Xuất Gia Phản Tỉnh - Sám Hối Như Thế Nào Mới Đúng
Kinh Nikāya Giảng Giải
SÁM HỐI NHƯ THẾ NÀO MỚI ĐÚNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sám hối theo tinh thần Nikāya PAGEREF _Toc114060844 \h 1
II. Hướng nội nhận diện cấu uế PAGEREF _Toc114060845 \h 6
III. Giữ gìn giới luật PAGEREF _Toc114060846 \h 9
IV. Sám hối từ xa PAGEREF _Toc114060847 \h 11
V. Nhiếp phục dục và tham – đoạn tận dục và tham PAGEREF _Toc114060848 \h 12
VI. Thánh Trí Năm Uẩn PAGEREF _Toc114060849 \h 20
I. Sám hối theo tinh thần Nikāya
Có câu “sám giả sám kì tiền kiêng, hối giả hồi kì hậu quá”. Tức là mình sám là mình nhận lại những cái lỗi trước kia mình đã làm, đó là sám. Còn chữ hối là ngăn chặn những sai lầm về sau. Đó là ý nghĩa của hai chữ sám hối. Tức là nhìn lại những gì đã nói, đã làm, đã nghĩ trước kia để xét lại, xem lại, kiểm tra lại.
Ví dụ, mỗi một ngày, buổi tối trước khi đi ngủ, mình ngồi lại, xem xét những suy nghĩ, những lời nói, những hành động của mình có lỗi gì trong ngày hôm nay. Nếu thấy nó có lỗi, thấy nó có sai, thấy nó có trật, thấy nó có những khuyết điểm, thì mình đến trước bàn Phật mình lạy, mình trình bày với Phật. Nếu mà có bậc thầy, có bậc tưởng thượng, thì mình đến những vị đó mình lạy và mình phát lồ. Tức là mình bày tỏ, mình nói lên, trong ngày hôm nay con nhìn lại con thấy lúc đó con có nói một câu nói, câu nói đó xuất phát từ lòng bực tức, câu nói không phải xuất phát của sự quan tâm, tình thương, mà câu nói đó xuất phát từ tâm sân hận. Nên hôm nay con đứng trước thầy, con xin lỗi. Hay đứng trước vợ mình xin lỗi, hồi sáng này anh nói câu đó bằng tâm sân, giờ anh nhìn thấy cái đó là lỗi lầm, xin lỗi. Đó là sám hối đó, đó mới là sám hối thật sự. Hoặc mình lên trước bàn Phật, hay chỗ đó không có thầy, không có cô không có tiện.
Hay mình sống cách xa cha mẹ, mình chưa có đủ can đảm, khả năng để trực tiếp xin lỗi mà người mình đã phạm lỗi, mình còn cái tôi, cái bản ngã. Thì mình quỳ xuống bàn Phật, quỳ xuống lạy, trình bày lên, trong ngày hôm nay con có hành động đó, hành động đó phát xuất từ bản ngã, cái tôi, từ sự cho mình là đúng, người khác là sai, mình là phải người khác là quấy, mình là hơn người khác là thua, mình là tốt người khác là xấu, mình là người tâm lớn còn người ta là nhỏ, mình là người hiểu biết người kia là người không hiểu biết, cái đó là tâm sai, tâm của bản ngã. Mình quỳ trước bàn Phật, tự mình kể tội mình ra, tự mình vạch lưng chỉ thẹo.
Người không biết tu là tốt khoe xấu che, người biết tu là mình phải phơi bày những cái xấu, những cái dỡ những cái còn chưa được hoàn thiện. Mình nhìn được, mình thấy được, mình phát giác, phát hiện được, mình điểm mặt được, mình lôi ra ánh sáng cho nó phơi bày trước tam bảo, trước trí tuệ của tự thân. Rồi mình hứa không tái phạm, cái đó gọi là hối. Mình hứa sẽ không tái phạm, mình nói tới nói lui hoài trên bàn Phật, mình đập đầu xuống mình lạy, mình khắc ghi lỗi lầm này. Mình làm cho mình khắc sâu vô trong cảm giác tội lỗi, mình không có bỏ qua, mình không có cho qua, mình không có dễ dàng để mà chấp nhận cái lỗi lầm nó sanh khởi, nó an trú, nó tồn tại trong thân tâm. Mình thấy điều đó là một điều xấu hổ, điều đó là một điều bất thiện, điều đó là điều làm cho mình bị nhiễm ô, điều đó lần lần đưa mình đến chỗ rơi rớt, lui sụt trong con đường hướng thượng của chánh pháp.
Ở Linh Quy Pháp Ấn chúng ta có nghi thức sám hối lấy từ trong kinh tạng Nikāya rất là hay.
Kinh Bhaddali, bài kinh 65, Trung Bộ Kinh Tập II. Đây là nghi thức sám hối trong kinh tạng Nikāya.
“Tôn giả Bhaddali vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Bhaddali)
Bạch quý thầy và đại chúng một lỗi lầm đã chiếm đoạt con thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi đại chúng chấp hành học giới để được Thế Tôn chế định, con đã phạm vào những lỗi lầm.
Lỗi lầm gì mình tắc bạch ra, mình nói rõ ra, mình thưa đầy đủ ra. Bạch quý thầy và đại chúng mong quý thầy và đại chúng chấp nhận cho con lỗi lầm này, để con có thể phòng hộ trong tương lai.
Lúc thời Đức Phật thì lúc đó Đức Thế Tôn và các bậc trưởng lão, các bậc thánh tăng, các bậc trưỡng lão sẽ nói lại. Này cô, hay là nãy chú, hay là này ông rằng: Nếu như sau khi cô thấy lỗi lầm này là một lỗi lầm mà đã như pháp, bày tỏ phát lồ sám hối thì chúng tôi sẽ chấp nhận cho cô, cho chú. Vì rằng, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh.
Nghĩa là bất cứ ai sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm phải như pháp. Phát lồ, bày tỏ sám hối và phòng hộ ở trong tương lai. Ở đây này ông, này cô những ai không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này bị bậc đạo sư quở trách, bị các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi quán xát quở trách, bị chư thiên quở trách, bị tự mình quở trách. Nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này ông, vì vị ấy không có thực hành học giới, trong giáo pháp của đạo sư. Nhưng ở đây, những ai thực hành trọn vẹn học giới, trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này không bị bậc đạo sư quở trách, không bị các động phạm hạnh sau khi quán xét quở trách, không bị chư thiên quở trách, không bị tự mình quở trách mình. Nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến, thù thắng, xứng đáng bậc thánh.
Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư.
Ngày xưa khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì đây là nghi thức sám hối, giờ thì mấy người biết cái này.
Khi mình có một lỗi lầm mình phải đến trước quý thầy, đến trước đại chúng. Chỗ đó không có người thì mình đến tam bảo, bàn Phật mình thưa một lỗi lầm này đã chiếm đoạt con, con thật là ngu ngốc, con thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi đại chúng chấp hành những học giới được Thế Tôn chế định, con vì ngu si nên đã phạm lỗi lầm. Cho nên phần hôm qua đã học, là sợ hãi với những tội nhỏ nhặt, cái này hết sức là quan trọng, cực kì quan trọng. Cái này mà mình không ứng dụng, là mình không bao giờ đi đến thân, ngữ, nghiệp, ý nghiệp thanh tịnh.
Cho nên phần giới hạnh là tuyệt đối quan trọng. Thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong cách học pháp.
Một lỗi nhỏ thôi mình thấy được nó mình phải thấy e sợ, lo lắng. Mình phải phát lồ, phải bày tỏ lên, phơi bày nó ra, không có che dấu. Còn mình bây giờ không thấy sám hối gì hết trơn. Sám hối gì nữa tháng một lần vô lạy như vậy, rồi cũng không thấy mình lỗi lầm gì, lại đọc mấy câu vậy đó. Thì nó có gì đâu, đó là máy móc chữ nghĩa hình thức. Mình đâu có cảm giác, cảm xúc xấu hổ đâu. Mình không sanh khởi được cảm giác hỗ thẹn, tội lỗi. Mình không có sanh được cảm giác sợ hãi, mình không có quán chiếu được tội lỗi đó nó đưa vào ác thú, đoạ sứ, khổ cảnh. Mình không thấy những tội lỗi này là con đường dẫn đến khổ não trong tương lai.
Cho nên mình phải phát sanh một cảm giác thật là ngu ngốc, thật là ngu si, thật là bất thiện. Trong khi mọi người chấp nhận học giới như vậy mà tại sao mình lại phạm lỗi lầm như vậy. Bạch với thầy, bạch với đại chúng hãy chấp nhận cho con lỗi lầm này, là một lỗi lầm để con có thể phòng hộ trong tương lai, mai mốt con không có phạm nữa.
Cái đó là cái chánh của sám hối đó. Nhìn thấy và hứa chừa và khắc phục, nhiếp phục, cải thiện, không cho nó tái diễn, không cho nó tiếp diễn, không cho nó tiếp nối, không cho nó tương tục, không cho nó tiếp tục.
Rồi vị trưởng thượng, trưởng lão mới nói rằng: Nếu mà ông thấy đó thật sự là một lỗi lầm, mà ông như pháp mà phát lồ bày tỏ sám hối, thì chúng ta sẽ chấp nhận cho ông.
Và như vậy đó, chính điều này, điều phát lồ sám hồi, nhìn nhận lỗi lầm này là sự lớn mạnh ở trong giới luật của bậc thánh. Đây là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh. Còn bằng không mà giống như mình trồng cây mà cây nó chai vậy.
Lúc trước ở cái thất khai sơn, lúc đó còn am tranh, bà cụ cho cây bồ đề. Cây bồ đề rất là tốt, sau đó rễ ra nó phá luôn cái chậu. Nó ăn lên nền nhà xi măng, xi măng nứt ra. Lúc đó con hay đi giảng dạy cũng ít ở nhà, có mấy người nói rằng rễ nó ăn hư nhà luôn. Cho nên mấy người mới nhổ cây bồ đề, nhổ đem trồng qua bên kia. Trồng qua bên kia rồi tới một chục năm rồi mà nó không lớn. Nó bị chai đất nó không lớn được. Có những cây mình thấy nó đèo, nó èo ọt, nó như vậy hoài nó không lớn. Thì cũng vậy, mình mà không có nhìn nhận lại thân tâm của mình, không có sám hối, không có phát lồ, không có thấy xấu hổ, không thấy nhục nhã, không có tẩy rửa thì mình cũng giống vậy, không có lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh.
Cho nên mấy cô khóc cứ việc khóc, xúc động là cho nó xúc động. Không sao hết. Phải thấy xấu hổ, phải thấy tàm quý, phải thấy những cái bất thiện đó là ghê gớm.
Lúc trước con chưa vô dòng pháp này mình thấy mình trơ trơ. Mà từ khi mình vô dòng pháp này mình thấy bản ngã, giờ mình nghe từ đó thôi là mình ớn lạnh, nổi da gà vậy.
Mình thấy người đó hoặc là tự thân của mình mà cảm giác bản ngã hất lên, dâng lên. Thì lúc đó tự nhiên mình thấy mình ớn quá, ghê quá, sợ quá, run quá. Mình biết được những thứ này là mầm móng của thống khổ, của tai hoạ, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn, nguy nạn của sự khốn nạn ở trong tương lai. Khốn đốn hoạn nạn, cho nên lúc đó mình cảm thấy mình sợ, mình sợ với cái bản ngã, mình sợ với lòng sân, lòng dục, lòng ái, lòng tham.
Vui sướng ở ngoài đời là vui sướng theo dục, theo tham, theo ái. Còn vui sướng của người xuất gia là li dục, li tham, li ái. Nó trái ngược, cho nên sự sám hối này là nó đưa đến chỗ thanh tịnh những thứ đó, nó đưa đến chỗ thanh tẩy, thanh lọc.
Người đời được cái họ tham muốn là họ thấy thích thú. Nhưng mà người tu là lìa được cái mà mình tham muốn, thì cái đó người tu thích thú. Chỗ này là chỗ thâm sâu, cho nên sự khác biệt giữa thánh phàm mê ngộ tăng tục là ở chỗ đó. Tức là cái mà tất cả mọi người khao khát, đam mê, mong muốn, tìm kiếm, hi vọng, ước mơ, chạy đuổi, truy tầm, thống khổ đối với cái đó, thì người tu bỏ cái đó. Đó là chỗ khác biệt giữa người tu và không tu. Giữa cái hạnh phúc của người mê và cái an lạc của người tỉnh. Tại vì người tu nhìn thấy được cái gì sung sướng trong cái thuốc phiện đó hết, nó không có cái gì vui sướng trong cái đua xe đó hết, nó không có cái gì vui sướng ở trong cái nhậu nhẹt mà chửi thề đó.
II. Hướng nội nhận diện cấu uế
Không có, không có hạnh phúc trong đó, không có vui sướng trong đó. Thì đó là hạnh phúc của người tu, xa những cái đó. Còn người đời thì đi tìm những cái đó. Cho nên sám hối đưa đến chỗ thanh tịnh, thanh tịnh là an lạc. Người không tu là lo chiến thắng đối tượng bên ngoài, mà người tu chiến thắng bên trong cảm giác của mình. Người không tu là muốn thắng người kia bên ngoài, còn người tu muốn thắng cái hơn thua trong cảm giác của mình. Thấy sự khác biệt không? Giữa hai người nói chuyện, cự cãi với nhau, thì người đời muốn dành phần thắng. Người tu không muốn người bên ngoài mà muốn thắng cảm giác đòi thắng của mình. Nhiếp phục được, chế phục được cảm giác hơn thua đó.
Đó là khác biệt, một cái hướng nội, một cái hướng ngoại. Người đời thì muốn hả dạ tâm sân hận của mình. Nói cho nó đã, nói ra cho trút hết bực bội, bung hết ra. Còn người tu là nhiếp phục được những cái đó ở bên trong, chiến thắng được cảm giác sân hận ở bên trong. Sự an lạc của người tu là gì? Là nhiếp phục và đoạn tận được những ham muốn, nóng giận, si mê, vô minh và bản ngã. Người không biết tu là cái gì? Là đi phát huy mấy cái đó, đau khổ vì mấy cái đó, khao khát mấy cái đó, chạy đuổi mấy cái đó, phục dịch cho mấy cái đó, làm nô lệ cho tham ái. Và như vậy thì làm gì có hạnh phúc, vĩnh viễn không bao giờ có hạnh phúc. Vì những thứ đó là nguyên nhân làm ra khổ mà. Giờ mình đi tìm cái vui ở trong những cái thứ làm ra khổ thì làm sao có được cái vui. Còn người tu là gì? Là thấy cái nào làm ra khổ dập tắt cái đó thì hết khổ, đó là chỗ tuyệt diệu, thánh trí. Sự khác biệt giữa thánh phàm mê ngộ, giữa sự xuất li và lao đầu vô, còn đây là thoát ra.
