Thánh Trí Về Tham Sân Si 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
THÁNH TRÍ VỀ THAM SÂN SI 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về một pháp môn ngoài lòng tin… PAGEREF _Toc72397170 \h 1
II. Tỉnh giác với tham – sân – si PAGEREF _Toc72397171 \h 4
III. Bát Chánh Đạo trong đời sống PAGEREF _Toc72397172 \h 6
IV. Quán chiếu đau khổ của tham – sân – si PAGEREF _Toc72397173 \h 7
V. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc72397174 \h 9
I. Đức Phật dạy về một pháp môn ngoài lòng tin…
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp về thánh trí tham sân si, chúng ta nên nhớ rằng toàn bộ giáo pháp của Đức Phật chỉ nói đơn giản 2 đều: Sự thật về đau khổ và con đường chấm dứt khổ đau. Đó là tổng cương lĩnh của toàn bộ thánh giáo. Nếu tu mà không thấu suốt được 2 vấn đề này thì sự tu học của mình sẽ không đi đến kết quả rốt ráo và triệt để. Như vậy nguyên nhân của khổ cần phải được thấy. Đức Phật đã nói:
“Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm,
Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định).
Hôm nay chúng ta tìm hiểu một bài kinh rất đặc biệt, có thể quý vị sẽ bất ngờ, bài kinh có tên Có pháp môn nào.
“Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"?”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
Tức là có cách nào, có phương pháp nào, có đường lối nào ở ngoài lòng tin không phải do tin, ở ngoài sự ưa thích là không cần phải ưa thích, ở ngoài sự lắng nghe không phải đợi lắng nghe mới biết, ở ngoài sự suy tư về phương pháp là không cần suy tư nghĩ ngợi để tìm kiếm cách thức, không cần sự kham nhẫn là ở ngoài sự kham nhẫn, ở ngoài sự thích thú để biện luận, giải thích? Có một pháp môn nào ở ngoài tất cả những cái này có thể xác tín chánh trí, tức là thành tựu trí huệ không? Đa số bây giờ mọi người nghĩ tu là phải có lòng tin, phải ưa thích, phải lắng nghe, phải suy tư về phương pháp, phải chịu khó, phải luận giải thì mới được nhưng ở bài kinh này Đức Phật nói có một phương pháp ở ngoài những cái đó.
“Có một pháp môn, này các Tỳ-kheo, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận... trạng thái này nữa"”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e),
V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
--Thưa không, bạch Thế Tôn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e),
V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
Khi con mắt thấy một sự vật nào đó mà trong tâm khởi lên sự ham muốn hoặc tức giận, có khi lờ đờ thì mình có biết không? Khi giận thì mình có biết mình giận không? Khi mình ham muốn, lờ đờ thì mình có biết không? Tất cả đều biết, thì cái biết này có cần phải do lòng tin thì mới biết là đang giận không? Cái biết tham sân si sanh khởi hay không sanh khởi trong nội tâm thì có cần phải ưa thích, lắng nghe, suy nghĩ, biện luận thì mới biết không? Đức Phật nói tiếp:
“Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
--Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Ðây là pháp môn, này các Tỳ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".”
Do thấy chúng với trí tuệ cho nên được hiểu biết, mở rộng ra khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc...
“ Khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: "Nội tâm ta có tham, sân, si", hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: "Nội tâm ta không có tham, sân, si".
Này các Tỳ-kheo, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e),
V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
Bài kinh này rất cô động và xúc tích nhưng khi tu tập với sự chiêm nghiệm thì mới thấy được sự sâu sắc hết sức thâm sâu và chỉ thẳng trực diện. Bài kinh chỉ có bao nhiêu đó nhưng đây là thánh trí về tham sân si, mình tưởng đâu tu là làm cái này, làm cái kia, tụng cái này, niệm cái kia, trì cái nọ thì đó mới là tu nhưng ở đây Đức Phật dạy khác.
II. Tỉnh giác với tham – sân – si
Phải luôn luôn nhận diện được những hành động, cảm giác, nghĩ tưởng và sự rõ biết bên trong, xem trong đó tham dục ái có sanh khởi hay không khi tiếp xúc. Chữ Xúc rất quan trọng, hằng ngày chúng ta tiếp xúc liên tục mà không biết nên gọi là vô minh. Thành ra Đức Phật nói do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết, những chữ này rất sâu sắc. Mình không biết cảm giác là thọ uẩn, suy nghĩ là hành uẩn, những hình bóng là tưởng uẩn, rõ biết là thức uẩn, sắc uẩn cũng không biết thì làm sao mình biết ở trong cái hồ lô này chứa đựng cái gì?
Trong cái bao, cái bình đó là cái gì ở trong đó? Hay mình chỉ nhìn bên ngoài sự biểu hiện, dáng vóc bên ngoài mà mình không biết những thành phần, cấu tạo bên trong? Phải xem coi bên trong có sanh khởi lên sự thúc giục hay không, có sanh khởi lên sự thích thú, lưu luyến, muốn thêm nữa hay không. Nếu không nhận diện được năm uẩn, không thường trực nội soi cảm giác, không nhìn lại những nghĩ tưởng thì lúc đó mình hoàn toàn là vô tri.
Đức Phật đã nói tham sân si làm cho mình vô tri, làm cho mình mù, làm thành người không mắt, làm tổn hại tổn não không đi đến Niết-bàn. Bài kinh này Đức Phật nói cho các vị Tỳ-kheo đã thành tựu chánh tri kiến, thành ra người không biết mà đọc vào sẽ hiểu đơn giản nội tâm tham biết có tham, sân thì biết có sân là xong, cho nên một chữ do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết là cả một cái chánh tri kiến.
Mọi người đã tu học kinh Nikāya cũng được thời gian dài thì bây giờ đã nhận diện được tham sân si trong cảm giác của mình chưa? Khi nó sanh khởi lên mình có biết không và khi nó an trú thì mình có biết không, khi nó vận hành, nó xâm chiếm áp đảo mình thì mình có biết không? Khi đã biết mà mình cứ biết vậy thôi thì cái biết đó không phải là cái biết của trí tuệ, cái biết tuệ tri.
