoát trần gian
Trời mây, non nước rộng thênh thang
Quán nhìn tam giới tuồng mộng ảo
Tình thương dào dạt khắp chứa chan.
Ở núi không gian quá diệu kỳ
Bức tranh vĩ đại khó đâu bì
Mênh mông một cõi tâm vô lượng
Hạnh nguyện xuất trần nhập vô vi.
Ở núi không gian cảnh Phạm thiên
Vô dục, không tham chẳng lụy phiền
An nhiên ly dục sanh hỷ lạc
Nhẹ nhàng thể nhập vào sơ thiền.
Ở núi không gian một mình ta
Dục trần nay đã vượt thoát xa
Tâm bình thế giới đều bình đẳng
Công đức phước báo số hằng sa.
Ở núi không gian lặng như tờ
Quán sâu ngũ dục đời mộng mơ
Vở tuồng sầu, bi, khổ, ưu, não
Hết rồi, vượt qua đến bến bờ.
Ở núi không gian đẹp vô vàn
Trải tâm trùm khắp cả ba ngàn
Xét cho tường tận bản tánh sắc
Bọt nước nguy nan đầy bất an.
Ở núi không gian chẳng rộn ràng
Bình tâm diệt dục trị tham sân
Hằng giờ nhiếp phục tên bản ngã
Lợi danh, hướng ngoại thảy biến tan.
Ở núi không gian thật chứa chan
Nếu ai có đến để cúng vàng
Thọ yên, tâm chẳng hề dao động
Phá tan luyến ái chẳng buộc ràng.
Ở núi trau dồi đức hạnh cao
Chớ cho cấu nhiễm cùng kiêu ngạo
Khiêm cung, khiêm tốn, luôn khiêm hạ
Khiêm nhường, khiêm nhã đẹp biết bao.
Ở núi trau đồi thiền định mau
Chớ cho lười biếng được nhuốm vào
Nhiếp phục thân tâm theo khuôn phép
Thả lỏng buông lung phải cúi đầu.
Ở núi trau dồi tuệ quán sâu
Ngũ uẩn tinh ranh bị soi thấu
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
Diệt sạch không còn, hết lo âu.
Ở núi trau dồi giải thoát trí
Thoát ra khổ ưu, não, sầu bi
Vượt ngoài cảnh sanh, già, bệnh, chết
Thể nhập bất tử, dứt ái si.
Con khuyến khích chúng ta viết nhật kí tu học, viết cảm nhận tu học, viết những cảm thọ khi mình tu học là có lý do, bài này được viết khi con nhập thất tu học 2 tháng, những cảm thọ tuôn trào được ghi lại trong lúc đó. Mình phải cảm nhận được những cái hạnh phúc, an lạc, hương vị của viễn ly lạc, xuất ly lạc, của chánh giác lạc, của giải thoát lạc, đây là những niềm vui cao thượng, Thánh thiện, vi diệu mà trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua chúng ta chưa được nếm cho nên chúng ta khéo tác ý sự hỷ lạc trong khi tu học là rất cần thiết, khi mình có niềm vui thì phải tác ý thêm nữa, tiếp tục quán chiếu, tiếp tục cảm thọ và ghi chép ra.
Khi đau khổ quằn quại ra sao mình cũng ghi ra, khi có hỷ lạc trong tu học cũng ghi ra để mình nhớ, để mình khắc ghi những chặng đường mình đã đi qua, đã trải qua. Mặt trời lên có những tia nắng chiếu vào những khóm trúc, chim đang hót líu lo, không gian tĩnh lặng thênh thang bao la, chúng ta có biết rằng mình đang rất bình an không? Có cảm nhận được điều này không?
Con treo trên giảng đường bài kệ của ngài Tịch Thiên cũng mang ý nghĩa rất phù hợp với Đức Phật:
Chừng nào tôi thảnh thơi
Đến ở nơi am vắng
Dưới tàng cây, hang động
Không lưu luyến trần gian.
Bao giờ tôi mới được
Đến những vùng nguyên sơ
Không ai giành làm chủ
Không nhà cửa, tự do.
Bao giờ tôi mới được
Ở yên không sợ hãi
Vỏn vẹn một bình bát,
Một chiếc áo cà sa
Mà kẻ trộm không thèm
Thậm chí không che thân
Đến, đi đều tự tại.
Đi bộ giữa gió rừng
Như được quạt êm mát
Thong dong trên phiến đá
Như sân thượng cung vua
Dưới ánh trăng tịnh thanh
Mùi hương trầm ngan ngát
Nghĩ đến việc giải thoát
Cho tất cả chúng sinh.
Tùy ý ở lâu mau
Trong căn nhà hoang vắng
Hay tại một gốc cây
Hoặc trong những hang đá
Tâm không bận giữ của
An nhiên đi đó đây.
Tự tại ở hay đi
Không vướng bận một ai
Đó là niềm hạnh phúc
Mà ngay cả Vua Trời
Cũng không thể hưởng được.