Cho nên có sự nhìn lại, nhìn nhận lỗi lầm của mình. Cho nên con nói mình học bốn chữ “xin lỗi, cảm ơn”. Mình nói bằng cái tâm mình chứ không phải nói bằng miệng không. Mình có lỗi lầm gì trong gia đình, bà con, anh em hay trong huynh đệ phải nhớ bốn chữ xin lỗi và cảm ơn. Tại sao trong gia đình hay có phiền não, hờn giận? Tại vì mình ở chung rồi mình coi thường, mình nghĩ rằng người nhà rồi không cần khách sáo gì nữa, chính chỗ đó mình không còn cung kính, không còn trân trọng. Cho nên phải biết cảm ơn và xin lỗi. Đó là bước đầu tiên.
Cho nên người thấy được lỗi lầm của mình và bày tỏ lỗi lầm ra như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh. Bất cứ một ai sau khi thấy mình lỗi lầm là lỗi lầm như pháp và phát lồ sám hối và phòng hộ trong tương lai, thì những người này sẽ đi đến chỗ trọn vẹn, học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư.
Còn nếu như mình không có nhìn nhận lỗi lầm. Tại vì sao? Cái này nó có quy trình pháp của nó chứ không phải đơn giản đâu.
Thường trực mình học cảm giác toàn thân, mình học nhận diện năm uẩn làm cái gì? Để mình biết thành phần, cấu tạo thân tâm này là cái gì? Khi mình thấy thành phần cấu tạo của nó, rồi mình thấy sự vận hành hoạt động của nó, rồi mình nhìn thấy bên trong là cái gì trong đó. Mình nhìn thấy, mình biết, mình hiểu thì lúc đó mình mới phát hiện được. Giống như mình nhìn vô gương, mình thường soi gương, mình thường xem gương, mình thường đứng trước gương thì mình mới biết mặt mình sạch hay dơ, nó có dính chỗ nào. Thì cũng vậy, nhận diện năm uẩn, sự an trú cảm giác toàn thân chính là pháp soi gương. Tại sao lúc trước mình tu, mình học nhiều mà không sanh trí huệ? Tại vì cái gương đó dính bao nhiêu lớp vậy đó, nó không phải là tấm gương trong sáng của thánh trí năm uẩn. Cho nên nó lờ đờ, mờ mờ, mình không rõ. Nó dính dơ mà mình tưởng nó sạch. Có không? Có tưởng không?
Nhưng mà bây giờ cái gương nó trong, cái trí nó sáng, đúng chánh pháp, thì mình nhìn thấy. Nhìn thấy thì sao? Mình tẩy rửa thì nó đi đến chỗ sạch.
Cho nên, nếu mà không có thực hành trọn vẹn cái học giới thì vị này sao? Sẽ bị bậc đạo sư quở trách, bị đồng phạm quở trách, bị người có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư thiên quở trách. Cái quan trọng là bị tự mình quở trách mình. Đức Thế Tôn sẽ nhìn thấy, thấy của mình nhìn thấy, các bạn đạo của mình nhìn thấy. Ở trong gia đình thì vợ chồng nhìn thấy, anh em nhìn thấy, cha mẹ mình nhìn thấy. Cái quan trọng là tự mình nhìn thấy, chư thiên nhìn thấy.
Cho nên thời Đức Phật chư thiên xuống kính lễ các vị Tỷ-kheo rất là nhiều. Chư thiên đều cảm được chư thiên, những vị tu giới hạnh thanh tịnh, thiền định đúng chánh pháp như vậy mà chư thiên xuống đãnh lể cúng dường, tiếp cận là chuyện rất bình thường.
Cho nên mình có lầm lỗi đừng tưởng đâu là không ai biết. Phi nhân, chư thiên, chúng sanh ở gần mình, người ta thấy, người ta biết hết. Cho nên mình thấy người có phước, hay có tai nạn thì người ta nằm chiêm bao người ta thấy trước hay có những cái gì đó nó xuất hiện ra ngay lúc đó. Thì những cái đó là phi nhân, chư thiên giúp đỡ.
Người thông thường không biết thì gọi là bồ tác gia hộ, còn thực sự là chư thiên.
Cái đó không phải là tự nhiên, mà do công đức, phước báu. Mà những người đó, mình đã gieo phước duyên với họ trong quá khứ, đời trước. Cho nên mình chỉ tự lo, tích tập những thiện pháp, tu hành những công đức, phước báu. Thì tự động mình hữu sự là có người giúp. Bây giờ mình không lo mấy cái đó mà mình chỉ lo cầu xin thì không ai giúp mình hết trơn.
Cho nên cái quan trong ở đây là gì? Tự mìn quở trách mình. Tự mình quở trách mình là cái gì? Là trạo hối. Đây là một trong năm truyền cái nó làm cho mình không vào định được. Khi mình vào thiền những cái đó làm cho mình ray rứt, mình phạm giới, mình nói dối người ta. Mình nói lời hung ác, mình nói lời thô lỗ, mình bị dính mắc vô ái dục, tham dục. Những hình bóng lúc mình ngồi nó hiện ra, những cái mình đã làm hiện ra giống như mình quay cuộn phim mình mở lại, khi mình ngồi thiền những cái đó nó biểu hiện lại.
Tại vì lúc đó nó không đối diện với sắc, thinh, hương, vị xúc nữa, nó nồi lại nội quán bên trong. Thì trong này có cái gì, hiện ra cái đó, các pháp nó sẽ hiện rõ, mà khi đó nếu mình lỗi lầm nhiều trong đó, những cái giới lớn bị phá hoại, mình đi tới phạm. Thì cái tâm mình ray rứt, nó làm cho mình dao động, mình day dứt. Cái đó gọi là trạo hối đó, nó làm cho tâm mình bị dao động. Thì cái đó là cái gì? Nếu mà bị cái đó rồi thì sao? Thì không chứng được thượng nhân pháp tri kiến thù thằng xứng đáng bậc thánh.
III. Giữ gìn giới luật
Cho nên Đức Phật dạy hai điều quan trọng là gì? Là giữ giới thanh tịnh và tri kiến chánh trực. Thì vị này sẽ bước vào dự lưu, giữ giới thanh tịnh.
Ví dụ: Người cư sĩ là năm giới, tám giới. Còn người xuất gia là giới bổn sơ di hoặc Tỷ-kheo.
Chính cái chỗ mà mình tu hành, mình không thành tựu là gì? Là cái giới mình không trọn vẹn.
Mà nếu mình lỡ phạm rồi, mình thấy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã, mình phát lồ sám hối, mình ao ước, khao khát, tha thiết. Để mà từ từ mình sẽ bỏ, mình đi đến chỗ thanh tịnh. Để có thể chứng được thượng nhân pháp và mới thể nhập được tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc thánh.
Một danh từ khác là thể nhập thánh tri kiến. Là cái thấy biết của bậc giác ngộ.
Mình học, mình vẫn nghe, mình vẫn hiểu mà mình không chứng nhập vô được là tại vì cái này. Những cái điều mình làm nó sai phạm, tâm mình sẽ bị hối tiếc, hối hận. Mà cái hối tiếc, hối hận làm cho giao động không định được.
Thành ra mình thấy giới, định, huệ là cái gì? Là quy trình của thánh đạo, không thể vượt qua.
Không phải Đức Phật là người chết đặt ra, phải đi cái này, cái này. Không phải. Mà quy trình vận hành của tâm thức nó phải đi theo lộ trình đó, quy trình đó, trình tự như vậy. Thì nó mới đi đến chỗ lậu tận. Cái này thì không thể nào lừa gạt ai được hết, không thể dối trá được ai hết, sao mình dối mình được. Nhưng cái gì mình làm nó phải hiện ra chứ, sao mình lại dối mình. Chính cái chỗ giới hạnh không thanh tịnh, cho nên mình thiền không có định. Mình không có làm sạch những cái ô nhiễm, mình không có phát lồ sám hối, mình không có xấu hổ, không có tàm quý, mình không chịu gạn lọc từ từ, đặng nó đi chỗ loại bỏ và chấm dứt. Thì làm sao mình chứng được thượng nhân pháp. Thượng nhân pháp là cái pháp của người trên, người trên đó là thánh nhân.
Còn cái gì? Cái thông thường là gì? Là phàm phu pháp. Cái mà chạy theo dục, theo ái, theo tâm mê. Cái đó là phàm phu pháp.
Còn cái mà li tham, viễn li, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, cái đó là thượng nhân pháp. Cái đó muốn thực hiện được, phải hai yêu tố. Thứ nhất là giới hạnh tịnh. Thứ hai là tri kiến chánh trực. Cái thứ hai là thấy biết chánh tri kiến được thành lập cộng với thiền định thì người người đó tối thiểu phải dự lưu thánh quả.
Còn bây giờ mình tu mình không tôn trọng giới, mình toàn trật hết trơn thì làm sao mình chứng thượng nhân pháp, làm sao mà thể nhập tri kiến thù thắng, thánh tri kiến.
Cho nên điều này mình thấy là gì? Mình phải tha thiết, phải khao khát tăng thượng giới học. Còn không mình xuất gia vô chùa là tới giờ là ăn, tới giờ là ngủ, tới giờ là lên tụng, sáng tới giờ là cắp sách tới trường rồi về nhà. Vậy là suốt cuộc đời của mình là không tăng thượng giới học. Mình có biết gì đâu? Mình tưởng như vậy là được rồi. Còn tâm của mình là một đống sà bần, một cuộn chỉ tơ vò như vậy, trong đó mối manh ở đâu mình không biết. Cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức mình không biết. Cái nào là xúc, cái nào là ái, cái nào là thủ, cái nào là vô minh, cái nào là tham sân si, bản ngã, mình không biết. Một đống vô mình rồi làm sao, mình đau lòng không? Mình tu mấy chục năm rồi mà mình tu như vậy không?.
Cho nên vị mà trọn vẹn được học giới, trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này không có bị bậc đạo sư quở trách, không có bị các đồng phạm hạnh sau khi quán sát quở trách.
Người cùng tu, người ta có trí tuệ, người ta có thiền định, chánh niệm người ta nhìn vô người ta biết. Nhìn vô biết thì với cái lòng bi mẫn cái vị đó sẽ trách móc, tại sao thầy tu còn dao động vậy, thầy còn những ham muốn nhiều quá, còn sân hận, còn bản ngã. Thì các ngài sẽ quở trách.
Còn nếu mình học giới trọn vẹn thì không bị quở trách, không bị chư thiên quở trách, không bị tự mình quở trách. Ngồi lại tâm mình an, mình không có phạm lỗi, trong sạch, tâm bình an.
Một vị cư sĩ nói ra mà tại sao người xuất gia phải quỳ xuống đảnh lễ. Đâu có quyền chức gì đâu, đâu có địa vị gì đâu. Chính là nội tâm thanh tịnh và sức mạnh của sự thật. Thanh tịnh giới và tri kiến chánh trực có thể nhiếp phục được địa chúng. Có thể người xuất gia phải quỳ xuống đảnh lễ, đó là sức mạnh của thánh pháp.
Nhiều khi mình thấy vị xuất gia đó là lớn đó, lạy thì lạy cho có hình thức vậy thôi, chứ trong tâm không có kính trọng. Còn học giới không co trọn vẹn, chỉ có cái đầu với cái áo vậy thôi, bên trong nó không có.
Một khi người có pháp rồi, đã giới hạnh thanh tịnh, tri kiến chánh trực, trí huệ thể nhập chánh tri kiến rồi thì cái uy lực của nó là siêu việt sắc tương.
Cho nên người ta bình luận là thánh cư sĩ. Bậc thánh thì không có nói là cư sĩ hay xuất gia gì hết, nó chỉ là hình thức thôi.
Cho nên mình hãy lo, lo thực sự bên trong này có, chứ đừng có lo người ta không biết.
Mình có đi, thực sự mình có đi, thực sự mình thanh tịnh đi. Đừng nói con người, trời còn muốn quỳ lạy dưới chân. Cho nên tu là tuyệt diệu lắm. Phải có lòng tin bất động, đối với dòng pháp này, đối với trí tuệ này.
Cái nghi thức sám hối tiếp theo là ở trong nghi thức tu học Nikāya mình có sám hối diệt ngã đó.
IV. Sám hối từ xa
Bây giờ con mới chia sẽ thêm như vậy.
Sám hối nó còn phải có một cái là sám hối từ xa. Không có đợi tới có lỗi rồi mình mới sám hối, mà hằng ngày mình phải lạy sám hối để mình ngăn chặn trước khi cái lỗi đó sanh khởi ra.
Bây giờ nhà cháy lớn mà mình lấy nước ra mình dập thì đâu có kịp, mà mình phải có cái bình phòng cháy chữa cháy ở trong cái thiết kế. Thì cũng vậy, trong nội tâm mình cũng vậy. Phải có sự ngăn chặn lỗi lầm trước khi nó sanh khởi. Hồi nãy giờ là nói lỗi sanh khởi rồi mình sám hối. Lùi lại sâu sắc hơn nữa là chặn đứng nó trước khi nó sân. Đợi tới sân, tới khi bực tức bừng bừng lên lúc đó mình dập tắt mình dập không nổi.
Trước khi mình có lỗi lầm mình phải sám hối diệt ngã trong nghi thức Nikāya. Hay mình thấy mình nặng cái gì đó thì mình thay thế vô, chấp ngã mình thế là sân, mình sám hối tâm sân hận. Sau này mình sẽ có những bài sám hối tâm sân, sám hối cái dục mình thế vô đó, mình phơi bày ra trước Phật mình hứa, mình chừa, mình quán chiếu sự nguy hại của nó, sự nguy hiểm, tác hại của nó. Đó là về cái sám hối.
