Tứ Thánh Đế - Tương Ưng Sự Thật - Rơi Xuống Vực Thẳm
Kinh Nikāya Giảng Giải
TỨ THÁNH ĐẾ
TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
RƠI XUỐNG VỰC THẲM
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu đời sống PAGEREF _Toc114413965 \h 1
II. Vực thẳm PAGEREF _Toc114413966 \h 6
III. Giải thoát PAGEREF _Toc114413967 \h 8
I. Quán chiếu đời sống
Nhờ nhân duyên có Phật tử xin được nghe Tứ Thánh Đế nhiều lần, Minh Thành chợt nhớ chúng ta đang học về Tương Ưng Sự Thật và trong hoàn cảnh hiện tại cũng rất phù hợp để chúng ta chiêm nghiệm sự thật mà Đức Phật đã chứng ngộ, trình bày, hiển thị, tuyên thuyết. Gần đây có rất nhiều thảm cảnh, trong nước đã lên hơn hai trăm ngàn ca nhiễm, có ngày lên chín ngàn ca nhiễm, người chết lên mấy ngàn người. Minh Thành thấy hình ảnh rất xúc động, những hủ cốt được các chú bộ đội chiến sĩ để trên từng bàn, mỗi bàn là một quận, nhiều người không dự đám tang cũng không lãnh hủ cốt được vì đang cách ly, không phải trong nước mà khu vực Đông Nam Á cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, bệnh hoạn khắp mọi nơi, khổ đau, túng thiếu, lo lắng, bất an, sợ hãi.
Đây là thời điểm mà chúng ta đang chứng kiến tận mắt những gì Đức Phật đã chứng ngộ, những sự thật mà các bậc Thánh đã tuyên thuyết, trình bày mấy ngàn năm qua, chúng ta lấy sự kiện này làm động lực để thúc đẩy bản thân tăng thượng, hướng thượng, từ đó thể nhập tri kiến, cái thấy biết sự thật của bậc Thánh. Những bài kinh đã học rồi nhưng vẫn chưa thấm được vì nó rất sâu sắc, chúng ta phải nghe và chiêm nghiệm hàng trăm lần, nhiều ngàn lần. Có rất nhiều nỗi khổ nhưng chúng ta chỉ mới thấy nỗi khổ của bệnh, bao nhiêu đó cũng đủ làm liên luỵ mọi thứ, mọi sự bức xúc, thúc giục, lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, sân hận, khổ đau đang diễn ra để chúng ta nhìn thấy sâu sắc.
Đây là minh chứng hùng hồn cho những gì đang xảy ra trước mắt ta, xung quanh ta, đang là một sự thật trong hiện tại khổ đau. Hãy chiêm nghiệm, suy tư, tư duy thật sâu sắc bản chất của đời sống này, một câu pháp ấn được Đức Phật nhắc lại nhiều lần mà trải qua biết bao năm đến giờ chúng ta mới thấy sự sâu xa, tuyệt diệu của nó, Đức Phật nói tu tập Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi, tu tập Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần đều liên hệ đến viễn ly, ly tham, yểm ly, nhàm chán, xa lìa, hướng đến từ bỏ, đoạn tận, những câu này là dấu ấn của chánh pháp, tất cả thiện pháp của Đức Phật chỉ nhằm mục đích liên hệ đến viễn ly, liên hệ sự yểm ly, sự chán lìa, liên hệ đến không tham muốn và hướng đến từ bỏ, chấm dứt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Chỗ tuyệt diệu là chỗ liên hệ đến viễn ly, yểm ly, xuất ly, ly tham, nhàm chán, hướng đến từ bỏ, đây là chỗ tuyệt diệu nhất mà có khi tu suốt đời cũng không thấy được, không thể nhập được, tu cái gì cũng phải liên hệ đến viễn ly, yểm ly, lìa xa, nhàm chán và xa lìa. Nếu tâm không phát sanh ra được những cảm thọ này thì tu trong luân hồi, tu trong dục, tu trong tham, tu để được cái gì đó chứ không phải tu để viễn ly, xả ly.
Tu là tất cả mọi việc từ nghe pháp, ngồi thiền, công việc cho đến các phép quán đều nhắm đến việc xa lìa những thứ đau khổ này chứ không phải tu với tâm mong muốn được cái gì đó, đó không phải pháp ấn của chư Phật, đó là tu trong hữu vi, hữu ái, hữu lậu, tu là tâm phải hướng đến sự rời xa sắc dù cho đó là sắc gì, rời xa vật chất tiền của, tài sản, sắc đẹp, tu với cái tâm rời xa, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, nếu không thì khổ đau dài dài. Một người ăn xin bị nhiễm bệnh với một tỷ phú nhiễm bệnh thì hai cái bệnh đâu có khác nhau, đều là mắc bệnh hết cho nên tất cả hành là khổ đau.
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
Chữ "hành" chính là sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chữ "hành" đó là sự vận hành của năm uẩn. Dù cho ở hình thái của kẻ ăn mày đói rách với một đại gia quyền quý khi nằm trên gường bệnh gắn máy trợ thở cũng giống nhau, khi tham dục lên cũng như nhau, khi bản ngã, sân hận cũng như nhau, ăn mày có bản ngã của ăn mày, ông vua có bản ngã của ông vua.
Dù có là sắc của chư thiên thì đệ tử Gotama cũng không mong cầu mà chỉ mong cầu sự chấm dứt tất cả sắc, mong cầu sự nhàm chán tất cả sắc, mong cầu sự thoát ra tất cả sắc. Thân xác của một người ăn mày với thân xác của một đại gia khi gắn máy thở lên có gì khác nhau, khi tắt thở nằm xuống có gì khác nhau, cũng là đất; nước; gió; lửa, cũng là máu mủ, giòi bọ, cũng là phân và nước tiểu. "Với Tuệ, quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán", đó là con đường trong sáng của chư Phật, vì thế cần nhớ pháp ấn tuyệt đối quan trọng trong tất cả sự tác ý của chúng ta, tất cả các việc từ công quả, học kinh, ngồi thiền đều hướng đến yểm ly, xả ly, nhàm chán, xa lìa, nhất là các vị Phật tử lớn tuổi trong giai đoạn này cần quán chiếu đề mục này thật nhiều, khi đó tâm sẽ không thấy lo lắng, sợ hãi vì ý muốn của mình muốn từ bỏ tất cả, chừng nào còn muốn nắm giữ chừng đó còn sợ mất, còn đằng này tâm muốn chấm dứt, muốn từ bỏ nên lòng mình sẽ bình an. Cho nên Đức Phật nói sự lo lắng, sợ hãi chỉ khởi lên với người ngu chứ không khởi lên trong tâm người trí.
"-- Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỳ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita). Phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỳ-kheo, tất cả thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỳ-kheo, tất cả hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí".
(Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Người trí là người hướng đến sự viễn ly, xả ly, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn thì không còn lo lắng, sợ hãi nữa nên trong lòng mới an tịnh, lắng dịu, lúc đó trí tuệ thù thắng mới rực sáng, khi đó sẽ giác ngộ được sự thật, dập tắt hoàn toàn tham, sân, si là Niết-bàn, cho nên những pháp ấn này thâm sâu cùng cực, tu suốt đời để mong cầu thể nhập pháp ấn đó. Phải nhớ tất cả hành là khổ đau, mọi suy nghĩ, cảm giác, nhận thức, hình bóng, mọi thân xác, hình hài thì bản chất của nó đều là khổ đau. Những người mất việc làm không có tiền sinh sống mới khổ còn người giàu không khổ, có phải vậy không? Hoàn toàn không chính xác, giàu còn lo lắng, bất an nhiều hơn nữa vì sợ bệnh, sợ chết, sợ mất tài sản lớn, vì thế tâm thức của mình chỉ nhìn có một chiều chứ không có cái nhìn viên mãn, chánh giác cho nên phải nương vào trí tuệ Đức Phật để thấy các hành là vô thường, vô ngã.
"Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)
"Tất cả pháp vô ngã
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Mặc dù mình đang sinh sống như vậy nhưng trong tâm lúc nào cũng phải thấy sẽ có ngày mình nhắm mắt xuôi tay, không có cái gì trên đời này là của mình, ngay cả căn nhà mình ở cũng không phải của mình. Mình phải chuẩn bị tâm lý đó, tâm lý xa rời, từ bỏ, chấm dứt đối với những luyến ái, tham dính trong tâm. Lúc nào cũng phải chuẩn bị tâm lý mình có thể chết bất cứ lúc nào, quán chiếu được như vậy thì khi ra đi sẽ được bình an, an tịnh, không bị dao động. Đối với thân xác này, đối với đời sống này, đối với ngôi chùa, tịnh thất dù mình đang sống trong đó nhưng phải tác ý nhàm chán, rời xa, ly tham, chấm dứt, từ bỏ đối với những thứ đó, tu cái gì cũng phải hướng tâm về đó vì nếu không mình sẽ đau khổ, nằm trong nhân quả thiện ác, nằm trong nhân quả của sanh diệt hữu vi, nếu mình làm cái gì mà không được ai khen hoặc bị chê là mình bực mình, gắt gỏng, còn đằng này làm siêng năng, nỗ lực nhưng hướng đến từ bỏ, vì thế dù làm siêng năng nhưng bản ngã không phát trển, hữu ái không có gốc để bám vào.
Đây là chỗ đặc biệt, dù siêng năng làm công quả, tu tập nhưng không có đất để bản ngã, tham ái đối với năm uẩn phát triển vì tâm lúc nào cũng hướng đến viễn ly, từ bỏ, chấm dứt, ngược lại tâm không hướng đến những điều này thì làm bất cứ gì cũng dính mắc trong đó, làm cái gì cũng có bản ngã, đây là điều sâu xa mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã tìm ra và chứng ngộ. Đức Thế Tôn không phải không lo cho đệ tử của ngài, các bậc A-la-hán không phải là người vô cảm nhưng tâm các ngài không có đất để mọc rễ sự tái sanh ở đời sau vì tâm các ngài đều hướng đến sự yểm ly, ly tham, từ bỏ, như vậy mới là kiếp sống cuối cùng, không tái tạo ra ngũ uẩn nữa.
Thầy Pháp An sống an tịnh nhưng lúc nào cũng hướng đến nhàm chán, ly tham, từ bỏ đời sống vô thường này, từ bỏ những cái thường tình của thế gian, con cháu, anh em gặp thì nhắc nhở, khuyến khích tu tập chứ thật sự trong tâm hướng đến từ bỏ, chấm dứt, xả ly thì đời sau không sanh lại thế giới này mà sanh lên chư thiên tu tập làm Thánh đệ tử thiên, còn khi tu tập như vậy nhưng trong tâm còn thương nhớ, ưa thích thì đời sau còn quay lại để gặp nhau, đó là không tăng thượng trong Thánh pháp, vì thế cần siêng năng tác ý mỗi ngày.
Có rất nhiều bài kinh sâu xa, khi đọc kinh phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán chiếu chứ không phải đọc rồi là xong hoặc học thuộc lòng là xong, mà phải vừa đọc vừa nghiền ngẫm những chỗ quan trọng trong lời kinh để thể nhập trí tuệ đó, không bị mất đi. Tất cả chúng sanh đều đang rơi xuống vực thẳm mà không ai hay biết, vẫn sống trong lơ là, vô tư, vô cảm không thấy khổ đau, dịch bệnh như vậy mà hỏi đến vẫn nói bình thường, sự vô minh rất ghê gớm ngày đêm bao phủ tâm thức, ngoài ra còn tham ái, tự ngã.
II. Vực thẳm
"Một thời, Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gìjjhakuuta (Linh Thứu).
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, chúng ta hãy đi đến Patibhànakuuta để nghỉ trưa.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng số đông Tỳ-kheo đi đến Patibhànakàta. Một Tỳ-kheo thấy một vực thẳm ở Patibhànakuuta, thấy vậy, liền bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỉ với các hành đưa đến già, họ hoan hỉ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỉ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết,... do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ".
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, II. Vực Thẳm)
Họ hoan hỉ, hân hoan, thích thú với những thứ buồn đau, khổ sầu, tai hoạ, hiểm nạn và nguy nan, họ đam mê, khát khao điên cuồng trong đó, họ thèm thuồng, ước mơ những thứ đưa đến tái sanh, họ hoan hỉ với những thứ đưa đến bệnh tật, già nua và chết chóc, khi thấy được những điều này là thành tựu chánh kiến. Họ tạo dựng những thứ đưa đến đau khổ, sầu lo vì họ thích thú, họ đầu tư vào đó, ngày đêm để tâm vào đó, họ dùng mồ hôi, nước mắt, tâm huyết, cả cuộc đời để xây dựng, gầy dựng những thứ đưa đến tái sanh, tạo dựng những thứ đưa đến già nua, bệnh tật, chết chóc, diệt vong.
Bài kinh này làm rung động địa cầu khi Đức Thế Tôn tuyên thuyết một sự thật của bậc Thánh, không phải là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì không thể nhìn ra nổi cái này, lời kinh nói ngắn gọn nhưng là cả một sự chứng ngộ của bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, có tu suốt đời cũng chưa chắc nghe được những lời này chứ đừng nói gì được thực hành.
Một vị Tỳ-kheo đi ngang thấy một vực thẳm lớn liền hỏi Thế Tôn có vực thẳm nào lớn hơn vực thẳm này nữa không thì Thế Tôn nói có một vực thẳm còn lớn hơn, kinh hãi hơn nữa, vị Tỳ-kheo hỏi vực thẳm đó như thế nào thì Thế Tôn trả lời những ai không như thật rõ biết bốn sự thật của bậc Thánh, không thấy ngũ uẩn này là khổ, không thấy bản chất của đời sống là bất an, lo lắng, sợ hãi thì đây là vực thẳm to lớn, cực kì nguy hiểm.
Tu mà không thấy tham, sân, si, vô minh và bản ngã là nguyên nhân đưa đến đau khổ thì đó là vực thẳm nguy hiểm, tu mà không thấy những cảm giác ham muốn, nóng giận, sân hận, vật vờ, si ám, những cảm giác vênh váo, ta đây, chấp ngã là căn nguyên của đau khổ, là gốc rễ của sự thống khổ thì đó là vực thẳm nguy hiểm, không thấy tu là cần diệt khổ và con đường dẫn đến chấm dứt khổ là thấy đúng, nghĩ đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng trên nền tảng đây là khổ thì đó là vực thẳm cực kì nguy hiểm, họ không thấy thể xác, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là khổ thì đó là vực thẳm to lớn, đó là ý nghĩa thâm sâu thứ nhất trong đoạn kinh này.
Ý nghĩa thứ hai là do họ không thấy những suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng này là khổ đau cho nên họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh. "Họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh" là gì? Sanh là sanh y, họ tham ái, thích thú với mọi cảnh sắc, thân xác, tài sản, của cải. Nhìn vào gương thấy bóng mình trong đó thì thấy thích thú thì đó là hoan hỉ với các hành, mình thích thú hình bóng này, mình hoan hỉ thân xác này, mình yêu mến hình hài này, mình say đắm với vóc dáng này, mình hài lòng với hình sắc này nên có việc thường chụp hình của bản thân đưa lên mạng xã hội khoe với mọi người, đó là hoan hỉ với các hành đưa đến sanh.
Mình nhìn quần áo, đôi dép, món đồ của mình thấy hoan hỉ, thích thú, yêu mến những cái của mình chứ không thấy nó là sắc pháp, vô thường, là những thứ biến hoại, mình dính mắc, đam mê với nó, lấy đó là mình, là của mình thì đó là "họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh". Mình ngắm nghía những tác phẩm mình làm ra rồi hoan hỉ, hài lòng, thích thú với nó, cho rằng đó là tôi, là của tôi, tôi làm đẹp như vậy đó, tôi giỏi như vậy đó, thì đó là "họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh". Những hình bóng trong tâm hiện ra rồi yêu thích, dính mắc, tham đắm, muốn cất giữ, để dành, lưu trữ chứ không nhàm chán, ly tham, từ bỏ thì đó là "họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh".
III. Giải thoát
"Và này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ".