Mọi người đang nằm ngủ mà thấy có con rắn hổ mang kế bên thì tôi biết có con rắn rồi nhắm mắt ngủ tiếp thì cái biết đó có gọi là của người bình thường không? Hay là khi đã biết có rắn kế bên thì mình phải la lên, bỏ chạy, hay đánh đuổi nó ra? Thì cũng vậy, không thể nói tham thì biết có tham, si thì biết có si rồi thôi, cái biết này không phải là cái biết của người có chánh tri kiến, cái biết đó không phải là cái biết của trí tuệ, gọi là tuệ tri trong Tứ Niệm Xứ, cho nên rất nhiều người hiểu lầm từ rõ biết trong Tứ Niệm Xứ.
Trong cái rõ biết đó, sự biết của chánh tri kiến phải có thêm sự suy nghĩ, nói năng, hành động tinh tấn nỗ lực, tìm đủ mọi cách thì đó là chánh ngữ, là mình phát giác, phát hiện rồi kinh sợ, rung sợ thì cái đó mới là cái biết của trí tuệ. Khi mình phát giác ra cảm giác sân hận thì mình phải thấy sợ hãi, mình quán cái cảm giác sân hận đó là lửa dữ, là hỏa hoạn, là sự đốt cháy, mình xem cơn giận đó y như đống lửa dữ, sự thiêu rụi và mình sợ với cảm giác giận dữ này thì cái đó là biết bằng trí huệ.
Mỗi khi nổi giận thì mình có thấy sợ không hay thấy cái giận này cũng được và mình chấp nhận, cho nó an trú rồi nó xâm chiếm mình thì cái biết đó là sự vô tri, vô minh, chưa phải là cái biết của trí tuệ vì mình còn chấp nhận nó. Có ai ở trong nhà mà lửa cháy rồi tôi biết có lửa cháy, rồi uống café, nếu thật sự có thì người này có vấn đề.
Như vậy từ đó giờ mình tu có vấn đề, mình thấy cơn giận của mình bình thường mà không thấy kinh sợ, hoảng sợ với nó. Phải làm sao thấy biết và sợ hãi, chán ngán, chán nản, viễn ly, yểm ly, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, làm cho nó không còn hiện hữu trong nội tâm nữa thì đây mới là Bát Chánh Đạo.
Sau khi đã thấy bất thiện pháp phải tác ý mạnh mẽ thì đó là chánh tư duy, thánh tư duy là sự suy nghĩ của bậc thánh, tác ý "đây là lửa, đây là hỏa hoạn, đây là sự thiêu đốt, đây là sự khổ nạn, hiểm nạn" ,"mình nuôi dưỡng ngọn lửa này sẽ thiêu rụi cả căn nhà tâm linh của mình và của người". Tác ý để dập tắt nó, làm cho nó hoàn toàn tịch tịnh, dùng đủ mọi cách như vậy gọi là chánh niệm và chánh tinh tấn, đây là mình đang vận dụng Bát Chánh Đạo.
III. Bát Chánh Đạo trong đời sống
Trong sự đánh đuổi tham sân si có đầy đủ chánh tư duy, chánh ngữ, chánh kiến, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh tinh tấn, chánh niệm. Chứ không phải Bát Chánh Đạo là đợi học rồi lúc đó mới tu, còn giờ tu chưa nổi. Trong một cái thấy biết nội tâm của mình là Bát Chánh Đạo được sanh khởi, được vận hành và được luân chuyển, đó được gọi là chuyển pháp luân.
Chuyển pháp luân ngay cảm giác sân hận, dập tắt được ngọn lửa đó là chiến thắng. Đó gọi là bậc chiến thắng, chiến thắng ngọn lửa sân hận. Gọi là bậc dập tắt, dập tắt được ngọn lửa của sự tức tối, dập tắt được ngọn lửa của sự thiêu đốt. Khi dập tắt được rồi khi nội tâm không có sân thì biết là không có sân, lúc đó cho mình cảm giác hoan hỷ, sung sướng của sự chiến thắng, mình đã thành công. Mọi người có thấy tu như vậy rất trực chỉ không?
Từ đó giờ tu cứ nhìn ra bên ngoài, tính niệm bao nhiêu chuỗi, tụng bao nhiêu bộ, lạy bao nhiêu lạy, đi bao nhiêu chùa chứ mình không có tính cái sân của mình được giảm bớt hơn chưa, mình không có tính cái nóng giận của mình được dập tắt nhiều chưa mà thầy hỏi thì nói "con hết tham sân si rồi". Đó là một sự vô minh, không thấy không biết, thành ra thánh trí về tham sân si phải nói nhiều lần, nói gọn lại có 4 thứ là tham sân si, vô minh và bản ngã, đây là 4 thứ cầm đầu, đội ngũ giặc phiền não, làm cho mình sầu bi khổ ưu não, làm cho bất an, bất ổn, không được vui sướng.
Nếu 4 tên này được diệt tận thì ngay chỗ đó mình được hạnh phúc, an lạc, vì vậy việc nhận diện không chỉ đơn giản nhận diện được là xong mà nhận diện ngũ uẩn để nhìn thấy được cái gì bên trong nội tâm, nguyên nhân nào đưa đến khổ thì dập tắt ngay chỗ đó mình hết khổ, gọi là Diệt Đế của Niết-bàn, diệt tận toàn bộ khổ đau.
IV. Quán chiếu đau khổ của tham – sân – si
Về vấn đề tham dục ái cũng vậy, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó sanh khởi lên thì phải thấy sợ, "đây là đầm lầy, mình rơi xuống đây là bị lún sâu, mình sẽ chết trong đầm lầy của dục ái", những cảm giác đó sanh khởi lên, những hình bóng trong nội tâm hiện lên là phải thấy rùng mình, khiếp sợ, "những thứ này là đầm lầy, mình sẽ bị lún và chìm sâu xuống đầm này", những cái ưa thích và ham muốn này đã thúc giục mình trong vô lượng kiếp vừa qua chứ không phải mới đây, không phải chỉ nam nữ, không phải chỉ việc tình dục, tình ái, tình cảm mà phải nhìn rộng ra tất cả những dục tham ái và phải tập nhận diện được nó.
Đâu phải mình chỉ khổ với 1 mình vợ hoặc chồng mà còn khổ vì nhiều thứ khác nữa, như vậy mỗi sự thúc giục, ham muốn bên trong phải tập kiểm soát để mình có thể quản lý được cái thô nhất, rồi tới cái vừa, sau đó mới đến cái tế. Ví dụ sự thúc giục đi chơi, muốn đi chơi, thích đi chơi, bên trong tâm chứ thúc giục phải đi thì mình có thấy được không?