(Nhập Hạnh Bồ Tát - tôn giả Tịch Thiên)
Trước khi vào dòng pháp Nikāya tâm con đã nuôi dưỡng những hình ảnh này và bây giờ thực hiện sắp thành hiện thực. Bên làng tu có đá sẵn chất lên thành hang động, mỗi người một cái hang, cả một rừng trúc gọi là trúc lâm, không có gì để giữ, không còn lưu luyến trần gian nữa mà được thoát tục, khai tử giữa cõi đời này, không còn dính dáng với bất cứ cái gì trong cuộc đời này, trong kinh Tứ Niệm Xứ ở cuối mỗi đoạn kinh đều có câu "vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời", ở đây chỉ mới là thân viễn ly ngoài ra còn tâm viễn ly nữa. Chúng ta ở trên núi là thân viễn ly và hiện tại chúng ta đang thực hành tâm viễn ly, sau này con sẽ làm những cái cốc để ai muốn trải nghiệm đời sống độc cư vào đó.
Ở yên không sợ hãi, chỉ có một bình bát và một chiếc áo Cà-sa mà đến ăn trộm cũng không thèm vì còn gì nữa. Tại sao chúng ta cứ lo tích lũy, gom góp mãi vậy? Tại sao cứ cất giữ mãi vậy? Khi sanh ra chỉ có hai bàn tay trắng, đến khi chết đi cũng trắng hai bàn tay nhưng ở đoạn giữa đó là cầm cái này, nắm cái kia, chụp cái nọ rồi khổ đau. Tại sao chúng ta không sống đời sống nhất y nhất bát? Khoác lên mình 3 tấm y và một cái bình bát, khai tử với tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái trên cuộc đời này, khai tử với mọi hơn thua, tranh đấu, tranh giành trên cuộc đời này, không còn tên tuổi gì trên cuộc đời này nữa. Chúng ta sống với gió, với mây, với trời để diệt tận các cấu nhiễm bên trong cho đến ngày hoàn thành là vĩnh biệt luân hồi, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly, giải thoát.
Ngài Tịch Thiên xuất thân trong hoàng gia nhưng ngài lại đi xuất gia, mình cũng thong dong trên phiến đá, ở trong cái thất, tâm không bận giữ cửa, không có gì để giữ của, tự tại ở hay đi không vướng bận một ai, vua trời còn có của, có nhiều tài sản nhưng đừng nói chi vua trời, chỉ nói người bình thường mới đi khỏi nhà một chút đã lo âu sợ mất đồ, nếu không có gì hết thì đâu còn gì để lo, nhiều khi đi công việc thì con nói đi luôn mai về thì có người nói không đem theo đồ nhưng con nói khỏi cần vì chết có đem đồ theo được đâu, phải tập trong mọi lúc đều không bị ràng buộc vào những thứ vật chất, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi, mình tập cho tâm thái mình sẵn sàng như vậy 24/24, mọi cái đến mình đều chấp nhận, không cần phải có cái này, có cái kia mới làm, có thì tốt còn không có cũng không sao, sẵn sàng viễn ly, rời xa.
"Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh viễn ly này của vị Tỳ-kheo trong pháp và luật. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới,
Có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến,
Đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc.
Vì rằng, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc, nên Tỳ-kheo này, này các Tỳ-kheo, được gọi là đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Sống Viễn Ly)
Chúng ta tập sống một mình, ngồi một mình, đi kinh hành, thiền hành một mình, tập làm chủ mình, nhiếp phục, chế ngự mình giống như ngỗng trời rời ao, bỏ sau mọi cảnh sắc.
"Tự sách tấn, chánh niệm,
Không thích cư xá nào,
Như ngỗng trời rời ao,
Bỏ sau mọi trú ẩn"
(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán, kệ 91)
Nhiều khi mình ở trong cảnh hạnh phúc mà mình không thấy hạnh phúc, không thấy hoan hỉ.
Về núi độc cư siêu vật ngoại,
Vượt ra hệ lụy cõi trần ai,
Quyết định sáng suốt quá kỳ tài,
Trụ vững ý chí, quyết chẳng lay.
Về núi độc cư thời gian vàng,
Thân tâm nhiếp phục phải được an.
Kim cương vô giá không sánh nổi,
Khi ra thất rồi lợi muôn ngàn.
Về núi độc cư hơn hột xoàn,
Mài giũa trong ngoài cho đàng hoàng.
Đục đẽo đêm ngày thành vật báu,
Góc cạnh vuông tròn thợ kim hoàn.
Về núi độc cư vô giá trân,
Không gì sánh nổi ông Thầy bần.
Không tiền, không tài sản chi cả,
Không người, không vật, thật Chân nhân!