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, II. Vực Thẳm)
Những điều này quá sức tưởng tượng của chúng sanh, đây mới là Thánh trí tuệ mà các bậc Thánh chứng ngộ. Những người nào như thật rõ biết ngũ uẩn này là phiền não, đời sống này là phiền não, thấy tham, sân, si, những ưa thích là nguyên nhân của đau khổ mà chỉ muốn chấm dứt, nghĩa là "họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh", họ không hoan hỉ với các sắc; thanh; hương; vị; xúc, họ không hoan hỉ với thọ; tưởng; hành; thức, họ không hoan hỉ với những tài sản vật chất vì họ biết những thứ này đưa đến tái sanh, đưa đến trói cột, hệ luỵ, đưa đến những đời sống tiếp tục nước mắt, khổ đau, vì thế khi nó sanh khởi lên họ không hoan hỉ, họ không chăm dầu vào thêm cho ngọn lửa nên luân hồi không tiếp tục nữa, họ không tưới nước cho cây vô minh nữa, họ không hoan hỉ với các hành đưa đến già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Đây là sự khác biệt giữa người biết tu và người không biết tu, giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, người không tu là hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, hoan hỉ với các hành đưa đến bệnh, chết, lo lắng, bất an, khổ sầu, họ không muốn khổ nhưng họ lại ưa thích những thứ làm ra đau khổ. Thương cho ta đau khổ mà chẳng biết vì sao! Khổ là do ta tạo thế mà khi khổ đến ta chẳng biết vì sao, họ không muốn khổ đau nhưng họ lại tạo những thứ gây ra đau khổ, như vậy gọi là vô minh, không sáng suốt, không thấy biết.
Họ hoan hỉ đối với các hành, họ yêu thích, khoan khoái, vui sướng trong những cảm giác, hình bóng, nhận thức để đưa đến lo lắng, bất an, sợ hại, khổ sầu, khi vui sướng, hoan hỉ như vậy thì họ lại tạo dựng, họ xây dựng, họ gầy dựng tiếp. Họ gầy dựng mấy chục năm để được hư danh, một cái giả danh để rồi đau khổ trong cái hư danh đó mỗi khi bị xem thường. Họ xây dựng lên công trình đó rồi họ lo lắng, bất an, đó là họ tạo dựng các hành đưa đến tái sanh để bệnh tật, chết chóc, chỗ này mới giải mã được đời sống của các bậc Thánh chúng ngày xưa ở dưới gốc cây, không nhà, khoác tấm y và cầm bình bát khất thực, ăn là do sự bố thí của những người có lòng tin, không chất chứa lương thực, nhà cửa, sống cuộc đời hoàn toàn vô sản, các ngài không hoan hỉ với các hành nên không tạo dựng thêm.
Chúng ta ngày nay tu có tạo dựng không? Có hoan hỉ không? Chúng ta có đi đúng đường của Đức Phật không? Đây mới gọi là Phật giáo nguyên chất, cho nên bậc Đa văn Thánh đệ tử là như thật rõ biết đây là khổ, đây là nguyên nhân khổ, đây là chấm dứt khổ, đây là con đường chấm dứt khổ cho nên họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết, lo lắng, bất an, sợ hãi, và vì không hoan hỉ nên không tạo dựng các hành. Những điều này thật tuyệt vời, có dập đầu ngàn lần cũng không lễ được hết ân đức của Thế Tôn.
Không có Đức Phật là không ai nói được những điều này, ông Cấp-cô-độc và các bậc cư sĩ hộ pháp khác cúng dường rất nhiều cho Thế Tôn và các bậc Thánh nhưng các ngài không dính mắc vào đó, khi Minh Thành qua Ấn Độ vào thăm chỗ của ngài Maha Ca-diếp và ngài Anan thì đó chỉ là một hang đá, không có gì đáng giá trong đó, các ngài không hoan hỉ với các sắc nên không tạo dựng các sắc, có chăng phước đức, trí tuệ, tâm từ của các ngài toả ra làm chúng sanh thấy lợi lạc trong các pháp nên chúng sanh phát tâm cúng dường cho các ngài, các ngài ở chỉ là sử dụng các phương tiện đó để chia sẻ sự thật cho chúng sanh rồi các ngài đi đến chỗ khác chia sẻ pháp tiếp chứ các ngài không xem vật cúng dường đó là của các ngài, các ngài đi đến đâu cũng giống như nhau, Phật giáo nguyên chất là như vậy đó, đó mới là bản sắc, đặc chất của người xuất gia, đó là phong thái của khất sĩ. Con cũng học theo điều này, có gì để cư sĩ giải quyết còn mình chỉ lo tu học pháp, không có cái gì ở đây thuộc về mình, nhiệm vụ của mình là tu học và chứng nhập pháp, đó mới là bổn phận của người xuất gia.
Một ngày nào đó thôi ngừng thở,
Giấc mộng đã tàn chớ vấn vương.
Mình ở khoẻ mạnh nhưng phải nhớ một ngày nào đó sẽ ngừng thở, ra đi nhẹ nhàng vì tâm lúc nào cũng hướng đến viễn ly, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, không hướng đến việc phát triển, gom góp, tích luỹ dự án, công trình. Mình hướng đến đến viễn ly, xa lìa, không tham muốn, hướng đến nội tâm an tịnh, lắng dịu, hướng đến trí tuệ xuyên thủng tất cả pháp, hướng đến trí tuệ đâm thủng vô minh, xuyên vỡ tham ái, hướng đến trí tuệ xuất ly, thoát ly, xả ly, đó là đời sống của bậc Đa văn Thánh đệ tử, sự thật tối thượng trong tất cả sự thật, người đó sẽ nếm được hương vị của sự thật, sống cuộc sống trí tuệ là đời sống cao hơn hết tất cả. Với một cái tâm lúc nào cũng hướng đến sự chấm dứt, từ bỏ, thoát ly có gì làm khổ được cái tâm đó?
Chỗ đó gọi là bất động tâm giải thoát, đó là tâm diệt khổ, còn tâm cứ xông pha tìm kiếm lợi ích rồi nắm giữ, bám chấp là tâm đó đang hoan hỉ và tạo dựng các hành đưa đến khổ đau, già, chết trong tương lai. Tuy rằng hiện tại mình chưa đạt đến chỗ tâm bất động nhưng phải có chí hướng đến đó quyết liệt, mạnh mẽ, nhiệt tình, cái đó gọi là Hướng Dự Lưu, mình hướng tâm như vậy để tham dự vào dòng trí tuệ lìa xa, rời xa, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra. Nếu có sự thực tập trí tuệ quán chiếu như vầy thì tâm sẽ được bình an, thường xuyên quán chiếu cho thuần thục để lỡ như có dính bệnh nặng, lúc ra đi mình quán từ bỏ thật mạnh mẽ là xả ly ngũ uẩn.
Thân là duyên sanh.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng là duyên sanh.
Thân là vô thường.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.
Thân là phiền não.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.
Thân không là mình.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình.
Thân này từ bỏ.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.
Thân xả, tâm xả - Dễ chịu, dễ chịu.
-Buông xả, buông xả - Dễ chịu, dễ chịu.
(Nghi thức tu học Nikāya – Niệm ngũ uẩn duyên sanh)
Vị Đa văn Thánh đệ tử là không hoan hỉ đối với các hành để tạo ra sanh, già, bệnh, chết, khổ, não, sầu, đau, họ không hoan hỉ nên không tạo dựng, không tạo dựng nên không rơi vào vực thẳm của sanh, già nua, chết chóc, lo lắng, bất an, khổ sau, họ liễu thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Liễu nghĩa là hoàn toàn, trọn vẹn, ở trên là không liễu thoát khỏi khổ đau nghĩa là dù cho tu cái gì đi nữa mà không thấy sự thật của bốn Thánh đế, lại còn hoan hỉ, tạo dựng các hành, rơi vào vực thẳm thì không thể liễu thoát khỏi khổ đau, tức là không thể thoát khỏi khổ đau hoàn toàn, nếu có thoát ra cũng chỉ được chút ít tức là sẽ được thân phước báo, nhưng thân phước báo cũng vẫn khổ như ví dụ đại gia nằm trên gường bệnh gắn bình oxy.