Như vậy phải quán chiếu "đi ra tìm kiếm tai nạn giao thông phải không?" đi tu thì đi, tu có chết cũng tu, còn bây giờ đi chơi mà chết thì mang tiếng xấu, rồi cái ăn, cái đi, cái nói, cái làm cũng vậy, có những cái thúc giục mình làm, cái hữu lậu thô nhất của mình là không chịu yên, nó muốn làm cái này, cái kia, cái nhà 3 tháng sửa hết 7 lần, vườn cây kiểng thay mới liên tục, bếp thì đổi hướng này, hướng kia liên tục.
Đó là từ ở trong cái tà kiến, cái không nhìn thấy đúng, từ trong sự vọng động của hữu lậu, từ trong cái dục thúc giục mình cứ phải lăng xăng, tất bật, rộn ràng, bận rộn, ngay cả người xuất gia cũng vậy chứ không phải xuất gia là không bị hữu lậu, gọi là cú lừa ngoạn mục, nó rủ mình làm hoài, không cho mình tu, cứ tu là lại chợt nhớ chưa làm cái này, mở pháp lên nghe chưa được nửa bài lại nhớ chưa làm cái kia.
Đó là mình bị một cú lừa ngoạn mục, đó là dục, một sự thúc giục mà mình không biết được, thành ra giờ mình nghe pháp, tu tập, quán chiếu là mình phải biết đây là giờ phút thiêng liêng, quý báu nhất, hiếm hoi nhất của kiếp người, không có giờ nào quan trọng bằng giờ này, tất cả những việc đó làm sau khi tu còn giờ này là phải giữ tuyệt đối, trừ khi có cấp cứu, cháy nhà. Vì một ngày mình tu được mấy giờ, mà tới giờ tu lại kiếm chuyện khác để làm, mà nhiều người bị cái này. Để mình nhận diện ra được dục rất hay. Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động ở bên trong mà nó qua mặt mình hoàn toàn, mình không nhìn ra được nên mới gọi là lậu, giống như đi hàng lậu nhưng có máy soi, rọi ra hết.
Như vậy máy soi chiếu đó tượng trưng cho pháp nhãn, con mắt pháp, nuốt vào bụng thì soi ra cũng thấy, cho nên con mắt pháp là hết sức quan trọng, muốn thành tựu pháp nhãn này là phải thường nghe, chiêm nghiệm và Như lý tác ý, luôn luôn thực thành 3 pháp và nhận diện năm uẩn. Từ sự nhận diện năm uẩn đó mình mới có thể nhìn sâu được cái ngõ ngách, những góc cạnh, trong hốc kẹt, nhìn ra được tất cả những rác bẩn nó ẩn nấp, lưu trú, còn không mình không thể thấy được, lấy chổi quét bên ngoài chứ trong kẹt còn y nguyên, tưởng đâu là sạch nhưng cái đó chỉ là tưởng, tưởng là sạch chứ không phải sạch thật.
Cũng vậy, mình có sự thấy biết chân xác về thân tâm và đặc biệt là mình phải nhận diện năm uẩn ở nhiều cấp bậc, trong cái thọ có nhiều tầng lớp chứ không phải đơn giản chỉ nhìn cảm giác là xong. Ở dưới cảm giác là gì, cái tưởng cũng vậy, những hình bóng tại sao có chứ không phải tự nhiên, các pháp do duyên sanh chứ không phải tự nhiên, ở sâu phía dưới là một sự nung đốt của các dòng cảm thọ.
Những cảm xúc, cảm giác đó từ dục mà ra và nó nung lên, cho nên mới tưởng ra những hình bóng của dục, suy nghĩ về dục và những cảm giác về dục sanh khởi. Đây là chỗ thâm sâu chứ không phải tự nhiên hình bóng người đó hiện ra, không phải vậy, đó là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, những cảm giác khi con mắt tiếp xúc với người đó hay món đồ đó, lỗ tai nghe tiếng của người đó, lỗ mũi ngửi được mùi, thân mình có đụng chạm thì lúc đó những cảm giác sanh khởi. Cảm giác của mắt, mũi, lưỡi, thân, ý nếu lúc đó không có chánh niệm tỉnh giác và hộ trì căn sẽ thọ nhận những cảm giác đó, thâu nhận vào thân tâm mà mình không biết, thì đó là lậu.
V. Khuyến tấn tu tập
Chỉ có tròng vàng mắt lửa của Tôn Ngộ Không đã ở trong lò bát quát 49 ngày mới biết trong bụng đứa con nít kia là lửa, còn không thì như Đường Tăng chỉ thấy tội cho đứa con nít đó, đó là sự khác biệt của thánh tri kiến và vô văn phàm phu. Vô văn phàm phu không thấy được tham sân si, không thấy căn nguyên, cội rễ, không thấy được từ đâu mà sanh khởi ra tham sân si. Cho nên mình phải xem các dòng cảm giác, những dòng cảm xúc đó, đồng thời phải đào sâu xuống những lớp phía dưới chứ không phải chỉ nhìn bên trong là xong, đó là cả một sự công phu tu tập. Thành ra Đức Phật đã nói trong kinh:
“Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.
Và hiểu rõ như thật cái gì?
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... mũi... lưỡi... thân...
Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c),
V. Phẩm Từ Bỏ, 99. VI. Thiền Ðịnh).
Trong sự an định của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì các pháp sẽ được nhận diện, sẽ được hiện rõ, các pháp sẽ được phơi bày. Vì lúc trước mình mù, nhìn đủ thứ nhưng lại bị mù vì không nhìn được thọ; tưởng; hành; thức, không thấy được tham sân si, không biết từ đâu tham sân si sanh khởi và càng không biết từ đâu tham sân si được đoạn diệt, cái nào mình cũng không biết, không thấy vậy mà ta đây thông minh, ai chê vô minh là phừng lên. Bất thình lình có người nói mình vô minh là phải trở về an trú cảm giác toàn thân "đúng rồi, cảm ơn đã nhắc nhở".