V. Nhiếp phục dục và tham – đoạn tận dục và tham
Lúc đó có mấy vị Tỷ-kheo đi đến chào biệt, xin Đức Thế Tôn đi qua một vùng khác. Thì Đức Phật nói: Các ông có chào tôn giả Xá-lợi-phất chưa?
Dạ. Chưa.
Đức Phật nói các ông đi qua chào. Xin phép tôn giả Xá-lợi-Phất.
Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc trí huệ, giúp ích nhiều cho tăng chúng, các ông qua chào đi.
Thì các vị này mới đi qua chào ngài Xá-lợi-phất, trình bày với ngài là đi qua xứ khác ở xa.
Thì ngài Xá-lợi-phất đặt câu hỏi là Các ông đi qua sứ xa, nước xa, vùng xa như vậy. Nếu có bậc thiện trí, có bậc học giả, có những người hay có tính hiếu kì, nghiên cứu, tìm hiểu, hỏi ông là: Đức Thế Tôn bậc đạo sư của các ông nói cái gì, dạy cái gì. Thì lúc đó ông nói làm sao?
Nếu có một người Phật tử, bạn mình hỏi rằng: Con nghe nói cô đang học trung cấp Phật học ở Bình Định, con xin hỏi cô Đức Phật dạy cái gì. Cô có thể nói tóm tắt ý chính cho con biết. Con học pháp hai mươi năm mà con không biết ý chính Đức Phật dạy cái gì? Vậy các cô nói làm sao?
Ngài Xá-lợi-phất phải học kinh, phải học thuộc kinh. Còn bằng không nói theo ý mình.
Ngài Xá-lợi-phất nói rằng Đức Thế Tôn nói: Nhiếp phụ dục tham, đoạn tận dục tham. Đó là lời bậc đạo sư tuyên thuyết.
Ngài Xá-lợi-phất đặt câu hỏi tiếp tục: Đối với cái gì mà bậc đạo sư các ông nói rằng nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.
Nói theo tiếng việt là tham cái gì? Nhiếp phục cái tham, đoạn tận cái tham. Vậy tham cái gì?
Tham đối với sắc, tham đối với thọ, tham đối với tưởng, tham đối với hành, tham đối với thức. Tham đối với năm uẩn. Mà Đức Thế Tôn nói là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.
Ngài Xá-lợi-phất đặt thêm vấn đề nữa là Tại sao phải nhiếp phục dục tham đối với năm uẩn?
Ngài Xá-lợi-phất nói: nếu người mà tham sắc pháp, món đồ đó, đồ vật đó hay là con người đó. Thì cái sắc đó biến đổi, khi mà nó vô thường, khi mà nó tan hoại thì người đó có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?
Đối mà dục mà tham, mà muốn, mà ưa, mà thích đối với đồ vật đó, đối với sắc pháp đó, đối với con người đó. Nếu đồ vật đó, sắc pháp đó, con người đó mà xảy ra sự biến đổi, sự vô thường, sự tan hoại, sự tan nát, sự bại hoại, sự tiêu vong. Thì người đó sầu, bi, khổ, ưu, não, khởi lên. Đây chính là lí do, mục đích tại sao mà bậc đạo sư tuyên thuyết nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, đối với năm uẩn.
Nếu như có một người đã không còn dục, không còn tham đối với món đồ đó, đối với đồ vật đó, đối với sắc pháp đó, đối với con người đó. Nếu như đồ vật, sắc pháp, con người đó có vô thường, có biến hoại, có hoại diệt thì người này có sầu, bi, khổ, ưu, não không?
Quý vị thấy kinh sâu xa không?
Đó là kinh Nikāya đó, đó là thánh trí của Đức Phật và được sự tiếp tuyền của bậc trí thượng thanh văn tôn giả Xá-lợi-phất. Nhớ cho kỹ đây là khẩu quyết của sự tu hành. Bậc đạo sư tuyên thuyết nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.
Nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham với cái gì? Đối với sắc, tất cả những hình sắc, sắc tướng.
Nhiếp phục dục tham đối với cái gì? Đối với tất cả cảm giác đối với thân và tâm.
Nhiếp phục dục tham đối với cái gì? Đối với những hình bóng, những suy nghĩ, những sự nhận thức rõ biết ở bên trong ngũ uẩn này. Nhiếp phục dục và tham đối với nó.
Ví dụ thực tế: Bây giờ con quý cây này lắm, cây này con chọn để trên pháp toà mà bữa nay không ai thèm chăm sóc, để như vậy mà không ai nhìn thấy hết. Thì con nhìn thấy con có sầu bi khổ ưu não không? Con có bực bội, khó chịu không? Quá trời người mà không ai thấy nó khô hết trơn. Vậy con khởi lên sầu bi, khổ ưu não chứ.
Cây này cây của mình, cây mình đi tới Đà Lạt mình lựa mà. Mình đem về mình đặt ở chỗ trang trọng nhất mà tại sao không chăm sóc, không ai nhìn thấy. Vậy khởi lên sầu bi khổ ưu não không?
Còn nếu như con không có dục, không có tham, không có ái với cây này mà con vẫn tưới nước. Thì khi nó biến hoại không có khổ.
Đó là bí kiếp của sự tu hành chứ đâu phải chữ nghĩa trong sách mà để tụng thờ đâu. Con cũng biết làm nhà bếp cho nó đẹp, cho nó rộng ra chứ, cho nó tiện nghi hơn chứ mà con để vậy đó, để cho mọi người tu.
Đâu phải con không biết làm đẹp. Bây giờ con ưa thích cái chuông này mà bữa nào chú nào ôm lên quán chiếu đường, rủi mà chạy xe trợt chân lọt xuống rồi bể cái chuông. Thì lúc đó con như thế nào? Có bị khổ não không?
Tại nó biến hoại, nó vô thường, nó thay đổi. Giờ nhiếp phục dục, tham, ái đối với cái chuông này, có thì sài, rủi có hư rồi thì có giận nó cũng hư rồi. Mà mình phải cẩn thận.
Cái này là cái định lí của giải thoát, phải được thực tập, phải được ứng dụng, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi chốn, bên trong, bên ngoài. Tất cả phải được thực tập, soi rọi, coi trong này có dục tham không để mình nhiếp phục và đoạn tận.
Khác biệt giữa người không tu là gì?
Người không tu là muốn mấy cái này, được mấy cái đó là học vui thích, hạnh phúc. Còn người tu là người nhiếp phục những cái dục, cái tham, cái muốn ở trong người.
Vẫn tiếp xúc, vẫn thấy, vẫn nghe mà nhìn thấy được tính chất của nó. Sanh là phải diệt, tươi là phải héo. Biết được tính chất của nó, thấy được bản chất của nó, thấy được chân tướng của nó, thấy được lẽ thật của nó. Cho nên khi nó bày hiện sự thật ra thì ngộ đạo chứ sao, nó là vậy mà. Tuổi già nó nằm ở trong cái sắc trẻ, cái bệnh hoạn ở trong cái sức khoẻ và cái tánh chết ở trong sự sống. Đó là câu nói của như lai khi mà ngài Anan thấy da của Đức Phật nhăn nheo, ngài Anan kinh hoàn, súc động. Ngài Anan nói: Kì lạ thay Thế Tôn, da của ngài không còn trắng trẻo, không còn mịn màng, không còn rạng rỡ giống như ngày xưa nữa. Lưng đã còn về phía trước, da đổ đồi mồi, nhăn nheo, thân thể suy lão. Phật nói này Anan: Tuổi già nằm trong sắc trẻ, bệnh đau ở trong sức khoẻ và cái tánh chết ở trong sự sống. Đối với bậc đã nhìn thấy vậy rồi thì cái chết đến thì bất động tâm giải thoát. Giống như mình chưng bông mà tới khi bông nó héo mình bưng xuống mình đổ vậy, mình quăng đi mà không có thương tiếc, không có lưu luyến gì hết. Tại vì nó là vậy.
Đối với một người mà thường trực, thường hành, thường xuyên, thường quán, thường chiếu, thường chiêm nghiệm, thường tư sát đối với tất cả bản chất vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn này. Mà khi ngũ uẩn này biến hiện ra tính chất, vô thường, khổ nó bày hiện ra, nó phơi bày ra thì người đó điềm nhiên cho tới có thể bất động, đó là bậc Alahan. Bất động tâm giải thoát.
Đối với chúng sanh vô văn phàm phu chỉ nhìn thấy vị ngọt của sắc thôi, vị ngọt của dục thôi mà không thấy được tính nguy hại, nguy hiểm và tác hại của nó. Mà tới khi mà nó bày ra một tính nguy hiểm, một tỉnh độc hại, bày ra một cái thì ngày bứt tóc, đấm ngục, nước mắt ràn rụa và thậm chí là nguyên sinh và tự vận vì không chấp nhận nổi sự thật.
Bình thường mình tu để làm gì?
Để nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn. Để cho tới lúc nó bị suy hao, nó bị suy vong thì lúc đó mình suy xét bản chất của nó là vậy, mình đã biết từ lâu, mình đã thâm sâu tuệ quán, mình đã thể nhập cái tri kiến bậc thánh này, mình đã sống trong đó, mình ăn trong đó, mình thở trong đó, mình uống trong đó. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân đã thể nhập vô chánh tri kiến này. Tâm mình bình an giữa tất cả những sự biến động, động chuyển của thế giới. Đó là sự hạnh phúc của người tu, li dục, li tham, li ác bất thiện pháp. Còn người không biết tu, người phàm phu đi tìm hạnh phúc ở đâu? Tìm hạnh phúc ở trong dục, trong tham, trong ái. Mà tìm trong đó đến một khi nó biến đổi vô thường thì người này đau khổ.
Thành phố Vũ Hán đó, có cậu đó nhảy cầu tự vẫn vì vợ cậu ấy nhiễm bệnh gần chết, còn cậu này cũng bệnh, bị nhiễm.
Bản chất của năm uẩn này là ung nhọt, là mũi tên là cái pháp bại hoại là đồ bất hạnh, bất hạnh thay khi mà ôm ấp mà khao khát, khao khát đối với những cái thân xác vô thường, bất tịnh, thanh hôi, nhơ nhớp này. Say mê mà đắm đuối vô cái thây thúi này. Suốt cuộc đời mày chạy, chạy đôn, chạy đáo, chạy khắp năm trung bắc, chạy ra nước ngoài, chạy khắp nơi để đi tìm, tìm những vị thịt, những túi da. Đi tìm dục, đi tìm ái, tìm tham và cuối cùng bản chất ngũ uẩn là cái bản chất tráo trở, lật lọng, phản trắc và vô thường. Chính vị vậy mà mình đi tìm mãi mãi, vĩnh viễn suốt cuộc đời mình không thể đi tìm được một cái giống như mình muốn. Vì bản chất ngũ uẩn là bản chất vô thường, tráo trở, lật lọng, gian trá, xảo nguyệt, hư nguỵ, làm gì có một cái chân chánh, chân thực được. Chính mình, suy nghĩ của mình trước và sau còn mâu thẩn mà. Chính mình đây còn phản bội với lí tưởng xuất gia của mình. Chính mình đây, mình nói mình nỗ lực tinh tấn mà ba bữa sau nằm dài đó ngủ. Chính mình mà nó còn phản trắc như vậy thì những ngũ uẩn khác nó cũng giống như vậy. Nó ở bên trong nó đã bản trắc rồi, bản chất nó như vậy rồi, thì làm gì có một cái như vậy hoài không thay đổi. Thì như vậy mình chỉ có khổ thôi.
Cho nên mình chạy ở ngoài mình tìm những đối tượng dục, tham, ái là vĩnh viễn và mãi mãi khổ đau, không có ngày dừng lại. Vì cảm thọ nó vô thường cho nên yêu rồi sau đó nó hận, rồi nó giết, chẳng những giết mà còn phân xác nữa, bỏ trong vali, trong túi rác. Như vậy có khủng khiếp không? Con mà giết cha, giết mẹ, cha mà quan hệ với con, ông quan hệ với cháu. Như vậy có khủng khiếp không? Nó làm toan hoang hết luân thường đạo lí. Cái bản ngã giết chết hết, còn cái gì nữa. Nhất là thời đại này thì mình thấy những lời của Đức Phật là chứng minh mỗi một ngày trên mặt báo là kinh tạng Nikāya của thế kỉ hai mươi mốt. Trên mặt báo là chém, giết, đâm. Chỉ vì năm ngàn giữ xe thôi mà nó giết, nó đâm chết. Lấy chín chục ngàn của bà vợ sài mà không nói, xong về vợ đâm chết. Thì mạng người như vậy không đáng hai trăm ngàn. Ngày đầu tiên gặp nhau yêu thương như thế nào mà tại sao bây giờ như vậy.
Bản chất của nó là vô thường, bản chất phản trắc. Nếu mà nó không có đạo đức, không có giới hạnh, không có thiện pháp kềm lại thì thế gian sụp đổ hết và bây giờ đang đi cái đà đó. Tuyên truyền những cái xấu ác, những cái dục điên cuồng trên toàn thế giới. Mình lên mình coi, toàn những thứ loạn luân, những thứ đồi truỵ, những thứ đảo lộn hết tất cả luân thường. Con mà nó có thể lấy đồ gì đó đổ trên đầu mẹ nó, đặng nó quay lên những clip đem lên mạng đặng người ta coi cho nhiều. Khủng khiếp, thật khủng khiếp.
Cho nên bản chất của thế gian không đáng để cho mình tham, ở trong thánh trí, trong pháp của Đức Phật. Để cho mình nhìn thấy nó là những thứ không đáng để cho mình tham. Mình tham đối với nó là mình khổ, mình ái đối với nó là mình khổ, mình dục đối với nó là mình khổ, sầu, bi, ưu, não. Chỉ có con đường giảm bớt dục tham đối với nó, đoạn giảm từ từ, tránh ra từ từ, nhiếp phục tham, dục, ái trong này. Đi đến chỗ cứu cánh là gì? Là đoạn tận, đó là thành công tối thường của một kiếp người, nhân sinh, nhất là người xuất gia.
