Quả báo của nghiệp 15
QUẢ BÁO CỦA NGHIỆP 15
Thích Minh Thành
Lúc nào mà ta đây, khen mình, chê người, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, lúc đó tự mình nói: “Bộ xương bản ngã phải không? Bộ xương ta đây phải không? Bộ xương ngu si phải không?”. Lúc nào tranh giành với nhau, ta nói: “Tranh giành bộ xương, tranh giành đống tro, tranh giành nấm mộ hả?”. Tỉnh đi tâm vô minh, tỉnh đi tâm u mê, tỉnh đi tâm si ám này! Đừng ngủ say nữa, đã ngủ tám, chín ngàn năm rồi, ngủ vô lượng kiếp rồi. Bây giờ phải tỉnh đi! Hãy buông xả những tham muốn, sân si, bản ngã, ta đây xuống, để về gần với Phật, về gần với sự thật, về gần với Chánh pháp. Hãy tập buông xả những cảm giác tham, sân, si, bản ngã. Hãy tập mở tâm từ, thương mình và thương sự ngu si của mình.
***
Khi nghe sư cô kể chuyện đi thăm trại trẻ mồ côi, Minh Thành rất xúc động, hình ảnh những đứa bé trong trại mồ côi hiện ra. Khi Minh Thành nghe quý vị nói làm từ thiện, trong tâm Minh Thành rất là hoan hỷ, những hình bóng của phước báu, sự giàu sang, đầy đủ, hạnh phúc, sắc đẹp, sức khỏe, tuổi thọ, được ở thiên giới, cõi trời hiện ra,
Hôm nay, Minh Thành muốn gửi thông điệp về nghiệp đã được Đức Phật nói để cho quý vị thấy những việc quý vị làm hết sức quan trọng. Việc làm từ thiện của quý vị rất tốt, rất quý, rất đẹp và cao cả. Việc quý vị về cúng dường Tam bảo, hộ trì Chánh Pháp là tốt lắm, quý lắm, làm thiện như vậy sẽ gặt hái được nhiều kết quả, trong hiện tại và tương lai.
Sáng nay, quý vị cầm món quà tặng cho người nghèo, khi họ nhận món quà đó, gương mặt đều rất vui vẻ, hoan hỷ. Đức Phật nói sự bố thí, cúng dường mang lại cho mình phước đức, sắc đẹp, sức khỏe, tuổi thọ. Cho nên giữa một người cầm món quà phân phát, trao tặng với những người nghèo khổ nhận món quà đó, hai bên nhìn rất khác nhau, nhìn những người nghèo khổ rất là khó khăn và mình thấy thương cho họ. Chính từ những suy nghĩ, hành động, lời nói của họ dẫn dến thân xác hiện tại họ đang có, đó là thành quả, kết quả của nghiệp. Không ai muốn mình sinh ra nghèo, nhưng đó không phải muốn hay không muốn mà là nghiệp phải chịu. Đức Phật nói: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát). Nếu là bào thai của thiện nghiệp, sanh ra mặt mũi sẽ được lành lặn, đẹp, giàu có, sức khỏe tốt. Nếu từ bào thai của ác nghiệp thì sanh ra là người nghèo hèn, ở đợ, làm thuê, vác mướn, làm kỷ nữ. Nghiệp là bào thai, từ nghiệp sanh ra, mình đã thừa hưởng những việc đã làm trước khi chết.
Những việc làm trong chuyến đi của quý vị là chuyến đi của thiện nghiệp, sẽ đem lại lợi ích, hạnh phúc an lạc, dài lâu. Hơn nữa, quý còn biết thỉnh pháp để tu tập trí tuệ. Trí tuệ là giúp cho những việc làm phước đức được chính xác, chân xác, trí tuệ có thể giữ được phước đức dài lâu, phát triển phước đức rộng lớn, quảng đại, đưa phước đức đến chỗ công đức vô biên của Niết-bàn. Cho nên chuyến đi của quý vị rất xứng đáng, hãy cảm thấy hân hoan, vui sướng khi mình phát quà cho mọi người. Tuy nhiên, khi nhìn thấy những người cùi hủi, nghèo khổ đó, quý vị phải sợ hãi, phải lo lắng, phải cẩn thận vì nếu không khéo, không đợi đến đời sau mà ngay đời này, mình vẫn có thể rơi vào khổ cảnh như vậy. Cho nên chúng ta phải vui đối với việc thiện, nhưng vẫn phải sợ những ác nghiệp.
Đức Thế Tôn nói rất nhiều về những quả báo trong hiện tại và tương lai, chẳng hạn quả báo của người đồ tể giết trâu bò, đâm heo, thuốc chó. Chúng ta sẽ tìm những bài kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất. Đây đều là kinh gốc của Đức Phật, tất cả những điều trong kinh là sự thật được bảo tồn 3.000 năm nay của Phật giáo nguyên thủy, tất cả những lời trong kinh là sự thật.