Bản chất của người tu là bần Tăng, là kẻ ăn xin, là ông thầy nghèo. "Không ai giàu bằng kẻ ăn xin", chúng ta hãy quán chiếu câu nói này, hãy làm cho mình sanh khởi lên cảm giác hỷ lạc, hân hoan để tu tập.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Viễn Ly Lạc
Về Núi Yên Tu Thật Tuyệt Vời 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Viễn ly PAGEREF _Toc183018574 \h 1
II. Về núi yên tu PAGEREF _Toc183018575 \h 6
I. Viễn ly
Kính thưa chư tôn đức, các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, khi Đức Phật còn tại thế có một vị Tỳ-kheo tên là VanaVaccha, ngài sanh ra làm một người con của một Bà-la-môn rất giàu có ở thành Vương Xá, khi ngài gặp Đức Thế Tôn bậc đạo sư thì ngài sanh khởi lòng tin, sau đó ngài xuất gia và chứng Thánh quả A-la-hán. Khi đã chứng Thánh quả A-la-hán thì ngài sống trong rừng chuyên tu hạnh viễn ly cho nên ngài mới có tên theo đúng ý nghĩa đó.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một Bà-la-môn giàu có ở Ràjagaha (Vuơng Xá), được đặt tên là Vanavaccha. Ngài khởi lòng tin khi bậc Ðạo Sư hội kiến với vua Bimbisàra (Bình-sa). Sau ngài xuất gia, chứng quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, ngài sống trong rừng, thiên tu hạnh viễn ly, do vậy được gọi là Vanavaccha. Một hôm, ngài muốn giúp ích cho bà con đi đến Ràjagaha, sống trong một chỗ ở nhỏ, và nói với họ nếp sống của mình. Các bà con yêu cầu ngài dùng bài kệ này nói lên ngài ưa thích sống ở rừng núi và hành trì hạnh viễn ly:
Dưới tảng đá, băng đá
Có nước suối, trong chảy,
Có khỉ và có nai,
Lai vãng sống gần bên,
Cỏ cây bao trùm nước,
Núi rừng ấy, ta ưa.
Bài kệ này trở thành lời nói chánh trí của ngài". (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Phẩm Mười Hai, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), (CXIII). Vanavaccha (Thera. 16))
Ngài muốn giúp đỡ cho các bà con của ngài và những người này mong muốn ngài nói lên sự thực hành đời sống núi rừng xa vắng của ngài, vì thế ngài đã nói lên bài kệ này. Dưới những tảng đá, mỏm đá giống như chiếc ghế, như những bàn thạch có suối trong, có nước chảy, có khỉ và có nai lảng vảng sống gần một bên, xung quanh dòng suối ấy là một màu xanh của cây cỏ và ngài ưa thích núi rừng ấy. Bài kệ này trở thành bài tuyên ngôn của bậc A-la-hán.
Con tự mình sống viễn ly, khuyến khích người khác sống viễn ly, thuận theo sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Ngài Maha Ca-diếp là trọn đời sống viễn ly, tự ngài sống viễn ly, khuyến khích các vị Tỳ-kheo sống viễn ly, tùy thuận, thuận theo đức hạnh sống viễn ly và ngài tán thán những ai sống viễn ly, Đức Thế Tôn cũng như vậy cho nên hạnh sống viễn ly vô cùng quan trọng.
"Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa, Ông đã già rồi. Ðã cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hãy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.
-- Bạch Thế Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
-- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích gì mà ông đã lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực.. mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?
-- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đã lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.
Con thấy tự mình được hiện tại an lạc trú và vì lòng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): Ðối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực... những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục... những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), V. Trở Về Già)
Trước kia khi chưa vào dòng pháp này thì con không khuyến khích người khác xuất gia nhưng bây giờ con khuyến khích, tán thán xuất gia trong dòng pháp này cho nên sắp tới sẽ có lễ xuất gia cho 8 vị trên núi của mình. Cũng có nhiều thầy cô trong các trường Phật học trong nước và ngoài nước xin về đây tu để nếm trải đời sống viễn ly và nhân cơ hội đó chúng ta sẽ mở khóa tu Nikāya. Hãy về núi yên tu đi, loanh quanh cho đời mỏi mệt, chạy mãi để được cái gì?
Bản tuyên ngôn của bậc A-la-hán rất đơn giản, dưới tảng đá, dưới bàn thạch có nước suối chảy quanh, có khỉ và có nai lai vãng sống gần bên, có cỏ cây bao trùm nước, núi rừng ấy ta ưa. Đây là chánh trí của bậc A-la-hán hết sức bình dị, đây là cảnh của làng tu Nikāya, đây là cảnh của Linh Quy cũng là cảnh của các bậc hiền trí ly tham, cũng là căn nhà của các bậc hiền Thánh, đó chính là núi rừng, là non bồng, là thanh sơn, non xanh mây trắng. Tìm kiếm cái gì? Bao nhiêu tai họa, bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu bất an, bao nhiêu nước mắt chưa đủ hay sao mà còn tìm thêm đau khổ nữa?
Cái dục, tham, ái của chúng ta có đục và trong, có thanh và trược, cũng như nghiệp thì có nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp đen trắng và chấm dứt hết tất cả nghiệp. Cũng vậy, người chưa biết tu thì thích cái đục, cái trược, còn mình biết tu thì mình phải chuyển từ từ, cho phép mình thích núi rừng vì phải đổi cái thích, thay vì mình thích ồn ào, náo nhiệt, ăn chơi, ca hát, nhậu nhẹt thì bây giờ mình thích tiếng chim hót, mây bay, thích đồi trà xanh biếc trải dài vô tận, mình nhìn tâm thì hoan hỉ, vậy là đổi cái đục thành cái trong, đổi cái trược thành cái thanh, đó là bước đầu nên cho phép mình thích.
Sáng nay con ngồi thiền nhẹ nhàng, hạnh phúc, hỷ lạc vô bờ bến, nhìn mây trời bao la, trong người cảm giác an tịnh, lắng dịu, không đòi hỏi, không tìm kiếm, không mong muốn gì nữa, một sự bình an trùm khắp vô tận, mình thấy hương vị của viễn ly, mình thấy cái lạc thú của rời xa, mình thấy được đặc sản của người xuất gia, mình thấy được nếp sống thanh bần, thanh đạm, thanh cao, thanh nhã, Thánh thiện của một người tu cho nên con rất mong tất cả các Phật tử ở xa sắp xếp thời gian về núi tu học, ai xuất gia được thì cứ về xuất gia, mai đây cho xuất gia gieo duyên nửa tháng trên núi để họ nếm được hương vị xuất ly lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, giải thoát lạc.