Bằng không là nó khủng khiếp lắm, dục, tham, ái này ghê gớm vô cùng, nó trá hình đủ thứ kiểu hết. Mà nó sai khiến mình, mình là tôi đòi, mình làm mọi rợ, mình làm nô lệ cho nó, nó bắt mình chạy hoài. Tu đâu có yên, nó dục chạy chỗ này, chạy chỗ kia, đâu có yên. Ngồi giờ ngồi thiền là trong đó chạy tùm lum hết. Một là ngủ gục, hai là vọng tưởng, còn không là rục rịch.
Cho nên phải cần sự nỗ lực tha thiết, chân thành bằng tất cả trái tim của mình. Để mình thấy được mục đích thật sự của kiếp sống này là cái gì. Mình sống lơ là, mình sống vô tư, mình sống lề mề giống như lục bình trôi sông rồi mình cũng vô tư vô lò thiêu, vô tư để vô hòm, vô tư để mình hứng chịu tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, nguy nạn của cuộc đời này. Bất cứ chỗ nào cũng có thể xảy ra án mạng. Đốt pháo làm giật mình rồi nó quay qua nó xử, rồi xảy ra án mạng.
Bên đây mở Karaoke nhạc lớn, rồi nhà kế bên qua cự, hai nhà cự qua cự lại. Đứa con về thấy vậy nó nhào vô lấy dao đâm, rồi người kia chết. Cái chết lãng xẹt, mà không có một lí do gì hết mà chết. Mà tất cả những cái đó là gì? Là tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Nó làm nên những bi kịch, những cái bi kịch khủng khiếp và đau đớn, đau xót cho người ở lại. Đau xót, những hình ảnh mà không cầm được nước mắt. Ba bốn đứa nhỏ nheo nhóc như vậy mà đội tang.
Hai vợ chồng trẻ mới mai mươi mấy tuổi mà xe tải cán chết tại chỗ để lại con cho nội ngoại nuôi. Biết bao nhiêu ki kịch trên thế gian này mà mình không nhìn thấy, mà mình ngồi đó tưởng mơ. Mình phải có một tầm nhìn rộng mở, bao quát mọi khía cạnh góc độ của cuộc đời này, để mình thấy được, thấy được mình ngồi đây không có an ổn chút nào. Hãy nỗ lực, tinh cần, quyết tâm, giống như mình hay tin một chút xíu nữa là động đất, giống như mình hay tin một chút nữa là hoả hoạn, lửa tràn. Giống như mình hay tin là trong không khí nhiễm độc rồi, mình phải có một thái độ tu hành dứt khoát, mãnh liệt, quyết tâm. Thì hoạ may mình mới có cơ hội thoát ra, vượt ra, vượt ra những cảnh khổ, những cái biển của dục tham, cái biển cả chứ không phải bình thường. Cái dục tham của mình là cả một cái biển, một đại dương chứ không phải đơn giản. Sân thì thôi là nó khủng khiếp. Si mê, vô minh phong toả hết tất cả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm của mình. Thấy ở trong vô minh, biết ở trong vô minh, nghe ở trong vô minh, biết ở trong vô minh không thôi, mình đâu có biết theo thánh trí của Đức Phật đâu.
Ví dụ: Mình hỏi cây này là cây gì? Người ta nói đây là cây tùng bồng lai thì mình biết là cây tùng bồng lai.
Không phải, đó là cái biết của phàm phu. Phải học định nghĩa về sắc, thấy được bảy trí huệ về sắc. Nhìn bằng thánh trí đó mới gọi là biết.
Bảy trí về sắc:
Những cái mình biết, mình thấy, mình nghe rồi mình tưởng mình biết nhưng thực sự thì những cái mình biết là trật lất.
Rồi mình nhìn người đó mình thấy đẹp quá, giàu quá, sang trọng quá, ước gì mình được như vậy. Lại nói chuyện một hồi là tâm sự, thầy ơi con khổ quá, con muốn tự vẫn. Sống bằng cái tưởng, bằng cái hành, cảm giác vận hành trong đó rồi mình tưởng như vậy là không đúng thực pháp. Phải nhìn xuyên thấu vô bản chất khốn nạn, hoạn nạn, ách nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan của cái đống bọt nước này, cái đống thịt này, cái đống máu mủ, cái đống phân cứt, nước tiểu đây nè, mình nhìn vô. Đó là mình bằng thánh trí, đó là mình lột được lớp vô minh, mà ngàn lớp trong đó, nó chất chứa trong đó. Phải quán chiếu một ngàn lần, một triệu lần chứ không phải quán sơ sơ như vậy mà nói là xong đâu.
VI. Thánh Trí Năm Uẩn
Mình nhìn thấy bình thường như vậy đây nè mà đi vấp là đập xuống, cái mặt tím bầm rồi mất lỗ mũi, lòi cái tròng con mắt ra rồi lúc đó ai nhìn nữa không? Rồi lúc đó vô thất đóng cửa lại. Phải quán chiếu như vậy đó mới nhã ra được những cái tâm tham, tâm dục, tâm chấp thủ, do đống mấy chục kí lô này. Phải quán sâu như vậy.
Bảy trí về sắc:
Trong tóm tắt ngũ uẩn.
Thứ nhất biết rõ sắc
Thứ hai biết rõ sắc tập khởi
Thứ ba biết rõ sắc đoạn diệt
Thứ tư biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt
Thứ năm biết rõ vị ngọt của sắc
Thứ sáu biết rõ sự nguy hiểm của sắc
Thứ bảy là biết rõ sự xuất ly của sắc
Vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất li khỏi sắc.
Du di sắc khởi lên là vị gì? Vị này là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đối với sắc đó là sự nguy hại của sắc.
Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc đó là sự xuất li khỏi sắc.
Mình phải thấy được cái gì là sắc? Từ đâu mà sắc có ra, làm sao sắc chấm dứt, con đường đưa đến sự chấm dứt đó. Mình phải thấy được vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất li. Cái này là những cái hết sức quan trọng ở trong ngũ uẩn, mình phải nắm.
Ví dụ: Mình nhìn một cái cây, cái bàn. Thì lập tức mình nhìn bằng thánh trí, đừng nhìn mà nói đó là cái nhà, cây tùng bồng lai. Biết cái tên đó mà mình biết đây là tứ đại, đất nước gió lửa, cái biết đó là biết bằng thánh trí. Rồi mình đưa nó từ từ đi vào, còn không là mình biết bằng cái phàm tình.
Thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Thức an của nó là gì?
Nói đơn giản, cái cây thức ăn của nó là gì?
Nước, đất, phân, không khí.
Thì nó cũng là tứ đại thôi.
Còn mình cũng vậy, mình có ăn không? Mỗi lần mình ăn là mình sử dụng cái trí để mình quán chiếu. Mình áp dụng cái mình học, mình áp dụng vào đời sống, mình như lí tác ý vô.
Ví dụ: Mình bưng món ăn lên thì đây là đoàn thực, những thức ăn này.
Bên trong khởi lên thúc dục muốn ăn mau mau, thành ra ưa thích cái này cho nên không đi ra khỏi thân xác.
Mình tập, mình nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham với món ăn. Mình cũng ăn chứ không phải không ăn mà khi khởi dục, tham, ái trong đó là mình diệt cái đó trước rồi từ từ mình ăn.
Cho nên nghi thức ở đây giờ phải là buổi sáng vẫn đọc chánh quán thọ thực. Buổi trưa phải đọc Đức Phật ăn cơm như thế nào, rồi sau đó đọc chánh quán thọ thực, để trở thành nghi thức trai đường ở đây luôn, không thay đuổi.
Buổi sáng không đọc bài gì hết, cứ đọc bài chánh quán thọ thực. Cái đó là nhiếp phục dục và tham trong cảm giác khi ăn. Mà đó là cái gì? Đó là Thế Tôn tuyên thuyết. Chứ không phải kêu cầu ai hết. Khỏi kêu Phật về ăn, Phật không cần mấy cái này đâu.
Buổi trưa đọc thêm bài cách ăn của Đức Phật, rồi sau đó đọc thêm bài chánh quán thọ thực.
Mấy buổi trai tăng đọc hai cái là cách ăn của Đức Phật và kế đó là chánh quán thọ thực.
Ở trên núi hoài như vậy rồi nó muốn lấy xe xuống núi, nó đòi tiếp xúc, nó đòi nhìn thấy cái này cái kia. Nó đòi vô chợ, nó đòi vô siêu thị. Phải biết cái này là xúc thực.
Nếu đi có việc thì được, mà không có việc mà nó vẫn dẫn xe ra thì cái này không bình thường. Phải nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với xúc thực. Cái đó đâu phải đọc rồi cất trong kinh đâu mà phải đem ra ứng dụng tron mọi cái sinh hoạt. Phải nhận diện ra được các pháp trong đời sống thường nhật của mình.
Hở là dắt xe chạy, hở là dắt xe chạy. Phải coi nó có dục, có ái trong đó không?
Giờ lên núi nói thưa thầy: Con ở đây năm ngày, ở trọn năm ngày cũng là sự chiến đấu đó, chứ không thôi hai ngày là đổi ý. Chứ đừng nói đi vô thất, lỡ công bố với mọi người vô thất mà đi ra sớm sao được. Tại vì trong này thúc dục, trong này kêu đi ra ở trong này buồn quá, bên kia có đốt pháo hay có gì đó bên đó vui, đi qua đó. Nhiều khi quán bên kia mở nhạc Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh hay nhạc sến thì ngồi thiền nổi không? Đi kinh hành nổi không?
Cho nên mình phải nhiếp phục xúc thực, còn không một là tham hai là sân.
Đến giờ ngồi thiền mà mở mấy cái nhạc này là mình sân, còn không là nghe khoái quá đi theo luôn.
Cho nên mỗi cái nhỏ nhiệm phải nhìn ra hết. Những cái pháp vận hành trong thân tâm, đó là quán pháp vận hành trên pháp đó, ở trong tứ niệm xứ đó. Nhìn thấy hết tất cả những cái gì nó có mặt, nó đang vận hành, bắt chộp nó. Chứ còn bằng không là kinh mở ra rồi đóng kinh lại trở ra là y như cũ, không có thấy pháp đâu hết.
Bất chánh đạo là cái con đường để chấm dứt sự ham muốn, ưa thích đối với những cái sắc vô thường. Chỉ có bát chánh đạo mới đưa đến chỗ đó được, ngoài bát chánh đạo không có con đường nào nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với sắc. Mình thấy được vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất li khỏi sắc. Nếu như chưa hiểu được bảy trí mà hiểu được ba cái này cũng là căn bản. Do duyên sắc mà khởi lên hỉ lạc gì? Do duyên sắc nào mà mình khởi lên hỉ lạc gì? Tức là do sắc nào đó mà mình khởi lên ưa thích, khoái. Cái đó là vị ngọt.
Nhưng mà mình phải thấy tính nguy hại của nó là gì? Là vô thường, khổ và chịu sự biến hoại. Đó là tính nguy hiểm và tác hại của sắc
Đó là cái thứ biến đổi, đó là cái thức mà trong đó mình tham đắm vô đó là mình sẽ khổ thôi. Nó là cái thứ tan nát, tai hoại, tan rã, tiêu vong, đoạn diệt, chắc chắn là như vậy, đó là thánh trí đó. Phải nhìn ra tính nguy hiểm của nó. Thấy nguy hại nó nhiều rồi mình sẽ xuất li. Không ưa thích nữa, cái đồ giả này, cái đồ dổm này, cái đồ sanh diệt này, cái đồ vô thường, cái đồ trống rỗng này, cái thứ bại hoại này ưa thích nó làm cái gì? Cái tâm hương ra, muốn thoát nó ra, muốn rời xa nó ra, là cái đó là hương dự lưu, xuất li, thoát ra. Cho nên những cái trí này phải được học thuộc lòng, phải được nhuần nhuyễn điêu luyện, tinh luyện. Nhìn cái gì là nhìn bằng thánh trí đó hết. Mình nhìn thấy cái gì đẹp thật là đẹp, ngon lành, tốt, là nhìn thấy vô thường, nguy hại, tan vỡ. Có thấy như vậy mới nhiếp phục dục tham chứ, không thấy như vậy thì làm sao nhiếp phục được dục tham. Nhìn thấy mơn mởn, nhìn thấy phơi phới, nhìn thấy tươi tắn trẻ đẹp như vậy thì làm sao không tham. Trừ khi nào nhìn thấy trong đó là cái già nằm trong cái trẻ, cái bệnh này ở trong sức khoẻ mà tánh chết thì ở trong sự sống. Thấy như vậy chứ chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Quán chiếu thâm sâu như vậy, tập huấn luyện trí huệ như vậy thì mình mới từ từ thể nhập chánh tri kiến, tri kiến của bậc thánh. Mà cái này phải được quán trăm lần, ngàn lần, một ngàn lần, chín trăm ngàn lần, một triệu lần, cho đến lúc nào mà nhập lại làm một là nhập lưu, siêu phàm nhập thánh. Tức là trí huệ Đức Phật trở thành trí huệ của mình, đó là Phật tri kiến, thánh tri kiến.
Còn bây giờ học, nghe, trở ra là xong thì chừng nào mình mới thể nhập chánh tri kiến. Phải có một giải đoạn thể nhập, sống quán chiếu, áp dụng và thực tập kiên trì. Mà lúc nào cũng nhớ, quý vị phải sử dụng tứ nhĩ túc. Muốn cho mãnh liệt rồi nỗ lực, và để tâm và tìm đủ mọi cách làm cho bằng được thôi, đó là tứ nhĩ túc. Bốn điều này làm cho mình thành công như ý.
Dù cúp điện hay có điện, tắt tiếng hay có tiếng thì mình đều bình an thì tuyệt vời không? Vậy là có tuyệt vời đó. Mình nhiếp phục được các cảm thọ, rồi các ngoại cảnh.