Nếu mình không có sự thực tập cảm giác toàn thân, thực hành 3 pháp thì chỉ cần nhĩ xúc, nghe một âm thanh là ngũ uẩn đều động chuyển, chỉ cần tiếng chuông điện thoại vang lên thôi là 5 uẩn đều hoạt động chứ đừng nói tiếng mắng chửi, chỉ trích. Người nào bị chỉ mặt nói vô minh mà còn nói được chữ cám ơn thì phải từ hướng Dự lưu cho tới Nhập lưu chứ không phải thường, bản ngã được giảm bớt rất nhiều, cho nên mình phải nhìn được những cảm giác của dục tham ái và mình phải thấy nó là đầm lầy, một khi nó sanh khởi phải tác ý sự ghê sợ, không chấp nhận, không cho nó an trú trong thân tâm mà phải đánh đuổi nó ra, "đi ra khỏi thân tâm ta, ở đây không có chỗ cho ngươi", "ngươi đi nhầm chỗ rồi". Đức Phật dạy mình quán dục như người bị cùi, trong bài kinh này Đức Phật đưa ra ví dụ rất hay cho mình thiền quán:
“Ví như, này Magandiya, một người bị bệnh cùi thân (đầy) lở lói, thân bị hư thối nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay, hơ đốt thân mình trên hố than hừng. Này Magandiya, người bị bệnh cùi với thân (đầy) lở lói, thân bị hư thối nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, càng cào rách miệng các vết thương với các móng tay, càng hơ đốt thân mình trên hố than hừng chừng nào thời miệng các vết thương ấy lại càng thêm bất tịnh, càng thêm hôi thối và càng thêm thối nát, và người ấy chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do nhân duyên gãi ngứa miệng các vết thương; cũng vậy, này Magandiya, các chúng sanh, chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, chạy theo các dục. Này Magandiya các chúng sanh, chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, càng chạy theo dục chừng nào, thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, và họ chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do duyên năm dục trưởng dưỡng.”
(Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya).
Chúng ta là những lẻ cùi, lở loét đầy thân thể và tìm sự vui sướng bằng cách cào cấu, gãi cho nên những vết thương bị nứt và chảy máu mủ rồi hơ vào hố than hừng để lại tìm những cảm giác khoan khoái, thích thú. Mấy mươi năm qua chúng ta đã đau khổ, bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu dòng lệ đã tuôn xuống vì dục, bao nhiêu dòng nước cháy đã chảy ra vì ái, bao nhiêu sự nồng cháy, khát ái, nóng bức, nhiệt não đã thiêu đốt ta ở trong dục vậy mà chúng ta không biết sợ, không biết lo, không biết tránh né và không biết tìm con đường thoát ra.
Thật là thương thay cho chúng ta! Chúng ta đã làm nô lệ cho dục ái tham, chúng ta đã khổ đau vì dục, đã bị thiêu đốt vì ái, chúng ta đã bị nóng bức, nhiệt não vì tham và chúng ta đang bị dục tham ái đốt cháy, chúng ta đang hơ lửa và cào cấu những vết thương lở loét trên một thân cùi. Nếu chúng ta không dừng lại, không nhìn thấu suốt những sự nguy hại thì chúng ta sẽ tiếp tục khổ dài dài vĩnh viễn, tiếp tục hơ cái thân cùi trên hố than hừng nữa, đem cái thân lở lói mủ máu đi tìm những thú vui trong những ngọn lửa.
Thương thay cho chúng ta!
Khổ thay cho chúng ta!
Đau đớn thay cho chúng ta trong vô lượng kiếp vừa qua!
Chúng ta đã bị dục ái nhai nghiến, chúng ta đã bị dục nhiệt não thiêu đốt, chúng ta đã chạy theo dục, đang chạy và sẽ chạy, tiếp tục bị chúng nhai nghiến, thiêu đốt và hành hạ. Càng chạy theo dục chừng nào thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng chạy theo nó thì cái dục càng lớn mạnh, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt mà lại có phản tưởng được vui sướng. Vô minh là đời sống của dục, si ám là cả một kiếp nhân sinh này làm nô lệ cho ái. Dục ái như vậy là vừa đủ rồi, dục ái như vậy là quá đủ rồi, dục ái như vậy là nhàm chán rồi. Ta hãy dừng lại đi! Chấm dứt đi! Chấm dứt để ta có được sự bình an và tịnh lạc.
Chúng ta sẽ tiếp tục quán chiếu về si mê, đó là cảm giác uể oải, lười biếng, dã dượi, thụ động, buồn ngủ. Đây là một cảm giác ngu si, một cảm giác vô minh, cảm giác này giống như một bóng đêm âm u tăm tối. Chúng ta hãy khiếp sợ, kinh sợ đối với bóng đêm của si mê này, chúng ta hãy tưởng tượng ra cảnh chúng ta quờ quạng trong khu rừng hoang vu lạnh lẽo u ám, lạc lõng mất phương hướng, trong khu rừng đó đầy rẫy ác thú hổ báo, rắn độc vậy mà chúng ta lại lò dò, loanh quanh trong đó, chúng ta hoàn toàn không biết sự nguy hiểm và tác hại của nó. Cứ ngồi đó sụp mắt nghiêng đầu đi vào sự mê muội mà không biết sợ hãi cảm giác của si ám, vô minh.
Chúng ta phải đánh tan, đánh sập và thoát ra cảm giác của si ám, không chấp nhận và không cho nó lưu trú trong thân tâm. Phải đánh sập cảm giác lờ đờ, si mê mỗi khi nó xuất hiện trong khi mình tu học, phải quán thật mạnh, nếu không khi thiền là mình ngồi trong hố đen và bóng đêm chứ không phải ngồi tu. Bài phục nguyện dùng để phá ngũ cái, tham sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi. Nếu không phá được 5 cái này là mình không vào được sơ thiền, không cảm nhận được hỷ lạc của sự tu học thật sự.
Trên đây là Minh Thành đưa ra những hình ảnh, cũng như các phương pháp quán và Như lý tác ý cho mọi người dùng, khi gặp tham sân si là phải quán, tác ý như vậy. Khi mọi người đánh đuổi được các ác pháp thì việc tu học được trong trẻo, trí huệ được tỏ tường và thánh trí về năm uẩn được sáng tỏ. Khi mọi người quán chiếu về người cùi lở hưởng dục thì mình cũng giống vậy và phải biết sợ. Sợ cái dục, cái tham, cái ái ở bên trong con người mình, có sợ thì mới đánh đuổi, không chấp nhận, không cho nó xâm chiếm và áp đảo. Đây là 3 thanh gươm báu Đức Phật truyền trao cho mình để đánh đuổi tham sân si.