Suốt cuộc đời của người ta chỉ biết niềm vui trong sự ồn ào, trong tham dục, trong sự đấu đá, hơn thua chứ họ chưa biết niềm vui của sự rời xa, đó cũng là một niềm vui. Mình tránh xa được hầm lửa thì có thấy khỏe không? Mình đi ra khỏi đầm lầy có thấy an lạc không? Tại sao mấy cái vui đó mình không biết mà cứ thích cầm vào cục lửa than rồi mình khóc la, gào lên, đi tìm bác sĩ lương y trị cho bớt đau rồi mình nói hạnh phúc nhưng thật ra không có hạnh phúc trong những cục lửa than đó. Đức Phật đã nói sắc là lửa than, cảm giác là lửa than, hình bóng trong tâm là lửa than, những suy nghĩ là lửa than, là than đỏ, những nhận thức theo chiều tham, sân, si là lửa đỏ, là than đỏ.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Nếu cứ bốc vào những cục than đỏ này cho phỏng tay, bỏng người rồi lấy thuốc thoa lên cho đỡ rồi lấy đó làm hạnh phúc mà không biết rằng có một niềm vui cao thượng hơn, vi diệu hơn, tối thắng hơn, đó là niềm vui ra khỏi những cục lửa than này. Vì thế các Phật tử đạo tràng Nikāya sắp xếp về núi tu cùng với các quý thầy, quý cô, cùng đại chúng Linh Quy để nếm được hương vị của viễn ly lạc, niềm vui của sự rời xa. Rời xa những cái trần tục, những cái hệ lụy, phàm tục, những cái thế tục, những bụi bặm, ô nhiễm, cấu uế, uế trược, rời xa những tham muốn thấp hèn, tầm thường, hạ liệt, rời xa những hố than hừng, rời xa những đầm lầy, rời xa bóng đêm.
Con thường ví dụ những đống lửa là cảm giác sân, đầm lầy là những cảm giác dục, tham, ái và bóng đêm và những cảm giác vô minh, si mê, bản ngã chất lên vai mỗi bên 50kg, ngày đêm bị đè như vậy, nếu mình trút được gánh nặng này xuống thì khỏe biết bao nhiêu, còn mình thoát ra khỏi tâm sân hận, bực bội giống như ra khỏi căn nhà lửa, còn vượt ra khỏi tâm dục, tham, ái giống như thoát ra khỏi đầm lầy, thoát ra khỏi hôn trầm, lơ ngơ, si mê, ngáo ngơ là mình thấy được ánh sáng mặt trời, đó là viễn ly lạc, xuất ly lạc, giải thoát lạc.
Đức Phật nói vô thường để mình nhàm chán, thoát ra chứ không phải ngài nói vô thường để mình rút lui cho nên cách tác ý của mình phải nhìn ra được sự lươn lẹo của hành uẩn, nó mở ra nhiều lối để có đường lui. Hôm trước có người nói cảm ơn vô thường thì những cái đó không phải là Đức Phật dạy, đừng cảm ơn vô thường mà hãy sợ hãi vô thường, phải nhàm chán vô thường, đừng cảm ơn vô thường, Đức Phật không có dạy nhờ vô thường mà bông hoa nở, cái đó không phải chánh trí của Đức Phật, những lời dạy nào hướng đến nhất hướng nhàm chán, đưa đến ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn thì đó mới là lời dạy của Như Lai.
"Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn'". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn'". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX). Thông Điệp)
Không có cám ơn vô thường, vô thường là các hành, bất an là các hành, không có kiên cố là các hành, đến đây là vừa đủ để nhàm chán, đến đây là vừa đủ để từ bỏ, đến đây là vừa đủ để thoát ra tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Tâm của mình phải nhất hướng như vậy, phải trạch pháp rạch ròi như vậy chứ không phải nói một hồi là quẹo qua lối tẻ, đó là ý hành dẫn dắt, ngũ uẩn đang dẫn dắt mình, vô minh và tham ái bóp méo, xuyên tạc lời dạy của Đức Phật. Chỉ một ý nghĩ cũng có thể bóp méo Thánh trí của Đức Phật cho nên mình phải nắm bắt trí huệ của Đức Phật, an trú trong đó, y cứ vào đó, nương dựa vào đó chứ không nương dựa một điều gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa bất cứ một điều gì khác,
II. Về núi yên tu
Ở núi phong cảnh thật oai hùng
Độc tọa, thiền hành tự ung dung
Ngắm nhìn trần thế đầy khổ ải
Lệ lòng thầm chảy quá não nùng.
Ở núi trời mây rộng thênh thang
Bao la thế giới khắp ba ngàn
Làu làu một cõi trong tầm mắt
Lòng từ vô lượng thấm chứa chan.
Ở núi phong cảnh tự thiên nhiên
Trúc xanh, mây trắng, sương ảo huyền
Quán sâu ngũ uẩn như mộng huyễn
Khử trừ tam độc chứng tứ thiền.