Tất cả những cái đó là mình coi là bài tập, bài trắc nghiệm, bài kiểm tra, bài thi. Nếu mà cúp điện, tắt điện mà tâm dao động thì lúc bị chửi lúc đó tâm sao không động, bị chửi tâm sao không động. Vô thường đối diện với cái chết thì sao không động. Mình phải quán tới mức độ như vậy, như lý tác ý tới như vậy. Minh tu tới mức cái gì đến với mình, mình cũng bình an, an nhiên vậy đó. Thì tuyệt vời không? Bất động tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đó là ruộng phước vô thường cho chư thiên và loài người. Đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lể đáng được cũng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
SÁM HỐI NHƯ THẾ NÀO MỚI ĐÚNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sám hối theo tinh thần Nikāya PAGEREF _Toc114060844 \h 1
II. Hướng nội nhận diện cấu uế PAGEREF _Toc114060845 \h 6
III. Giữ gìn giới luật PAGEREF _Toc114060846 \h 9
IV. Sám hối từ xa PAGEREF _Toc114060847 \h 11
V. Nhiếp phục dục và tham – đoạn tận dục và tham PAGEREF _Toc114060848 \h 12
VI. Thánh Trí Năm Uẩn PAGEREF _Toc114060849 \h 20
I. Sám hối theo tinh thần Nikāya
Có câu “sám giả sám kì tiền kiêng, hối giả hồi kì hậu quá”. Tức là mình sám là mình nhận lại những cái lỗi trước kia mình đã làm, đó là sám. Còn chữ hối là ngăn chặn những sai lầm về sau. Đó là ý nghĩa của hai chữ sám hối. Tức là nhìn lại những gì đã nói, đã làm, đã nghĩ trước kia để xét lại, xem lại, kiểm tra lại.
Ví dụ, mỗi một ngày, buổi tối trước khi đi ngủ, mình ngồi lại, xem xét những suy nghĩ, những lời nói, những hành động của mình có lỗi gì trong ngày hôm nay. Nếu thấy nó có lỗi, thấy nó có sai, thấy nó có trật, thấy nó có những khuyết điểm, thì mình đến trước bàn Phật mình lạy, mình trình bày với Phật. Nếu mà có bậc thầy, có bậc tưởng thượng, thì mình đến những vị đó mình lạy và mình phát lồ. Tức là mình bày tỏ, mình nói lên, trong ngày hôm nay con nhìn lại con thấy lúc đó con có nói một câu nói, câu nói đó xuất phát từ lòng bực tức, câu nói không phải xuất phát của sự quan tâm, tình thương, mà câu nói đó xuất phát từ tâm sân hận. Nên hôm nay con đứng trước thầy, con xin lỗi. Hay đứng trước vợ mình xin lỗi, hồi sáng này anh nói câu đó bằng tâm sân, giờ anh nhìn thấy cái đó là lỗi lầm, xin lỗi. Đó là sám hối đó, đó mới là sám hối thật sự. Hoặc mình lên trước bàn Phật, hay chỗ đó không có thầy, không có cô không có tiện.
Hay mình sống cách xa cha mẹ, mình chưa có đủ can đảm, khả năng để trực tiếp xin lỗi mà người mình đã phạm lỗi, mình còn cái tôi, cái bản ngã. Thì mình quỳ xuống bàn Phật, quỳ xuống lạy, trình bày lên, trong ngày hôm nay con có hành động đó, hành động đó phát xuất từ bản ngã, cái tôi, từ sự cho mình là đúng, người khác là sai, mình là phải người khác là quấy, mình là hơn người khác là thua, mình là tốt người khác là xấu, mình là người tâm lớn còn người ta là nhỏ, mình là người hiểu biết người kia là người không hiểu biết, cái đó là tâm sai, tâm của bản ngã. Mình quỳ trước bàn Phật, tự mình kể tội mình ra, tự mình vạch lưng chỉ thẹo.
Người không biết tu là tốt khoe xấu che, người biết tu là mình phải phơi bày những cái xấu, những cái dỡ những cái còn chưa được hoàn thiện. Mình nhìn được, mình thấy được, mình phát giác, phát hiện được, mình điểm mặt được, mình lôi ra ánh sáng cho nó phơi bày trước tam bảo, trước trí tuệ của tự thân. Rồi mình hứa không tái phạm, cái đó gọi là hối. Mình hứa sẽ không tái phạm, mình nói tới nói lui hoài trên bàn Phật, mình đập đầu xuống mình lạy, mình khắc ghi lỗi lầm này. Mình làm cho mình khắc sâu vô trong cảm giác tội lỗi, mình không có bỏ qua, mình không có cho qua, mình không có dễ dàng để mà chấp nhận cái lỗi lầm nó sanh khởi, nó an trú, nó tồn tại trong thân tâm. Mình thấy điều đó là một điều xấu hổ, điều đó là một điều bất thiện, điều đó là điều làm cho mình bị nhiễm ô, điều đó lần lần đưa mình đến chỗ rơi rớt, lui sụt trong con đường hướng thượng của chánh pháp.
Ở Linh Quy Pháp Ấn chúng ta có nghi thức sám hối lấy từ trong kinh tạng Nikāya rất là hay.
Kinh Bhaddali, bài kinh 65, Trung Bộ Kinh Tập II. Đây là nghi thức sám hối trong kinh tạng Nikāya.
“Tôn giả Bhaddali vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Bhaddali)
Bạch quý thầy và đại chúng một lỗi lầm đã chiếm đoạt con thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi đại chúng chấp hành học giới để được Thế Tôn chế định, con đã phạm vào những lỗi lầm.
Lỗi lầm gì mình tắc bạch ra, mình nói rõ ra, mình thưa đầy đủ ra. Bạch quý thầy và đại chúng mong quý thầy và đại chúng chấp nhận cho con lỗi lầm này, để con có thể phòng hộ trong tương lai.
Lúc thời Đức Phật thì lúc đó Đức Thế Tôn và các bậc trưởng lão, các bậc thánh tăng, các bậc trưỡng lão sẽ nói lại. Này cô, hay là nãy chú, hay là này ông rằng: Nếu như sau khi cô thấy lỗi lầm này là một lỗi lầm mà đã như pháp, bày tỏ phát lồ sám hối thì chúng tôi sẽ chấp nhận cho cô, cho chú. Vì rằng, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh.
Nghĩa là bất cứ ai sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm phải như pháp. Phát lồ, bày tỏ sám hối và phòng hộ ở trong tương lai. Ở đây này ông, này cô những ai không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này bị bậc đạo sư quở trách, bị các vị đồng phạm hạnh có trí sau khi quán xát quở trách, bị chư thiên quở trách, bị tự mình quở trách. Nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này ông, vì vị ấy không có thực hành học giới, trong giáo pháp của đạo sư. Nhưng ở đây, những ai thực hành trọn vẹn học giới, trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này không bị bậc đạo sư quở trách, không bị các động phạm hạnh sau khi quán xét quở trách, không bị chư thiên quở trách, không bị tự mình quở trách mình. Nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến, thù thắng, xứng đáng bậc thánh.
Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư.
Ngày xưa khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì đây là nghi thức sám hối, giờ thì mấy người biết cái này.
Khi mình có một lỗi lầm mình phải đến trước quý thầy, đến trước đại chúng. Chỗ đó không có người thì mình đến tam bảo, bàn Phật mình thưa một lỗi lầm này đã chiếm đoạt con, con thật là ngu ngốc, con thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi đại chúng chấp hành những học giới được Thế Tôn chế định, con vì ngu si nên đã phạm lỗi lầm. Cho nên phần hôm qua đã học, là sợ hãi với những tội nhỏ nhặt, cái này hết sức là quan trọng, cực kì quan trọng. Cái này mà mình không ứng dụng, là mình không bao giờ đi đến thân, ngữ, nghiệp, ý nghiệp thanh tịnh.
Cho nên phần giới hạnh là tuyệt đối quan trọng. Thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong cách học pháp.
Một lỗi nhỏ thôi mình thấy được nó mình phải thấy e sợ, lo lắng. Mình phải phát lồ, phải bày tỏ lên, phơi bày nó ra, không có che dấu. Còn mình bây giờ không thấy sám hối gì hết trơn. Sám hối gì nữa tháng một lần vô lạy như vậy, rồi cũng không thấy mình lỗi lầm gì, lại đọc mấy câu vậy đó. Thì nó có gì đâu, đó là máy móc chữ nghĩa hình thức. Mình đâu có cảm giác, cảm xúc xấu hổ đâu. Mình không sanh khởi được cảm giác hỗ thẹn, tội lỗi. Mình không có sanh được cảm giác sợ hãi, mình không có quán chiếu được tội lỗi đó nó đưa vào ác thú, đoạ sứ, khổ cảnh. Mình không thấy những tội lỗi này là con đường dẫn đến khổ não trong tương lai.
Cho nên mình phải phát sanh một cảm giác thật là ngu ngốc, thật là ngu si, thật là bất thiện. Trong khi mọi người chấp nhận học giới như vậy mà tại sao mình lại phạm lỗi lầm như vậy. Bạch với thầy, bạch với đại chúng hãy chấp nhận cho con lỗi lầm này, là một lỗi lầm để con có thể phòng hộ trong tương lai, mai mốt con không có phạm nữa.
Cái đó là cái chánh của sám hối đó. Nhìn thấy và hứa chừa và khắc phục, nhiếp phục, cải thiện, không cho nó tái diễn, không cho nó tiếp diễn, không cho nó tiếp nối, không cho nó tương tục, không cho nó tiếp tục.
Rồi vị trưởng thượng, trưởng lão mới nói rằng: Nếu mà ông thấy đó thật sự là một lỗi lầm, mà ông như pháp mà phát lồ bày tỏ sám hối, thì chúng ta sẽ chấp nhận cho ông.
Và như vậy đó, chính điều này, điều phát lồ sám hồi, nhìn nhận lỗi lầm này là sự lớn mạnh ở trong giới luật của bậc thánh. Đây là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh. Còn bằng không mà giống như mình trồng cây mà cây nó chai vậy.
Lúc trước ở cái thất khai sơn, lúc đó còn am tranh, bà cụ cho cây bồ đề. Cây bồ đề rất là tốt, sau đó rễ ra nó phá luôn cái chậu. Nó ăn lên nền nhà xi măng, xi măng nứt ra. Lúc đó con hay đi giảng dạy cũng ít ở nhà, có mấy người nói rằng rễ nó ăn hư nhà luôn. Cho nên mấy người mới nhổ cây bồ đề, nhổ đem trồng qua bên kia. Trồng qua bên kia rồi tới một chục năm rồi mà nó không lớn. Nó bị chai đất nó không lớn được. Có những cây mình thấy nó đèo, nó èo ọt, nó như vậy hoài nó không lớn. Thì cũng vậy, mình mà không có nhìn nhận lại thân tâm của mình, không có sám hối, không có phát lồ, không có thấy xấu hổ, không thấy nhục nhã, không có tẩy rửa thì mình cũng giống vậy, không có lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh.
Cho nên mấy cô khóc cứ việc khóc, xúc động là cho nó xúc động. Không sao hết. Phải thấy xấu hổ, phải thấy tàm quý, phải thấy những cái bất thiện đó là ghê gớm.
Lúc trước con chưa vô dòng pháp này mình thấy mình trơ trơ. Mà từ khi mình vô dòng pháp này mình thấy bản ngã, giờ mình nghe từ đó thôi là mình ớn lạnh, nổi da gà vậy.
Mình thấy người đó hoặc là tự thân của mình mà cảm giác bản ngã hất lên, dâng lên. Thì lúc đó tự nhiên mình thấy mình ớn quá, ghê quá, sợ quá, run quá. Mình biết được những thứ này là mầm móng của thống khổ, của tai hoạ, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn, nguy nạn của sự khốn nạn ở trong tương lai. Khốn đốn hoạn nạn, cho nên lúc đó mình cảm thấy mình sợ, mình sợ với cái bản ngã, mình sợ với lòng sân, lòng dục, lòng ái, lòng tham.
Vui sướng ở ngoài đời là vui sướng theo dục, theo tham, theo ái. Còn vui sướng của người xuất gia là li dục, li tham, li ái. Nó trái ngược, cho nên sự sám hối này là nó đưa đến chỗ thanh tịnh những thứ đó, nó đưa đến chỗ thanh tẩy, thanh lọc.
Người đời được cái họ tham muốn là họ thấy thích thú. Nhưng mà người tu là lìa được cái mà mình tham muốn, thì cái đó người tu thích thú. Chỗ này là chỗ thâm sâu, cho nên sự khác biệt giữa thánh phàm mê ngộ tăng tục là ở chỗ đó. Tức là cái mà tất cả mọi người khao khát, đam mê, mong muốn, tìm kiếm, hi vọng, ước mơ, chạy đuổi, truy tầm, thống khổ đối với cái đó, thì người tu bỏ cái đó. Đó là chỗ khác biệt giữa người tu và không tu. Giữa cái hạnh phúc của người mê và cái an lạc của người tỉnh. Tại vì người tu nhìn thấy được cái gì sung sướng trong cái thuốc phiện đó hết, nó không có cái gì vui sướng trong cái đua xe đó hết, nó không có cái gì vui sướng ở trong cái nhậu nhẹt mà chửi thề đó.
II. Hướng nội nhận diện cấu uế
Không có, không có hạnh phúc trong đó, không có vui sướng trong đó. Thì đó là hạnh phúc của người tu, xa những cái đó. Còn người đời thì đi tìm những cái đó. Cho nên sám hối đưa đến chỗ thanh tịnh, thanh tịnh là an lạc. Người không tu là lo chiến thắng đối tượng bên ngoài, mà người tu chiến thắng bên trong cảm giác của mình. Người không tu là muốn thắng người kia bên ngoài, còn người tu muốn thắng cái hơn thua trong cảm giác của mình. Thấy sự khác biệt không? Giữa hai người nói chuyện, cự cãi với nhau, thì người đời muốn dành phần thắng. Người tu không muốn người bên ngoài mà muốn thắng cảm giác đòi thắng của mình. Nhiếp phục được, chế phục được cảm giác hơn thua đó.
Đó là khác biệt, một cái hướng nội, một cái hướng ngoại. Người đời thì muốn hả dạ tâm sân hận của mình. Nói cho nó đã, nói ra cho trút hết bực bội, bung hết ra. Còn người tu là nhiếp phục được những cái đó ở bên trong, chiến thắng được cảm giác sân hận ở bên trong. Sự an lạc của người tu là gì? Là nhiếp phục và đoạn tận được những ham muốn, nóng giận, si mê, vô minh và bản ngã. Người không biết tu là cái gì? Là đi phát huy mấy cái đó, đau khổ vì mấy cái đó, khao khát mấy cái đó, chạy đuổi mấy cái đó, phục dịch cho mấy cái đó, làm nô lệ cho tham ái. Và như vậy thì làm gì có hạnh phúc, vĩnh viễn không bao giờ có hạnh phúc. Vì những thứ đó là nguyên nhân làm ra khổ mà. Giờ mình đi tìm cái vui ở trong những cái thứ làm ra khổ thì làm sao có được cái vui. Còn người tu là gì? Là thấy cái nào làm ra khổ dập tắt cái đó thì hết khổ, đó là chỗ tuyệt diệu, thánh trí. Sự khác biệt giữa thánh phàm mê ngộ, giữa sự xuất li và lao đầu vô, còn đây là thoát ra.