Chữ "đây" trong "đây là khổ" chính là ngũ uẩn, là đời sống này, "đây" chính là những cảm thọ dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, "đây" chính là tâm tham ái, tâm vô minh, chấp thủ trong những cảm giác, nghĩ tưởng này, "đây" là đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc, "đây" là cái thân thể mấy chục kí lô thịt này, họ không biết những thứ đó là khổ, họ không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ nên hoan hỉ, thích thú, say đắm rồi họ tạo dựng trong đó, họ bị chính những thứ họ tạo dựng đưa họ rơi xuống vực thẳm. Dân gian có câu "túi khôn ngàn năm có cái gì là khổ cái đó", câu này phải được nhìn bằng con mắt Khổ Thánh Trí, có gì thì khổ đó, có ít thì khổ ít, có nhiều thì khổ nhiều, không có thì không khổ, câu này nếu được nhìn bằng Thánh trí huệ Nikāya sẽ rất tuyệt diệu.
Mình mang tấm thân này nhưng cứ bệnh hoài thì khổ với có thân, có ngôi chùa to lớn dát vàng lúc nào cũng sợ trộm cắp thì khổ với ngôi chùa đó, trong tâm có sự ám ảnh về một hình bóng nào đó thì khổ với hình bóng đó, không phải chỉ riêng hình ảnh nam nữ mà còn là hình ảnh của cha mẹ, anh chị em, nội ngoại, cái nào tham ái, tạo dựng, hoan hỉ nhiều thì rơi vào vực thẳm đó ở trong tâm. Phải biết giải phá những hình bóng, suy nghĩ đó, thiền quán của chúng ta là nhằm xuyên thủng, phá vỡ những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, phải nhìn thấu vào để giải phóng, giải thoát khỏi những hình ảnh, suy nghĩ, cảm thọ đó, không hoan hỉ, tạo dựng nên không rơi vào vực thẳm của nó.
Đây là Thánh trí huệ thâm sâu của Đức Thế Tôn, sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn là như vậy, chúng ta phải học kinh mới thấy được điều này chứ không phải chỉ lạy lục, cầu nguyện bên ngoài là xong, sự từ bi của ngài là vậy đó, sự đóng góp cho cuộc đời này của ngài là vậy đó, con đường thoát khổ là như vậy đó, do vậy phải cố gắng để thấy cái khổ. Huynh đệ lâu ngày gặp nhau hỏi có thấy khổ không chứ đừng hỏi khoẻ không vì cái khoẻ là của thế gian, làm gì có cái nào gọi là khoẻ, thân thể này đang dần đi đến chỗ suy, lão, diệt vong thì làm gì có chuyện khoẻ, "huynh có thấy khổ không?", "sư tỉ mấy nay có thấy khổ không?", "có thấy dục, ái, tham, sân, si không?", "mấy nay bản ngã của muội sao rồi?", phải hỏi với tâm từ ái chứ không phải hỏi với tâm hơn thua, muốn gây sự, "muội đã thấy rõ được đạo lộ diệt khổ chưa?", đây là một sự thật cần phải cố gắng mới thấy rõ được nó, câu này được Đức Phật lập lại rất nhiều lần. Bài đầu tiên của Tương Ưng Sự Thật Đức Phật dạy phải thiền định mới thấy được bốn Thánh đế.
"Ở Sàvatthi...
-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?
Như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'. Như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ tập'. Như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt' Như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, I. Ðịnh)
Chính những gì họ làm ra sẽ dìm họ xuống vực sâu, họ không thoát khỏi những thứ họ làm ra, giống như người làm ra tiền sau đó không thể thoát ra đồng tiền đó vì nó quay lại sai khiến họ, giống như sắt gỉ ra sét, rồi từ cái sét đó quay lại huỷ hoại thanh sắt đó.
"Như sét từ sắt sanh,
Sắt sanh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng
Tự nghiệp dẫn cõi ác".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 240)
Những hình ảnh quá tải ở lò thiêu, áo quan không đủ cung cấp, cho nên trong thời điểm này chúng ta cố gắng học kinh, nghe pháp, thiền quán, dù có làm gì cũng phải chánh niệm tỉnh giác trong pháp. Thời đại này đừng nói sống hôm nay không biết ngày mai mà sống sáng nay không biết trưa nay ra sao, không cần đợi đến hôm sau. Vì không hoan hỉ nên không tạo dựng, vì không tạo dựng nên không rơi vào vực thẳm sanh, già, bệnh, chết, khổ sầu, họ liễu thoát khỏi đau khổ, cho nên ba từ quan trọng trong bài kinh này chúng ta cần lưu ý, thứ nhất là hoan hỉ, thứ hai là tạo dựng, thứ ba là rơi xuống vực thẳm.
Khi hoan hỉ đối với các hành sẽ đưa đến sanh, già, bệnh, chết, khổ sầu, từ chỗ hoan hỉ với tạo dựng, từ việc tạo dựng mới rơi vào vực thẳm, đó là ba từ cốt lỗi trong bài kinh này, ngoài ra còn có thêm không hoan hỉ, không tạo dựng, không rơi vào vực thẳm. Muốn học kinh sâu phải quán chiếu trong một bài kinh đó thôi chứ đừng để tâm hướng ra những cái khác, tuy nhiên mình có thể quán chiếu liên hệ vì nó cũng là pháp nhưng muốn đi sâu thì phải đặt tâm vào lời kinh đó thôi để thể nhập, trong thọ; tưởng; hành chỉ quán chiếu duy nhất bài kinh mình muốn thâm nhập thôi, không để tâm vào bài kinh khác vì khi đó tâm sẽ bị phân tán, tâm phân tán thì pháp lại diễn ra, lúc mình nhớ những bài kinh khác thì không thể tập trung vào pháp thực tại, đây là chỗ thiện xảo khi nghe pháp, cũng giống như thiền quán, khi đứng lên chia sẻ bài kinh nào thì đó là pháp đàm của bài kinh đó.
Tức là mình cảm nhận gì về lời dạy của Đức Phật trong bài kinh mình vừa học, mình hiểu được gì ngay trong khoảnh khắc hiện tại quán chiếu đó, thì đó là thiện xảo rất sâu sắc. Ví dụ Đức Phật nói người tu do không thấy rõ như thật về bốn Thánh đế nên họ hoan hỉ trong các hành để đưa đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não thì khi học xong mình nhớ được nội dung căn bản của bài kinh, thứ hai là quán chiếu được cái thọ của lời pháp đi vào tâm, thứ ba là thành tựu trí tuệ trong lời bài kinh đó, khi trở ra mình nhắc lại những điểm cốt lõi của bài kinh chứ không phải vừa học xong là quên mọi thứ, rơi rụng hết lời kinh, Đức Phật gọi đó là trí tuệ bắp vế.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế".
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Lộn Ngược)
Từ chỗ học kinh đi về phòng phải nhắc đi nhắc lại nội dung bài kinh cho đến tận hôm sau để nuôi dưỡng trí tuệ đó, Thánh pháp đó. Nếu tâm đắc bài kinh này thì hôm sau có thể xin phép được pháp đàm bài kinh này, phải nhiệt tình trong sự tu học để thành tựu trí huệ trong kinh Đức Phật nói. Nội dung cốt lõi của bài kinh này là hoan hỉ, tạo dựng và rơi xuống vực thẳm đối với người không nắm được sự thật, đối với người tu đúng chánh pháp thấy được bốn sự thật của đau khổ thì người đó không hoan hỉ, không tạo dựng và sẽ không rơi xuống vực thẳm, Như Lai nói người đó liễu thoát khỏi khổ đau.
Nếu mình nắm vững được yếu nghĩa trong kinh chỉ cần nói một câu là tóm thâu được nội dung bài kinh, đó là cách học kinh, khi nghe xong bài kinh là phải biết tóm thâu chính xác nội dung cốt lỗi của bài kinh, giống như khi thiền quán, đó là sự thiện xảo trong khi nghe pháp, thiền quán, học bài, học như vậy thì sau này tu mới đúng và chia sẻ cho người khác mới đúng, còn học một đằng nói lại một nẻo là không thành tựu trí tuệ trong bài kinh đó cho nên khi học bài kinh này cần tâm tâm niệm niệm và quán chiếu sâu sắc vào bài kinh đó, nghe kinh tới đâu là thấm từng lời kinh tới đó, đi vào tâm chứ không để rơi rớt bất kì chữ nào thì sẽ học sâu sắc và mau sanh khởi trí tuệ hơn.
./.
TỨ THÁNH ĐẾ
TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
RƠI XUỐNG VỰC THẲM
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu đời sống PAGEREF _Toc114413965 \h 1
II. Vực thẳm PAGEREF _Toc114413966 \h 6
III. Giải thoát PAGEREF _Toc114413967 \h 8
I. Quán chiếu đời sống
Nhờ nhân duyên có Phật tử xin được nghe Tứ Thánh Đế nhiều lần, Minh Thành chợt nhớ chúng ta đang học về Tương Ưng Sự Thật và trong hoàn cảnh hiện tại cũng rất phù hợp để chúng ta chiêm nghiệm sự thật mà Đức Phật đã chứng ngộ, trình bày, hiển thị, tuyên thuyết. Gần đây có rất nhiều thảm cảnh, trong nước đã lên hơn hai trăm ngàn ca nhiễm, có ngày lên chín ngàn ca nhiễm, người chết lên mấy ngàn người. Minh Thành thấy hình ảnh rất xúc động, những hủ cốt được các chú bộ đội chiến sĩ để trên từng bàn, mỗi bàn là một quận, nhiều người không dự đám tang cũng không lãnh hủ cốt được vì đang cách ly, không phải trong nước mà khu vực Đông Nam Á cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, bệnh hoạn khắp mọi nơi, khổ đau, túng thiếu, lo lắng, bất an, sợ hãi.
Đây là thời điểm mà chúng ta đang chứng kiến tận mắt những gì Đức Phật đã chứng ngộ, những sự thật mà các bậc Thánh đã tuyên thuyết, trình bày mấy ngàn năm qua, chúng ta lấy sự kiện này làm động lực để thúc đẩy bản thân tăng thượng, hướng thượng, từ đó thể nhập tri kiến, cái thấy biết sự thật của bậc Thánh. Những bài kinh đã học rồi nhưng vẫn chưa thấm được vì nó rất sâu sắc, chúng ta phải nghe và chiêm nghiệm hàng trăm lần, nhiều ngàn lần. Có rất nhiều nỗi khổ nhưng chúng ta chỉ mới thấy nỗi khổ của bệnh, bao nhiêu đó cũng đủ làm liên luỵ mọi thứ, mọi sự bức xúc, thúc giục, lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, sân hận, khổ đau đang diễn ra để chúng ta nhìn thấy sâu sắc.
Đây là minh chứng hùng hồn cho những gì đang xảy ra trước mắt ta, xung quanh ta, đang là một sự thật trong hiện tại khổ đau. Hãy chiêm nghiệm, suy tư, tư duy thật sâu sắc bản chất của đời sống này, một câu pháp ấn được Đức Phật nhắc lại nhiều lần mà trải qua biết bao năm đến giờ chúng ta mới thấy sự sâu xa, tuyệt diệu của nó, Đức Phật nói tu tập Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi, tu tập Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần đều liên hệ đến viễn ly, ly tham, yểm ly, nhàm chán, xa lìa, hướng đến từ bỏ, đoạn tận, những câu này là dấu ấn của chánh pháp, tất cả thiện pháp của Đức Phật chỉ nhằm mục đích liên hệ đến viễn ly, liên hệ sự yểm ly, sự chán lìa, liên hệ đến không tham muốn và hướng đến từ bỏ, chấm dứt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Chỗ tuyệt diệu là chỗ liên hệ đến viễn ly, yểm ly, xuất ly, ly tham, nhàm chán, hướng đến từ bỏ, đây là chỗ tuyệt diệu nhất mà có khi tu suốt đời cũng không thấy được, không thể nhập được, tu cái gì cũng phải liên hệ đến viễn ly, yểm ly, lìa xa, nhàm chán và xa lìa. Nếu tâm không phát sanh ra được những cảm thọ này thì tu trong luân hồi, tu trong dục, tu trong tham, tu để được cái gì đó chứ không phải tu để viễn ly, xả ly.
Tu là tất cả mọi việc từ nghe pháp, ngồi thiền, công việc cho đến các phép quán đều nhắm đến việc xa lìa những thứ đau khổ này chứ không phải tu với tâm mong muốn được cái gì đó, đó không phải pháp ấn của chư Phật, đó là tu trong hữu vi, hữu ái, hữu lậu, tu là tâm phải hướng đến sự rời xa sắc dù cho đó là sắc gì, rời xa vật chất tiền của, tài sản, sắc đẹp, tu với cái tâm rời xa, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, nếu không thì khổ đau dài dài. Một người ăn xin bị nhiễm bệnh với một tỷ phú nhiễm bệnh thì hai cái bệnh đâu có khác nhau, đều là mắc bệnh hết cho nên tất cả hành là khổ đau.
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
Chữ "hành" chính là sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chữ "hành" đó là sự vận hành của năm uẩn. Dù cho ở hình thái của kẻ ăn mày đói rách với một đại gia quyền quý khi nằm trên gường bệnh gắn máy trợ thở cũng giống nhau, khi tham dục lên cũng như nhau, khi bản ngã, sân hận cũng như nhau, ăn mày có bản ngã của ăn mày, ông vua có bản ngã của ông vua.
Dù có là sắc của chư thiên thì đệ tử Gotama cũng không mong cầu mà chỉ mong cầu sự chấm dứt tất cả sắc, mong cầu sự nhàm chán tất cả sắc, mong cầu sự thoát ra tất cả sắc. Thân xác của một người ăn mày với thân xác của một đại gia khi gắn máy thở lên có gì khác nhau, khi tắt thở nằm xuống có gì khác nhau, cũng là đất; nước; gió; lửa, cũng là máu mủ, giòi bọ, cũng là phân và nước tiểu. "Với Tuệ, quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán", đó là con đường trong sáng của chư Phật, vì thế cần nhớ pháp ấn tuyệt đối quan trọng trong tất cả sự tác ý của chúng ta, tất cả các việc từ công quả, học kinh, ngồi thiền đều hướng đến yểm ly, xả ly, nhàm chán, xa lìa, nhất là các vị Phật tử lớn tuổi trong giai đoạn này cần quán chiếu đề mục này thật nhiều, khi đó tâm sẽ không thấy lo lắng, sợ hãi vì ý muốn của mình muốn từ bỏ tất cả, chừng nào còn muốn nắm giữ chừng đó còn sợ mất, còn đằng này tâm muốn chấm dứt, muốn từ bỏ nên lòng mình sẽ bình an. Cho nên Đức Phật nói sự lo lắng, sợ hãi chỉ khởi lên với người ngu chứ không khởi lên trong tâm người trí.
"-- Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỳ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita). Phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỳ-kheo, tất cả thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỳ-kheo, tất cả hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí".
(Trung Bộ Kinh, 115. Kinh Ða giới)
Người trí là người hướng đến sự viễn ly, xả ly, nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn thì không còn lo lắng, sợ hãi nữa nên trong lòng mới an tịnh, lắng dịu, lúc đó trí tuệ thù thắng mới rực sáng, khi đó sẽ giác ngộ được sự thật, dập tắt hoàn toàn tham, sân, si là Niết-bàn, cho nên những pháp ấn này thâm sâu cùng cực, tu suốt đời để mong cầu thể nhập pháp ấn đó. Phải nhớ tất cả hành là khổ đau, mọi suy nghĩ, cảm giác, nhận thức, hình bóng, mọi thân xác, hình hài thì bản chất của nó đều là khổ đau. Những người mất việc làm không có tiền sinh sống mới khổ còn người giàu không khổ, có phải vậy không? Hoàn toàn không chính xác, giàu còn lo lắng, bất an nhiều hơn nữa vì sợ bệnh, sợ chết, sợ mất tài sản lớn, vì thế tâm thức của mình chỉ nhìn có một chiều chứ không có cái nhìn viên mãn, chánh giác cho nên phải nương vào trí tuệ Đức Phật để thấy các hành là vô thường, vô ngã.
"Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)
"Tất cả pháp vô ngã
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Mặc dù mình đang sinh sống như vậy nhưng trong tâm lúc nào cũng phải thấy sẽ có ngày mình nhắm mắt xuôi tay, không có cái gì trên đời này là của mình, ngay cả căn nhà mình ở cũng không phải của mình. Mình phải chuẩn bị tâm lý đó, tâm lý xa rời, từ bỏ, chấm dứt đối với những luyến ái, tham dính trong tâm. Lúc nào cũng phải chuẩn bị tâm lý mình có thể chết bất cứ lúc nào, quán chiếu được như vậy thì khi ra đi sẽ được bình an, an tịnh, không bị dao động. Đối với thân xác này, đối với đời sống này, đối với ngôi chùa, tịnh thất dù mình đang sống trong đó nhưng phải tác ý nhàm chán, rời xa, ly tham, chấm dứt, từ bỏ đối với những thứ đó, tu cái gì cũng phải hướng tâm về đó vì nếu không mình sẽ đau khổ, nằm trong nhân quả thiện ác, nằm trong nhân quả của sanh diệt hữu vi, nếu mình làm cái gì mà không được ai khen hoặc bị chê là mình bực mình, gắt gỏng, còn đằng này làm siêng năng, nỗ lực nhưng hướng đến từ bỏ, vì thế dù làm siêng năng nhưng bản ngã không phát trển, hữu ái không có gốc để bám vào.
Đây là chỗ đặc biệt, dù siêng năng làm công quả, tu tập nhưng không có đất để bản ngã, tham ái đối với năm uẩn phát triển vì tâm lúc nào cũng hướng đến viễn ly, từ bỏ, chấm dứt, ngược lại tâm không hướng đến những điều này thì làm bất cứ gì cũng dính mắc trong đó, làm cái gì cũng có bản ngã, đây là điều sâu xa mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã tìm ra và chứng ngộ. Đức Thế Tôn không phải không lo cho đệ tử của ngài, các bậc A-la-hán không phải là người vô cảm nhưng tâm các ngài không có đất để mọc rễ sự tái sanh ở đời sau vì tâm các ngài đều hướng đến sự yểm ly, ly tham, từ bỏ, như vậy mới là kiếp sống cuối cùng, không tái tạo ra ngũ uẩn nữa.
Thầy Pháp An sống an tịnh nhưng lúc nào cũng hướng đến nhàm chán, ly tham, từ bỏ đời sống vô thường này, từ bỏ những cái thường tình của thế gian, con cháu, anh em gặp thì nhắc nhở, khuyến khích tu tập chứ thật sự trong tâm hướng đến từ bỏ, chấm dứt, xả ly thì đời sau không sanh lại thế giới này mà sanh lên chư thiên tu tập làm Thánh đệ tử thiên, còn khi tu tập như vậy nhưng trong tâm còn thương nhớ, ưa thích thì đời sau còn quay lại để gặp nhau, đó là không tăng thượng trong Thánh pháp, vì thế cần siêng năng tác ý mỗi ngày.
Có rất nhiều bài kinh sâu xa, khi đọc kinh phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán chiếu chứ không phải đọc rồi là xong hoặc học thuộc lòng là xong, mà phải vừa đọc vừa nghiền ngẫm những chỗ quan trọng trong lời kinh để thể nhập trí tuệ đó, không bị mất đi. Tất cả chúng sanh đều đang rơi xuống vực thẳm mà không ai hay biết, vẫn sống trong lơ là, vô tư, vô cảm không thấy khổ đau, dịch bệnh như vậy mà hỏi đến vẫn nói bình thường, sự vô minh rất ghê gớm ngày đêm bao phủ tâm thức, ngoài ra còn tham ái, tự ngã.
II. Vực thẳm
"Một thời, Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) trên núi Gìjjhakuuta (Linh Thứu).
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, chúng ta hãy đi đến Patibhànakuuta để nghỉ trưa.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cùng số đông Tỳ-kheo đi đến Patibhànakàta. Một Tỳ-kheo thấy một vực thẳm ở Patibhànakuuta, thấy vậy, liền bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỉ với các hành đưa đến già, họ hoan hỉ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỉ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết,... do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ".
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, II. Vực Thẳm)
Họ hoan hỉ, hân hoan, thích thú với những thứ buồn đau, khổ sầu, tai hoạ, hiểm nạn và nguy nan, họ đam mê, khát khao điên cuồng trong đó, họ thèm thuồng, ước mơ những thứ đưa đến tái sanh, họ hoan hỉ với những thứ đưa đến bệnh tật, già nua và chết chóc, khi thấy được những điều này là thành tựu chánh kiến. Họ tạo dựng những thứ đưa đến đau khổ, sầu lo vì họ thích thú, họ đầu tư vào đó, ngày đêm để tâm vào đó, họ dùng mồ hôi, nước mắt, tâm huyết, cả cuộc đời để xây dựng, gầy dựng những thứ đưa đến tái sanh, tạo dựng những thứ đưa đến già nua, bệnh tật, chết chóc, diệt vong.
Bài kinh này làm rung động địa cầu khi Đức Thế Tôn tuyên thuyết một sự thật của bậc Thánh, không phải là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì không thể nhìn ra nổi cái này, lời kinh nói ngắn gọn nhưng là cả một sự chứng ngộ của bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, có tu suốt đời cũng chưa chắc nghe được những lời này chứ đừng nói gì được thực hành.
Một vị Tỳ-kheo đi ngang thấy một vực thẳm lớn liền hỏi Thế Tôn có vực thẳm nào lớn hơn vực thẳm này nữa không thì Thế Tôn nói có một vực thẳm còn lớn hơn, kinh hãi hơn nữa, vị Tỳ-kheo hỏi vực thẳm đó như thế nào thì Thế Tôn trả lời những ai không như thật rõ biết bốn sự thật của bậc Thánh, không thấy ngũ uẩn này là khổ, không thấy bản chất của đời sống là bất an, lo lắng, sợ hãi thì đây là vực thẳm to lớn, cực kì nguy hiểm.
Tu mà không thấy tham, sân, si, vô minh và bản ngã là nguyên nhân đưa đến đau khổ thì đó là vực thẳm nguy hiểm, tu mà không thấy những cảm giác ham muốn, nóng giận, sân hận, vật vờ, si ám, những cảm giác vênh váo, ta đây, chấp ngã là căn nguyên của đau khổ, là gốc rễ của sự thống khổ thì đó là vực thẳm nguy hiểm, không thấy tu là cần diệt khổ và con đường dẫn đến chấm dứt khổ là thấy đúng, nghĩ đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng trên nền tảng đây là khổ thì đó là vực thẳm cực kì nguy hiểm, họ không thấy thể xác, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là khổ thì đó là vực thẳm to lớn, đó là ý nghĩa thâm sâu thứ nhất trong đoạn kinh này.
Ý nghĩa thứ hai là do họ không thấy những suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng này là khổ đau cho nên họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh. "Họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh" là gì? Sanh là sanh y, họ tham ái, thích thú với mọi cảnh sắc, thân xác, tài sản, của cải. Nhìn vào gương thấy bóng mình trong đó thì thấy thích thú thì đó là hoan hỉ với các hành, mình thích thú hình bóng này, mình hoan hỉ thân xác này, mình yêu mến hình hài này, mình say đắm với vóc dáng này, mình hài lòng với hình sắc này nên có việc thường chụp hình của bản thân đưa lên mạng xã hội khoe với mọi người, đó là hoan hỉ với các hành đưa đến sanh.
Mình nhìn quần áo, đôi dép, món đồ của mình thấy hoan hỉ, thích thú, yêu mến những cái của mình chứ không thấy nó là sắc pháp, vô thường, là những thứ biến hoại, mình dính mắc, đam mê với nó, lấy đó là mình, là của mình thì đó là "họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh". Mình ngắm nghía những tác phẩm mình làm ra rồi hoan hỉ, hài lòng, thích thú với nó, cho rằng đó là tôi, là của tôi, tôi làm đẹp như vậy đó, tôi giỏi như vậy đó, thì đó là "họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh". Những hình bóng trong tâm hiện ra rồi yêu thích, dính mắc, tham đắm, muốn cất giữ, để dành, lưu trữ chứ không nhàm chán, ly tham, từ bỏ thì đó là "họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh".
III. Giải thoát
"Và này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ".
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, II. Vực Thẳm)
Những điều này quá sức tưởng tượng của chúng sanh, đây mới là Thánh trí tuệ mà các bậc Thánh chứng ngộ. Những người nào như thật rõ biết ngũ uẩn này là phiền não, đời sống này là phiền não, thấy tham, sân, si, những ưa thích là nguyên nhân của đau khổ mà chỉ muốn chấm dứt, nghĩa là "họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh", họ không hoan hỉ với các sắc; thanh; hương; vị; xúc, họ không hoan hỉ với thọ; tưởng; hành; thức, họ không hoan hỉ với những tài sản vật chất vì họ biết những thứ này đưa đến tái sanh, đưa đến trói cột, hệ luỵ, đưa đến những đời sống tiếp tục nước mắt, khổ đau, vì thế khi nó sanh khởi lên họ không hoan hỉ, họ không chăm dầu vào thêm cho ngọn lửa nên luân hồi không tiếp tục nữa, họ không tưới nước cho cây vô minh nữa, họ không hoan hỉ với các hành đưa đến già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Đây là sự khác biệt giữa người biết tu và người không biết tu, giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, người không tu là hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, hoan hỉ với các hành đưa đến bệnh, chết, lo lắng, bất an, khổ sầu, họ không muốn khổ nhưng họ lại ưa thích những thứ làm ra đau khổ. Thương cho ta đau khổ mà chẳng biết vì sao! Khổ là do ta tạo thế mà khi khổ đến ta chẳng biết vì sao, họ không muốn khổ đau nhưng họ lại tạo những thứ gây ra đau khổ, như vậy gọi là vô minh, không sáng suốt, không thấy biết.
Họ hoan hỉ đối với các hành, họ yêu thích, khoan khoái, vui sướng trong những cảm giác, hình bóng, nhận thức để đưa đến lo lắng, bất an, sợ hại, khổ sầu, khi vui sướng, hoan hỉ như vậy thì họ lại tạo dựng, họ xây dựng, họ gầy dựng tiếp. Họ gầy dựng mấy chục năm để được hư danh, một cái giả danh để rồi đau khổ trong cái hư danh đó mỗi khi bị xem thường. Họ xây dựng lên công trình đó rồi họ lo lắng, bất an, đó là họ tạo dựng các hành đưa đến tái sanh để bệnh tật, chết chóc, chỗ này mới giải mã được đời sống của các bậc Thánh chúng ngày xưa ở dưới gốc cây, không nhà, khoác tấm y và cầm bình bát khất thực, ăn là do sự bố thí của những người có lòng tin, không chất chứa lương thực, nhà cửa, sống cuộc đời hoàn toàn vô sản, các ngài không hoan hỉ với các hành nên không tạo dựng thêm.
Chúng ta ngày nay tu có tạo dựng không? Có hoan hỉ không? Chúng ta có đi đúng đường của Đức Phật không? Đây mới gọi là Phật giáo nguyên chất, cho nên bậc Đa văn Thánh đệ tử là như thật rõ biết đây là khổ, đây là nguyên nhân khổ, đây là chấm dứt khổ, đây là con đường chấm dứt khổ cho nên họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết, lo lắng, bất an, sợ hãi, và vì không hoan hỉ nên không tạo dựng các hành. Những điều này thật tuyệt vời, có dập đầu ngàn lần cũng không lễ được hết ân đức của Thế Tôn.
Không có Đức Phật là không ai nói được những điều này, ông Cấp-cô-độc và các bậc cư sĩ hộ pháp khác cúng dường rất nhiều cho Thế Tôn và các bậc Thánh nhưng các ngài không dính mắc vào đó, khi Minh Thành qua Ấn Độ vào thăm chỗ của ngài Maha Ca-diếp và ngài Anan thì đó chỉ là một hang đá, không có gì đáng giá trong đó, các ngài không hoan hỉ với các sắc nên không tạo dựng các sắc, có chăng phước đức, trí tuệ, tâm từ của các ngài toả ra làm chúng sanh thấy lợi lạc trong các pháp nên chúng sanh phát tâm cúng dường cho các ngài, các ngài ở chỉ là sử dụng các phương tiện đó để chia sẻ sự thật cho chúng sanh rồi các ngài đi đến chỗ khác chia sẻ pháp tiếp chứ các ngài không xem vật cúng dường đó là của các ngài, các ngài đi đến đâu cũng giống như nhau, Phật giáo nguyên chất là như vậy đó, đó mới là bản sắc, đặc chất của người xuất gia, đó là phong thái của khất sĩ. Con cũng học theo điều này, có gì để cư sĩ giải quyết còn mình chỉ lo tu học pháp, không có cái gì ở đây thuộc về mình, nhiệm vụ của mình là tu học và chứng nhập pháp, đó mới là bổn phận của người xuất gia.
Một ngày nào đó thôi ngừng thở,
Giấc mộng đã tàn chớ vấn vương.
Mình ở khoẻ mạnh nhưng phải nhớ một ngày nào đó sẽ ngừng thở, ra đi nhẹ nhàng vì tâm lúc nào cũng hướng đến viễn ly, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, không hướng đến việc phát triển, gom góp, tích luỹ dự án, công trình. Mình hướng đến đến viễn ly, xa lìa, không tham muốn, hướng đến nội tâm an tịnh, lắng dịu, hướng đến trí tuệ xuyên thủng tất cả pháp, hướng đến trí tuệ đâm thủng vô minh, xuyên vỡ tham ái, hướng đến trí tuệ xuất ly, thoát ly, xả ly, đó là đời sống của bậc Đa văn Thánh đệ tử, sự thật tối thượng trong tất cả sự thật, người đó sẽ nếm được hương vị của sự thật, sống cuộc sống trí tuệ là đời sống cao hơn hết tất cả. Với một cái tâm lúc nào cũng hướng đến sự chấm dứt, từ bỏ, thoát ly có gì làm khổ được cái tâm đó?
Chỗ đó gọi là bất động tâm giải thoát, đó là tâm diệt khổ, còn tâm cứ xông pha tìm kiếm lợi ích rồi nắm giữ, bám chấp là tâm đó đang hoan hỉ và tạo dựng các hành đưa đến khổ đau, già, chết trong tương lai. Tuy rằng hiện tại mình chưa đạt đến chỗ tâm bất động nhưng phải có chí hướng đến đó quyết liệt, mạnh mẽ, nhiệt tình, cái đó gọi là Hướng Dự Lưu, mình hướng tâm như vậy để tham dự vào dòng trí tuệ lìa xa, rời xa, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra. Nếu có sự thực tập trí tuệ quán chiếu như vầy thì tâm sẽ được bình an, thường xuyên quán chiếu cho thuần thục để lỡ như có dính bệnh nặng, lúc ra đi mình quán từ bỏ thật mạnh mẽ là xả ly ngũ uẩn.
Thân là duyên sanh.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng là duyên sanh.
Thân là vô thường.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.
Thân là phiền não.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.
Thân không là mình.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình.
Thân này từ bỏ.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.
Thân xả, tâm xả - Dễ chịu, dễ chịu.
-Buông xả, buông xả - Dễ chịu, dễ chịu.
(Nghi thức tu học Nikāya – Niệm ngũ uẩn duyên sanh)
Vị Đa văn Thánh đệ tử là không hoan hỉ đối với các hành để tạo ra sanh, già, bệnh, chết, khổ, não, sầu, đau, họ không hoan hỉ nên không tạo dựng, không tạo dựng nên không rơi vào vực thẳm của sanh, già nua, chết chóc, lo lắng, bất an, khổ sau, họ liễu thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Liễu nghĩa là hoàn toàn, trọn vẹn, ở trên là không liễu thoát khỏi khổ đau nghĩa là dù cho tu cái gì đi nữa mà không thấy sự thật của bốn Thánh đế, lại còn hoan hỉ, tạo dựng các hành, rơi vào vực thẳm thì không thể liễu thoát khỏi khổ đau, tức là không thể thoát khỏi khổ đau hoàn toàn, nếu có thoát ra cũng chỉ được chút ít tức là sẽ được thân phước báo, nhưng thân phước báo cũng vẫn khổ như ví dụ đại gia nằm trên gường bệnh gắn bình oxy.
Chữ "đây" trong "đây là khổ" chính là ngũ uẩn, là đời sống này, "đây" chính là những cảm thọ dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, "đây" chính là tâm tham ái, tâm vô minh, chấp thủ trong những cảm giác, nghĩ tưởng này, "đây" là đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc, "đây" là cái thân thể mấy chục kí lô thịt này, họ không biết những thứ đó là khổ, họ không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ nên hoan hỉ, thích thú, say đắm rồi họ tạo dựng trong đó, họ bị chính những thứ họ tạo dựng đưa họ rơi xuống vực thẳm. Dân gian có câu "túi khôn ngàn năm có cái gì là khổ cái đó", câu này phải được nhìn bằng con mắt Khổ Thánh Trí, có gì thì khổ đó, có ít thì khổ ít, có nhiều thì khổ nhiều, không có thì không khổ, câu này nếu được nhìn bằng Thánh trí huệ Nikāya sẽ rất tuyệt diệu.
Mình mang tấm thân này nhưng cứ bệnh hoài thì khổ với có thân, có ngôi chùa to lớn dát vàng lúc nào cũng sợ trộm cắp thì khổ với ngôi chùa đó, trong tâm có sự ám ảnh về một hình bóng nào đó thì khổ với hình bóng đó, không phải chỉ riêng hình ảnh nam nữ mà còn là hình ảnh của cha mẹ, anh chị em, nội ngoại, cái nào tham ái, tạo dựng, hoan hỉ nhiều thì rơi vào vực thẳm đó ở trong tâm. Phải biết giải phá những hình bóng, suy nghĩ đó, thiền quán của chúng ta là nhằm xuyên thủng, phá vỡ những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, phải nhìn thấu vào để giải phóng, giải thoát khỏi những hình ảnh, suy nghĩ, cảm thọ đó, không hoan hỉ, tạo dựng nên không rơi vào vực thẳm của nó.
Đây là Thánh trí huệ thâm sâu của Đức Thế Tôn, sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn là như vậy, chúng ta phải học kinh mới thấy được điều này chứ không phải chỉ lạy lục, cầu nguyện bên ngoài là xong, sự từ bi của ngài là vậy đó, sự đóng góp cho cuộc đời này của ngài là vậy đó, con đường thoát khổ là như vậy đó, do vậy phải cố gắng để thấy cái khổ. Huynh đệ lâu ngày gặp nhau hỏi có thấy khổ không chứ đừng hỏi khoẻ không vì cái khoẻ là của thế gian, làm gì có cái nào gọi là khoẻ, thân thể này đang dần đi đến chỗ suy, lão, diệt vong thì làm gì có chuyện khoẻ, "huynh có thấy khổ không?", "sư tỉ mấy nay có thấy khổ không?", "có thấy dục, ái, tham, sân, si không?", "mấy nay bản ngã của muội sao rồi?", phải hỏi với tâm từ ái chứ không phải hỏi với tâm hơn thua, muốn gây sự, "muội đã thấy rõ được đạo lộ diệt khổ chưa?", đây là một sự thật cần phải cố gắng mới thấy rõ được nó, câu này được Đức Phật lập lại rất nhiều lần. Bài đầu tiên của Tương Ưng Sự Thật Đức Phật dạy phải thiền định mới thấy được bốn Thánh đế.
"Ở Sàvatthi...
-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?
Như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'. Như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ tập'. Như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt' Như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, I. Ðịnh)
Chính những gì họ làm ra sẽ dìm họ xuống vực sâu, họ không thoát khỏi những thứ họ làm ra, giống như người làm ra tiền sau đó không thể thoát ra đồng tiền đó vì nó quay lại sai khiến họ, giống như sắt gỉ ra sét, rồi từ cái sét đó quay lại huỷ hoại thanh sắt đó.
"Như sét từ sắt sanh,
Sắt sanh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng
Tự nghiệp dẫn cõi ác".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 240)
Những hình ảnh quá tải ở lò thiêu, áo quan không đủ cung cấp, cho nên trong thời điểm này chúng ta cố gắng học kinh, nghe pháp, thiền quán, dù có làm gì cũng phải chánh niệm tỉnh giác trong pháp. Thời đại này đừng nói sống hôm nay không biết ngày mai mà sống sáng nay không biết trưa nay ra sao, không cần đợi đến hôm sau. Vì không hoan hỉ nên không tạo dựng, vì không tạo dựng nên không rơi vào vực thẳm sanh, già, bệnh, chết, khổ sầu, họ liễu thoát khỏi đau khổ, cho nên ba từ quan trọng trong bài kinh này chúng ta cần lưu ý, thứ nhất là hoan hỉ, thứ hai là tạo dựng, thứ ba là rơi xuống vực thẳm.
Khi hoan hỉ đối với các hành sẽ đưa đến sanh, già, bệnh, chết, khổ sầu, từ chỗ hoan hỉ với tạo dựng, từ việc tạo dựng mới rơi vào vực thẳm, đó là ba từ cốt lỗi trong bài kinh này, ngoài ra còn có thêm không hoan hỉ, không tạo dựng, không rơi vào vực thẳm. Muốn học kinh sâu phải quán chiếu trong một bài kinh đó thôi chứ đừng để tâm hướng ra những cái khác, tuy nhiên mình có thể quán chiếu liên hệ vì nó cũng là pháp nhưng muốn đi sâu thì phải đặt tâm vào lời kinh đó thôi để thể nhập, trong thọ; tưởng; hành chỉ quán chiếu duy nhất bài kinh mình muốn thâm nhập thôi, không để tâm vào bài kinh khác vì khi đó tâm sẽ bị phân tán, tâm phân tán thì pháp lại diễn ra, lúc mình nhớ những bài kinh khác thì không thể tập trung vào pháp thực tại, đây là chỗ thiện xảo khi nghe pháp, cũng giống như thiền quán, khi đứng lên chia sẻ bài kinh nào thì đó là pháp đàm của bài kinh đó.
Tức là mình cảm nhận gì về lời dạy của Đức Phật trong bài kinh mình vừa học, mình hiểu được gì ngay trong khoảnh khắc hiện tại quán chiếu đó, thì đó là thiện xảo rất sâu sắc. Ví dụ Đức Phật nói người tu do không thấy rõ như thật về bốn Thánh đế nên họ hoan hỉ trong các hành để đưa đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não thì khi học xong mình nhớ được nội dung căn bản của bài kinh, thứ hai là quán chiếu được cái thọ của lời pháp đi vào tâm, thứ ba là thành tựu trí tuệ trong lời bài kinh đó, khi trở ra mình nhắc lại những điểm cốt lõi của bài kinh chứ không phải vừa học xong là quên mọi thứ, rơi rụng hết lời kinh, Đức Phật gọi đó là trí tuệ bắp vế.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế".
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Lộn Ngược)
Từ chỗ học kinh đi về phòng phải nhắc đi nhắc lại nội dung bài kinh cho đến tận hôm sau để nuôi dưỡng trí tuệ đó, Thánh pháp đó. Nếu tâm đắc bài kinh này thì hôm sau có thể xin phép được pháp đàm bài kinh này, phải nhiệt tình trong sự tu học để thành tựu trí huệ trong kinh Đức Phật nói. Nội dung cốt lõi của bài kinh này là hoan hỉ, tạo dựng và rơi xuống vực thẳm đối với người không nắm được sự thật, đối với người tu đúng chánh pháp thấy được bốn sự thật của đau khổ thì người đó không hoan hỉ, không tạo dựng và sẽ không rơi xuống vực thẳm, Như Lai nói người đó liễu thoát khỏi khổ đau.
Nếu mình nắm vững được yếu nghĩa trong kinh chỉ cần nói một câu là tóm thâu được nội dung bài kinh, đó là cách học kinh, khi nghe xong bài kinh là phải biết tóm thâu chính xác nội dung cốt lỗi của bài kinh, giống như khi thiền quán, đó là sự thiện xảo trong khi nghe pháp, thiền quán, học bài, học như vậy thì sau này tu mới đúng và chia sẻ cho người khác mới đúng, còn học một đằng nói lại một nẻo là không thành tựu trí tuệ trong bài kinh đó cho nên khi học bài kinh này cần tâm tâm niệm niệm và quán chiếu sâu sắc vào bài kinh đó, nghe kinh tới đâu là thấm từng lời kinh tới đó, đi vào tâm chứ không để rơi rớt bất kì chữ nào thì sẽ học sâu sắc và mau sanh khởi trí tuệ hơn.
./.