Ở núi trời đất thật tuyệt vời
Trí tuệ chiếu soi pháp sáng ngời
Bao đời sanh tử trong quá khứ
Sầu bi ưu não tợ biển khơi.
Ở núi trong lòng thật tịnh thanh
Bao nhiêu thế vật chẳng tranh giành
Giã từ thế sự tuồng mộng ảo
Tiêu dao tự tại đại bình an.
Ở núi không gian rộng thênh thang
Bao la thế giới khắp đại ngàn
Từ bi hỷ xả tâm vô lượng
Hồng trần rũ bỏ vào Niết-bàn.
Ở núi khí hậu thật tuyệt vời
Mát mẻ, an lành, thời tiết thanh
Nhiệt tâm, tinh cần thêm tinh tấn
Phạm hạnh cao thượng sớm đạt thành.
Ở núi tâm tư thật an hòa
Tỉnh giác thấy rõ thân tâm ta
Ung dung, thong thả trong chánh niệm
Độc cư thiền tịnh tâm bao la.
Ở núi lòng này thật chứa chan
Tình thương rộng mở khắp trần hoàn
Thọ hiền vô lượng không ngằn mé
Bản ngã cúi đầu đã hiền ngoan.
Ở núi lợi danh bỏ ngoài tai
Hơn thua, phải quấy cùng sắc tài
Thiền quán thâm sâu soi tỏa thấu
Không người, không vật, chẳng ai đâu.
Ở núi thân nhẹ, tâm an nhiên
Ngày đêm tinh luyện giới hạnh thiền
Trong ngoài thanh sạch như băng tuyết
Ngũ uẩn an tịnh sạch não phiền.
Ở núi hồng trần nhẹ gót rồi
Bao nhiêu tục lụy chẳng còn vương
Bụi đời lắng hết lòng tịch tịnh
Chánh trí rực sáng tỏ vô thường.
Ở núi tâm cảnh thật bình an
Ra khỏi cảnh dục hưởng an nhàn
Niềm vui vi diệu khôn thể tả
Hạnh phúc cao tột chính Niết-bàn.
Ở núi trời mây sương phủ giăng
Huyền huyền ảo ảo tợ thiên thăng
An cư lạc nghiệp lòng yên tịnh
Trí tuệ công đức như hằng hà.
Ở núi lặng yên tuyệt điểm trần
Không gian thênh thang tâm bình an
Cây cỏ xanh mượt, sương trang điểm
Nhìn toàn vũ trụ trong nguy nan.
Ở núi vui nhàn một mình ta
Chẳng phiền, chẳng động đến mọi nhà
Ngày ăn một bữa không nhọc phí
Nội tâm đột phá bất tư nghì.
Ở núi thông thả đi vào ra
Thiền hành quanh thất hét chúng ma
Tuệ tri tham, dục, sân, bản ngã
Sớm chiều rồi cũng sẽ thoát xa.
Ở núi mình ngồi thật lặng yên
Mái hiên trúc biếc mây thành viền
Chim hót líu lo chào ngày mới
Mặt trời Thánh tuệ soi cuộc đời.
Ở núi diệt dục suốt ngày đêm
Không lơi tay súng dù phút giây
Lơ là khoảnh khắc không chánh niệm
Ác ma dẫn lối vào bóng đêm.
Ở núi buông bỏ hết mọi điều
Bỏ danh, bỏ lợi, bỏ chùa chiền
Bỏ dục, bỏ tham, bỏ bản ngã
Bỏ luôn tất cả thành Thánh hiền.
Ở núi cơ hội vô lượng kiếp
Muôn ngàn đời sống chạy triền miên
Giờ này độc tọa trên bàn thạch
Tinh cần dứt sạch dòng tử sanh.
Ở núi trí tuệ bất tư nghì
Nhìn ra lậu hoặc rất tinh vi
Ruồng tận hang ổ, sào huyệt giặc
Tàn sát chúng mi chẳng còn gì.
Ở núi sức mạnh khó nghĩ bàn
Vô thượng Thánh trí được phát huy
Phát sạch gian manh, tâm trá ngụy
Lộ chân hiển chánh thật huyền vi.
Ở núi tín lực mạnh cực kì
Một mình khai chiến vạn muôn binh
Đánh ngã, đánh gục, đánh tan tác
Phất cờ chiến thắng giặc hãi kinh.
Ở núi chánh niệm rất tỏ tường
Nội tâm cực sáng chẳng suy lường
Hừng hừng nhiệt huyết tiêu diệt địch
Khí thế hùng anh dập đối phương.
Ở núi niệm xứ an trú tầm
Thân, thọ, tâm, pháp vững nhất tâm
Ngày đêm soi rọi luôn sáng tỏ
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đủ năm.
Ở núi chánh cần luôn để tâm
Diệt ác sanh thiện gắng công làm
Hộ trì tu tập và diệt tận
Giữ gìn định tướng cứ chăm chăm.
Ở núi Như Ý Túc gồm thâu
Dục tham thẩm sát thật nhiệm màu
Tư duy quán chiếu cho tường tận
Ngộ ra chánh pháp thật thâm sâu.
Ở núi Ngũ Căn lực uy dũng
Tín, tấn, niệm, định, tuệ chung cùng
Nhất tề tu tập thêm sức mạnh
Phải đạt thành công đỉnh tuyệt cùng.
Ở núi mưa rơi như nhạc trời
Trà xanh, hoa trắng, sương mây trôi
Bao la vạn tượng tâm thâu hết
Vô thường, trống rỗng là cuộc đời.
Ở núi an nhiên tự tại rồi
Thương về dĩ vãng kiếp luân hồi
Quay cuồng sống chết chìm khát ái
Lậu hoặc tẩy sạch tuệ chiếu soi.
Ở núi lợi ích thật vô vàn
Thân thể an nhàn thần trí sáng
Độc cư thiền tịnh tâm an nhiên
Giới hạnh trong sạch sống an lành.
Dục tham nhiếp phục thật khinh an
Bản ngã khiêm hạ thường cúi đầu
Hướng ngoại dừng rồi, lòng tịnh lạc
Ngắm nhìn đồi núi thương chứa chan.
Thênh thang một cõi không chướng ngại
Yên lặng riêng mình chẳng gặp ai
Nội soi, phản tỉnh hằng tác ý
Như lý chuyên tu thể nhập mau.
Thâm sâu ngũ uẩn càng tinh tế
Nhìn ra lậu hoặc đến cực vi
Tẩy trừ cấu nhiễm không khó nhọc
Ly tham hỷ lạc bất tư nghì.
Ngày càng thâm nhập chánh trí tuệ
Giải thoát từng phần hiển lộ ra
Giới hạnh, trí tuệ dần thành tựu
Thiền định không lâu thể nhập sâu.
Chứng ngộ Thánh pháp chân truyền thụ
Trao truyền người học hiệu quả cao
Tuyên dương diệu nghĩa khôn cùng tận
Báo đền ân Phật Thiên Nhân Sư.
Kế thừa mạng mạch, không dứt đoạn
Mới mong chánh pháp được bền lâu
Ở núi quán xét bất tịnh hay
Miên miên mật mật trí tuệ đầy
Nửa đêm chợt tỉnh liền tác ý
Diệt tận dục tham công phu dày.
Ở núi tu hành thật nhẹ nhàng
Thâm sâu tuệ quán chẳng rộn ràng
Nhìn xuyên thọ, tưởng, hành thật kĩ
Suốt ngày mắng chửi tâm bình an.
Ở núi thiền quán cực tinh anh
Chiếu soi hữu lậu chạy quẩn quanh
Thổi còi, đạp thắng cho dừng lại
Ở yên trong thất lòng tịnh thanh.
Ở núi suốt ngày cứ vui vui
Hồng trần nhẹ gánh thật tuyệt vời
Hơn nửa cuộc đời theo mộng ảo
Hôm nay bắt đầu làm lại mới.
Ở núi thời gian qua rất nhanh
Giờ giờ phút phút đi thiền hành
Như lý tác ý thêm tuệ lực
Triệt hạ bản ngã, vô ngã sanh.
Ở núi công phu rất thảnh thơi
Nhiếp phục lậu hoặc giống như chơi
Nhẹ nhàng cười mỉm khi nhìn thấy
Rọi luồng Thánh trí chúng tơi bời.
Ở núi tu hành thú vị thay
Mong ai nếm được hương vị này
Viễn ly dục lạc hưởng Thánh lạc
An tâm tự tại tuyệt diệu hay.
Ở núi vô sự cùng vô tâm
Vượt ngoài bụi trần lòng nhẹ tênh
Từ bỏ trần lao tâm vắng lặng
Thoát dòng sống chết hết khổ đau.
Ở núi chân nhân đến viếng thăm
Không cần hướng ngoại mãi kiếm tầm
Thánh hiền lai vãng trao diệu pháp
Mới hay thể nhập tuệ thậm thâm.
Ở núi yên tu thật là vui
Tắc kè làm bạn, chim chẳng nuôi
Ngày đêm kêu hót mình tỉnh thức
Tọa thiền công phu chớ dễ vui.
Ở núi một mình thật u huyền
Cảm giác, nghĩ tưởng nắm bắt liền
Không để đứa nào qua mặt được
Phản nghịch chém đầu trị quốc yên.
Ở núi một mình thật thậm thâm
Bao nhiêu diệu nghĩa lòng hiểu thầm
Thân tâm hiện rõ rành mọi pháp
Ngũ uẩn phân minh tại nhất tâm.
Ở núi một mình thật hay ghê
Thắp đèn trí huệ mờ chẳng hề
Nội soi dục, ái, tham, bản ngã
Phơi bày ánh sáng dứt đường mê.
Ở núi một mình thật tuyệt vời
Bất cứ lúc nào cũng chẳng lơi
Chúng vừa xuất hiện liền rượt đuổi
Thảm sát máu đổ tới đầu rơi.
Ở núi một mình quá thích rồi
Sớm chiều chuyên nhất chẳng tạp khoa
Nhất tâm, nhất ý, nhất trí tuệ
Nhất thiết, nhất quyết diệt tà ma.
Ở núi mình ngồi ngắm bình minh
Sương mây bao phủ khắp thân hình
Núi đồi trắng xóa thần tiên cảnh
Tuệ nhật vừa lên tâm an bình.
Ở núi chuyên tu thật là hăng
Trong lòng hừng hực ngọn lửa Tăng
Tham sân sanh khởi đều cháy sạch
Thân tâm mát lạnh như giá băng.
Ở núi chuyên tu thật uy hùng
Ngày đêm ra trận đánh tận cùng
Diệt tân, diệt sạch cùng diệt tận
Diệt hết vô minh, minh tương phùng.
Ở núi không gian lặng như tờ
Thiền hành quanh thất, vườn trong mơ
Bao năm xuôi ngược theo trần cảnh
Giờ đây mình ngồi vui vô bờ.
Ở núi không gian tự thiên nhiên
Thánh tri kiến hiện tại mục tiền
Vận hành tư sát tiêu lậu hoặc
Buổi sáng diệu kì thật bình yên.
Ở núi không gian thoát trần gian
Trời mây, non nước rộng thênh thang
Quán nhìn tam giới tuồng mộng ảo
Tình thương dào dạt khắp chứa chan.
Ở núi không gian quá diệu kỳ
Bức tranh vĩ đại khó đâu bì
Mênh mông một cõi tâm vô lượng
Hạnh nguyện xuất trần nhập vô vi.
Ở núi không gian cảnh Phạm thiên
Vô dục, không tham chẳng lụy phiền
An nhiên ly dục sanh hỷ lạc
Nhẹ nhàng thể nhập vào sơ thiền.
Ở núi không gian một mình ta
Dục trần nay đã vượt thoát xa
Tâm bình thế giới đều bình đẳng
Công đức phước báo số hằng sa.
Ở núi không gian lặng như tờ
Quán sâu ngũ dục đời mộng mơ
Vở tuồng sầu, bi, khổ, ưu, não
Hết rồi, vượt qua đến bến bờ.
Ở núi không gian đẹp vô vàn
Trải tâm trùm khắp cả ba ngàn
Xét cho tường tận bản tánh sắc
Bọt nước nguy nan đầy bất an.
Ở núi không gian chẳng rộn ràng
Bình tâm diệt dục trị tham sân
Hằng giờ nhiếp phục tên bản ngã
Lợi danh, hướng ngoại thảy biến tan.
Ở núi không gian thật chứa chan
Nếu ai có đến để cúng vàng
Thọ yên, tâm chẳng hề dao động
Phá tan luyến ái chẳng buộc ràng.
Ở núi trau dồi đức hạnh cao
Chớ cho cấu nhiễm cùng kiêu ngạo
Khiêm cung, khiêm tốn, luôn khiêm hạ
Khiêm nhường, khiêm nhã đẹp biết bao.
Ở núi trau đồi thiền định mau
Chớ cho lười biếng được nhuốm vào
Nhiếp phục thân tâm theo khuôn phép
Thả lỏng buông lung phải cúi đầu.
Ở núi trau dồi tuệ quán sâu
Ngũ uẩn tinh ranh bị soi thấu
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
Diệt sạch không còn, hết lo âu.
Ở núi trau dồi giải thoát trí
Thoát ra khổ ưu, não, sầu bi
Vượt ngoài cảnh sanh, già, bệnh, chết
Thể nhập bất tử, dứt ái si.
Con khuyến khích chúng ta viết nhật kí tu học, viết cảm nhận tu học, viết những cảm thọ khi mình tu học là có lý do, bài này được viết khi con nhập thất tu học 2 tháng, những cảm thọ tuôn trào được ghi lại trong lúc đó. Mình phải cảm nhận được những cái hạnh phúc, an lạc, hương vị của viễn ly lạc, xuất ly lạc, của chánh giác lạc, của giải thoát lạc, đây là những niềm vui cao thượng, Thánh thiện, vi diệu mà trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua chúng ta chưa được nếm cho nên chúng ta khéo tác ý sự hỷ lạc trong khi tu học là rất cần thiết, khi mình có niềm vui thì phải tác ý thêm nữa, tiếp tục quán chiếu, tiếp tục cảm thọ và ghi chép ra.
Khi đau khổ quằn quại ra sao mình cũng ghi ra, khi có hỷ lạc trong tu học cũng ghi ra để mình nhớ, để mình khắc ghi những chặng đường mình đã đi qua, đã trải qua. Mặt trời lên có những tia nắng chiếu vào những khóm trúc, chim đang hót líu lo, không gian tĩnh lặng thênh thang bao la, chúng ta có biết rằng mình đang rất bình an không? Có cảm nhận được điều này không?
Con treo trên giảng đường bài kệ của ngài Tịch Thiên cũng mang ý nghĩa rất phù hợp với Đức Phật:
Chừng nào tôi thảnh thơi
Đến ở nơi am vắng
Dưới tàng cây, hang động
Không lưu luyến trần gian.
Bao giờ tôi mới được
Đến những vùng nguyên sơ
Không ai giành làm chủ
Không nhà cửa, tự do.
Bao giờ tôi mới được
Ở yên không sợ hãi
Vỏn vẹn một bình bát,
Một chiếc áo cà sa
Mà kẻ trộm không thèm
Thậm chí không che thân
Đến, đi đều tự tại.
Đi bộ giữa gió rừng
Như được quạt êm mát
Thong dong trên phiến đá
Như sân thượng cung vua
Dưới ánh trăng tịnh thanh
Mùi hương trầm ngan ngát
Nghĩ đến việc giải thoát
Cho tất cả chúng sinh.
Tùy ý ở lâu mau
Trong căn nhà hoang vắng
Hay tại một gốc cây
Hoặc trong những hang đá
Tâm không bận giữ của
An nhiên đi đó đây.
Tự tại ở hay đi
Không vướng bận một ai
Đó là niềm hạnh phúc
Mà ngay cả Vua Trời
Cũng không thể hưởng được.
(Nhập Hạnh Bồ Tát - tôn giả Tịch Thiên)
Trước khi vào dòng pháp Nikāya tâm con đã nuôi dưỡng những hình ảnh này và bây giờ thực hiện sắp thành hiện thực. Bên làng tu có đá sẵn chất lên thành hang động, mỗi người một cái hang, cả một rừng trúc gọi là trúc lâm, không có gì để giữ, không còn lưu luyến trần gian nữa mà được thoát tục, khai tử giữa cõi đời này, không còn dính dáng với bất cứ cái gì trong cuộc đời này, trong kinh Tứ Niệm Xứ ở cuối mỗi đoạn kinh đều có câu "vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời", ở đây chỉ mới là thân viễn ly ngoài ra còn tâm viễn ly nữa. Chúng ta ở trên núi là thân viễn ly và hiện tại chúng ta đang thực hành tâm viễn ly, sau này con sẽ làm những cái cốc để ai muốn trải nghiệm đời sống độc cư vào đó.
Ở yên không sợ hãi, chỉ có một bình bát và một chiếc áo Cà-sa mà đến ăn trộm cũng không thèm vì còn gì nữa. Tại sao chúng ta cứ lo tích lũy, gom góp mãi vậy? Tại sao cứ cất giữ mãi vậy? Khi sanh ra chỉ có hai bàn tay trắng, đến khi chết đi cũng trắng hai bàn tay nhưng ở đoạn giữa đó là cầm cái này, nắm cái kia, chụp cái nọ rồi khổ đau. Tại sao chúng ta không sống đời sống nhất y nhất bát? Khoác lên mình 3 tấm y và một cái bình bát, khai tử với tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái trên cuộc đời này, khai tử với mọi hơn thua, tranh đấu, tranh giành trên cuộc đời này, không còn tên tuổi gì trên cuộc đời này nữa. Chúng ta sống với gió, với mây, với trời để diệt tận các cấu nhiễm bên trong cho đến ngày hoàn thành là vĩnh biệt luân hồi, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly, giải thoát.
Ngài Tịch Thiên xuất thân trong hoàng gia nhưng ngài lại đi xuất gia, mình cũng thong dong trên phiến đá, ở trong cái thất, tâm không bận giữ cửa, không có gì để giữ của, tự tại ở hay đi không vướng bận một ai, vua trời còn có của, có nhiều tài sản nhưng đừng nói chi vua trời, chỉ nói người bình thường mới đi khỏi nhà một chút đã lo âu sợ mất đồ, nếu không có gì hết thì đâu còn gì để lo, nhiều khi đi công việc thì con nói đi luôn mai về thì có người nói không đem theo đồ nhưng con nói khỏi cần vì chết có đem đồ theo được đâu, phải tập trong mọi lúc đều không bị ràng buộc vào những thứ vật chất, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi, mình tập cho tâm thái mình sẵn sàng như vậy 24/24, mọi cái đến mình đều chấp nhận, không cần phải có cái này, có cái kia mới làm, có thì tốt còn không có cũng không sao, sẵn sàng viễn ly, rời xa.
"Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh viễn ly này của vị Tỳ-kheo trong pháp và luật. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới,
Có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến,
Đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc.
Vì rằng, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc, nên Tỳ-kheo này, này các Tỳ-kheo, được gọi là đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, Sống Viễn Ly)
Chúng ta tập sống một mình, ngồi một mình, đi kinh hành, thiền hành một mình, tập làm chủ mình, nhiếp phục, chế ngự mình giống như ngỗng trời rời ao, bỏ sau mọi cảnh sắc.
"Tự sách tấn, chánh niệm,
Không thích cư xá nào,
Như ngỗng trời rời ao,
Bỏ sau mọi trú ẩn"
(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán, kệ 91)
Nhiều khi mình ở trong cảnh hạnh phúc mà mình không thấy hạnh phúc, không thấy hoan hỉ.
Về núi độc cư siêu vật ngoại,
Vượt ra hệ lụy cõi trần ai,
Quyết định sáng suốt quá kỳ tài,
Trụ vững ý chí, quyết chẳng lay.
Về núi độc cư thời gian vàng,
Thân tâm nhiếp phục phải được an.
Kim cương vô giá không sánh nổi,
Khi ra thất rồi lợi muôn ngàn.
Về núi độc cư hơn hột xoàn,
Mài giũa trong ngoài cho đàng hoàng.
Đục đẽo đêm ngày thành vật báu,
Góc cạnh vuông tròn thợ kim hoàn.
Về núi độc cư vô giá trân,
Không gì sánh nổi ông Thầy bần.
Không tiền, không tài sản chi cả,
Không người, không vật, thật Chân nhân!
Bản chất của người tu là bần Tăng, là kẻ ăn xin, là ông thầy nghèo. "Không ai giàu bằng kẻ ăn xin", chúng ta hãy quán chiếu câu nói này, hãy làm cho mình sanh khởi lên cảm giác hỷ lạc, hân hoan để tu tập.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.