Cho nên có sự nhìn lại, nhìn nhận lỗi lầm của mình. Cho nên con nói mình học bốn chữ “xin lỗi, cảm ơn”. Mình nói bằng cái tâm mình chứ không phải nói bằng miệng không. Mình có lỗi lầm gì trong gia đình, bà con, anh em hay trong huynh đệ phải nhớ bốn chữ xin lỗi và cảm ơn. Tại sao trong gia đình hay có phiền não, hờn giận? Tại vì mình ở chung rồi mình coi thường, mình nghĩ rằng người nhà rồi không cần khách sáo gì nữa, chính chỗ đó mình không còn cung kính, không còn trân trọng. Cho nên phải biết cảm ơn và xin lỗi. Đó là bước đầu tiên.
Cho nên người thấy được lỗi lầm của mình và bày tỏ lỗi lầm ra như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc thánh. Bất cứ một ai sau khi thấy mình lỗi lầm là lỗi lầm như pháp và phát lồ sám hối và phòng hộ trong tương lai, thì những người này sẽ đi đến chỗ trọn vẹn, học giới trong giáo pháp của bậc đạo sư.
Còn nếu như mình không có nhìn nhận lỗi lầm. Tại vì sao? Cái này nó có quy trình pháp của nó chứ không phải đơn giản đâu.
Thường trực mình học cảm giác toàn thân, mình học nhận diện năm uẩn làm cái gì? Để mình biết thành phần, cấu tạo thân tâm này là cái gì? Khi mình thấy thành phần cấu tạo của nó, rồi mình thấy sự vận hành hoạt động của nó, rồi mình nhìn thấy bên trong là cái gì trong đó. Mình nhìn thấy, mình biết, mình hiểu thì lúc đó mình mới phát hiện được. Giống như mình nhìn vô gương, mình thường soi gương, mình thường xem gương, mình thường đứng trước gương thì mình mới biết mặt mình sạch hay dơ, nó có dính chỗ nào. Thì cũng vậy, nhận diện năm uẩn, sự an trú cảm giác toàn thân chính là pháp soi gương. Tại sao lúc trước mình tu, mình học nhiều mà không sanh trí huệ? Tại vì cái gương đó dính bao nhiêu lớp vậy đó, nó không phải là tấm gương trong sáng của thánh trí năm uẩn. Cho nên nó lờ đờ, mờ mờ, mình không rõ. Nó dính dơ mà mình tưởng nó sạch. Có không? Có tưởng không?
Nhưng mà bây giờ cái gương nó trong, cái trí nó sáng, đúng chánh pháp, thì mình nhìn thấy. Nhìn thấy thì sao? Mình tẩy rửa thì nó đi đến chỗ sạch.
Cho nên, nếu mà không có thực hành trọn vẹn cái học giới thì vị này sao? Sẽ bị bậc đạo sư quở trách, bị đồng phạm quở trách, bị người có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư thiên quở trách. Cái quan trọng là bị tự mình quở trách mình. Đức Thế Tôn sẽ nhìn thấy, thấy của mình nhìn thấy, các bạn đạo của mình nhìn thấy. Ở trong gia đình thì vợ chồng nhìn thấy, anh em nhìn thấy, cha mẹ mình nhìn thấy. Cái quan trọng là tự mình nhìn thấy, chư thiên nhìn thấy.
Cho nên thời Đức Phật chư thiên xuống kính lễ các vị Tỷ-kheo rất là nhiều. Chư thiên đều cảm được chư thiên, những vị tu giới hạnh thanh tịnh, thiền định đúng chánh pháp như vậy mà chư thiên xuống đãnh lể cúng dường, tiếp cận là chuyện rất bình thường.
Cho nên mình có lầm lỗi đừng tưởng đâu là không ai biết. Phi nhân, chư thiên, chúng sanh ở gần mình, người ta thấy, người ta biết hết. Cho nên mình thấy người có phước, hay có tai nạn thì người ta nằm chiêm bao người ta thấy trước hay có những cái gì đó nó xuất hiện ra ngay lúc đó. Thì những cái đó là phi nhân, chư thiên giúp đỡ.
Người thông thường không biết thì gọi là bồ tác gia hộ, còn thực sự là chư thiên.
Cái đó không phải là tự nhiên, mà do công đức, phước báu. Mà những người đó, mình đã gieo phước duyên với họ trong quá khứ, đời trước. Cho nên mình chỉ tự lo, tích tập những thiện pháp, tu hành những công đức, phước báu. Thì tự động mình hữu sự là có người giúp. Bây giờ mình không lo mấy cái đó mà mình chỉ lo cầu xin thì không ai giúp mình hết trơn.
Cho nên cái quan trong ở đây là gì? Tự mìn quở trách mình. Tự mình quở trách mình là cái gì? Là trạo hối. Đây là một trong năm truyền cái nó làm cho mình không vào định được. Khi mình vào thiền những cái đó làm cho mình ray rứt, mình phạm giới, mình nói dối người ta. Mình nói lời hung ác, mình nói lời thô lỗ, mình bị dính mắc vô ái dục, tham dục. Những hình bóng lúc mình ngồi nó hiện ra, những cái mình đã làm hiện ra giống như mình quay cuộn phim mình mở lại, khi mình ngồi thiền những cái đó nó biểu hiện lại.
Tại vì lúc đó nó không đối diện với sắc, thinh, hương, vị xúc nữa, nó nồi lại nội quán bên trong. Thì trong này có cái gì, hiện ra cái đó, các pháp nó sẽ hiện rõ, mà khi đó nếu mình lỗi lầm nhiều trong đó, những cái giới lớn bị phá hoại, mình đi tới phạm. Thì cái tâm mình ray rứt, nó làm cho mình dao động, mình day dứt. Cái đó gọi là trạo hối đó, nó làm cho tâm mình bị dao động. Thì cái đó là cái gì? Nếu mà bị cái đó rồi thì sao? Thì không chứng được thượng nhân pháp tri kiến thù thằng xứng đáng bậc thánh.
III. Giữ gìn giới luật
Cho nên Đức Phật dạy hai điều quan trọng là gì? Là giữ giới thanh tịnh và tri kiến chánh trực. Thì vị này sẽ bước vào dự lưu, giữ giới thanh tịnh.
Ví dụ: Người cư sĩ là năm giới, tám giới. Còn người xuất gia là giới bổn sơ di hoặc Tỷ-kheo.
Chính cái chỗ mà mình tu hành, mình không thành tựu là gì? Là cái giới mình không trọn vẹn.
Mà nếu mình lỡ phạm rồi, mình thấy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã, mình phát lồ sám hối, mình ao ước, khao khát, tha thiết. Để mà từ từ mình sẽ bỏ, mình đi đến chỗ thanh tịnh. Để có thể chứng được thượng nhân pháp và mới thể nhập được tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc thánh.
Một danh từ khác là thể nhập thánh tri kiến. Là cái thấy biết của bậc giác ngộ.
Mình học, mình vẫn nghe, mình vẫn hiểu mà mình không chứng nhập vô được là tại vì cái này. Những cái điều mình làm nó sai phạm, tâm mình sẽ bị hối tiếc, hối hận. Mà cái hối tiếc, hối hận làm cho giao động không định được.
Thành ra mình thấy giới, định, huệ là cái gì? Là quy trình của thánh đạo, không thể vượt qua.
Không phải Đức Phật là người chết đặt ra, phải đi cái này, cái này. Không phải. Mà quy trình vận hành của tâm thức nó phải đi theo lộ trình đó, quy trình đó, trình tự như vậy. Thì nó mới đi đến chỗ lậu tận. Cái này thì không thể nào lừa gạt ai được hết, không thể dối trá được ai hết, sao mình dối mình được. Nhưng cái gì mình làm nó phải hiện ra chứ, sao mình lại dối mình. Chính cái chỗ giới hạnh không thanh tịnh, cho nên mình thiền không có định. Mình không có làm sạch những cái ô nhiễm, mình không có phát lồ sám hối, mình không có xấu hổ, không có tàm quý, mình không chịu gạn lọc từ từ, đặng nó đi chỗ loại bỏ và chấm dứt. Thì làm sao mình chứng được thượng nhân pháp. Thượng nhân pháp là cái pháp của người trên, người trên đó là thánh nhân.
Còn cái gì? Cái thông thường là gì? Là phàm phu pháp. Cái mà chạy theo dục, theo ái, theo tâm mê. Cái đó là phàm phu pháp.
Còn cái mà li tham, viễn li, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, cái đó là thượng nhân pháp. Cái đó muốn thực hiện được, phải hai yêu tố. Thứ nhất là giới hạnh tịnh. Thứ hai là tri kiến chánh trực. Cái thứ hai là thấy biết chánh tri kiến được thành lập cộng với thiền định thì người người đó tối thiểu phải dự lưu thánh quả.
Còn bây giờ mình tu mình không tôn trọng giới, mình toàn trật hết trơn thì làm sao mình chứng thượng nhân pháp, làm sao mà thể nhập tri kiến thù thắng, thánh tri kiến.
Cho nên điều này mình thấy là gì? Mình phải tha thiết, phải khao khát tăng thượng giới học. Còn không mình xuất gia vô chùa là tới giờ là ăn, tới giờ là ngủ, tới giờ là lên tụng, sáng tới giờ là cắp sách tới trường rồi về nhà. Vậy là suốt cuộc đời của mình là không tăng thượng giới học. Mình có biết gì đâu? Mình tưởng như vậy là được rồi. Còn tâm của mình là một đống sà bần, một cuộn chỉ tơ vò như vậy, trong đó mối manh ở đâu mình không biết. Cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức mình không biết. Cái nào là xúc, cái nào là ái, cái nào là thủ, cái nào là vô minh, cái nào là tham sân si, bản ngã, mình không biết. Một đống vô mình rồi làm sao, mình đau lòng không? Mình tu mấy chục năm rồi mà mình tu như vậy không?.
Cho nên vị mà trọn vẹn được học giới, trong giáo pháp của bậc đạo sư, vị này không có bị bậc đạo sư quở trách, không có bị các đồng phạm hạnh sau khi quán sát quở trách.
Người cùng tu, người ta có trí tuệ, người ta có thiền định, chánh niệm người ta nhìn vô người ta biết. Nhìn vô biết thì với cái lòng bi mẫn cái vị đó sẽ trách móc, tại sao thầy tu còn dao động vậy, thầy còn những ham muốn nhiều quá, còn sân hận, còn bản ngã. Thì các ngài sẽ quở trách.
Còn nếu mình học giới trọn vẹn thì không bị quở trách, không bị chư thiên quở trách, không bị tự mình quở trách. Ngồi lại tâm mình an, mình không có phạm lỗi, trong sạch, tâm bình an.
Một vị cư sĩ nói ra mà tại sao người xuất gia phải quỳ xuống đảnh lễ. Đâu có quyền chức gì đâu, đâu có địa vị gì đâu. Chính là nội tâm thanh tịnh và sức mạnh của sự thật. Thanh tịnh giới và tri kiến chánh trực có thể nhiếp phục được địa chúng. Có thể người xuất gia phải quỳ xuống đảnh lễ, đó là sức mạnh của thánh pháp.
Nhiều khi mình thấy vị xuất gia đó là lớn đó, lạy thì lạy cho có hình thức vậy thôi, chứ trong tâm không có kính trọng. Còn học giới không co trọn vẹn, chỉ có cái đầu với cái áo vậy thôi, bên trong nó không có.
Một khi người có pháp rồi, đã giới hạnh thanh tịnh, tri kiến chánh trực, trí huệ thể nhập chánh tri kiến rồi thì cái uy lực của nó là siêu việt sắc tương.
Cho nên người ta bình luận là thánh cư sĩ. Bậc thánh thì không có nói là cư sĩ hay xuất gia gì hết, nó chỉ là hình thức thôi.
Cho nên mình hãy lo, lo thực sự bên trong này có, chứ đừng có lo người ta không biết.
Mình có đi, thực sự mình có đi, thực sự mình thanh tịnh đi. Đừng nói con người, trời còn muốn quỳ lạy dưới chân. Cho nên tu là tuyệt diệu lắm. Phải có lòng tin bất động, đối với dòng pháp này, đối với trí tuệ này.
Cái nghi thức sám hối tiếp theo là ở trong nghi thức tu học Nikāya mình có sám hối diệt ngã đó.
IV. Sám hối từ xa
Bây giờ con mới chia sẽ thêm như vậy.
Sám hối nó còn phải có một cái là sám hối từ xa. Không có đợi tới có lỗi rồi mình mới sám hối, mà hằng ngày mình phải lạy sám hối để mình ngăn chặn trước khi cái lỗi đó sanh khởi ra.
Bây giờ nhà cháy lớn mà mình lấy nước ra mình dập thì đâu có kịp, mà mình phải có cái bình phòng cháy chữa cháy ở trong cái thiết kế. Thì cũng vậy, trong nội tâm mình cũng vậy. Phải có sự ngăn chặn lỗi lầm trước khi nó sanh khởi. Hồi nãy giờ là nói lỗi sanh khởi rồi mình sám hối. Lùi lại sâu sắc hơn nữa là chặn đứng nó trước khi nó sân. Đợi tới sân, tới khi bực tức bừng bừng lên lúc đó mình dập tắt mình dập không nổi.
Trước khi mình có lỗi lầm mình phải sám hối diệt ngã trong nghi thức Nikāya. Hay mình thấy mình nặng cái gì đó thì mình thay thế vô, chấp ngã mình thế là sân, mình sám hối tâm sân hận. Sau này mình sẽ có những bài sám hối tâm sân, sám hối cái dục mình thế vô đó, mình phơi bày ra trước Phật mình hứa, mình chừa, mình quán chiếu sự nguy hại của nó, sự nguy hiểm, tác hại của nó. Đó là về cái sám hối.