Bài kinh Đống xương – 445 tu2:
1) Như vầy tôi nghe.
Đức Thế Tôn ở Vương xá, Trúc Lâm chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả MahàMoggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
3) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
4) Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana.
Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả MahàMoggallàna.
5) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả MahàMoggallàna:
- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
7) Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả MahàMoggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
8) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
9) - Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
10) - Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: " Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!"
Ở đây, chúng ta hiểu rằng, trước đó bộ xương này từng là người đồ tể, có gia đình, vợ con đàng hoàng, người này làm nghề mổ giết và bây giờ rơi vào loài ngạ quỷ, làm cô hồn vất vơ vất vưỡng trong không gian. Chúng ta mắt thường không thấy được, chỉ bậc Thánh mới thấy, đó chính là thế giới của ngạ quỷ. Con mắt của chúng ta chỉ thấy hai loại chúng sanh, đó là con người và thú vật, còn con mắt của của Phật và các vị Thánh Tăng có thần thông mới thấy được thế giới của chư Thiên, của Ma. Sáu nẻo luân hồi, gồm: trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, nhưng con mắt của mình chỉ thấy được con người và thú vật; còn con mắt của Phật và các bậc có thần thông thì thấy được thế giới ngoài thế giới của loài người. Ở đây, bộ xương đó trước kia là người đồ tể, sau khi chết trở thành loài ngạ quỷ, đau đớn khủng khiếp, kêu gào thảm thiết.
11) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Thật sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
12) Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Cho nên, không phải điều gì Đức Phật cũng nói, mặc dù biết vô số, vô lượng, vô biên, tất cả vạn thức của chúng sanh, nhưng tùy người mà Phật nói điều nào để giúp ích cho người đó. Ở đây, do Ngài Lakkhana hỏi Ngài Mục Kiền Liên trước mặt Đức Phật, nên mới Đức Phật mới nói là Ngài đã thấy rồi, nhưng Ngài nói thì người ta cũng không tin, và không tin thì sẽ gặp bất hạnh, đau khổ. Vì không tin thì họ sẽ phỉ báng, mà phỉ báng thì họ sẽ đau khổ.
13) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
Tức là không phải do giết bò, giết trâu rồi khi chết sẽ làm bộ xương đó liền, mà trước đó đã bị đọa địa ngục, chịu khổ nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, khi hết nghiệp nặng của địa ngục thì mới sanh vào thế giới của ngạ quỷ.
Chúng ta phải biết rằng, trăm năm ngàn năm ở địa ngục không giống như ở thế gian. Một trăm năm ở thế gian mới chỉ bằng một ngày ở địa ngục, có những địa ngục thì 500 trăm thế gian chỉ bằng một ngày địa ngục và ở cõi trời cũng vậy. Địa ngục khổ đau dài lâu như vậy thì chư Thiên vui sướng cũng dài lâu như vậy, hai cõi này tương phản nhau. Ví dụ ông Cấp Cô Độc cúng dường cho Đức Phật, các Ngài này ở trên cõi trời đến bây giờ mới có 26 ngày, nhưng cõi người đã 2.600 năm. Cho nên tạo ác nghiệp thì sẽ phải chịu cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đau khổ cùng cực, còn làm tthiện nghiệp, phước lành sẽ được vui vẻ, hạnh phúc dài lâu – chúng tương phản nhau như vậy.
Một kẻ giết trâu bò thứ hai cũng được Ngài Mục Kiền Liên nhìn thấy, Ngài nói trước Đức Thế Tôn và Đức Phật cũng xác định đúng là như vậy.
Bài kinh Đồ Tể Giết Trâu Bò – 448tu2 (Gavaghàtako)
1)...
2) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò.
Bài kinh Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim – 448tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha.
Bài kinh Người Giết Dê Bị Lột Da – 449tu2
1) Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắt xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này...
Bài kinh Người Giết Heo Với Đao Kiếm – 449tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này...
Thay vì sợi lông giống như mọi người, thì lông trên cơ thể người này bằng đao kiếm, bị đao kiếm rơi và đâm vào người đó khiến cho máu chảy, đau đớn, quằn quại.
Bài kinh Người Săn Thú Với Cây Lao – 449tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Thân thể phải chịu đựng đau khổ nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, họ đã phải chịu đựng đau khổ địa ngục mới đến cảnh giới ngạ quỷ cô hồn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này.
Bài kinh Người Tra Tấn Với Mũi Tên – 450tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này.
Bài kinh Người Đánh Xe Với Các Cây Kim – 450tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người điều phục các loài thú
Bài kinh Người Do Thám – 451tu2
1) Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
2) Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một gián điệp ở tại Ràjagaha này.
Tất cả những trường hợp trên đều trải qua trăm ngàn năm ở địa ngục, đây chỉ là mới nói ở cảnh giới ngạ quỷ, cô hồn. Trong phần này, Đức Phật nói đầy đủ, nhiều trường hợp: người phán quan ; người phạm tội tà dâm, ngoại tình – đầu bị chìm trong hố phân; người phụ nữ bị lột da đi trong hư không… Quả báo của việc dâng thực phẩm bất tịnh lên chúng Tăng:
Bài kinh Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân – 453tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một Bà-lamôn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỷ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: "Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về "
Do nghiệp đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, cho với quả báo thuần thục còn lại, người đó cảm thọ thân hình chìm trong hố phân.
Bài kinh Người Đàn Bà Khô Héo Đã Rải Than Đỏ trên Một Người Đàn Bà Khác – 455tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác.
Sau đó bị đọa xuống địa ngục nhiều trăm ngàn năm, hết quả báo khổ địa ngục, sanh vào ngạ quỷ là một người đàn bà cằn cỗi, khô héo trên người dính đầy than đi giữa hư không kêu gào thảm thiết, đó là quả báo của việc đánh ghen.
Bài kinh Kẻ Trộm Cướp Đứt Đầu – 455tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
2) Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha.
Trong Kinh Nikāya Đức Phật nói vô số quả báo của ác nghiệp và vô số quả báo của thiện nghiệp, mình phải biết và thấy những điều đó. Đừng sống trong vô tư, không suy nghĩ, mà phải suy xét cho sâu sắc. Nghiệp rất là đáng sợ, ngay giây phút chúng ta ngồi đây, không biết bao nhiêu cảnh khổ trên thế giới, nếu như báo không đưa tin thì mình sẽ không tin tám, chín trăm ngàn người chết.
Cho nên sự thấy biết của mình so với sự thấy biết của Phật, các bậc giác ngộ rất nhỏ hẹp, nhỏ bé. Mình phải tin Phật, tin giáo pháp, cố gắng thực tập hành trì những thiện pháp. Đừng chỉ lo tìm vui, ở ngoài đời thì đi đây, đi đó, ăn chơi; vào tu thì cũng tìm thầy nào giảng vui, đừng nên như vậy, mình phải tìm chân lý, tìm Chánh pháp, tìm sự thật để tu. Đừng xem ông thầy giống người giúp cho mình giải trí, giảng pháp không phải là giải trí mà giảng pháp là trùng tuyên lại, nhắc lại những lời dạy chính xác của Đức Phật để có được trí tuệ, thấy được nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thấy được con đường đưa đến khổ vui của hiện tại và tương lai. Từ đó, giúp mình chọn đường nào vui thì đi, khổ thì tránh, chọn thiện đểt hành, ác thì diệt. Quý vị nhớ phải tìm sự thật, tìm Chánh Pháp, tìm con đường bớt khổ, hết khổ để được vui.
Khi nhắm mắt ra đi thì chúng ta chỉ thừa hưởng nghiệp, còn tài sản không đem theo được, gì hết. Chính vì vậy, Đức Phật dạy tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ. Tu thân là thân nghiệp thiện, kiểm soát hành vi, chánh niệm oai nghi, quán sát những hành động của mình xem là thiện hay bất thiện. Giới có giữ được hay không, có tăng trưởng giới không? Trong năm giới, tám giới, mười giới mình đã thọ, phải tu giới đó, không phải thọ giới là xong mà phải tu giới, tu tâm tánh của mình. Chúng ta cũng đã tụng thập thiện, chúng ta phải tu tâm bớt tham, bỏ tham, bỏ sân, bỏ si, bỏ tà kiến, đó là tu tâm. Tu tập trí tuệ để nhìn thấy bản chất của đời sống này là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt.
Đức Phật đưa ra hai hình ảnh, quăng một tảng xuống, xung quanh hồ nước lớn một trăm người quỳ xuống lạy, cầu mong, mong cầu nguyện: “Tảng đá ơi nổi lên, tảng đá ơi nổi lên”. Tảng đá ấy không thể nổi trên, do nặng quá phải chìm xuống, đó là ví dụ cho nghiệp ác. Đức Phật ví dụ một cái chum trong đó chứa dầu, đổ xuống hồ, một trăm người xung quanh cầu mong: “Dầu ơi hãy chìm đi”. Dầu nhẹ không thể chìm, đó là ví dụ cho thiện nghiệp. Những việc quý vị làm hôm nay giống dầu nổi vậy, không giống như những nghiệp ác trong những bài kinh mà ta đã đọc, chúng ta đọc những bài kinh đó mình để cẩn thận hơn. Từ đó, chúng ta thấy rằng, ngoài đời sống mà con mắt ta thấy thì còn những đời sống khác từ nơi trí huệ của Phật giúp mình biết được. Những việc chúng ta đang làm, những suy nghĩ, lời nói, hành động đang thực hiện, chúng ta cố gắng chọn những điều từ bi, lành thiện, tốt lành để làm, để tu. Không xem thường những phước nhỏ, nghiệp lành nhỏ ít, tất cả những điều đó tích tụ thành thiện pháp, phước báu, công đức. Cho nên hãy hoan hỷ với điều lành, hạnh phúc với điều lành, vui sướng với điều lành, dầu điều lành có trở ngại thử thách nhưng hãy hoan hỷ, hãy cảm thấy vui sướng hạnh phúc với những điều thiện pháp. Vì những điều lành đưa đến:
Nay vui, đời sau vui.
Làm phước, hai đời vui.
Người ấy vui, an vui
Thấy nghiệp thiện mình làm.
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Người ấy sướng vui sướng.
Khi thấy quả thiện nở hoa.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Tất cả là nhân quả, tất cả những điều thiện làm sẽ không bị mất đi, đừng nghĩ rằng sao tôi làm mà họ không cảm ơn, không biết ơn, điều đó không cần, mà mình hãy cứ làm, đến lúc Đức Phật gọi là quả thuần thục, tức là chín mùi thì kết quả thiện nghiệp phước báu của mình sẽ đơm bông, trổ hoa. Mình vui mà làm, hoan hỷ mà làm. Do đã biết nhân quả, nên việc mình làm tuy cực nhưng mà vẫn vui, vẫn tùy hỷ, hoan hỷ, hạnh phúc, vui sướng. Dầu cho mồ hôi có đổ, có mệt nhưng mình vẫn làm vì hạnh phúc, lợi ích, an lạc cho mình cho người trong hiện tại và tương lai. Điều đó đem đến niềm vui cho tất cả mọi người.
Minh Thành nhắc lại để tán thán công việc quý vị. Quý vị hãy vui với việc từ thiện, hãy mừng với việc bố thí ,cúng dường, hãy tùy hỷ với thiện pháp công đức. Những điều này sẽ bao bọc, chở che cho quý vị, chính phước này độ cho quý vị, cứu quý vị, làm cho quý vị hạnh phúc, an lạc dài lâu. Nhớ là có điều kiện làm từ thiện thì rất tốt, điều kiện ít thì làm ít, điều kiện vừa thì làm vừa, không có điều kiện vẫn làm từ thiện bằng nhiều phương cách khác. Ví dụ, một suy nghĩ thiện về người khác cũng là làm việc thiện – ý thiện; một lời nói thiện với người khác cũng là từ thiện – khẩu thiện; một hành động thiện đối với người trong gia đình, người thân yêu, những người khổ mà mình gặp – những hành động bằng từ tâm đó là thân từ thiện; nếu mình có những điều này thì đó chính là món quà từ thiện. Minh Thành chúc cho quý vị có ý từ thiện, khẩu từ thiện, thân từ thiện, có của cải nhiều để làm từ thiện cho tất cả nhiều người, bố thí, cúng dường, hộ pháp, đem lại lợi lạc cho tất cả.
Phật tử: Bạch với Thầy, hôm nay cũng nhờ duyên đi từ thiện mà được gặp thầy.
Sư phụ: Cô cảm nhận như thế nào?
Phật tử: Con cảm nhận vui.
Sư phụ: Cô có cảm thấy việc làm của mình có ý nghĩa không?
Phật tử: Dạ có.
Sư phụ: Cô có thấy hoan hỷ?
Phật tử: Dạ hoan hỷ.
Sư phụ: Có muốn đi làm từ thiện nữa không?
Phật tử: Dạ có.
Sư phụ: Rất tốt!
./.
Thích Minh Thành
Lúc nào mà ta đây, khen mình, chê người, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, lúc đó tự mình nói: “Bộ xương bản ngã phải không? Bộ xương ta đây phải không? Bộ xương ngu si phải không?”. Lúc nào tranh giành với nhau, ta nói: “Tranh giành bộ xương, tranh giành đống tro, tranh giành nấm mộ hả?”. Tỉnh đi tâm vô minh, tỉnh đi tâm u mê, tỉnh đi tâm si ám này! Đừng ngủ say nữa, đã ngủ tám, chín ngàn năm rồi, ngủ vô lượng kiếp rồi. Bây giờ phải tỉnh đi! Hãy buông xả những tham muốn, sân si, bản ngã, ta đây xuống, để về gần với Phật, về gần với sự thật, về gần với Chánh pháp. Hãy tập buông xả những cảm giác tham, sân, si, bản ngã. Hãy tập mở tâm từ, thương mình và thương sự ngu si của mình.
***
Khi nghe sư cô kể chuyện đi thăm trại trẻ mồ côi, Minh Thành rất xúc động, hình ảnh những đứa bé trong trại mồ côi hiện ra. Khi Minh Thành nghe quý vị nói làm từ thiện, trong tâm Minh Thành rất là hoan hỷ, những hình bóng của phước báu, sự giàu sang, đầy đủ, hạnh phúc, sắc đẹp, sức khỏe, tuổi thọ, được ở thiên giới, cõi trời hiện ra,
Hôm nay, Minh Thành muốn gửi thông điệp về nghiệp đã được Đức Phật nói để cho quý vị thấy những việc quý vị làm hết sức quan trọng. Việc làm từ thiện của quý vị rất tốt, rất quý, rất đẹp và cao cả. Việc quý vị về cúng dường Tam bảo, hộ trì Chánh Pháp là tốt lắm, quý lắm, làm thiện như vậy sẽ gặt hái được nhiều kết quả, trong hiện tại và tương lai.
Sáng nay, quý vị cầm món quà tặng cho người nghèo, khi họ nhận món quà đó, gương mặt đều rất vui vẻ, hoan hỷ. Đức Phật nói sự bố thí, cúng dường mang lại cho mình phước đức, sắc đẹp, sức khỏe, tuổi thọ. Cho nên giữa một người cầm món quà phân phát, trao tặng với những người nghèo khổ nhận món quà đó, hai bên nhìn rất khác nhau, nhìn những người nghèo khổ rất là khó khăn và mình thấy thương cho họ. Chính từ những suy nghĩ, hành động, lời nói của họ dẫn dến thân xác hiện tại họ đang có, đó là thành quả, kết quả của nghiệp. Không ai muốn mình sinh ra nghèo, nhưng đó không phải muốn hay không muốn mà là nghiệp phải chịu. Đức Phật nói: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát). Nếu là bào thai của thiện nghiệp, sanh ra mặt mũi sẽ được lành lặn, đẹp, giàu có, sức khỏe tốt. Nếu từ bào thai của ác nghiệp thì sanh ra là người nghèo hèn, ở đợ, làm thuê, vác mướn, làm kỷ nữ. Nghiệp là bào thai, từ nghiệp sanh ra, mình đã thừa hưởng những việc đã làm trước khi chết.
Những việc làm trong chuyến đi của quý vị là chuyến đi của thiện nghiệp, sẽ đem lại lợi ích, hạnh phúc an lạc, dài lâu. Hơn nữa, quý còn biết thỉnh pháp để tu tập trí tuệ. Trí tuệ là giúp cho những việc làm phước đức được chính xác, chân xác, trí tuệ có thể giữ được phước đức dài lâu, phát triển phước đức rộng lớn, quảng đại, đưa phước đức đến chỗ công đức vô biên của Niết-bàn. Cho nên chuyến đi của quý vị rất xứng đáng, hãy cảm thấy hân hoan, vui sướng khi mình phát quà cho mọi người. Tuy nhiên, khi nhìn thấy những người cùi hủi, nghèo khổ đó, quý vị phải sợ hãi, phải lo lắng, phải cẩn thận vì nếu không khéo, không đợi đến đời sau mà ngay đời này, mình vẫn có thể rơi vào khổ cảnh như vậy. Cho nên chúng ta phải vui đối với việc thiện, nhưng vẫn phải sợ những ác nghiệp.
Đức Thế Tôn nói rất nhiều về những quả báo trong hiện tại và tương lai, chẳng hạn quả báo của người đồ tể giết trâu bò, đâm heo, thuốc chó. Chúng ta sẽ tìm những bài kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, I. Phẩm Thứ Nhất. Đây đều là kinh gốc của Đức Phật, tất cả những điều trong kinh là sự thật được bảo tồn 3.000 năm nay của Phật giáo nguyên thủy, tất cả những lời trong kinh là sự thật.
Bài kinh Đống xương – 445 tu2:
1) Như vầy tôi nghe.
Đức Thế Tôn ở Vương xá, Trúc Lâm chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhana và Tôn giả MahàMoggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
3) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhana.
4) Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhana:
- Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhana.
Chúng ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực.
- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhana vâng đáp Tôn giả MahàMoggallàna.
5) Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khi đi từ núi Gijjhakta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Rồi Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả MahàMoggallàna:
- Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
- Này Hiền giả Lakkhana, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
7) Rồi Tôn giả Lakkhana và Tôn giả MahàMoggallàna sau khi đi khất thực ở Ràjagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
8) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhana nói với Tôn giả Mahà Moggallàna:
- Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallàna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallàna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
9) - Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
10) - Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: " Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!"
Ở đây, chúng ta hiểu rằng, trước đó bộ xương này từng là người đồ tể, có gia đình, vợ con đàng hoàng, người này làm nghề mổ giết và bây giờ rơi vào loài ngạ quỷ, làm cô hồn vất vơ vất vưỡng trong không gian. Chúng ta mắt thường không thấy được, chỉ bậc Thánh mới thấy, đó chính là thế giới của ngạ quỷ. Con mắt của chúng ta chỉ thấy hai loại chúng sanh, đó là con người và thú vật, còn con mắt của của Phật và các vị Thánh Tăng có thần thông mới thấy được thế giới của chư Thiên, của Ma. Sáu nẻo luân hồi, gồm: trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, nhưng con mắt của mình chỉ thấy được con người và thú vật; còn con mắt của Phật và các bậc có thần thông thì thấy được thế giới ngoài thế giới của loài người. Ở đây, bộ xương đó trước kia là người đồ tể, sau khi chết trở thành loài ngạ quỷ, đau đớn khủng khiếp, kêu gào thảm thiết.
11) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Thật sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
12) Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Cho nên, không phải điều gì Đức Phật cũng nói, mặc dù biết vô số, vô lượng, vô biên, tất cả vạn thức của chúng sanh, nhưng tùy người mà Phật nói điều nào để giúp ích cho người đó. Ở đây, do Ngài Lakkhana hỏi Ngài Mục Kiền Liên trước mặt Đức Phật, nên mới Đức Phật mới nói là Ngài đã thấy rồi, nhưng Ngài nói thì người ta cũng không tin, và không tin thì sẽ gặp bất hạnh, đau khổ. Vì không tin thì họ sẽ phỉ báng, mà phỉ báng thì họ sẽ đau khổ.
13) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Ràjagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
Tức là không phải do giết bò, giết trâu rồi khi chết sẽ làm bộ xương đó liền, mà trước đó đã bị đọa địa ngục, chịu khổ nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, khi hết nghiệp nặng của địa ngục thì mới sanh vào thế giới của ngạ quỷ.
Chúng ta phải biết rằng, trăm năm ngàn năm ở địa ngục không giống như ở thế gian. Một trăm năm ở thế gian mới chỉ bằng một ngày ở địa ngục, có những địa ngục thì 500 trăm thế gian chỉ bằng một ngày địa ngục và ở cõi trời cũng vậy. Địa ngục khổ đau dài lâu như vậy thì chư Thiên vui sướng cũng dài lâu như vậy, hai cõi này tương phản nhau. Ví dụ ông Cấp Cô Độc cúng dường cho Đức Phật, các Ngài này ở trên cõi trời đến bây giờ mới có 26 ngày, nhưng cõi người đã 2.600 năm. Cho nên tạo ác nghiệp thì sẽ phải chịu cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đau khổ cùng cực, còn làm tthiện nghiệp, phước lành sẽ được vui vẻ, hạnh phúc dài lâu – chúng tương phản nhau như vậy.
Một kẻ giết trâu bò thứ hai cũng được Ngài Mục Kiền Liên nhìn thấy, Ngài nói trước Đức Thế Tôn và Đức Phật cũng xác định đúng là như vậy.
Bài kinh Đồ Tể Giết Trâu Bò – 448tu2 (Gavaghàtako)
1)...
2) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một đống thịt đang đi giữa hư không. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ nó, cắn xé nó, và nó kêu lên tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò.
Bài kinh Một Miếng Thịt và Kẻ Bắt Chim – 448tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một miếng thịt đang đi giữa hư không... đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một kẻ săn chim ở Ràjagaha.
Bài kinh Người Giết Dê Bị Lột Da – 449tu2
1) Ở đây, này Hiền giả... tôi thấy một bị da... cắn mổ nó, cắt xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn...
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người đồ tể giết dê ở tại Ràjagaha này...
Bài kinh Người Giết Heo Với Đao Kiếm – 449tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng đao kiếm đang đi giữa hư không. Các đao kiếm ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người giết heo ở tại Ràjagaha này...
Thay vì sợi lông giống như mọi người, thì lông trên cơ thể người này bằng đao kiếm, bị đao kiếm rơi và đâm vào người đó khiến cho máu chảy, đau đớn, quằn quại.
Bài kinh Người Săn Thú Với Cây Lao – 449tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các cây lao đang đi trên hư không. Những cây lao ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Thân thể phải chịu đựng đau khổ nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, họ đã phải chịu đựng đau khổ địa ngục mới đến cảnh giới ngạ quỷ cô hồn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người thợ săn thú ở tại Ràjagaha này.
Bài kinh Người Tra Tấn Với Mũi Tên – 450tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng các mũi tên, đang đi giữa hư không. Những mũi tên ấy tiếp tục đứng dựng lên và rơi xuống trên thân người ấy, và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người tra tấn ở tại Ràjagaha này.
Bài kinh Người Đánh Xe Với Các Cây Kim – 450tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi kim đang đi giữa hư không...
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người điều phục các loài thú
Bài kinh Người Do Thám – 451tu2
1) Ở đây, thưa Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người với lông bằng mũi tên đang đi giữa hư không.
2) Các mũi tên ấy đâm vào đầu và ra khỏi miệng người ấy. Chúng đâm vào miệng và ra khỏi ngực người ấy, chúng đâm vào ngực và ra khỏi bụng người ấy, chúng đâm vào bụng và ra khỏi bắp vế của người ấy, chúng đâm vào bắp vế và ra khỏi cổ chân của người ấy, chúng đâm vào cổ chân và ra khỏi bàn chân của người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một gián điệp ở tại Ràjagaha này.
Tất cả những trường hợp trên đều trải qua trăm ngàn năm ở địa ngục, đây chỉ là mới nói ở cảnh giới ngạ quỷ, cô hồn. Trong phần này, Đức Phật nói đầy đủ, nhiều trường hợp: người phán quan ; người phạm tội tà dâm, ngoại tình – đầu bị chìm trong hố phân; người phụ nữ bị lột da đi trong hư không… Quả báo của việc dâng thực phẩm bất tịnh lên chúng Tăng:
Bài kinh Tà Ác Là Bà La Môn Ăn Phân – 453tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người chìm trong hố phân, ăn phân bằng hai tay.
2) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một Bà-lamôn tại Ràjgaha này. Khi bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa đang giảng dạy, người ấy mời chúng Tỷ-kheo dùng cơm. Rồi người ấy lấy một cái gáo đựng đầy phân và nói: "Ôi mong các Tôn giả ăn cho tận kỳ thỏa thích và mang về "
Do nghiệp đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, cho với quả báo thuần thục còn lại, người đó cảm thọ thân hình chìm trong hố phân.
Bài kinh Người Đàn Bà Khô Héo Đã Rải Than Đỏ trên Một Người Đàn Bà Khác – 455tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác.
Sau đó bị đọa xuống địa ngục nhiều trăm ngàn năm, hết quả báo khổ địa ngục, sanh vào ngạ quỷ là một người đàn bà cằn cỗi, khô héo trên người dính đầy than đi giữa hư không kêu gào thảm thiết, đó là quả báo của việc đánh ghen.
Bài kinh Kẻ Trộm Cướp Đứt Đầu – 455tu2
1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gujjhakùta bước xuống, tôi thấy một cái thân không đầu đi giữa hư không. Con mắt và miệng thời ở trên ngực.
2) Các con chim kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
3) Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một người ăn cướp tên là Hàrika ở tại Ràjagaha.
Trong Kinh Nikāya Đức Phật nói vô số quả báo của ác nghiệp và vô số quả báo của thiện nghiệp, mình phải biết và thấy những điều đó. Đừng sống trong vô tư, không suy nghĩ, mà phải suy xét cho sâu sắc. Nghiệp rất là đáng sợ, ngay giây phút chúng ta ngồi đây, không biết bao nhiêu cảnh khổ trên thế giới, nếu như báo không đưa tin thì mình sẽ không tin tám, chín trăm ngàn người chết.
Cho nên sự thấy biết của mình so với sự thấy biết của Phật, các bậc giác ngộ rất nhỏ hẹp, nhỏ bé. Mình phải tin Phật, tin giáo pháp, cố gắng thực tập hành trì những thiện pháp. Đừng chỉ lo tìm vui, ở ngoài đời thì đi đây, đi đó, ăn chơi; vào tu thì cũng tìm thầy nào giảng vui, đừng nên như vậy, mình phải tìm chân lý, tìm Chánh pháp, tìm sự thật để tu. Đừng xem ông thầy giống người giúp cho mình giải trí, giảng pháp không phải là giải trí mà giảng pháp là trùng tuyên lại, nhắc lại những lời dạy chính xác của Đức Phật để có được trí tuệ, thấy được nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thấy được con đường đưa đến khổ vui của hiện tại và tương lai. Từ đó, giúp mình chọn đường nào vui thì đi, khổ thì tránh, chọn thiện đểt hành, ác thì diệt. Quý vị nhớ phải tìm sự thật, tìm Chánh Pháp, tìm con đường bớt khổ, hết khổ để được vui.
Khi nhắm mắt ra đi thì chúng ta chỉ thừa hưởng nghiệp, còn tài sản không đem theo được, gì hết. Chính vì vậy, Đức Phật dạy tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ. Tu thân là thân nghiệp thiện, kiểm soát hành vi, chánh niệm oai nghi, quán sát những hành động của mình xem là thiện hay bất thiện. Giới có giữ được hay không, có tăng trưởng giới không? Trong năm giới, tám giới, mười giới mình đã thọ, phải tu giới đó, không phải thọ giới là xong mà phải tu giới, tu tâm tánh của mình. Chúng ta cũng đã tụng thập thiện, chúng ta phải tu tâm bớt tham, bỏ tham, bỏ sân, bỏ si, bỏ tà kiến, đó là tu tâm. Tu tập trí tuệ để nhìn thấy bản chất của đời sống này là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt.
Đức Phật đưa ra hai hình ảnh, quăng một tảng xuống, xung quanh hồ nước lớn một trăm người quỳ xuống lạy, cầu mong, mong cầu nguyện: “Tảng đá ơi nổi lên, tảng đá ơi nổi lên”. Tảng đá ấy không thể nổi trên, do nặng quá phải chìm xuống, đó là ví dụ cho nghiệp ác. Đức Phật ví dụ một cái chum trong đó chứa dầu, đổ xuống hồ, một trăm người xung quanh cầu mong: “Dầu ơi hãy chìm đi”. Dầu nhẹ không thể chìm, đó là ví dụ cho thiện nghiệp. Những việc quý vị làm hôm nay giống dầu nổi vậy, không giống như những nghiệp ác trong những bài kinh mà ta đã đọc, chúng ta đọc những bài kinh đó mình để cẩn thận hơn. Từ đó, chúng ta thấy rằng, ngoài đời sống mà con mắt ta thấy thì còn những đời sống khác từ nơi trí huệ của Phật giúp mình biết được. Những việc chúng ta đang làm, những suy nghĩ, lời nói, hành động đang thực hiện, chúng ta cố gắng chọn những điều từ bi, lành thiện, tốt lành để làm, để tu. Không xem thường những phước nhỏ, nghiệp lành nhỏ ít, tất cả những điều đó tích tụ thành thiện pháp, phước báu, công đức. Cho nên hãy hoan hỷ với điều lành, hạnh phúc với điều lành, vui sướng với điều lành, dầu điều lành có trở ngại thử thách nhưng hãy hoan hỷ, hãy cảm thấy vui sướng hạnh phúc với những điều thiện pháp. Vì những điều lành đưa đến:
Nay vui, đời sau vui.
Làm phước, hai đời vui.
Người ấy vui, an vui
Thấy nghiệp thiện mình làm.
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Người ấy sướng vui sướng.
Khi thấy quả thiện nở hoa.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)
Tất cả là nhân quả, tất cả những điều thiện làm sẽ không bị mất đi, đừng nghĩ rằng sao tôi làm mà họ không cảm ơn, không biết ơn, điều đó không cần, mà mình hãy cứ làm, đến lúc Đức Phật gọi là quả thuần thục, tức là chín mùi thì kết quả thiện nghiệp phước báu của mình sẽ đơm bông, trổ hoa. Mình vui mà làm, hoan hỷ mà làm. Do đã biết nhân quả, nên việc mình làm tuy cực nhưng mà vẫn vui, vẫn tùy hỷ, hoan hỷ, hạnh phúc, vui sướng. Dầu cho mồ hôi có đổ, có mệt nhưng mình vẫn làm vì hạnh phúc, lợi ích, an lạc cho mình cho người trong hiện tại và tương lai. Điều đó đem đến niềm vui cho tất cả mọi người.
Minh Thành nhắc lại để tán thán công việc quý vị. Quý vị hãy vui với việc từ thiện, hãy mừng với việc bố thí ,cúng dường, hãy tùy hỷ với thiện pháp công đức. Những điều này sẽ bao bọc, chở che cho quý vị, chính phước này độ cho quý vị, cứu quý vị, làm cho quý vị hạnh phúc, an lạc dài lâu. Nhớ là có điều kiện làm từ thiện thì rất tốt, điều kiện ít thì làm ít, điều kiện vừa thì làm vừa, không có điều kiện vẫn làm từ thiện bằng nhiều phương cách khác. Ví dụ, một suy nghĩ thiện về người khác cũng là làm việc thiện – ý thiện; một lời nói thiện với người khác cũng là từ thiện – khẩu thiện; một hành động thiện đối với người trong gia đình, người thân yêu, những người khổ mà mình gặp – những hành động bằng từ tâm đó là thân từ thiện; nếu mình có những điều này thì đó chính là món quà từ thiện. Minh Thành chúc cho quý vị có ý từ thiện, khẩu từ thiện, thân từ thiện, có của cải nhiều để làm từ thiện cho tất cả nhiều người, bố thí, cúng dường, hộ pháp, đem lại lợi lạc cho tất cả.
Phật tử: Bạch với Thầy, hôm nay cũng nhờ duyên đi từ thiện mà được gặp thầy.
Sư phụ: Cô cảm nhận như thế nào?
Phật tử: Con cảm nhận vui.
Sư phụ: Cô có cảm thấy việc làm của mình có ý nghĩa không?
Phật tử: Dạ có.
Sư phụ: Cô có thấy hoan hỷ?
Phật tử: Dạ hoan hỷ.
Sư phụ: Có muốn đi làm từ thiện nữa không?
Phật tử: Dạ có.
Sư phụ: Rất tốt!
./.