THÁNH TRÍ VỀ THAM SÂN SI 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về một pháp môn ngoài lòng tin… PAGEREF _Toc72397170 \h 1
II. Tỉnh giác với tham – sân – si PAGEREF _Toc72397171 \h 4
III. Bát Chánh Đạo trong đời sống PAGEREF _Toc72397172 \h 6
IV. Quán chiếu đau khổ của tham – sân – si PAGEREF _Toc72397173 \h 7
V. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc72397174 \h 9
I. Đức Phật dạy về một pháp môn ngoài lòng tin…
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp về thánh trí tham sân si, chúng ta nên nhớ rằng toàn bộ giáo pháp của Đức Phật chỉ nói đơn giản 2 đều: Sự thật về đau khổ và con đường chấm dứt khổ đau. Đó là tổng cương lĩnh của toàn bộ thánh giáo. Nếu tu mà không thấu suốt được 2 vấn đề này thì sự tu học của mình sẽ không đi đến kết quả rốt ráo và triệt để. Như vậy nguyên nhân của khổ cần phải được thấy. Đức Phật đã nói:
“Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.”
(Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm,
Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định).
Hôm nay chúng ta tìm hiểu một bài kinh rất đặc biệt, có thể quý vị sẽ bất ngờ, bài kinh có tên Có pháp môn nào.
“Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"?”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
Tức là có cách nào, có phương pháp nào, có đường lối nào ở ngoài lòng tin không phải do tin, ở ngoài sự ưa thích là không cần phải ưa thích, ở ngoài sự lắng nghe không phải đợi lắng nghe mới biết, ở ngoài sự suy tư về phương pháp là không cần suy tư nghĩ ngợi để tìm kiếm cách thức, không cần sự kham nhẫn là ở ngoài sự kham nhẫn, ở ngoài sự thích thú để biện luận, giải thích? Có một pháp môn nào ở ngoài tất cả những cái này có thể xác tín chánh trí, tức là thành tựu trí huệ không? Đa số bây giờ mọi người nghĩ tu là phải có lòng tin, phải ưa thích, phải lắng nghe, phải suy tư về phương pháp, phải chịu khó, phải luận giải thì mới được nhưng ở bài kinh này Đức Phật nói có một phương pháp ở ngoài những cái đó.
“Có một pháp môn, này các Tỳ-kheo, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận... trạng thái này nữa"”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e),
V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
--Thưa không, bạch Thế Tôn.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e),
V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
Khi con mắt thấy một sự vật nào đó mà trong tâm khởi lên sự ham muốn hoặc tức giận, có khi lờ đờ thì mình có biết không? Khi giận thì mình có biết mình giận không? Khi mình ham muốn, lờ đờ thì mình có biết không? Tất cả đều biết, thì cái biết này có cần phải do lòng tin thì mới biết là đang giận không? Cái biết tham sân si sanh khởi hay không sanh khởi trong nội tâm thì có cần phải ưa thích, lắng nghe, suy nghĩ, biện luận thì mới biết không? Đức Phật nói tiếp:
“Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
--Thưa phải, bạch Thế Tôn.
Ðây là pháp môn, này các Tỳ-kheo, do pháp môn này, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".”
Do thấy chúng với trí tuệ cho nên được hiểu biết, mở rộng ra khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc...
“ Khi ý biết pháp, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, khi ý biết pháp, hoặc biết rõ nội tâm có tham, sân, si: "Nội tâm ta có tham, sân, si", hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: "Nội tâm ta không có tham, sân, si".
Này các Tỳ-kheo, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp môn, hay ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e),
V. Mới Và Cũ, 152. VIII. Có Pháp Môn Nào?).
Bài kinh này rất cô động và xúc tích nhưng khi tu tập với sự chiêm nghiệm thì mới thấy được sự sâu sắc hết sức thâm sâu và chỉ thẳng trực diện. Bài kinh chỉ có bao nhiêu đó nhưng đây là thánh trí về tham sân si, mình tưởng đâu tu là làm cái này, làm cái kia, tụng cái này, niệm cái kia, trì cái nọ thì đó mới là tu nhưng ở đây Đức Phật dạy khác.
II. Tỉnh giác với tham – sân – si
Phải luôn luôn nhận diện được những hành động, cảm giác, nghĩ tưởng và sự rõ biết bên trong, xem trong đó tham dục ái có sanh khởi hay không khi tiếp xúc. Chữ Xúc rất quan trọng, hằng ngày chúng ta tiếp xúc liên tục mà không biết nên gọi là vô minh. Thành ra Đức Phật nói do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết, những chữ này rất sâu sắc. Mình không biết cảm giác là thọ uẩn, suy nghĩ là hành uẩn, những hình bóng là tưởng uẩn, rõ biết là thức uẩn, sắc uẩn cũng không biết thì làm sao mình biết ở trong cái hồ lô này chứa đựng cái gì?
Trong cái bao, cái bình đó là cái gì ở trong đó? Hay mình chỉ nhìn bên ngoài sự biểu hiện, dáng vóc bên ngoài mà mình không biết những thành phần, cấu tạo bên trong? Phải xem coi bên trong có sanh khởi lên sự thúc giục hay không, có sanh khởi lên sự thích thú, lưu luyến, muốn thêm nữa hay không. Nếu không nhận diện được năm uẩn, không thường trực nội soi cảm giác, không nhìn lại những nghĩ tưởng thì lúc đó mình hoàn toàn là vô tri.
Đức Phật đã nói tham sân si làm cho mình vô tri, làm cho mình mù, làm thành người không mắt, làm tổn hại tổn não không đi đến Niết-bàn. Bài kinh này Đức Phật nói cho các vị Tỳ-kheo đã thành tựu chánh tri kiến, thành ra người không biết mà đọc vào sẽ hiểu đơn giản nội tâm tham biết có tham, sân thì biết có sân là xong, cho nên một chữ do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết là cả một cái chánh tri kiến.
Mọi người đã tu học kinh Nikāya cũng được thời gian dài thì bây giờ đã nhận diện được tham sân si trong cảm giác của mình chưa? Khi nó sanh khởi lên mình có biết không và khi nó an trú thì mình có biết không, khi nó vận hành, nó xâm chiếm áp đảo mình thì mình có biết không? Khi đã biết mà mình cứ biết vậy thôi thì cái biết đó không phải là cái biết của trí tuệ, cái biết tuệ tri.
Mọi người đang nằm ngủ mà thấy có con rắn hổ mang kế bên thì tôi biết có con rắn rồi nhắm mắt ngủ tiếp thì cái biết đó có gọi là của người bình thường không? Hay là khi đã biết có rắn kế bên thì mình phải la lên, bỏ chạy, hay đánh đuổi nó ra? Thì cũng vậy, không thể nói tham thì biết có tham, si thì biết có si rồi thôi, cái biết này không phải là cái biết của người có chánh tri kiến, cái biết đó không phải là cái biết của trí tuệ, gọi là tuệ tri trong Tứ Niệm Xứ, cho nên rất nhiều người hiểu lầm từ rõ biết trong Tứ Niệm Xứ.
Trong cái rõ biết đó, sự biết của chánh tri kiến phải có thêm sự suy nghĩ, nói năng, hành động tinh tấn nỗ lực, tìm đủ mọi cách thì đó là chánh ngữ, là mình phát giác, phát hiện rồi kinh sợ, rung sợ thì cái đó mới là cái biết của trí tuệ. Khi mình phát giác ra cảm giác sân hận thì mình phải thấy sợ hãi, mình quán cái cảm giác sân hận đó là lửa dữ, là hỏa hoạn, là sự đốt cháy, mình xem cơn giận đó y như đống lửa dữ, sự thiêu rụi và mình sợ với cảm giác giận dữ này thì cái đó là biết bằng trí huệ.
Mỗi khi nổi giận thì mình có thấy sợ không hay thấy cái giận này cũng được và mình chấp nhận, cho nó an trú rồi nó xâm chiếm mình thì cái biết đó là sự vô tri, vô minh, chưa phải là cái biết của trí tuệ vì mình còn chấp nhận nó. Có ai ở trong nhà mà lửa cháy rồi tôi biết có lửa cháy, rồi uống café, nếu thật sự có thì người này có vấn đề.
Như vậy từ đó giờ mình tu có vấn đề, mình thấy cơn giận của mình bình thường mà không thấy kinh sợ, hoảng sợ với nó. Phải làm sao thấy biết và sợ hãi, chán ngán, chán nản, viễn ly, yểm ly, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, làm cho nó không còn hiện hữu trong nội tâm nữa thì đây mới là Bát Chánh Đạo.
Sau khi đã thấy bất thiện pháp phải tác ý mạnh mẽ thì đó là chánh tư duy, thánh tư duy là sự suy nghĩ của bậc thánh, tác ý "đây là lửa, đây là hỏa hoạn, đây là sự thiêu đốt, đây là sự khổ nạn, hiểm nạn" ,"mình nuôi dưỡng ngọn lửa này sẽ thiêu rụi cả căn nhà tâm linh của mình và của người". Tác ý để dập tắt nó, làm cho nó hoàn toàn tịch tịnh, dùng đủ mọi cách như vậy gọi là chánh niệm và chánh tinh tấn, đây là mình đang vận dụng Bát Chánh Đạo.
III. Bát Chánh Đạo trong đời sống
Trong sự đánh đuổi tham sân si có đầy đủ chánh tư duy, chánh ngữ, chánh kiến, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh tinh tấn, chánh niệm. Chứ không phải Bát Chánh Đạo là đợi học rồi lúc đó mới tu, còn giờ tu chưa nổi. Trong một cái thấy biết nội tâm của mình là Bát Chánh Đạo được sanh khởi, được vận hành và được luân chuyển, đó được gọi là chuyển pháp luân.
Chuyển pháp luân ngay cảm giác sân hận, dập tắt được ngọn lửa đó là chiến thắng. Đó gọi là bậc chiến thắng, chiến thắng ngọn lửa sân hận. Gọi là bậc dập tắt, dập tắt được ngọn lửa của sự tức tối, dập tắt được ngọn lửa của sự thiêu đốt. Khi dập tắt được rồi khi nội tâm không có sân thì biết là không có sân, lúc đó cho mình cảm giác hoan hỷ, sung sướng của sự chiến thắng, mình đã thành công. Mọi người có thấy tu như vậy rất trực chỉ không?
Từ đó giờ tu cứ nhìn ra bên ngoài, tính niệm bao nhiêu chuỗi, tụng bao nhiêu bộ, lạy bao nhiêu lạy, đi bao nhiêu chùa chứ mình không có tính cái sân của mình được giảm bớt hơn chưa, mình không có tính cái nóng giận của mình được dập tắt nhiều chưa mà thầy hỏi thì nói "con hết tham sân si rồi". Đó là một sự vô minh, không thấy không biết, thành ra thánh trí về tham sân si phải nói nhiều lần, nói gọn lại có 4 thứ là tham sân si, vô minh và bản ngã, đây là 4 thứ cầm đầu, đội ngũ giặc phiền não, làm cho mình sầu bi khổ ưu não, làm cho bất an, bất ổn, không được vui sướng.
Nếu 4 tên này được diệt tận thì ngay chỗ đó mình được hạnh phúc, an lạc, vì vậy việc nhận diện không chỉ đơn giản nhận diện được là xong mà nhận diện ngũ uẩn để nhìn thấy được cái gì bên trong nội tâm, nguyên nhân nào đưa đến khổ thì dập tắt ngay chỗ đó mình hết khổ, gọi là Diệt Đế của Niết-bàn, diệt tận toàn bộ khổ đau.
IV. Quán chiếu đau khổ của tham – sân – si
Về vấn đề tham dục ái cũng vậy, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó sanh khởi lên thì phải thấy sợ, "đây là đầm lầy, mình rơi xuống đây là bị lún sâu, mình sẽ chết trong đầm lầy của dục ái", những cảm giác đó sanh khởi lên, những hình bóng trong nội tâm hiện lên là phải thấy rùng mình, khiếp sợ, "những thứ này là đầm lầy, mình sẽ bị lún và chìm sâu xuống đầm này", những cái ưa thích và ham muốn này đã thúc giục mình trong vô lượng kiếp vừa qua chứ không phải mới đây, không phải chỉ nam nữ, không phải chỉ việc tình dục, tình ái, tình cảm mà phải nhìn rộng ra tất cả những dục tham ái và phải tập nhận diện được nó.
Đâu phải mình chỉ khổ với 1 mình vợ hoặc chồng mà còn khổ vì nhiều thứ khác nữa, như vậy mỗi sự thúc giục, ham muốn bên trong phải tập kiểm soát để mình có thể quản lý được cái thô nhất, rồi tới cái vừa, sau đó mới đến cái tế. Ví dụ sự thúc giục đi chơi, muốn đi chơi, thích đi chơi, bên trong tâm chứ thúc giục phải đi thì mình có thấy được không?
Như vậy phải quán chiếu "đi ra tìm kiếm tai nạn giao thông phải không?" đi tu thì đi, tu có chết cũng tu, còn bây giờ đi chơi mà chết thì mang tiếng xấu, rồi cái ăn, cái đi, cái nói, cái làm cũng vậy, có những cái thúc giục mình làm, cái hữu lậu thô nhất của mình là không chịu yên, nó muốn làm cái này, cái kia, cái nhà 3 tháng sửa hết 7 lần, vườn cây kiểng thay mới liên tục, bếp thì đổi hướng này, hướng kia liên tục.
Đó là từ ở trong cái tà kiến, cái không nhìn thấy đúng, từ trong sự vọng động của hữu lậu, từ trong cái dục thúc giục mình cứ phải lăng xăng, tất bật, rộn ràng, bận rộn, ngay cả người xuất gia cũng vậy chứ không phải xuất gia là không bị hữu lậu, gọi là cú lừa ngoạn mục, nó rủ mình làm hoài, không cho mình tu, cứ tu là lại chợt nhớ chưa làm cái này, mở pháp lên nghe chưa được nửa bài lại nhớ chưa làm cái kia.
Đó là mình bị một cú lừa ngoạn mục, đó là dục, một sự thúc giục mà mình không biết được, thành ra giờ mình nghe pháp, tu tập, quán chiếu là mình phải biết đây là giờ phút thiêng liêng, quý báu nhất, hiếm hoi nhất của kiếp người, không có giờ nào quan trọng bằng giờ này, tất cả những việc đó làm sau khi tu còn giờ này là phải giữ tuyệt đối, trừ khi có cấp cứu, cháy nhà. Vì một ngày mình tu được mấy giờ, mà tới giờ tu lại kiếm chuyện khác để làm, mà nhiều người bị cái này. Để mình nhận diện ra được dục rất hay. Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động ở bên trong mà nó qua mặt mình hoàn toàn, mình không nhìn ra được nên mới gọi là lậu, giống như đi hàng lậu nhưng có máy soi, rọi ra hết.
Như vậy máy soi chiếu đó tượng trưng cho pháp nhãn, con mắt pháp, nuốt vào bụng thì soi ra cũng thấy, cho nên con mắt pháp là hết sức quan trọng, muốn thành tựu pháp nhãn này là phải thường nghe, chiêm nghiệm và Như lý tác ý, luôn luôn thực thành 3 pháp và nhận diện năm uẩn. Từ sự nhận diện năm uẩn đó mình mới có thể nhìn sâu được cái ngõ ngách, những góc cạnh, trong hốc kẹt, nhìn ra được tất cả những rác bẩn nó ẩn nấp, lưu trú, còn không mình không thể thấy được, lấy chổi quét bên ngoài chứ trong kẹt còn y nguyên, tưởng đâu là sạch nhưng cái đó chỉ là tưởng, tưởng là sạch chứ không phải sạch thật.
Cũng vậy, mình có sự thấy biết chân xác về thân tâm và đặc biệt là mình phải nhận diện năm uẩn ở nhiều cấp bậc, trong cái thọ có nhiều tầng lớp chứ không phải đơn giản chỉ nhìn cảm giác là xong. Ở dưới cảm giác là gì, cái tưởng cũng vậy, những hình bóng tại sao có chứ không phải tự nhiên, các pháp do duyên sanh chứ không phải tự nhiên, ở sâu phía dưới là một sự nung đốt của các dòng cảm thọ.
Những cảm xúc, cảm giác đó từ dục mà ra và nó nung lên, cho nên mới tưởng ra những hình bóng của dục, suy nghĩ về dục và những cảm giác về dục sanh khởi. Đây là chỗ thâm sâu chứ không phải tự nhiên hình bóng người đó hiện ra, không phải vậy, đó là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, những cảm giác khi con mắt tiếp xúc với người đó hay món đồ đó, lỗ tai nghe tiếng của người đó, lỗ mũi ngửi được mùi, thân mình có đụng chạm thì lúc đó những cảm giác sanh khởi. Cảm giác của mắt, mũi, lưỡi, thân, ý nếu lúc đó không có chánh niệm tỉnh giác và hộ trì căn sẽ thọ nhận những cảm giác đó, thâu nhận vào thân tâm mà mình không biết, thì đó là lậu.
V. Khuyến tấn tu tập
Chỉ có tròng vàng mắt lửa của Tôn Ngộ Không đã ở trong lò bát quát 49 ngày mới biết trong bụng đứa con nít kia là lửa, còn không thì như Đường Tăng chỉ thấy tội cho đứa con nít đó, đó là sự khác biệt của thánh tri kiến và vô văn phàm phu. Vô văn phàm phu không thấy được tham sân si, không thấy căn nguyên, cội rễ, không thấy được từ đâu mà sanh khởi ra tham sân si. Cho nên mình phải xem các dòng cảm giác, những dòng cảm xúc đó, đồng thời phải đào sâu xuống những lớp phía dưới chứ không phải chỉ nhìn bên trong là xong, đó là cả một sự công phu tu tập. Thành ra Đức Phật đã nói trong kinh:
“Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.
Và hiểu rõ như thật cái gì?
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... mũi... lưỡi... thân...
Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c),
V. Phẩm Từ Bỏ, 99. VI. Thiền Ðịnh).
Trong sự an định của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì các pháp sẽ được nhận diện, sẽ được hiện rõ, các pháp sẽ được phơi bày. Vì lúc trước mình mù, nhìn đủ thứ nhưng lại bị mù vì không nhìn được thọ; tưởng; hành; thức, không thấy được tham sân si, không biết từ đâu tham sân si sanh khởi và càng không biết từ đâu tham sân si được đoạn diệt, cái nào mình cũng không biết, không thấy vậy mà ta đây thông minh, ai chê vô minh là phừng lên. Bất thình lình có người nói mình vô minh là phải trở về an trú cảm giác toàn thân "đúng rồi, cảm ơn đã nhắc nhở".
Nếu mình không có sự thực tập cảm giác toàn thân, thực hành 3 pháp thì chỉ cần nhĩ xúc, nghe một âm thanh là ngũ uẩn đều động chuyển, chỉ cần tiếng chuông điện thoại vang lên thôi là 5 uẩn đều hoạt động chứ đừng nói tiếng mắng chửi, chỉ trích. Người nào bị chỉ mặt nói vô minh mà còn nói được chữ cám ơn thì phải từ hướng Dự lưu cho tới Nhập lưu chứ không phải thường, bản ngã được giảm bớt rất nhiều, cho nên mình phải nhìn được những cảm giác của dục tham ái và mình phải thấy nó là đầm lầy, một khi nó sanh khởi phải tác ý sự ghê sợ, không chấp nhận, không cho nó an trú trong thân tâm mà phải đánh đuổi nó ra, "đi ra khỏi thân tâm ta, ở đây không có chỗ cho ngươi", "ngươi đi nhầm chỗ rồi". Đức Phật dạy mình quán dục như người bị cùi, trong bài kinh này Đức Phật đưa ra ví dụ rất hay cho mình thiền quán:
“Ví như, này Magandiya, một người bị bệnh cùi thân (đầy) lở lói, thân bị hư thối nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay, hơ đốt thân mình trên hố than hừng. Này Magandiya, người bị bệnh cùi với thân (đầy) lở lói, thân bị hư thối nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, càng cào rách miệng các vết thương với các móng tay, càng hơ đốt thân mình trên hố than hừng chừng nào thời miệng các vết thương ấy lại càng thêm bất tịnh, càng thêm hôi thối và càng thêm thối nát, và người ấy chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do nhân duyên gãi ngứa miệng các vết thương; cũng vậy, này Magandiya, các chúng sanh, chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, chạy theo các dục. Này Magandiya các chúng sanh, chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, càng chạy theo dục chừng nào, thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, và họ chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do duyên năm dục trưởng dưỡng.”
(Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya).
Chúng ta là những lẻ cùi, lở loét đầy thân thể và tìm sự vui sướng bằng cách cào cấu, gãi cho nên những vết thương bị nứt và chảy máu mủ rồi hơ vào hố than hừng để lại tìm những cảm giác khoan khoái, thích thú. Mấy mươi năm qua chúng ta đã đau khổ, bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu dòng lệ đã tuôn xuống vì dục, bao nhiêu dòng nước cháy đã chảy ra vì ái, bao nhiêu sự nồng cháy, khát ái, nóng bức, nhiệt não đã thiêu đốt ta ở trong dục vậy mà chúng ta không biết sợ, không biết lo, không biết tránh né và không biết tìm con đường thoát ra.
Thật là thương thay cho chúng ta! Chúng ta đã làm nô lệ cho dục ái tham, chúng ta đã khổ đau vì dục, đã bị thiêu đốt vì ái, chúng ta đã bị nóng bức, nhiệt não vì tham và chúng ta đang bị dục tham ái đốt cháy, chúng ta đang hơ lửa và cào cấu những vết thương lở loét trên một thân cùi. Nếu chúng ta không dừng lại, không nhìn thấu suốt những sự nguy hại thì chúng ta sẽ tiếp tục khổ dài dài vĩnh viễn, tiếp tục hơ cái thân cùi trên hố than hừng nữa, đem cái thân lở lói mủ máu đi tìm những thú vui trong những ngọn lửa.
Thương thay cho chúng ta!
Khổ thay cho chúng ta!
Đau đớn thay cho chúng ta trong vô lượng kiếp vừa qua!
Chúng ta đã bị dục ái nhai nghiến, chúng ta đã bị dục nhiệt não thiêu đốt, chúng ta đã chạy theo dục, đang chạy và sẽ chạy, tiếp tục bị chúng nhai nghiến, thiêu đốt và hành hạ. Càng chạy theo dục chừng nào thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng chạy theo nó thì cái dục càng lớn mạnh, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt mà lại có phản tưởng được vui sướng. Vô minh là đời sống của dục, si ám là cả một kiếp nhân sinh này làm nô lệ cho ái. Dục ái như vậy là vừa đủ rồi, dục ái như vậy là quá đủ rồi, dục ái như vậy là nhàm chán rồi. Ta hãy dừng lại đi! Chấm dứt đi! Chấm dứt để ta có được sự bình an và tịnh lạc.
Chúng ta sẽ tiếp tục quán chiếu về si mê, đó là cảm giác uể oải, lười biếng, dã dượi, thụ động, buồn ngủ. Đây là một cảm giác ngu si, một cảm giác vô minh, cảm giác này giống như một bóng đêm âm u tăm tối. Chúng ta hãy khiếp sợ, kinh sợ đối với bóng đêm của si mê này, chúng ta hãy tưởng tượng ra cảnh chúng ta quờ quạng trong khu rừng hoang vu lạnh lẽo u ám, lạc lõng mất phương hướng, trong khu rừng đó đầy rẫy ác thú hổ báo, rắn độc vậy mà chúng ta lại lò dò, loanh quanh trong đó, chúng ta hoàn toàn không biết sự nguy hiểm và tác hại của nó. Cứ ngồi đó sụp mắt nghiêng đầu đi vào sự mê muội mà không biết sợ hãi cảm giác của si ám, vô minh.
Chúng ta phải đánh tan, đánh sập và thoát ra cảm giác của si ám, không chấp nhận và không cho nó lưu trú trong thân tâm. Phải đánh sập cảm giác lờ đờ, si mê mỗi khi nó xuất hiện trong khi mình tu học, phải quán thật mạnh, nếu không khi thiền là mình ngồi trong hố đen và bóng đêm chứ không phải ngồi tu. Bài phục nguyện dùng để phá ngũ cái, tham sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi. Nếu không phá được 5 cái này là mình không vào được sơ thiền, không cảm nhận được hỷ lạc của sự tu học thật sự.
Trên đây là Minh Thành đưa ra những hình ảnh, cũng như các phương pháp quán và Như lý tác ý cho mọi người dùng, khi gặp tham sân si là phải quán, tác ý như vậy. Khi mọi người đánh đuổi được các ác pháp thì việc tu học được trong trẻo, trí huệ được tỏ tường và thánh trí về năm uẩn được sáng tỏ. Khi mọi người quán chiếu về người cùi lở hưởng dục thì mình cũng giống vậy và phải biết sợ. Sợ cái dục, cái tham, cái ái ở bên trong con người mình, có sợ thì mới đánh đuổi, không chấp nhận, không cho nó xâm chiếm và áp đảo. Đây là 3 thanh gươm báu Đức Phật truyền trao cho mình để đánh đuổi tham sân si.