V. Nhiếp phục dục và tham – đoạn tận dục và tham
Lúc đó có mấy vị Tỷ-kheo đi đến chào biệt, xin Đức Thế Tôn đi qua một vùng khác. Thì Đức Phật nói: Các ông có chào tôn giả Xá-lợi-phất chưa?
Dạ. Chưa.
Đức Phật nói các ông đi qua chào. Xin phép tôn giả Xá-lợi-Phất.
Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc trí huệ, giúp ích nhiều cho tăng chúng, các ông qua chào đi.
Thì các vị này mới đi qua chào ngài Xá-lợi-phất, trình bày với ngài là đi qua xứ khác ở xa.
Thì ngài Xá-lợi-phất đặt câu hỏi là Các ông đi qua sứ xa, nước xa, vùng xa như vậy. Nếu có bậc thiện trí, có bậc học giả, có những người hay có tính hiếu kì, nghiên cứu, tìm hiểu, hỏi ông là: Đức Thế Tôn bậc đạo sư của các ông nói cái gì, dạy cái gì. Thì lúc đó ông nói làm sao?
Nếu có một người Phật tử, bạn mình hỏi rằng: Con nghe nói cô đang học trung cấp Phật học ở Bình Định, con xin hỏi cô Đức Phật dạy cái gì. Cô có thể nói tóm tắt ý chính cho con biết. Con học pháp hai mươi năm mà con không biết ý chính Đức Phật dạy cái gì? Vậy các cô nói làm sao?
Ngài Xá-lợi-phất phải học kinh, phải học thuộc kinh. Còn bằng không nói theo ý mình.
Ngài Xá-lợi-phất nói rằng Đức Thế Tôn nói: Nhiếp phụ dục tham, đoạn tận dục tham. Đó là lời bậc đạo sư tuyên thuyết.
Ngài Xá-lợi-phất đặt câu hỏi tiếp tục: Đối với cái gì mà bậc đạo sư các ông nói rằng nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.
Nói theo tiếng việt là tham cái gì? Nhiếp phục cái tham, đoạn tận cái tham. Vậy tham cái gì?
Tham đối với sắc, tham đối với thọ, tham đối với tưởng, tham đối với hành, tham đối với thức. Tham đối với năm uẩn. Mà Đức Thế Tôn nói là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.
Ngài Xá-lợi-phất đặt thêm vấn đề nữa là Tại sao phải nhiếp phục dục tham đối với năm uẩn?
Ngài Xá-lợi-phất nói: nếu người mà tham sắc pháp, món đồ đó, đồ vật đó hay là con người đó. Thì cái sắc đó biến đổi, khi mà nó vô thường, khi mà nó tan hoại thì người đó có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?
Đối mà dục mà tham, mà muốn, mà ưa, mà thích đối với đồ vật đó, đối với sắc pháp đó, đối với con người đó. Nếu đồ vật đó, sắc pháp đó, con người đó mà xảy ra sự biến đổi, sự vô thường, sự tan hoại, sự tan nát, sự bại hoại, sự tiêu vong. Thì người đó sầu, bi, khổ, ưu, não, khởi lên. Đây chính là lí do, mục đích tại sao mà bậc đạo sư tuyên thuyết nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, đối với năm uẩn.
Nếu như có một người đã không còn dục, không còn tham đối với món đồ đó, đối với đồ vật đó, đối với sắc pháp đó, đối với con người đó. Nếu như đồ vật, sắc pháp, con người đó có vô thường, có biến hoại, có hoại diệt thì người này có sầu, bi, khổ, ưu, não không?
Quý vị thấy kinh sâu xa không?
Đó là kinh Nikāya đó, đó là thánh trí của Đức Phật và được sự tiếp tuyền của bậc trí thượng thanh văn tôn giả Xá-lợi-phất. Nhớ cho kỹ đây là khẩu quyết của sự tu hành. Bậc đạo sư tuyên thuyết nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.
Nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham với cái gì? Đối với sắc, tất cả những hình sắc, sắc tướng.
Nhiếp phục dục tham đối với cái gì? Đối với tất cả cảm giác đối với thân và tâm.
Nhiếp phục dục tham đối với cái gì? Đối với những hình bóng, những suy nghĩ, những sự nhận thức rõ biết ở bên trong ngũ uẩn này. Nhiếp phục dục và tham đối với nó.
Ví dụ thực tế: Bây giờ con quý cây này lắm, cây này con chọn để trên pháp toà mà bữa nay không ai thèm chăm sóc, để như vậy mà không ai nhìn thấy hết. Thì con nhìn thấy con có sầu bi khổ ưu não không? Con có bực bội, khó chịu không? Quá trời người mà không ai thấy nó khô hết trơn. Vậy con khởi lên sầu bi, khổ ưu não chứ.
Cây này cây của mình, cây mình đi tới Đà Lạt mình lựa mà. Mình đem về mình đặt ở chỗ trang trọng nhất mà tại sao không chăm sóc, không ai nhìn thấy. Vậy khởi lên sầu bi khổ ưu não không?
Còn nếu như con không có dục, không có tham, không có ái với cây này mà con vẫn tưới nước. Thì khi nó biến hoại không có khổ.
Đó là bí kiếp của sự tu hành chứ đâu phải chữ nghĩa trong sách mà để tụng thờ đâu. Con cũng biết làm nhà bếp cho nó đẹp, cho nó rộng ra chứ, cho nó tiện nghi hơn chứ mà con để vậy đó, để cho mọi người tu.
Đâu phải con không biết làm đẹp. Bây giờ con ưa thích cái chuông này mà bữa nào chú nào ôm lên quán chiếu đường, rủi mà chạy xe trợt chân lọt xuống rồi bể cái chuông. Thì lúc đó con như thế nào? Có bị khổ não không?
Tại nó biến hoại, nó vô thường, nó thay đổi. Giờ nhiếp phục dục, tham, ái đối với cái chuông này, có thì sài, rủi có hư rồi thì có giận nó cũng hư rồi. Mà mình phải cẩn thận.
Cái này là cái định lí của giải thoát, phải được thực tập, phải được ứng dụng, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi chốn, bên trong, bên ngoài. Tất cả phải được thực tập, soi rọi, coi trong này có dục tham không để mình nhiếp phục và đoạn tận.
Khác biệt giữa người không tu là gì?
Người không tu là muốn mấy cái này, được mấy cái đó là học vui thích, hạnh phúc. Còn người tu là người nhiếp phục những cái dục, cái tham, cái muốn ở trong người.
Vẫn tiếp xúc, vẫn thấy, vẫn nghe mà nhìn thấy được tính chất của nó. Sanh là phải diệt, tươi là phải héo. Biết được tính chất của nó, thấy được bản chất của nó, thấy được chân tướng của nó, thấy được lẽ thật của nó. Cho nên khi nó bày hiện sự thật ra thì ngộ đạo chứ sao, nó là vậy mà. Tuổi già nó nằm ở trong cái sắc trẻ, cái bệnh hoạn ở trong cái sức khoẻ và cái tánh chết ở trong sự sống. Đó là câu nói của như lai khi mà ngài Anan thấy da của Đức Phật nhăn nheo, ngài Anan kinh hoàn, súc động. Ngài Anan nói: Kì lạ thay Thế Tôn, da của ngài không còn trắng trẻo, không còn mịn màng, không còn rạng rỡ giống như ngày xưa nữa. Lưng đã còn về phía trước, da đổ đồi mồi, nhăn nheo, thân thể suy lão. Phật nói này Anan: Tuổi già nằm trong sắc trẻ, bệnh đau ở trong sức khoẻ và cái tánh chết ở trong sự sống. Đối với bậc đã nhìn thấy vậy rồi thì cái chết đến thì bất động tâm giải thoát. Giống như mình chưng bông mà tới khi bông nó héo mình bưng xuống mình đổ vậy, mình quăng đi mà không có thương tiếc, không có lưu luyến gì hết. Tại vì nó là vậy.
Đối với một người mà thường trực, thường hành, thường xuyên, thường quán, thường chiếu, thường chiêm nghiệm, thường tư sát đối với tất cả bản chất vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn này. Mà khi ngũ uẩn này biến hiện ra tính chất, vô thường, khổ nó bày hiện ra, nó phơi bày ra thì người đó điềm nhiên cho tới có thể bất động, đó là bậc Alahan. Bất động tâm giải thoát.
Đối với chúng sanh vô văn phàm phu chỉ nhìn thấy vị ngọt của sắc thôi, vị ngọt của dục thôi mà không thấy được tính nguy hại, nguy hiểm và tác hại của nó. Mà tới khi mà nó bày ra một tính nguy hiểm, một tỉnh độc hại, bày ra một cái thì ngày bứt tóc, đấm ngục, nước mắt ràn rụa và thậm chí là nguyên sinh và tự vận vì không chấp nhận nổi sự thật.
Bình thường mình tu để làm gì?
Để nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn. Để cho tới lúc nó bị suy hao, nó bị suy vong thì lúc đó mình suy xét bản chất của nó là vậy, mình đã biết từ lâu, mình đã thâm sâu tuệ quán, mình đã thể nhập cái tri kiến bậc thánh này, mình đã sống trong đó, mình ăn trong đó, mình thở trong đó, mình uống trong đó. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân đã thể nhập vô chánh tri kiến này. Tâm mình bình an giữa tất cả những sự biến động, động chuyển của thế giới. Đó là sự hạnh phúc của người tu, li dục, li tham, li ác bất thiện pháp. Còn người không biết tu, người phàm phu đi tìm hạnh phúc ở đâu? Tìm hạnh phúc ở trong dục, trong tham, trong ái. Mà tìm trong đó đến một khi nó biến đổi vô thường thì người này đau khổ.
Thành phố Vũ Hán đó, có cậu đó nhảy cầu tự vẫn vì vợ cậu ấy nhiễm bệnh gần chết, còn cậu này cũng bệnh, bị nhiễm.
Bản chất của năm uẩn này là ung nhọt, là mũi tên là cái pháp bại hoại là đồ bất hạnh, bất hạnh thay khi mà ôm ấp mà khao khát, khao khát đối với những cái thân xác vô thường, bất tịnh, thanh hôi, nhơ nhớp này. Say mê mà đắm đuối vô cái thây thúi này. Suốt cuộc đời mày chạy, chạy đôn, chạy đáo, chạy khắp năm trung bắc, chạy ra nước ngoài, chạy khắp nơi để đi tìm, tìm những vị thịt, những túi da. Đi tìm dục, đi tìm ái, tìm tham và cuối cùng bản chất ngũ uẩn là cái bản chất tráo trở, lật lọng, phản trắc và vô thường. Chính vị vậy mà mình đi tìm mãi mãi, vĩnh viễn suốt cuộc đời mình không thể đi tìm được một cái giống như mình muốn. Vì bản chất ngũ uẩn là bản chất vô thường, tráo trở, lật lọng, gian trá, xảo nguyệt, hư nguỵ, làm gì có một cái chân chánh, chân thực được. Chính mình, suy nghĩ của mình trước và sau còn mâu thẩn mà. Chính mình đây còn phản bội với lí tưởng xuất gia của mình. Chính mình đây, mình nói mình nỗ lực tinh tấn mà ba bữa sau nằm dài đó ngủ. Chính mình mà nó còn phản trắc như vậy thì những ngũ uẩn khác nó cũng giống như vậy. Nó ở bên trong nó đã bản trắc rồi, bản chất nó như vậy rồi, thì làm gì có một cái như vậy hoài không thay đổi. Thì như vậy mình chỉ có khổ thôi.
Cho nên mình chạy ở ngoài mình tìm những đối tượng dục, tham, ái là vĩnh viễn và mãi mãi khổ đau, không có ngày dừng lại. Vì cảm thọ nó vô thường cho nên yêu rồi sau đó nó hận, rồi nó giết, chẳng những giết mà còn phân xác nữa, bỏ trong vali, trong túi rác. Như vậy có khủng khiếp không? Con mà giết cha, giết mẹ, cha mà quan hệ với con, ông quan hệ với cháu. Như vậy có khủng khiếp không? Nó làm toan hoang hết luân thường đạo lí. Cái bản ngã giết chết hết, còn cái gì nữa. Nhất là thời đại này thì mình thấy những lời của Đức Phật là chứng minh mỗi một ngày trên mặt báo là kinh tạng Nikāya của thế kỉ hai mươi mốt. Trên mặt báo là chém, giết, đâm. Chỉ vì năm ngàn giữ xe thôi mà nó giết, nó đâm chết. Lấy chín chục ngàn của bà vợ sài mà không nói, xong về vợ đâm chết. Thì mạng người như vậy không đáng hai trăm ngàn. Ngày đầu tiên gặp nhau yêu thương như thế nào mà tại sao bây giờ như vậy.
Bản chất của nó là vô thường, bản chất phản trắc. Nếu mà nó không có đạo đức, không có giới hạnh, không có thiện pháp kềm lại thì thế gian sụp đổ hết và bây giờ đang đi cái đà đó. Tuyên truyền những cái xấu ác, những cái dục điên cuồng trên toàn thế giới. Mình lên mình coi, toàn những thứ loạn luân, những thứ đồi truỵ, những thứ đảo lộn hết tất cả luân thường. Con mà nó có thể lấy đồ gì đó đổ trên đầu mẹ nó, đặng nó quay lên những clip đem lên mạng đặng người ta coi cho nhiều. Khủng khiếp, thật khủng khiếp.
Cho nên bản chất của thế gian không đáng để cho mình tham, ở trong thánh trí, trong pháp của Đức Phật. Để cho mình nhìn thấy nó là những thứ không đáng để cho mình tham. Mình tham đối với nó là mình khổ, mình ái đối với nó là mình khổ, mình dục đối với nó là mình khổ, sầu, bi, ưu, não. Chỉ có con đường giảm bớt dục tham đối với nó, đoạn giảm từ từ, tránh ra từ từ, nhiếp phục tham, dục, ái trong này. Đi đến chỗ cứu cánh là gì? Là đoạn tận, đó là thành công tối thường của một kiếp người, nhân sinh, nhất là người xuất gia.
Bằng không là nó khủng khiếp lắm, dục, tham, ái này ghê gớm vô cùng, nó trá hình đủ thứ kiểu hết. Mà nó sai khiến mình, mình là tôi đòi, mình làm mọi rợ, mình làm nô lệ cho nó, nó bắt mình chạy hoài. Tu đâu có yên, nó dục chạy chỗ này, chạy chỗ kia, đâu có yên. Ngồi giờ ngồi thiền là trong đó chạy tùm lum hết. Một là ngủ gục, hai là vọng tưởng, còn không là rục rịch.
Cho nên phải cần sự nỗ lực tha thiết, chân thành bằng tất cả trái tim của mình. Để mình thấy được mục đích thật sự của kiếp sống này là cái gì. Mình sống lơ là, mình sống vô tư, mình sống lề mề giống như lục bình trôi sông rồi mình cũng vô tư vô lò thiêu, vô tư để vô hòm, vô tư để mình hứng chịu tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, nguy nạn của cuộc đời này. Bất cứ chỗ nào cũng có thể xảy ra án mạng. Đốt pháo làm giật mình rồi nó quay qua nó xử, rồi xảy ra án mạng.
Bên đây mở Karaoke nhạc lớn, rồi nhà kế bên qua cự, hai nhà cự qua cự lại. Đứa con về thấy vậy nó nhào vô lấy dao đâm, rồi người kia chết. Cái chết lãng xẹt, mà không có một lí do gì hết mà chết. Mà tất cả những cái đó là gì? Là tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Nó làm nên những bi kịch, những cái bi kịch khủng khiếp và đau đớn, đau xót cho người ở lại. Đau xót, những hình ảnh mà không cầm được nước mắt. Ba bốn đứa nhỏ nheo nhóc như vậy mà đội tang.
Hai vợ chồng trẻ mới mai mươi mấy tuổi mà xe tải cán chết tại chỗ để lại con cho nội ngoại nuôi. Biết bao nhiêu ki kịch trên thế gian này mà mình không nhìn thấy, mà mình ngồi đó tưởng mơ. Mình phải có một tầm nhìn rộng mở, bao quát mọi khía cạnh góc độ của cuộc đời này, để mình thấy được, thấy được mình ngồi đây không có an ổn chút nào. Hãy nỗ lực, tinh cần, quyết tâm, giống như mình hay tin một chút xíu nữa là động đất, giống như mình hay tin một chút nữa là hoả hoạn, lửa tràn. Giống như mình hay tin là trong không khí nhiễm độc rồi, mình phải có một thái độ tu hành dứt khoát, mãnh liệt, quyết tâm. Thì hoạ may mình mới có cơ hội thoát ra, vượt ra, vượt ra những cảnh khổ, những cái biển của dục tham, cái biển cả chứ không phải bình thường. Cái dục tham của mình là cả một cái biển, một đại dương chứ không phải đơn giản. Sân thì thôi là nó khủng khiếp. Si mê, vô minh phong toả hết tất cả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm của mình. Thấy ở trong vô minh, biết ở trong vô minh, nghe ở trong vô minh, biết ở trong vô minh không thôi, mình đâu có biết theo thánh trí của Đức Phật đâu.
Ví dụ: Mình hỏi cây này là cây gì? Người ta nói đây là cây tùng bồng lai thì mình biết là cây tùng bồng lai.
Không phải, đó là cái biết của phàm phu. Phải học định nghĩa về sắc, thấy được bảy trí huệ về sắc. Nhìn bằng thánh trí đó mới gọi là biết.
Bảy trí về sắc:
Những cái mình biết, mình thấy, mình nghe rồi mình tưởng mình biết nhưng thực sự thì những cái mình biết là trật lất.
Rồi mình nhìn người đó mình thấy đẹp quá, giàu quá, sang trọng quá, ước gì mình được như vậy. Lại nói chuyện một hồi là tâm sự, thầy ơi con khổ quá, con muốn tự vẫn. Sống bằng cái tưởng, bằng cái hành, cảm giác vận hành trong đó rồi mình tưởng như vậy là không đúng thực pháp. Phải nhìn xuyên thấu vô bản chất khốn nạn, hoạn nạn, ách nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan của cái đống bọt nước này, cái đống thịt này, cái đống máu mủ, cái đống phân cứt, nước tiểu đây nè, mình nhìn vô. Đó là mình bằng thánh trí, đó là mình lột được lớp vô minh, mà ngàn lớp trong đó, nó chất chứa trong đó. Phải quán chiếu một ngàn lần, một triệu lần chứ không phải quán sơ sơ như vậy mà nói là xong đâu.
VI. Thánh Trí Năm Uẩn
Mình nhìn thấy bình thường như vậy đây nè mà đi vấp là đập xuống, cái mặt tím bầm rồi mất lỗ mũi, lòi cái tròng con mắt ra rồi lúc đó ai nhìn nữa không? Rồi lúc đó vô thất đóng cửa lại. Phải quán chiếu như vậy đó mới nhã ra được những cái tâm tham, tâm dục, tâm chấp thủ, do đống mấy chục kí lô này. Phải quán sâu như vậy.
Bảy trí về sắc:
Trong tóm tắt ngũ uẩn.
Thứ nhất biết rõ sắc
Thứ hai biết rõ sắc tập khởi
Thứ ba biết rõ sắc đoạn diệt
Thứ tư biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt
Thứ năm biết rõ vị ngọt của sắc
Thứ sáu biết rõ sự nguy hiểm của sắc
Thứ bảy là biết rõ sự xuất ly của sắc
Vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất li khỏi sắc.
Du di sắc khởi lên là vị gì? Vị này là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đối với sắc đó là sự nguy hại của sắc.
Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc đó là sự xuất li khỏi sắc.
Mình phải thấy được cái gì là sắc? Từ đâu mà sắc có ra, làm sao sắc chấm dứt, con đường đưa đến sự chấm dứt đó. Mình phải thấy được vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất li. Cái này là những cái hết sức quan trọng ở trong ngũ uẩn, mình phải nắm.
Ví dụ: Mình nhìn một cái cây, cái bàn. Thì lập tức mình nhìn bằng thánh trí, đừng nhìn mà nói đó là cái nhà, cây tùng bồng lai. Biết cái tên đó mà mình biết đây là tứ đại, đất nước gió lửa, cái biết đó là biết bằng thánh trí. Rồi mình đưa nó từ từ đi vào, còn không là mình biết bằng cái phàm tình.
Thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Thức an của nó là gì?
Nói đơn giản, cái cây thức ăn của nó là gì?
Nước, đất, phân, không khí.
Thì nó cũng là tứ đại thôi.
Còn mình cũng vậy, mình có ăn không? Mỗi lần mình ăn là mình sử dụng cái trí để mình quán chiếu. Mình áp dụng cái mình học, mình áp dụng vào đời sống, mình như lí tác ý vô.
Ví dụ: Mình bưng món ăn lên thì đây là đoàn thực, những thức ăn này.
Bên trong khởi lên thúc dục muốn ăn mau mau, thành ra ưa thích cái này cho nên không đi ra khỏi thân xác.
Mình tập, mình nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham với món ăn. Mình cũng ăn chứ không phải không ăn mà khi khởi dục, tham, ái trong đó là mình diệt cái đó trước rồi từ từ mình ăn.
Cho nên nghi thức ở đây giờ phải là buổi sáng vẫn đọc chánh quán thọ thực. Buổi trưa phải đọc Đức Phật ăn cơm như thế nào, rồi sau đó đọc chánh quán thọ thực, để trở thành nghi thức trai đường ở đây luôn, không thay đuổi.
Buổi sáng không đọc bài gì hết, cứ đọc bài chánh quán thọ thực. Cái đó là nhiếp phục dục và tham trong cảm giác khi ăn. Mà đó là cái gì? Đó là Thế Tôn tuyên thuyết. Chứ không phải kêu cầu ai hết. Khỏi kêu Phật về ăn, Phật không cần mấy cái này đâu.
Buổi trưa đọc thêm bài cách ăn của Đức Phật, rồi sau đó đọc thêm bài chánh quán thọ thực.
Mấy buổi trai tăng đọc hai cái là cách ăn của Đức Phật và kế đó là chánh quán thọ thực.
Ở trên núi hoài như vậy rồi nó muốn lấy xe xuống núi, nó đòi tiếp xúc, nó đòi nhìn thấy cái này cái kia. Nó đòi vô chợ, nó đòi vô siêu thị. Phải biết cái này là xúc thực.
Nếu đi có việc thì được, mà không có việc mà nó vẫn dẫn xe ra thì cái này không bình thường. Phải nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với xúc thực. Cái đó đâu phải đọc rồi cất trong kinh đâu mà phải đem ra ứng dụng tron mọi cái sinh hoạt. Phải nhận diện ra được các pháp trong đời sống thường nhật của mình.
Hở là dắt xe chạy, hở là dắt xe chạy. Phải coi nó có dục, có ái trong đó không?
Giờ lên núi nói thưa thầy: Con ở đây năm ngày, ở trọn năm ngày cũng là sự chiến đấu đó, chứ không thôi hai ngày là đổi ý. Chứ đừng nói đi vô thất, lỡ công bố với mọi người vô thất mà đi ra sớm sao được. Tại vì trong này thúc dục, trong này kêu đi ra ở trong này buồn quá, bên kia có đốt pháo hay có gì đó bên đó vui, đi qua đó. Nhiều khi quán bên kia mở nhạc Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh hay nhạc sến thì ngồi thiền nổi không? Đi kinh hành nổi không?
Cho nên mình phải nhiếp phục xúc thực, còn không một là tham hai là sân.
Đến giờ ngồi thiền mà mở mấy cái nhạc này là mình sân, còn không là nghe khoái quá đi theo luôn.
Cho nên mỗi cái nhỏ nhiệm phải nhìn ra hết. Những cái pháp vận hành trong thân tâm, đó là quán pháp vận hành trên pháp đó, ở trong tứ niệm xứ đó. Nhìn thấy hết tất cả những cái gì nó có mặt, nó đang vận hành, bắt chộp nó. Chứ còn bằng không là kinh mở ra rồi đóng kinh lại trở ra là y như cũ, không có thấy pháp đâu hết.
Bất chánh đạo là cái con đường để chấm dứt sự ham muốn, ưa thích đối với những cái sắc vô thường. Chỉ có bát chánh đạo mới đưa đến chỗ đó được, ngoài bát chánh đạo không có con đường nào nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với sắc. Mình thấy được vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất li khỏi sắc. Nếu như chưa hiểu được bảy trí mà hiểu được ba cái này cũng là căn bản. Do duyên sắc mà khởi lên hỉ lạc gì? Do duyên sắc nào mà mình khởi lên hỉ lạc gì? Tức là do sắc nào đó mà mình khởi lên ưa thích, khoái. Cái đó là vị ngọt.
Nhưng mà mình phải thấy tính nguy hại của nó là gì? Là vô thường, khổ và chịu sự biến hoại. Đó là tính nguy hiểm và tác hại của sắc
Đó là cái thứ biến đổi, đó là cái thức mà trong đó mình tham đắm vô đó là mình sẽ khổ thôi. Nó là cái thứ tan nát, tai hoại, tan rã, tiêu vong, đoạn diệt, chắc chắn là như vậy, đó là thánh trí đó. Phải nhìn ra tính nguy hiểm của nó. Thấy nguy hại nó nhiều rồi mình sẽ xuất li. Không ưa thích nữa, cái đồ giả này, cái đồ dổm này, cái đồ sanh diệt này, cái đồ vô thường, cái đồ trống rỗng này, cái thứ bại hoại này ưa thích nó làm cái gì? Cái tâm hương ra, muốn thoát nó ra, muốn rời xa nó ra, là cái đó là hương dự lưu, xuất li, thoát ra. Cho nên những cái trí này phải được học thuộc lòng, phải được nhuần nhuyễn điêu luyện, tinh luyện. Nhìn cái gì là nhìn bằng thánh trí đó hết. Mình nhìn thấy cái gì đẹp thật là đẹp, ngon lành, tốt, là nhìn thấy vô thường, nguy hại, tan vỡ. Có thấy như vậy mới nhiếp phục dục tham chứ, không thấy như vậy thì làm sao nhiếp phục được dục tham. Nhìn thấy mơn mởn, nhìn thấy phơi phới, nhìn thấy tươi tắn trẻ đẹp như vậy thì làm sao không tham. Trừ khi nào nhìn thấy trong đó là cái già nằm trong cái trẻ, cái bệnh này ở trong sức khoẻ mà tánh chết thì ở trong sự sống. Thấy như vậy chứ chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Quán chiếu thâm sâu như vậy, tập huấn luyện trí huệ như vậy thì mình mới từ từ thể nhập chánh tri kiến, tri kiến của bậc thánh. Mà cái này phải được quán trăm lần, ngàn lần, một ngàn lần, chín trăm ngàn lần, một triệu lần, cho đến lúc nào mà nhập lại làm một là nhập lưu, siêu phàm nhập thánh. Tức là trí huệ Đức Phật trở thành trí huệ của mình, đó là Phật tri kiến, thánh tri kiến.
Còn bây giờ học, nghe, trở ra là xong thì chừng nào mình mới thể nhập chánh tri kiến. Phải có một giải đoạn thể nhập, sống quán chiếu, áp dụng và thực tập kiên trì. Mà lúc nào cũng nhớ, quý vị phải sử dụng tứ nhĩ túc. Muốn cho mãnh liệt rồi nỗ lực, và để tâm và tìm đủ mọi cách làm cho bằng được thôi, đó là tứ nhĩ túc. Bốn điều này làm cho mình thành công như ý.
Dù cúp điện hay có điện, tắt tiếng hay có tiếng thì mình đều bình an thì tuyệt vời không? Vậy là có tuyệt vời đó. Mình nhiếp phục được các cảm thọ, rồi các ngoại cảnh.
Tất cả những cái đó là mình coi là bài tập, bài trắc nghiệm, bài kiểm tra, bài thi. Nếu mà cúp điện, tắt điện mà tâm dao động thì lúc bị chửi lúc đó tâm sao không động, bị chửi tâm sao không động. Vô thường đối diện với cái chết thì sao không động. Mình phải quán tới mức độ như vậy, như lý tác ý tới như vậy. Minh tu tới mức cái gì đến với mình, mình cũng bình an, an nhiên vậy đó. Thì tuyệt vời không? Bất động tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đó là ruộng phước vô thường cho chư thiên và loài người. Đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lể đáng được cũng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời.