Khổ Thánh Trí 1 - Khổ Do Ai Làm Ra
Kinh Nikāya Giảng Giải
Khổ Thánh Trí I
Khổ Do Ai Làm Ra?
Thích Minh Thành
Ngày 19 tháng 10 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Có và không PAGEREF _Toc88063816 \h 1
II. Khổ do ai làm ra? PAGEREF _Toc88063817 \h 4
III. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc88063818 \h 7
IV. Chấp thủ PAGEREF _Toc88063819 \h 9
I. Có và không
Chư tăng ni sinh chúng ta chắp tay niệm Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa chư tăng ni sinh lớp đào tạo giảng sư, theo chương trình chúng ta bước vào học kỳ II của năm thứ nhất. Qua một học kỳ vừa rồi chúng ta đã học những phần trí tuệ cơ bản, căn bản trong pháp hành của kinh tạng Nikāya. Hôm nay chúng ta qua một vấn đề, bắt đầu đi sâu vào những trí tuệ mà Đức Thế Tôn đã truyền trao trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành xin gửi đến quý vị chủ đề về khổ - Khổ Thánh Trí. Tại sao không đề khổ mà là khổ Thánh trí?
Khi chúng ta học sẽ thấy, sự khổ của Đức Phật nói thật sự không thể nào mà mình ngờ được. Lâu nay chúng ta học Khổ Thánh Đế chỉ hiểu chung chung, nhưng nay sẽ thấy rất bất ngờ, không giống như mình hiểu trước nay về khổ, nên có chữ “Thánh trí”, tức trí tuệ của bậc Thánh, thực chứng, chứng ngộ về sự thật khổ đau của thân tâm và thế giới. Chúng ta nhớ rằng, khổ ở đây là được trí của bậc Thánh giác ngộ thấu đáo, chứng ngộ, thấy biết tất cả mọi phương diện, khía cạnh của đời sống của thân tâm, thế giới, ngũ uẩn, của hữu tình, chúng sinh, vạn loài.
Trong phần này có thể chúng ta nêu ra rất nhiều bài kinh, Minh Thành tổng hợp những bài kinh quan trọng, liên hệ đến trí huệ về khổ của bậc Thánh để chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn. Chúng ta nhớ không, ngày học đầu tiên, Minh Thành đã trình bày với chư tăng ni, Đức Thế Tôn xưa nay chỉ nói hai điều: khổ và con đường diệt khổ. Hôm nay cũng là ngày đầu tiên nhưng của học kỳ II, lặp lại vấn đề đó nhưng hôm nay được đào sâu rộng. Chúng ta bắt đầu đi vào những bài kinh, đầu tiên Minh Thành giới thiệu bài trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài “Kaccàyanagotta”.
“Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ)...
Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
- " Chánh kiến, chánh kiến", bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập II Thiên nhân duyên - Chương I Tương Ưng nhân duyên - Phẩm Đồ Ăn – Kinh Kaccàyanagotta)
Thế nào mới là “chánh kiến”? Thế nào mới là thấy đúng với sự thấy của bậc Thánh? Thế nào gọi là cái nhìn chính xác, triệt để về sự thật mà Đức Thế Tôn chứng ngộ? Chúng ta thấy chữ “thấy đúng” trong kinh rất sâu sắc chứ không phải chữ “thấy đúng” như mình ở ngoài, cho rằng tôi thấy điều đó là đúng. Chúng ta nhớ phân biệt, những gì trong lời Đức Phật nói, tất cả những gì được đề cập đến đều là cứu cánh cùng cực, rốt ráo viên mãn. Chúng ta nhớ điều này để học kinh Nikāya. Vị Tôn giả này hỏi Thế Tôn thế nào là “thấy đúng”? Thế Tôn mới nói:
“Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có”.
Chỗ này, tuy mình đọc như vầy nhưng hồi xưa Minh Thành đọc không hiểu, học mười lăm năm không hiểu. Mình đào sâu vào trong kinh, nhận diện ngũ uẩn rồi mới thấy nó rất tuyệt diệu. Phần lớn đều rơi vào hai cực đoan: có và không. Mà người thành tựu trí huệ thật sự, người đó không rơi vào hai cực đoan, có hoặc không.
“Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy”.
Phần lớn chúng sanh, hữu tình, thế giới ngũ uẩn này là chấp thủ phương tiện, tức nắm giữ vào những phương tiện, bị thấy biết thiên lệch, nghiêng qua một bên, trói cột, bị cách nhìn nghiêng về một bên trói buộc. Nghiêng về một bên là có hoặc không, đó gọi là thiên kiến, tức sự thấy biết nghiêng lệch, hoặc có, hoặc không.
“Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: " Đây là tự ngã của tôi ". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana là chánh tri kiến”.
Một người không bị nắm chặt, không bị chấp thủ, không bị sự thấy biết nghiêng lệch, không trú trước trong sự thấy đó, tức bám chặt vào sự thấy đó, vị ấy không nghĩ rằng đây là tự ngã của tôi. Cho nên, khi khổ sanh khởi lên, vị ấy không xem đó là tôi khổ, mà xem là khổ sanh khởi, khi khổ sanh thời xem là sanh, khổ diệt thời xem là diệt. Tức vị ấy thấy sự khổ đó là pháp sanh diệt.
Chúng ta nhận diện ngũ uẩn rồi, thực tập quán chiếu các cảm thọ rồi, mình biết đó chỉ là một cảm thọ, cảm xúc. Cảm xúc đó do duyên xúc sanh thọ, do tiếp xúc sanh ra cảm giác khổ, đó là pháp khổ đó sanh, khi cảm thọ đó sanh hết rồi thì diệt. Người thấy được có một cảm giác khổ sanh khởi, và cảm giác khổ này bây giờ khổ này chấm dứt. Đó gọi là vị Chánh kiến, không thấy có một cái tôi đang khổ, tôi bị khổ, tôi chịu khổ, mà thấy rằng khổ này là một pháp sanh lên rồi diệt xuống. Do tiếp xúc mà sanh ra cảm thọ khổ này.
Đó là pháp vận hành, pháp sanh khởi, chấm dứt và đoạn diệt chứ không có một cái tự ngã – tức tôi khổ. Đây là phần sâu sắc nhưng mình giới thiệu tổng quát trước. Thấy được như vậy, “ vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy”. Không còn nghi ngờ, không còn phân vân gì nữa đối với ngũ uẩn, đối với các xúc, thọ, ái, sự tiếp xúc sanh khởi ra các cảm thọ, và cảm thọ này là vui hay khổ, sanh rồi diệt. Vị này thấy rõ đây là sanh diệt pháp, không có tự ngã, không có một cái tôi, không có của tôi bên trong. Thấy được như vậy một cách rõ ràng, xác quyết, chân xác, không phân vân, không nghi ngờ, không dựa vào ai khác, đó là trí của tự thân. Như vậy gọi là Chánh tri kiến.
Ở đây giải thích một chút về chữ có và không. Hồi nãy nói về thế giới, nhưng nhiều khi nói như vậy mình mường tượng, khó hiểu. Chẳng hạn bây giờ về sự khổ, nhiều người nói có, mình học riết mình nói là không. Cũng như Quán tự tại Bồ Tát thành tâm bát nhã ba la mật đa chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Nếu không tại sao mình khổ, tại sao mình thèm, tại sao mình bị dục ái sai khiến, bị tham ái hành hạ, bị đau khổ với tình ái đó. Sự sân hận đó có không? Không tại sao mình nổi giận, tại sao mình tham dữ vậy? Tại sao ai đụng tới mình phừng phừng cái tôi của mình lên? Đây chúng ta mới thấy được chỗ sâu sắc.
"Tất cả là có", này Kaccàyana, là một cực đoan. " Tất cả là không có " là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo”.
II. Khổ do ai làm ra?
Như thế nào là thuyết pháp theo trung đạo, chúng ta bước qua bài kinh thứ hai, kinh “Lõa thể”:
“Như vầy tôi nghe.Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ràjagaha để khất thực.
Lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Sau khi thấy, lõa thể Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên.
Đứng một bên, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
- Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
Lần thứ hai, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
- Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
Lần thứ ba, lõa thể Kassapa... (như trên)... Chúng ta đã vào trong làng.
Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Nhưng không phải chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama nhiều chuyện.
- Vậy hãy hỏi đi, này Kassapa, như Ông muốn.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do tự mình làm ra?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa”.
Vậy khổ do đâu? Vấn đề này cực kỳ thâm sâu, sâu sắc, mà có khi mình ở trong chùa, ăn hết gạo cũng chưa thấy được, chưa thành tựu trí tuệ này nếu mình không nương theo Đức Phật. Mình là ra cũng không phải, người ta làm ra cũng không phải, bây giờ nhập chung lại, vừa mình vừa người làm ra Đức Thế Tôn nói cũng không phải.
“Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?
- Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa.
Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ.
- Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ.
Được hỏi: " Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra ", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa. Được hỏi:" Tôn giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra? " Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Được hỏi: " Tôn giả Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra?", Ngài trả lời: " Không phải vậy, này Kassapa ". Được hỏi: "Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa ". Được hỏi: "Tôn giả Gotama, có phải khổ không có? ", Ngài trả lời: "Không phải khổ không có. Khổcó, này Kassapa". Được hỏi: "Như vậy Tôn giả Gotama, không biết, không thấy khổ?
Ngài trả lời: " Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ ".
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết cho con về khổ”.
Chúng ta chiêm nghiệm một chút đi ạ. Đức Phật bây giờ mới bắt đầu trả lời:
“Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như Ông gọi ban đầu " khổ do tự mình làm ra ", như vậy có nghĩa là thường kiến. Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảm thọ, được xảy ra như: " Khổ do người khác làm ra ", như vậy có nghĩa là đoạn kiến”
Vì tất cả đều không phải của mình mà là của người khác, là bên ngoài. Cái kia tất cả do mình, cái nọ đổ cho người ta hết. Đó là chấp đoạn, đoạn kiến.
“Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.
Đó là từ bỏ có không, xuống dưới này là mình và người, nói như vậy là một chiều, cực đoan, nói một khía cạnh, không đầy đủ tất cả. Mình nói ví dụ dễ hiểu: như một căn nhà lục giác hay bát giác nhưng mình chỉ nhìn hai góc là không được. Căn nhà bát giác – tám cạnh mà mình chỉ hai, còn sáu cạnh kia thì sao? Như vậy là cực đoan, thấy biết nghiêng lệch, góc cạnh, không phải sự thấy biết đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn, viên mãn tất cả mọi góc độ, khía cạnh của đau khổ, “từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.
Trung đạo đó là gì, chúng ta không nói hết, mười hai nhân duyên chỉ tóm thâu vài mắc xích quan trọng để thấy được trí huệ tuyệt cùng của Đức Phật. Ngài nói khổ do duyên sanh pháp, đầu tiên mình nói không thấy, không biết, vậy tự thân chúng ta không thấy, không biết về ngũ uẩn. Bây giờ nếu như nói mình tự làm mình khổ, tức tự ngã, có pháp khổ đó thật. Như vậy thành ra chấp thường, thường kiến. Còn nếu nói mình và người kia không dính dáng gì, ở đâu lại đổ cho mình là đoạn kiến. Có trường hợp nữa là không có khổ, làm sao không có khổ được? Mà nếu có khổ cũng không được, vì nó là pháp duyên sanh nên mình mới có thể đoạn diệt được nó. Nếu nó có thật làm sao mình đoạn diệt nó được? Nếu khổ là tự thể, bất biến, thường hằng, thường trú làm sao mình diệt nó được?
Cho nên, nói nó không là phủ nhận nó, phủ nhận sự khổ. Còn nói nó có, tức nó có thật, vậy làm sao mình lìa khổ được? Rồi bây giờ mình nói tự nhiên nó có, vậy là vô minh, phái tự nhiên của ngoại đạo. Không có gì tự nhiên, nó đều có nhân quả, nhân duyên, có duyên có khởi, cái này có là cái kia có, cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia không, cái này diệt cái kia diệt. Cho nên, “từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.
III. Duyên sanh pháp
Trung đạo là duyên sanh pháp, là duyên khởi pháp. Duyên khởi lên là gì? Tại sao mình khổ? Không thấy, không biết thân tâm mình, tức không thấy không biết ngũ uẩn. Chính vì không thấy không biết ngũ uẩn nên vô minh duyên hành, mình mới có thân hành, khẩu hành, ý hành. Sai lầm, không biết ngũ uẩn, nó là vô thường, là duyên sanh, hoại diệt, không thấy không biết vô minh, không thấy không biết bản chất của ngũ uẩn.
Nó là sự lắp ráp, là bộ máy, những mắc xích, sự kết hợp, là vô thường, biến hoại, tan hợp, đổi dời, là thiên lưu, sanh diệt mà mình lại cho nó là mình. Chính chỗ không thấy không biết bản chất của ngũ uẩn, mình nghĩ, nói và làm đều là sai quấy, tạo thành ba ác hành: thân hành, khẩu hành, ý hành. Chúng ta thấy không, từ điều này tạo ra nghiệp. Mình nói đơn giản như mười hai nhân duyên để dịp khác chúng ta đào sâu. Nó tạo ra hành nghiệp, từ nghiệp phải chịu quả báo của khổ, đó là mình nói đơn giản, mà mình không thấy không biết.
Nó là ngũ uẩn mà mình cho người kia là: “nó mắng tôi, đánh tôi, cướp tôi”. Ai thuộc bài kệ đó?
“Nó mắng tôi, đánh tôi
Nó thắng tôi, cướp tôi
Ai ôm hiềm hận ấy
Hận thù không thể nguôi”
Bài kệ số 3 – Kinh pháp cú
Nếu nghĩ như vậy, bây giờ nó đánh tôi, mắng tôi, cướp tôi, giết tôi, hại tôi. Mình nói ra lời ác, làm việc bất thiện, nghĩ những điều sân hận, đương nhiên tạo ra nghiệp mình phải có quả báo khổ. Có phải sự khổ này là kết quả của dòng chuỗi duyên sanh pháp, chứ không thể tự mình đổ hết cho người ta, hay cả hai kết hợp. Mà đầu sỏ của nó là gì? Vô minh, tham ái là hai thứ căn bản. Vô minh, tham ái và chấp thủ là những thứ làm ra khổ chứ không phải do ai, do các pháp vận hành.
Hôm trước mình học căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy một chuỗi này là ai? Con mắt nhìn thấy món đồ đẹp, có sự rõ biết món đồ đó quý, mắc tiền. Ba pháp này hội tụ với nhau, gặp gỡ nhau, sanh ra cảm giác thích, khoái, muốn lấy. Ăn trộm lấy món đồ đó, sau đó thì sao? Bị bắt vô tù, đó là sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy do ai làm? Ai làm ra kết quả đau khổ khi ngồi trong tù, khi bị bắt?
Tất cả pháp duyên sanh là mắc xích, nó kết hợp, dẫn dắt, là một chuỗi dài, do cái này có nên cái kia có. Do có mắt nên thấy món đồ, sự rõ biết hội tụ lại với nhau, sanh ra cảm giác yêu thích, muốn nắm giữ, lấy của người khác. Và hậu quả của nó là sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, cái này có sanh ra cái kia có, nói tóm gọn lại là từ vô minh và tham ái, chấp thủ.
Chúng ta thấy được tại sao mình khổ chưa? Thấy khổ do ai làm ra chưa? Không do ai hết, nếu có một thứ, đó là tự ngã. Đó là chỗ thâm sâu của Thánh trí, cái này có thì cái kia có, cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia cũng không, cái này diệt cái kia diệt chứ không có ai. Cho nên bây giờ nếu như mình nói rằng không có khổ tức phủ nhận sự thật, còn nói có khổ thật sự cũng là chấp thường, chấp đoạn với chấp thường, chấp có với chấp không. Mà trước nay mình nhìn vấn đề như thế nào? Có phải nghĩ do có người làm cho mình khổ không? Đó là vô minh, là không thành tựu khổ Thánh trí – trí huệ về khổ mình chưa thành tựu.
Mình thấy được do vô minh kết hợp với tham ái, không thấy, không biết bản chất của các pháp nên nó yêu thích rồi mới có ra những hành động mê lầm, tạo nghiệp rồi sanh quả báo khổ. Như vậy, nguồn gốc, căn nguyên của khổ đau là do các thứ đó chứ không do ai. Do sự không thấy, không biết, tâm u mê, si ám, tâm không nhận rõ, tỏ tường. Từ sự không rõ, không tỏ tường đó mới có suy nghĩ sai lầm, lời nói bất thiện, có những hành động ác, tạo ra các nghiệp, tương thích lấy những quả báo tương ứng của nó là khổ đau.
Đó là sự thấy biết của bậc Thánh về khổ. Khi mình xác quyết một vấn đề, khổ do tự tôi làm tôi khổ tức mình xác định có tự ngã, có tôi, có một pháp khổ đó. Khổ làm sao tự nhiên có được? Do duyên có thân này, có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý rồi mới có sự tiếp xúc, sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp, mới có sự giao thoa, xúc chạm, sanh ra cảm xúc, cảm giác yêu thích hoặc sân hận. Yêu thích mình gọi là vui, sân hận mình gọi là khổ. Như vậy, các pháp vận hành, khống chế, đó là pháp duyên sanh. Chúng ta trở lại bài kinh lúc nãy, rất sâu sắc và vi diệu vô cùng.
IV. Chấp thủ
“Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy.
Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: " Đây là tự ngã của tôi ". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana là chánh tri kiến”.
Không gắn cái tôi khổ vô đó, mà khổ là một thứ sanh lên rồi hoại diệt. người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn được hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết. Người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn, làm gì có cái tôi, nó là năm uẩn mà? Khi không thấy năm uẩn, lúc đó mình thấy một cái tôi, khi thấy một cái tôi, lúc đó mình không thấy năm uẩn. Cho nên:
“Người luôn luôn Chánh niệm
Sự sanh diệt các uẩn
Được hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết”
Bài kệ số 374 – Kinh pháp cú
Tức thường xuyên nhận diện năm uẩn, nên nói thấy năm uẩn tức thấy Phật là vì vậy, thấy năm uẩn là thấy Pháp. Vì khi mình nhìn ra năm tổ hợp đó, nó không có một cái tôi bên trong, lúc nào mình thấy một cái tôi, lúc đó mình còn thấy năm tổ hợp không? Thành ra, thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy năm uẩn là thấy Pháp, thấy năm uẩn lúc đó là Thánh trí. Mà mình quên năm uẩn, chỉ thấy có một cái tôi, tự ngã, có ta, có tao, có mình, có người, có mi, có bỉ, có thử… Lúc đó là phàm phu.
Cho nên, đối với người trí, “Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt”. Khổ này từ đâu có? Từ tai – căn, âm thanh – trần, sự rõ biết âm thanh – thức. Ba pháp này giao thoa lại, sự tiếp xúc của tai, chúng ta đã học duyên sanh pháp rồi, xúc sanh khởi ra cảm thọ. Từ tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, sanh khởi ra cảm thọ, cảm thọ đó nếu khó chịu, bực bội mình sẽ sân lên, sinh ra khổ.
Vậy, khổ đó là một pháp được sanh, do một chuỗi dài, móc xích, liên hệ của các nhân, các duyên, chứ đâu có khổ sẵn. Tự nhiên ra nhìn thấy hoặc nghe điện thoại liền tức lên, như vậy mình nghĩ rằng tôi đang giận, tôi đang tức – vô minh, phàm phu, không thấy pháp. Biết rằng đang có một cảm thọ khó chịu, sân sanh khởi. Và cảm thọ này đang có mặt, nhưng nó không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đây là một thọ khổ đang sanh khởi, hiện tại nó chưa hết, đang an trú. Mình biết khổ thọ này đang an trú. Một lát nó lắng dịu xuống, tan hết, mình biết khổ thọ này chấm dứt, đó là khổ sanh, khổ diệt chứ không hề có người chịu khổ hay người đang khổ.
Cho nên chúng ta thấy không, nếu không nhận diện năm uẩn về vấn đề này, không quán chiếu cảm thọ, không tác ý làm sao chúng ta thoát ra nổi. Mình dính chùm bên trong, năm cái này dính lại với nhau, nắm lại thành nắm tay. Đây là một cái tự ngã, nhìn thấy sợ chưa? Còn bây giờ mở ra, có năm nhóm, năm tổ hợp, rời rạc. Trí huệ phân tích rất tuyệt diệu, trong kinh thường có những bài kinh phân tích. Bên ngoài là da, trong này thịt, gân, xương, máu, bao nhiêu tế bào.
Chưa nói tới năm, mỗi một cái trong này còn bao nhiêu thứ bên trong nữa. Nó phải nuôi dưỡng hằng ngày, được ăn, được uống, được thở, bài tiết ra như thế nào hằng ngày, từng lỗ chân lông ra sao, máu huyết lưu thông tuần hoàn như thế nào, hô hấp làm sao? Nếu không ngón tay còn không có, tại sao có một bàn tay? Từ sự việc đó mình phải quán chiếu thâm sâu. Một uẩn – sắc uẩn còn không có, do tứ đại hợp thành. Trong mỗi một đại như vậy còn bao nhiêu thứ kết hợp nữa, làm gì có một cái gọi là tôi. Sự quán chiếu thâm sâu như vậy, tất cả là một cực đoan.
“" Tất cả là có ", này Kaccàyana, là một cực đoan. " Tất cả là không có " là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
Vô minh duyên hành. Hành duyên thức... (như trên)... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi”.
Ái, thủ, khổ, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, một chuỗi dài nhân duyên kết hợp, lắp ráp, móc xích của các pháp, không có một tự thể, tự ngã, không có tôi, cái tôi nào bên trong cả. Sự thấy biết về khổ như vậy Đức Thế Tôn gọi là Chánh kiến – thấy đúng về khổ của bậc Thánh nhân. Đây là nói tổng quát, mình trở lại bài kinh:
“Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
- " Chánh kiến, chánh kiến ", bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là Chánh kiến?
Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có”.
Có là thật, không là trống không, thực tướng của nó không phải vậy, thực tướng của nó là duyên sanh. Bây giờ thân mình đây là có hay không? Mình nói không là phủ nhận, mình nói có là nó có thật, có tự ngã, mình phải nhìn được như vậy.
“Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có”
Mình thay chữ vào sẽ rõ liền, ai với trí tuệ thấy một cách chính xác thân thể này được sanh khởi ra, vị ấy không chấp nhận thân này là không có. Ai với trí tuệ chân chánh thấy một cách chính xác thân thể này chấm dứt, vị ấy không chấp nhận thân thể này là có. Bây giờ lấy một ví dụ sẽ rõ ràng ngay: con nít mới lọt lòng mẹ khóc oa oa, mình nói không có được không? Có, mới sanh ra, cho nên về Chánh trí huệ, vị ấy không chấp nhận thân này là không có. Bây giờ tắt thở nằm trên giường, đẩy vô lò thiêu thành đống tro rồi, mình có thể nói cái này có được không? Không được.
Như vậy, nhân duyên hội hộp có ra nhân duyên ly tán, hoại diệt “Duyên tụ như sanh, duyên tán như tử”. Đủ nhân, đủ duyên sẽ hình thành, sanh khởi ra pháp đó, nhân duyên không đủ sẽ rã nát, hoại diệt, chấm dứt. Như vậy:
““Người luôn luôn Chánh niệm
Sự sanh diệt các uẩn
Được hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết”
Người luôn luôn Chánh niệm, tức người đó luôn luôn nhớ một cách chân chánh về ngũ uẩn này, nghĩ nhớ, nhìn ngắm, soi xét, quán chiếu, thấu rõ một cách chân chánh sự sanh và diệt của sắc, của hình hài này, của những cảm giác này, hình bóng này, những suy nghĩ, nhận thức này. Mình đã nhìn thấy được sự sanh khởi, vận hành và chấm dứt của nó. Người luôn luôn tỉnh thức và Chánh niệm, thấy được sự an trú, hoại diệt của các uẩn, được hoan hỉ, hân hoan. Tại sao mình không bị dính chùm với nó?
Nó không phải là mình, không phải là tôi, của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó chỉ là uẩn xứ giới. Uẩn là năm uẩn, xứ là mười hai xứ, giới là mười tám giới. Tức căn, trần, thức, tứ đại, ngũ uẩn, vậy làm gì có tôi? Người này hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết, vì phàm phu làm sao biết được? Phàm phu nhận vào một cái ngã, tự ngã rồi.
Cho nên, người luôn luôn tỉnh thức, tỉnh giác và soi xét một cách chính thức, chính xác, chân chánh sự sanh khởi, an trú, sự chấm dứt của tất cả những hình sắc, những cảm giác, những suy nghĩ, những tưởng tượng, những nhận thức này. Thấy được sự sanh khởi và chấm dứt của nó, sẽ được hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết, người đó bất cộng phàm phu, không cùng chung với vô văn phàm phu. Sự thấy biết của họ không giống kẻ phàm phu, đó là pháp của thượng nhân, tri kiến bậc Thánh, Thánh trí, ở đây gọi là khổ Thánh trí. Đó là chúng ta tổng quát, khái quát về trí tuệ, về đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ.
Mình trở lại bài kinh, ông này nghe Đức Phật đáp như vậy rồi, lõa thể Ca Diếp này nói:
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.
Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau”
Chúng ta thấy người xưa chơn chất, hiền hòa mà rất tế nhị, sáng suốt. Ông này chỉ cần nghe Thế Tôn nói: “Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau” ông liền nói:
“Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới.
Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xu ất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến; đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong đời sống hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị này chứng tri: " Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.
Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa”.
Nãy giờ chúng ta đi sơ lược ba bốn bài kinh. Chúng ta đã qua I, II, III rồi, bây giờ bước qua IV “Thánh trí về khổ” . trong bài kinh “Một pháp môn quyết trạch”. Quý thầy quý cô mở bài kinh đó ra, Tăng Chi Bộ Kinh tập Ba:
“Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi?
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ”.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập Ba – Chương Sáu Pháp – Năm mươi Kinh thứ nhất – Phẩm đáng được cung kính - VI Đại Phẩm - Một pháp môn quyết trạch)
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Ngày xưa Minh Thành học mười năm trong trường Phật học và thiền viện mà không hiểu được bao nhiêu về những chữ này. Bây giờ thấy thật thấm thía. Hồi đó nghĩ sinh nhật được người ta chúc mừng tại sao lại khổ? Thành ra hồi xưa mỗi khi giải thích về sanh khổ chỉ phớt phớt qua nhưng bây giờ khi nói tới sanh là khổ thì nước mắt rưng rưng, xúc động. Tại sao sanh là khổ?
Cho nên mới nói trong chúng chúng ta, khóa học kỳ II lần này bắt đầu đào sâu. Khi học được điều này rồi chúng ta mới thấy được Thánh trí huệ về khổ của Đức Phật trùm hết tất cả vũ trụ, vạn vật, thế giới, thân tâm này chứ không phải nỗi khổ thông thường như khi mình gặp người nghèo, đói, thất tình hay phá sản, bị thần kinh. Không phải, tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Minh Thành tính lấy ví dụ một bài kinh nhưng thôi giờ tóm tắt ý.
Trong Tương Ưng Sáu Xứ có bài kinh mà mình đọc sẽ rất bất ngờ, sự sanh khởi, bài kinh số một và số hai:
“Mắt sanh khởi, hiện hữu con mắt này, xuất hiện ra con mắt này là khổ đau sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết xuất hiện. Có mặt, hiện hữu xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh tồn tại, già nua và chết chóc xuất hiện.
Này các Tỳ-kheo, lỗ mũi, lưỡi, thân này được sanh khởi ra, được hiện hữu, được xuất hiện là khổ sanh khởi, là chỗ y cứ cho bệnh tật, ung bướu, ung nhọt, ung hạch, ung thư. Này, các Tỳ-kheo, sự xuất hiện của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này là sự xuất hiện của khổ, sự xuất hiện của bệnh tật, của lo lắng, của sợ hãi, của bất an, tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn, nguy nan. Này các Tỳ-kheo, ý sanh khởi, chỉ sanh, chỉ trú, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết xuất hiện. Này, các Tỳ-kheo, con mắt chấm dứt, dừng lại, chấm dứt, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật, tức ngừng dứt, già chết, diệt tận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý chấm dứt đoạn diệt là khổ đoạn diệt, bệnh tật, chấm dứt già chết, diệt tận”
Sự sanh khởi số hai, sắc sanh khởi, có mặt, hiện hữu, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật, cư trú, già chết xuất hiện. Các tiếng, các hương, các vị các xúc các pháp, chỉ trú xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh, cư trú, già chết xuất hiện, sáu trần chấm dứt, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chấm dứt, già chết tận diệt”
Đọc điều này chúng ta mới thấy thấm thía, học như vầy mới chứng ngộ được khổ Thánh trí. Hồi xưa nói sanh là khổ, mình không biết tại sao, đáng lẽ sanh là mừng, vì được người ta chúc mừng sinh nhật vui vẻ. Một người được sanh ra, hoặc năm mới, có thêm người mới, sinh nhật vui vẻ, tại sao Đức Thế Tôn nói sanh là khổ? Chúng ta nghe lại bài kinh: “Này các Tỳ-kheo, mắt sanh khởi, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, cư trú, già chết xuất hiện”
Bây giờ ba của Minh Thành, một con mắt hoàn toàn không thấy nữa, con còn lại lờ mờ, đi rờ rờ, phải có người dẫn. Hồi xưa mẹ của Minh Thành cũng đi mổ đục thủy tinh thể, mình vô bệnh viện nhìn thấy những người bị cận thị, viễn thị, loạn thị, lé, chột, mù. Khi Minh Thành đi tới những đạo tràng người khiếm thị để chia sẻ pháp, vô cùng xúc động, thấy thương họ. Mình nhìn mà tim nhói, thốn, xót xa. Mắt sanh khởi xuất hiện là khổ, bệnh tật cư trú, già chết xuất hiện. Có bao nhiêu lỗ tai là bấy nhiêu thứ bệnh xuất hiện. Minh Thành cũng đưa mẹ đi mổ tai, có mủ bên trong. Có những người viêm xoang, hỉ mũi ra thấy máu, mủ. Đây là nơi cư trú của vi trùng, virus, vi khuẩn.
Bây giờ mình thấy chỉ cần ho mấy tiếng là về lo lắng, bất an, sợ hãi, ăn không ngon, ngủ không yên, ra bị người ta ho. Gặp nhau phải lo lắng, sợ hãi, nhất là trong thời điểm này để mình nhìn thấy. Sanh là khổ, tiếng khóc oa oa của em bé chứng minh điều gì? Và sự đau đớn, quằn quại thập tử nhất sinh của người mẹ, sự lo lắng, bất an, thấp thỏm của người cha mong cho mẹ tròn con vuông. Khi có một sinh mạng, hình hài rồi, đương nhiên những bệnh tật, già si bao vây. Đó là chưa kể sâu xa bên trong là bao nhiêu tham muốn, sân hận, tranh giành. Nội mưu sinh trong cuộc đời đã bao nhiêu khổ đau rồi.
Mới xảy ra chuyện hết sức đau lòng. Ngoài miền Trung, người cha này thấy nước lũ tràn về, gỗ, củi trôi rất nhiều. Trong khi nhà nghèo quá nên ông chạy về kêu đứa con trai hai mươi mấy tuổi, mới lấy vợ, ở chung nhà. Hai cha con đi ra lấy củi, nước cuốn trôi hết hai cha con. Đó là đi nhặt củi mưu sinh, có những người đi rừng cũng bị thác lũ cuốn trôi, bữa giờ đã chết mấy chục người rồi.
Ngoài miền Trung, ngoài Huế bây giờ, bao nhiêu sự tan nhà nát cửa, lũ lụt, nước dâng cao lên. Mình mới chỉ nói về mưu sinh thôi, quý thầy quý cô đọc thêm Tiểu kinh khổ uẩn và Đại kinh khổ uẩn mà Minh Thành có giảng. Mình nghe kỹ để mở con mắt tuệ, con mắt pháp, mắt pháp của mình ra. Pháp nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, mở con mắt mà Đức Thế Tôn truyền trao cho mình, Thánh nhãn, Thánh trí để nhìn thấu thế giới này, thân tâm này, đời sống này.
Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, dù cho hiện hữu đó là đẹp, xinh, giàu có cỡ nào rồi trong đó cũng là sự lo lắng, bất an, sợ hãi. Bây giờ người giàu virus có sợ không, chức lớn virus có né không, quyền cao virus có chạy không? Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Chúng ta phải nhìn được điều này, mình mới đi sâu vào trong cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, mới thấm thía khổ Thánh trí của Đức Phật chứ không phải nhìn phớt phớt bề ngoài. Tự thể bản chất của thân xác này là ổ chứa nhóm bệnh tật, chỗ cư trú của già chết, hang ổ của sự lo lắng, sợ hãi, bất an, bệnh tật, buồn đau, khổ sầu.
Cho nên Đức Thế Tôn nói: “lỗ tai, mũi, lưỡi xuất hiện, tồn tại là khổ sanh khởi, tật bệnh cư trú, già chết xuất hiện”. Nhưng khi nào bệnh thì bệnh, chết thì chết, lúc đó mình mới bàng hoàng chứ mình không biết rằng khi nó sanh khởi ra thì tử nằm bên trong rồi. “Này, A-nan-đa, tánh già nằm trong tuổi trẻ, bệnh tật ở trong sức khỏe, và cái chết nằm trong sự sống”. Đó là bài kinh “Bệnh”, lúc đó Thế Tôn đã tám mươi tuổi, Ngài vén y để lưng phơi nắng.
Buổi chiều, Ngài A-nan-đa đi tới thấy bàng hoàng, bất ngờ, nói: “Ôi, không ngờ, thật xót xa thưa Thế Tôn, tuổi già làm phai nhạt màu da. Thuở xưa, mắt, tai, mũi, lưỡi, gương mặt của Thế Tôn bóng, căng, láng mịn, trong sáng, tươi đẹp nay đã trở thành mắt mờ, lưng còng, da nhăn, gối mỏi, tóc bạc. Tất cả những gì tươi trẻ, đẹp đẽ, Thế Tôn ngày xưa nay bị tuổi già đánh sập, làm phá sập, sụp đổ. Thật kinh hoàng. Tất cả bị tuổi già phá sập hết, thưa Đức Thế Tôn”.
Thế Tôn nói: “Này, A-nan-đa, bản chất của thân này là như vậy, bản tánh của thân này là như vậy. Này A-nan-đa, cái già nằm trong tuổi trẻ, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, và tánh chết nằm trong sự sống”. Rất xúc động, chúng ta hãy đọc đi, đọc thật nhiều kinh Nikāya mới thấy được sự thật mà cả một cuộc đời, bậc đạo sư, đạo Giác, bậc thế gian tôn kính đã phơi bày, hiển thị, tuyên thuyết, trình bày, khai thị, phân tích, hiển lộ cho chúng ta thấy sự thật về bản chất khổ của tất cả mọi hiện hữu của nhân sinh, cuộc sống, hình hài, của tâm lý, thế giới, của hữu tình, chúng sinh, vạn loại.
Đó, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ. Những điều này chúng ta đã quá hiểu, chiêm nghiệm thêm nữa, đau buồn là khổ, mong cầu không gặp được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ, năm thủ uẩn này mình để dành thì sao? Khi tới tuổi già, muốn đi bên đây nhưng chân quẹo qua bên kia, vào trong toilet có khi trợt té nằm dài trong đó, chết không ai hay. Ở Sài Gòn có bà cụ ở một mình bị té, hàng xóm thấy mấy ngày không mở cửa, người ta lại đập cửa, bốc ra mùi kinh hãi. Khi phá cửa vô bà cụ té chết chỗ cầu thang mấy ngày rồi, đang phân hủy, bốc mùi.
Bây giờ chúng ta chứng kiến thảm cảnh của toàn thế giới, toàn cầu này, đau khổ không thể tưởng tượng, không thể nói hết. Có bao giờ chúng ta tưởng tượng thế giới dường như trống rỗng, trống không, trống trơn. Tất cả mọi người phải co rút lại, trốn tránh, tránh né, lo âu, sợ hãi, bất an. Một trăm mấy chục triệu người trên thế giới hiện nay bị tự kỷ, trầm cảm vì ảnh hưởng tâm lý, tinh thần, điên loạn. Bao nhiêu người tự vẫn, nhảy lầu, nhảy cầu. Cho nên, ngay giờ này mà không thấy khổ thì không biết đến bao giờ mới thấy khổ.
Chúng ta thấy khổ đó, khổ hiện hữu trong mọi lúc, mọi nơi, quán chiếu, mình phải cho trí huệ này thâm nhập, thẩm thấu, ngấm vào từng làn da, thớ thịt của mình, đi vào trong xương tủy, trong mỗi lỗ chân lông của mình. Tới sự ăn cũng khổ, đói cũng khổ, no quá cũng ọc ạch, khổ sở, mà ăn không no cũng khổ. Mình phải nhìn thấy tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, bài này Minh Thành có chia sẻ, mời quý thầy quý cô lên nghe, tựa đề “Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ”.
Chỉ có đi vào trong trí huệ này mình mới thấy hết được sự trình bày Thánh trí về khổ này của Đức Phật. Lúc nãy mình mới chỉ thấy trên lý thuyết, nhận thức, pháp học, còn pháp hành mình thấy được như vậy là tối thiểu, là nhập lưu, tối cao, A-la-hán. Khi thấy khổ rồi mình mới có sự nhàm chán, mới không tham muốn nữa, mới từ bỏ, mới đến sự chấm dứt, mới thoát ra được khỏi ngũ uẩn này. Thể nhập Thánh trí, diệt tham sân si mới thoát ly sanh tử. Mình còn thấy cái này vui lắm, sướng lắm, hay lắm, khoái lắm, thương lắm thì còn xa lắm, xa vời lắm. Đó là những cái khổ, còn ràng buộc trói trăng mình.
Hôm nay chúng ta giới thiệu tổng quát trí tuệ về khổ đau của bậc Thánh chứng ngộ. Đức Thế Tôn trình bày chân tướng của các pháp, không rơi vào hai cực đoan, hoặc có tự ngã, hoặc trống không, không có gì hết. Đức Thế Tôn trình bày do duyên sanh, khổ do ai làm ra? Không phải chính mình làm ra, không phải người khác làm ra, không phải mình và người cộng lại để làm ra, không phải khổ không có, không phải khổ vô nhân vô duyên tự nhiên sanh ra. Không phải, khổ do duyên sanh, do không thấy, không biết về tự thân, ngũ uẩn.
Do không thấy, không biết, không rành tự thân, không rõ, không thấu triệt về bản tính, bản chất, lắp ráp, móc xích vô thường, tan hoại, hoại diệt của năm uẩn nên mình mới bám vào trong đó, cho đó là tôi, của tôi, tự ngã của tôi. Khi đã cho như vậy rồi, trở thành một sự chấp thủ trong năm uẩn. Từ đó, những suy nghĩ, hành động, lời nói của mình tạo theo nghiệp xấu, nghiệp ác rồi tiếp nhận lấy quả báo đau khổ.
Cũng như từ căn, trần, thức tạo thành sự tiếp xúc sanh ra những cảm thọ rồi mình yêu thích, nắm giữ, tạo ra nghiệp. Từ đó sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não hiện hữu. Chúng ta bước qua đầu tiên là Thánh trí về khổ trong bài kinh “Một pháp môn quyết trạch”, chúng ta đang tìm hiểu trí huệ thứ nhất: thế nào là khổ. Chúng ta mới tìm hiểu sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu thương và xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ.
Tóm lại, sự nắm chặt vào hình hài, vật chất này, sự nắm chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là phiền não, khổ đau. Như vậy, năm thủ uẩn là khổ, cũng như tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Từ đó mình mới có một sự nhàm chán, muốn xa lìa, từ bỏ, thoát ra. Đó chính là xuất ly đạo lộ, khổ đoạn diệt, khổ chấm dứt. Đó cũng là con đường thoát mọi khổ đau. Hôm nay là buổi thứ nhất, Minh Thành nhường pháp bảo đến chư tăng ni.
Khổ Thánh Trí I
Khổ Do Ai Làm Ra?
Thích Minh Thành
Ngày 19 tháng 10 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Có và không PAGEREF _Toc88063816 \h 1
II. Khổ do ai làm ra? PAGEREF _Toc88063817 \h 4
III. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc88063818 \h 7
IV. Chấp thủ PAGEREF _Toc88063819 \h 9
I. Có và không
Chư tăng ni sinh chúng ta chắp tay niệm Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa chư tăng ni sinh lớp đào tạo giảng sư, theo chương trình chúng ta bước vào học kỳ II của năm thứ nhất. Qua một học kỳ vừa rồi chúng ta đã học những phần trí tuệ cơ bản, căn bản trong pháp hành của kinh tạng Nikāya. Hôm nay chúng ta qua một vấn đề, bắt đầu đi sâu vào những trí tuệ mà Đức Thế Tôn đã truyền trao trong kinh tạng Nikāya. Minh Thành xin gửi đến quý vị chủ đề về khổ - Khổ Thánh Trí. Tại sao không đề khổ mà là khổ Thánh trí?
Khi chúng ta học sẽ thấy, sự khổ của Đức Phật nói thật sự không thể nào mà mình ngờ được. Lâu nay chúng ta học Khổ Thánh Đế chỉ hiểu chung chung, nhưng nay sẽ thấy rất bất ngờ, không giống như mình hiểu trước nay về khổ, nên có chữ “Thánh trí”, tức trí tuệ của bậc Thánh, thực chứng, chứng ngộ về sự thật khổ đau của thân tâm và thế giới. Chúng ta nhớ rằng, khổ ở đây là được trí của bậc Thánh giác ngộ thấu đáo, chứng ngộ, thấy biết tất cả mọi phương diện, khía cạnh của đời sống của thân tâm, thế giới, ngũ uẩn, của hữu tình, chúng sinh, vạn loài.
Trong phần này có thể chúng ta nêu ra rất nhiều bài kinh, Minh Thành tổng hợp những bài kinh quan trọng, liên hệ đến trí huệ về khổ của bậc Thánh để chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn. Chúng ta nhớ không, ngày học đầu tiên, Minh Thành đã trình bày với chư tăng ni, Đức Thế Tôn xưa nay chỉ nói hai điều: khổ và con đường diệt khổ. Hôm nay cũng là ngày đầu tiên nhưng của học kỳ II, lặp lại vấn đề đó nhưng hôm nay được đào sâu rộng. Chúng ta bắt đầu đi vào những bài kinh, đầu tiên Minh Thành giới thiệu bài trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài “Kaccàyanagotta”.
“Trú ở Sàvatthi (Xá-vệ)...
Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
- " Chánh kiến, chánh kiến", bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập II Thiên nhân duyên - Chương I Tương Ưng nhân duyên - Phẩm Đồ Ăn – Kinh Kaccàyanagotta)
Thế nào mới là “chánh kiến”? Thế nào mới là thấy đúng với sự thấy của bậc Thánh? Thế nào gọi là cái nhìn chính xác, triệt để về sự thật mà Đức Thế Tôn chứng ngộ? Chúng ta thấy chữ “thấy đúng” trong kinh rất sâu sắc chứ không phải chữ “thấy đúng” như mình ở ngoài, cho rằng tôi thấy điều đó là đúng. Chúng ta nhớ phân biệt, những gì trong lời Đức Phật nói, tất cả những gì được đề cập đến đều là cứu cánh cùng cực, rốt ráo viên mãn. Chúng ta nhớ điều này để học kinh Nikāya. Vị Tôn giả này hỏi Thế Tôn thế nào là “thấy đúng”? Thế Tôn mới nói:
“Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có”.
Chỗ này, tuy mình đọc như vầy nhưng hồi xưa Minh Thành đọc không hiểu, học mười lăm năm không hiểu. Mình đào sâu vào trong kinh, nhận diện ngũ uẩn rồi mới thấy nó rất tuyệt diệu. Phần lớn đều rơi vào hai cực đoan: có và không. Mà người thành tựu trí huệ thật sự, người đó không rơi vào hai cực đoan, có hoặc không.
“Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy”.
Phần lớn chúng sanh, hữu tình, thế giới ngũ uẩn này là chấp thủ phương tiện, tức nắm giữ vào những phương tiện, bị thấy biết thiên lệch, nghiêng qua một bên, trói cột, bị cách nhìn nghiêng về một bên trói buộc. Nghiêng về một bên là có hoặc không, đó gọi là thiên kiến, tức sự thấy biết nghiêng lệch, hoặc có, hoặc không.
“Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: " Đây là tự ngã của tôi ". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana là chánh tri kiến”.
Một người không bị nắm chặt, không bị chấp thủ, không bị sự thấy biết nghiêng lệch, không trú trước trong sự thấy đó, tức bám chặt vào sự thấy đó, vị ấy không nghĩ rằng đây là tự ngã của tôi. Cho nên, khi khổ sanh khởi lên, vị ấy không xem đó là tôi khổ, mà xem là khổ sanh khởi, khi khổ sanh thời xem là sanh, khổ diệt thời xem là diệt. Tức vị ấy thấy sự khổ đó là pháp sanh diệt.
Chúng ta nhận diện ngũ uẩn rồi, thực tập quán chiếu các cảm thọ rồi, mình biết đó chỉ là một cảm thọ, cảm xúc. Cảm xúc đó do duyên xúc sanh thọ, do tiếp xúc sanh ra cảm giác khổ, đó là pháp khổ đó sanh, khi cảm thọ đó sanh hết rồi thì diệt. Người thấy được có một cảm giác khổ sanh khởi, và cảm giác khổ này bây giờ khổ này chấm dứt. Đó gọi là vị Chánh kiến, không thấy có một cái tôi đang khổ, tôi bị khổ, tôi chịu khổ, mà thấy rằng khổ này là một pháp sanh lên rồi diệt xuống. Do tiếp xúc mà sanh ra cảm thọ khổ này.
Đó là pháp vận hành, pháp sanh khởi, chấm dứt và đoạn diệt chứ không có một cái tự ngã – tức tôi khổ. Đây là phần sâu sắc nhưng mình giới thiệu tổng quát trước. Thấy được như vậy, “ vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy”. Không còn nghi ngờ, không còn phân vân gì nữa đối với ngũ uẩn, đối với các xúc, thọ, ái, sự tiếp xúc sanh khởi ra các cảm thọ, và cảm thọ này là vui hay khổ, sanh rồi diệt. Vị này thấy rõ đây là sanh diệt pháp, không có tự ngã, không có một cái tôi, không có của tôi bên trong. Thấy được như vậy một cách rõ ràng, xác quyết, chân xác, không phân vân, không nghi ngờ, không dựa vào ai khác, đó là trí của tự thân. Như vậy gọi là Chánh tri kiến.
Ở đây giải thích một chút về chữ có và không. Hồi nãy nói về thế giới, nhưng nhiều khi nói như vậy mình mường tượng, khó hiểu. Chẳng hạn bây giờ về sự khổ, nhiều người nói có, mình học riết mình nói là không. Cũng như Quán tự tại Bồ Tát thành tâm bát nhã ba la mật đa chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Nếu không tại sao mình khổ, tại sao mình thèm, tại sao mình bị dục ái sai khiến, bị tham ái hành hạ, bị đau khổ với tình ái đó. Sự sân hận đó có không? Không tại sao mình nổi giận, tại sao mình tham dữ vậy? Tại sao ai đụng tới mình phừng phừng cái tôi của mình lên? Đây chúng ta mới thấy được chỗ sâu sắc.
"Tất cả là có", này Kaccàyana, là một cực đoan. " Tất cả là không có " là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo”.
II. Khổ do ai làm ra?
Như thế nào là thuyết pháp theo trung đạo, chúng ta bước qua bài kinh thứ hai, kinh “Lõa thể”:
“Như vầy tôi nghe.Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ràjagaha để khất thực.
Lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Sau khi thấy, lõa thể Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên.
Đứng một bên, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
- Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
Lần thứ hai, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
- Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
Lần thứ ba, lõa thể Kassapa... (như trên)... Chúng ta đã vào trong làng.
Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Nhưng không phải chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama nhiều chuyện.
- Vậy hãy hỏi đi, này Kassapa, như Ông muốn.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do tự mình làm ra?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa.
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?
Thế Tôn đáp:
- Không phải vậy, này Kassapa”.
Vậy khổ do đâu? Vấn đề này cực kỳ thâm sâu, sâu sắc, mà có khi mình ở trong chùa, ăn hết gạo cũng chưa thấy được, chưa thành tựu trí tuệ này nếu mình không nương theo Đức Phật. Mình là ra cũng không phải, người ta làm ra cũng không phải, bây giờ nhập chung lại, vừa mình vừa người làm ra Đức Thế Tôn nói cũng không phải.
“Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?
- Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa.
Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ.
- Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ.
Được hỏi: " Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra ", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa. Được hỏi:" Tôn giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra? " Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa". Được hỏi: " Tôn giả Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra?", Ngài trả lời: " Không phải vậy, này Kassapa ". Được hỏi: "Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?", Ngài trả lời: "Không phải vậy, này Kassapa ". Được hỏi: "Tôn giả Gotama, có phải khổ không có? ", Ngài trả lời: "Không phải khổ không có. Khổcó, này Kassapa". Được hỏi: "Như vậy Tôn giả Gotama, không biết, không thấy khổ?
Ngài trả lời: " Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ ".
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết cho con về khổ”.
Chúng ta chiêm nghiệm một chút đi ạ. Đức Phật bây giờ mới bắt đầu trả lời:
“Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như Ông gọi ban đầu " khổ do tự mình làm ra ", như vậy có nghĩa là thường kiến. Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảm thọ, được xảy ra như: " Khổ do người khác làm ra ", như vậy có nghĩa là đoạn kiến”
Vì tất cả đều không phải của mình mà là của người khác, là bên ngoài. Cái kia tất cả do mình, cái nọ đổ cho người ta hết. Đó là chấp đoạn, đoạn kiến.
“Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.
Đó là từ bỏ có không, xuống dưới này là mình và người, nói như vậy là một chiều, cực đoan, nói một khía cạnh, không đầy đủ tất cả. Mình nói ví dụ dễ hiểu: như một căn nhà lục giác hay bát giác nhưng mình chỉ nhìn hai góc là không được. Căn nhà bát giác – tám cạnh mà mình chỉ hai, còn sáu cạnh kia thì sao? Như vậy là cực đoan, thấy biết nghiêng lệch, góc cạnh, không phải sự thấy biết đầy đủ, đồng đều, trọn vẹn, viên mãn tất cả mọi góc độ, khía cạnh của đau khổ, “từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.
Trung đạo đó là gì, chúng ta không nói hết, mười hai nhân duyên chỉ tóm thâu vài mắc xích quan trọng để thấy được trí huệ tuyệt cùng của Đức Phật. Ngài nói khổ do duyên sanh pháp, đầu tiên mình nói không thấy, không biết, vậy tự thân chúng ta không thấy, không biết về ngũ uẩn. Bây giờ nếu như nói mình tự làm mình khổ, tức tự ngã, có pháp khổ đó thật. Như vậy thành ra chấp thường, thường kiến. Còn nếu nói mình và người kia không dính dáng gì, ở đâu lại đổ cho mình là đoạn kiến. Có trường hợp nữa là không có khổ, làm sao không có khổ được? Mà nếu có khổ cũng không được, vì nó là pháp duyên sanh nên mình mới có thể đoạn diệt được nó. Nếu nó có thật làm sao mình đoạn diệt nó được? Nếu khổ là tự thể, bất biến, thường hằng, thường trú làm sao mình diệt nó được?
Cho nên, nói nó không là phủ nhận nó, phủ nhận sự khổ. Còn nói nó có, tức nó có thật, vậy làm sao mình lìa khổ được? Rồi bây giờ mình nói tự nhiên nó có, vậy là vô minh, phái tự nhiên của ngoại đạo. Không có gì tự nhiên, nó đều có nhân quả, nhân duyên, có duyên có khởi, cái này có là cái kia có, cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia không, cái này diệt cái kia diệt. Cho nên, “từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo”.
III. Duyên sanh pháp
Trung đạo là duyên sanh pháp, là duyên khởi pháp. Duyên khởi lên là gì? Tại sao mình khổ? Không thấy, không biết thân tâm mình, tức không thấy không biết ngũ uẩn. Chính vì không thấy không biết ngũ uẩn nên vô minh duyên hành, mình mới có thân hành, khẩu hành, ý hành. Sai lầm, không biết ngũ uẩn, nó là vô thường, là duyên sanh, hoại diệt, không thấy không biết vô minh, không thấy không biết bản chất của ngũ uẩn.
Nó là sự lắp ráp, là bộ máy, những mắc xích, sự kết hợp, là vô thường, biến hoại, tan hợp, đổi dời, là thiên lưu, sanh diệt mà mình lại cho nó là mình. Chính chỗ không thấy không biết bản chất của ngũ uẩn, mình nghĩ, nói và làm đều là sai quấy, tạo thành ba ác hành: thân hành, khẩu hành, ý hành. Chúng ta thấy không, từ điều này tạo ra nghiệp. Mình nói đơn giản như mười hai nhân duyên để dịp khác chúng ta đào sâu. Nó tạo ra hành nghiệp, từ nghiệp phải chịu quả báo của khổ, đó là mình nói đơn giản, mà mình không thấy không biết.
Nó là ngũ uẩn mà mình cho người kia là: “nó mắng tôi, đánh tôi, cướp tôi”. Ai thuộc bài kệ đó?
“Nó mắng tôi, đánh tôi
Nó thắng tôi, cướp tôi
Ai ôm hiềm hận ấy
Hận thù không thể nguôi”
Bài kệ số 3 – Kinh pháp cú
Nếu nghĩ như vậy, bây giờ nó đánh tôi, mắng tôi, cướp tôi, giết tôi, hại tôi. Mình nói ra lời ác, làm việc bất thiện, nghĩ những điều sân hận, đương nhiên tạo ra nghiệp mình phải có quả báo khổ. Có phải sự khổ này là kết quả của dòng chuỗi duyên sanh pháp, chứ không thể tự mình đổ hết cho người ta, hay cả hai kết hợp. Mà đầu sỏ của nó là gì? Vô minh, tham ái là hai thứ căn bản. Vô minh, tham ái và chấp thủ là những thứ làm ra khổ chứ không phải do ai, do các pháp vận hành.
Hôm trước mình học căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy một chuỗi này là ai? Con mắt nhìn thấy món đồ đẹp, có sự rõ biết món đồ đó quý, mắc tiền. Ba pháp này hội tụ với nhau, gặp gỡ nhau, sanh ra cảm giác thích, khoái, muốn lấy. Ăn trộm lấy món đồ đó, sau đó thì sao? Bị bắt vô tù, đó là sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy do ai làm? Ai làm ra kết quả đau khổ khi ngồi trong tù, khi bị bắt?
Tất cả pháp duyên sanh là mắc xích, nó kết hợp, dẫn dắt, là một chuỗi dài, do cái này có nên cái kia có. Do có mắt nên thấy món đồ, sự rõ biết hội tụ lại với nhau, sanh ra cảm giác yêu thích, muốn nắm giữ, lấy của người khác. Và hậu quả của nó là sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, cái này có sanh ra cái kia có, nói tóm gọn lại là từ vô minh và tham ái, chấp thủ.
Chúng ta thấy được tại sao mình khổ chưa? Thấy khổ do ai làm ra chưa? Không do ai hết, nếu có một thứ, đó là tự ngã. Đó là chỗ thâm sâu của Thánh trí, cái này có thì cái kia có, cái này sanh cái kia sanh, cái này không cái kia cũng không, cái này diệt cái kia diệt chứ không có ai. Cho nên bây giờ nếu như mình nói rằng không có khổ tức phủ nhận sự thật, còn nói có khổ thật sự cũng là chấp thường, chấp đoạn với chấp thường, chấp có với chấp không. Mà trước nay mình nhìn vấn đề như thế nào? Có phải nghĩ do có người làm cho mình khổ không? Đó là vô minh, là không thành tựu khổ Thánh trí – trí huệ về khổ mình chưa thành tựu.
Mình thấy được do vô minh kết hợp với tham ái, không thấy, không biết bản chất của các pháp nên nó yêu thích rồi mới có ra những hành động mê lầm, tạo nghiệp rồi sanh quả báo khổ. Như vậy, nguồn gốc, căn nguyên của khổ đau là do các thứ đó chứ không do ai. Do sự không thấy, không biết, tâm u mê, si ám, tâm không nhận rõ, tỏ tường. Từ sự không rõ, không tỏ tường đó mới có suy nghĩ sai lầm, lời nói bất thiện, có những hành động ác, tạo ra các nghiệp, tương thích lấy những quả báo tương ứng của nó là khổ đau.
Đó là sự thấy biết của bậc Thánh về khổ. Khi mình xác quyết một vấn đề, khổ do tự tôi làm tôi khổ tức mình xác định có tự ngã, có tôi, có một pháp khổ đó. Khổ làm sao tự nhiên có được? Do duyên có thân này, có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý rồi mới có sự tiếp xúc, sắc, thân, hương, vị, xúc, pháp, mới có sự giao thoa, xúc chạm, sanh ra cảm xúc, cảm giác yêu thích hoặc sân hận. Yêu thích mình gọi là vui, sân hận mình gọi là khổ. Như vậy, các pháp vận hành, khống chế, đó là pháp duyên sanh. Chúng ta trở lại bài kinh lúc nãy, rất sâu sắc và vi diệu vô cùng.
IV. Chấp thủ
“Này Kaccàyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy.
Và ai với tâm không trú trước, chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: " Đây là tự ngã của tôi ". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccàyana là chánh tri kiến”.
Không gắn cái tôi khổ vô đó, mà khổ là một thứ sanh lên rồi hoại diệt. người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn được hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết. Người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn, làm gì có cái tôi, nó là năm uẩn mà? Khi không thấy năm uẩn, lúc đó mình thấy một cái tôi, khi thấy một cái tôi, lúc đó mình không thấy năm uẩn. Cho nên:
“Người luôn luôn Chánh niệm
Sự sanh diệt các uẩn
Được hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết”
Bài kệ số 374 – Kinh pháp cú
Tức thường xuyên nhận diện năm uẩn, nên nói thấy năm uẩn tức thấy Phật là vì vậy, thấy năm uẩn là thấy Pháp. Vì khi mình nhìn ra năm tổ hợp đó, nó không có một cái tôi bên trong, lúc nào mình thấy một cái tôi, lúc đó mình còn thấy năm tổ hợp không? Thành ra, thấy năm uẩn là thấy Phật, thấy năm uẩn là thấy Pháp, thấy năm uẩn lúc đó là Thánh trí. Mà mình quên năm uẩn, chỉ thấy có một cái tôi, tự ngã, có ta, có tao, có mình, có người, có mi, có bỉ, có thử… Lúc đó là phàm phu.
Cho nên, đối với người trí, “Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt”. Khổ này từ đâu có? Từ tai – căn, âm thanh – trần, sự rõ biết âm thanh – thức. Ba pháp này giao thoa lại, sự tiếp xúc của tai, chúng ta đã học duyên sanh pháp rồi, xúc sanh khởi ra cảm thọ. Từ tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, sanh khởi ra cảm thọ, cảm thọ đó nếu khó chịu, bực bội mình sẽ sân lên, sinh ra khổ.
Vậy, khổ đó là một pháp được sanh, do một chuỗi dài, móc xích, liên hệ của các nhân, các duyên, chứ đâu có khổ sẵn. Tự nhiên ra nhìn thấy hoặc nghe điện thoại liền tức lên, như vậy mình nghĩ rằng tôi đang giận, tôi đang tức – vô minh, phàm phu, không thấy pháp. Biết rằng đang có một cảm thọ khó chịu, sân sanh khởi. Và cảm thọ này đang có mặt, nhưng nó không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đây là một thọ khổ đang sanh khởi, hiện tại nó chưa hết, đang an trú. Mình biết khổ thọ này đang an trú. Một lát nó lắng dịu xuống, tan hết, mình biết khổ thọ này chấm dứt, đó là khổ sanh, khổ diệt chứ không hề có người chịu khổ hay người đang khổ.
Cho nên chúng ta thấy không, nếu không nhận diện năm uẩn về vấn đề này, không quán chiếu cảm thọ, không tác ý làm sao chúng ta thoát ra nổi. Mình dính chùm bên trong, năm cái này dính lại với nhau, nắm lại thành nắm tay. Đây là một cái tự ngã, nhìn thấy sợ chưa? Còn bây giờ mở ra, có năm nhóm, năm tổ hợp, rời rạc. Trí huệ phân tích rất tuyệt diệu, trong kinh thường có những bài kinh phân tích. Bên ngoài là da, trong này thịt, gân, xương, máu, bao nhiêu tế bào.
Chưa nói tới năm, mỗi một cái trong này còn bao nhiêu thứ bên trong nữa. Nó phải nuôi dưỡng hằng ngày, được ăn, được uống, được thở, bài tiết ra như thế nào hằng ngày, từng lỗ chân lông ra sao, máu huyết lưu thông tuần hoàn như thế nào, hô hấp làm sao? Nếu không ngón tay còn không có, tại sao có một bàn tay? Từ sự việc đó mình phải quán chiếu thâm sâu. Một uẩn – sắc uẩn còn không có, do tứ đại hợp thành. Trong mỗi một đại như vậy còn bao nhiêu thứ kết hợp nữa, làm gì có một cái gọi là tôi. Sự quán chiếu thâm sâu như vậy, tất cả là một cực đoan.
“" Tất cả là có ", này Kaccàyana, là một cực đoan. " Tất cả là không có " là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
Vô minh duyên hành. Hành duyên thức... (như trên)... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi”.
Ái, thủ, khổ, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, một chuỗi dài nhân duyên kết hợp, lắp ráp, móc xích của các pháp, không có một tự thể, tự ngã, không có tôi, cái tôi nào bên trong cả. Sự thấy biết về khổ như vậy Đức Thế Tôn gọi là Chánh kiến – thấy đúng về khổ của bậc Thánh nhân. Đây là nói tổng quát, mình trở lại bài kinh:
“Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
- " Chánh kiến, chánh kiến ", bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là Chánh kiến?
Này Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có”.
Có là thật, không là trống không, thực tướng của nó không phải vậy, thực tướng của nó là duyên sanh. Bây giờ thân mình đây là có hay không? Mình nói không là phủ nhận, mình nói có là nó có thật, có tự ngã, mình phải nhìn được như vậy.
“Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có.
Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có”
Mình thay chữ vào sẽ rõ liền, ai với trí tuệ thấy một cách chính xác thân thể này được sanh khởi ra, vị ấy không chấp nhận thân này là không có. Ai với trí tuệ chân chánh thấy một cách chính xác thân thể này chấm dứt, vị ấy không chấp nhận thân thể này là có. Bây giờ lấy một ví dụ sẽ rõ ràng ngay: con nít mới lọt lòng mẹ khóc oa oa, mình nói không có được không? Có, mới sanh ra, cho nên về Chánh trí huệ, vị ấy không chấp nhận thân này là không có. Bây giờ tắt thở nằm trên giường, đẩy vô lò thiêu thành đống tro rồi, mình có thể nói cái này có được không? Không được.
Như vậy, nhân duyên hội hộp có ra nhân duyên ly tán, hoại diệt “Duyên tụ như sanh, duyên tán như tử”. Đủ nhân, đủ duyên sẽ hình thành, sanh khởi ra pháp đó, nhân duyên không đủ sẽ rã nát, hoại diệt, chấm dứt. Như vậy:
““Người luôn luôn Chánh niệm
Sự sanh diệt các uẩn
Được hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết”
Người luôn luôn Chánh niệm, tức người đó luôn luôn nhớ một cách chân chánh về ngũ uẩn này, nghĩ nhớ, nhìn ngắm, soi xét, quán chiếu, thấu rõ một cách chân chánh sự sanh và diệt của sắc, của hình hài này, của những cảm giác này, hình bóng này, những suy nghĩ, nhận thức này. Mình đã nhìn thấy được sự sanh khởi, vận hành và chấm dứt của nó. Người luôn luôn tỉnh thức và Chánh niệm, thấy được sự an trú, hoại diệt của các uẩn, được hoan hỉ, hân hoan. Tại sao mình không bị dính chùm với nó?
Nó không phải là mình, không phải là tôi, của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó chỉ là uẩn xứ giới. Uẩn là năm uẩn, xứ là mười hai xứ, giới là mười tám giới. Tức căn, trần, thức, tứ đại, ngũ uẩn, vậy làm gì có tôi? Người này hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết, vì phàm phu làm sao biết được? Phàm phu nhận vào một cái ngã, tự ngã rồi.
Cho nên, người luôn luôn tỉnh thức, tỉnh giác và soi xét một cách chính thức, chính xác, chân chánh sự sanh khởi, an trú, sự chấm dứt của tất cả những hình sắc, những cảm giác, những suy nghĩ, những tưởng tượng, những nhận thức này. Thấy được sự sanh khởi và chấm dứt của nó, sẽ được hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết, người đó bất cộng phàm phu, không cùng chung với vô văn phàm phu. Sự thấy biết của họ không giống kẻ phàm phu, đó là pháp của thượng nhân, tri kiến bậc Thánh, Thánh trí, ở đây gọi là khổ Thánh trí. Đó là chúng ta tổng quát, khái quát về trí tuệ, về đau khổ của bậc Thánh chứng ngộ.
Mình trở lại bài kinh, ông này nghe Đức Phật đáp như vậy rồi, lõa thể Ca Diếp này nói:
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.
Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau”
Chúng ta thấy người xưa chơn chất, hiền hòa mà rất tế nhị, sáng suốt. Ông này chỉ cần nghe Thế Tôn nói: “Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau” ông liền nói:
“Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới.
Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xu ất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến; đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong đời sống hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị này chứng tri: " Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.
Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa”.
Nãy giờ chúng ta đi sơ lược ba bốn bài kinh. Chúng ta đã qua I, II, III rồi, bây giờ bước qua IV “Thánh trí về khổ” . trong bài kinh “Một pháp môn quyết trạch”. Quý thầy quý cô mở bài kinh đó ra, Tăng Chi Bộ Kinh tập Ba:
“Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên gì đã được nói như vậy?
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi?
Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ”.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập Ba – Chương Sáu Pháp – Năm mươi Kinh thứ nhất – Phẩm đáng được cung kính - VI Đại Phẩm - Một pháp môn quyết trạch)
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Ngày xưa Minh Thành học mười năm trong trường Phật học và thiền viện mà không hiểu được bao nhiêu về những chữ này. Bây giờ thấy thật thấm thía. Hồi đó nghĩ sinh nhật được người ta chúc mừng tại sao lại khổ? Thành ra hồi xưa mỗi khi giải thích về sanh khổ chỉ phớt phớt qua nhưng bây giờ khi nói tới sanh là khổ thì nước mắt rưng rưng, xúc động. Tại sao sanh là khổ?
Cho nên mới nói trong chúng chúng ta, khóa học kỳ II lần này bắt đầu đào sâu. Khi học được điều này rồi chúng ta mới thấy được Thánh trí huệ về khổ của Đức Phật trùm hết tất cả vũ trụ, vạn vật, thế giới, thân tâm này chứ không phải nỗi khổ thông thường như khi mình gặp người nghèo, đói, thất tình hay phá sản, bị thần kinh. Không phải, tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Minh Thành tính lấy ví dụ một bài kinh nhưng thôi giờ tóm tắt ý.
Trong Tương Ưng Sáu Xứ có bài kinh mà mình đọc sẽ rất bất ngờ, sự sanh khởi, bài kinh số một và số hai:
“Mắt sanh khởi, hiện hữu con mắt này, xuất hiện ra con mắt này là khổ đau sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết xuất hiện. Có mặt, hiện hữu xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh tồn tại, già nua và chết chóc xuất hiện.
Này các Tỳ-kheo, lỗ mũi, lưỡi, thân này được sanh khởi ra, được hiện hữu, được xuất hiện là khổ sanh khởi, là chỗ y cứ cho bệnh tật, ung bướu, ung nhọt, ung hạch, ung thư. Này, các Tỳ-kheo, sự xuất hiện của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này là sự xuất hiện của khổ, sự xuất hiện của bệnh tật, của lo lắng, của sợ hãi, của bất an, tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn, nguy nan. Này các Tỳ-kheo, ý sanh khởi, chỉ sanh, chỉ trú, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết xuất hiện. Này, các Tỳ-kheo, con mắt chấm dứt, dừng lại, chấm dứt, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật, tức ngừng dứt, già chết, diệt tận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý chấm dứt đoạn diệt là khổ đoạn diệt, bệnh tật, chấm dứt già chết, diệt tận”
Sự sanh khởi số hai, sắc sanh khởi, có mặt, hiện hữu, xuất hiện là khổ sanh khởi, bệnh tật, cư trú, già chết xuất hiện. Các tiếng, các hương, các vị các xúc các pháp, chỉ trú xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh, cư trú, già chết xuất hiện, sáu trần chấm dứt, diệt tận là khổ đoạn diệt, bệnh tật chấm dứt, già chết tận diệt”
Đọc điều này chúng ta mới thấy thấm thía, học như vầy mới chứng ngộ được khổ Thánh trí. Hồi xưa nói sanh là khổ, mình không biết tại sao, đáng lẽ sanh là mừng, vì được người ta chúc mừng sinh nhật vui vẻ. Một người được sanh ra, hoặc năm mới, có thêm người mới, sinh nhật vui vẻ, tại sao Đức Thế Tôn nói sanh là khổ? Chúng ta nghe lại bài kinh: “Này các Tỳ-kheo, mắt sanh khởi, xuất sanh, xuất hiện là khổ sanh khởi, tật bệnh chỉ trú, cư trú, già chết xuất hiện”
Bây giờ ba của Minh Thành, một con mắt hoàn toàn không thấy nữa, con còn lại lờ mờ, đi rờ rờ, phải có người dẫn. Hồi xưa mẹ của Minh Thành cũng đi mổ đục thủy tinh thể, mình vô bệnh viện nhìn thấy những người bị cận thị, viễn thị, loạn thị, lé, chột, mù. Khi Minh Thành đi tới những đạo tràng người khiếm thị để chia sẻ pháp, vô cùng xúc động, thấy thương họ. Mình nhìn mà tim nhói, thốn, xót xa. Mắt sanh khởi xuất hiện là khổ, bệnh tật cư trú, già chết xuất hiện. Có bao nhiêu lỗ tai là bấy nhiêu thứ bệnh xuất hiện. Minh Thành cũng đưa mẹ đi mổ tai, có mủ bên trong. Có những người viêm xoang, hỉ mũi ra thấy máu, mủ. Đây là nơi cư trú của vi trùng, virus, vi khuẩn.
Bây giờ mình thấy chỉ cần ho mấy tiếng là về lo lắng, bất an, sợ hãi, ăn không ngon, ngủ không yên, ra bị người ta ho. Gặp nhau phải lo lắng, sợ hãi, nhất là trong thời điểm này để mình nhìn thấy. Sanh là khổ, tiếng khóc oa oa của em bé chứng minh điều gì? Và sự đau đớn, quằn quại thập tử nhất sinh của người mẹ, sự lo lắng, bất an, thấp thỏm của người cha mong cho mẹ tròn con vuông. Khi có một sinh mạng, hình hài rồi, đương nhiên những bệnh tật, già si bao vây. Đó là chưa kể sâu xa bên trong là bao nhiêu tham muốn, sân hận, tranh giành. Nội mưu sinh trong cuộc đời đã bao nhiêu khổ đau rồi.
Mới xảy ra chuyện hết sức đau lòng. Ngoài miền Trung, người cha này thấy nước lũ tràn về, gỗ, củi trôi rất nhiều. Trong khi nhà nghèo quá nên ông chạy về kêu đứa con trai hai mươi mấy tuổi, mới lấy vợ, ở chung nhà. Hai cha con đi ra lấy củi, nước cuốn trôi hết hai cha con. Đó là đi nhặt củi mưu sinh, có những người đi rừng cũng bị thác lũ cuốn trôi, bữa giờ đã chết mấy chục người rồi.
Ngoài miền Trung, ngoài Huế bây giờ, bao nhiêu sự tan nhà nát cửa, lũ lụt, nước dâng cao lên. Mình mới chỉ nói về mưu sinh thôi, quý thầy quý cô đọc thêm Tiểu kinh khổ uẩn và Đại kinh khổ uẩn mà Minh Thành có giảng. Mình nghe kỹ để mở con mắt tuệ, con mắt pháp, mắt pháp của mình ra. Pháp nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, mở con mắt mà Đức Thế Tôn truyền trao cho mình, Thánh nhãn, Thánh trí để nhìn thấu thế giới này, thân tâm này, đời sống này.
Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, dù cho hiện hữu đó là đẹp, xinh, giàu có cỡ nào rồi trong đó cũng là sự lo lắng, bất an, sợ hãi. Bây giờ người giàu virus có sợ không, chức lớn virus có né không, quyền cao virus có chạy không? Tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Chúng ta phải nhìn được điều này, mình mới đi sâu vào trong cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, mới thấm thía khổ Thánh trí của Đức Phật chứ không phải nhìn phớt phớt bề ngoài. Tự thể bản chất của thân xác này là ổ chứa nhóm bệnh tật, chỗ cư trú của già chết, hang ổ của sự lo lắng, sợ hãi, bất an, bệnh tật, buồn đau, khổ sầu.
Cho nên Đức Thế Tôn nói: “lỗ tai, mũi, lưỡi xuất hiện, tồn tại là khổ sanh khởi, tật bệnh cư trú, già chết xuất hiện”. Nhưng khi nào bệnh thì bệnh, chết thì chết, lúc đó mình mới bàng hoàng chứ mình không biết rằng khi nó sanh khởi ra thì tử nằm bên trong rồi. “Này, A-nan-đa, tánh già nằm trong tuổi trẻ, bệnh tật ở trong sức khỏe, và cái chết nằm trong sự sống”. Đó là bài kinh “Bệnh”, lúc đó Thế Tôn đã tám mươi tuổi, Ngài vén y để lưng phơi nắng.
Buổi chiều, Ngài A-nan-đa đi tới thấy bàng hoàng, bất ngờ, nói: “Ôi, không ngờ, thật xót xa thưa Thế Tôn, tuổi già làm phai nhạt màu da. Thuở xưa, mắt, tai, mũi, lưỡi, gương mặt của Thế Tôn bóng, căng, láng mịn, trong sáng, tươi đẹp nay đã trở thành mắt mờ, lưng còng, da nhăn, gối mỏi, tóc bạc. Tất cả những gì tươi trẻ, đẹp đẽ, Thế Tôn ngày xưa nay bị tuổi già đánh sập, làm phá sập, sụp đổ. Thật kinh hoàng. Tất cả bị tuổi già phá sập hết, thưa Đức Thế Tôn”.
Thế Tôn nói: “Này, A-nan-đa, bản chất của thân này là như vậy, bản tánh của thân này là như vậy. Này A-nan-đa, cái già nằm trong tuổi trẻ, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, và tánh chết nằm trong sự sống”. Rất xúc động, chúng ta hãy đọc đi, đọc thật nhiều kinh Nikāya mới thấy được sự thật mà cả một cuộc đời, bậc đạo sư, đạo Giác, bậc thế gian tôn kính đã phơi bày, hiển thị, tuyên thuyết, trình bày, khai thị, phân tích, hiển lộ cho chúng ta thấy sự thật về bản chất khổ của tất cả mọi hiện hữu của nhân sinh, cuộc sống, hình hài, của tâm lý, thế giới, của hữu tình, chúng sinh, vạn loại.
Đó, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ. Những điều này chúng ta đã quá hiểu, chiêm nghiệm thêm nữa, đau buồn là khổ, mong cầu không gặp được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ, năm thủ uẩn này mình để dành thì sao? Khi tới tuổi già, muốn đi bên đây nhưng chân quẹo qua bên kia, vào trong toilet có khi trợt té nằm dài trong đó, chết không ai hay. Ở Sài Gòn có bà cụ ở một mình bị té, hàng xóm thấy mấy ngày không mở cửa, người ta lại đập cửa, bốc ra mùi kinh hãi. Khi phá cửa vô bà cụ té chết chỗ cầu thang mấy ngày rồi, đang phân hủy, bốc mùi.
Bây giờ chúng ta chứng kiến thảm cảnh của toàn thế giới, toàn cầu này, đau khổ không thể tưởng tượng, không thể nói hết. Có bao giờ chúng ta tưởng tượng thế giới dường như trống rỗng, trống không, trống trơn. Tất cả mọi người phải co rút lại, trốn tránh, tránh né, lo âu, sợ hãi, bất an. Một trăm mấy chục triệu người trên thế giới hiện nay bị tự kỷ, trầm cảm vì ảnh hưởng tâm lý, tinh thần, điên loạn. Bao nhiêu người tự vẫn, nhảy lầu, nhảy cầu. Cho nên, ngay giờ này mà không thấy khổ thì không biết đến bao giờ mới thấy khổ.
Chúng ta thấy khổ đó, khổ hiện hữu trong mọi lúc, mọi nơi, quán chiếu, mình phải cho trí huệ này thâm nhập, thẩm thấu, ngấm vào từng làn da, thớ thịt của mình, đi vào trong xương tủy, trong mỗi lỗ chân lông của mình. Tới sự ăn cũng khổ, đói cũng khổ, no quá cũng ọc ạch, khổ sở, mà ăn không no cũng khổ. Mình phải nhìn thấy tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, bài này Minh Thành có chia sẻ, mời quý thầy quý cô lên nghe, tựa đề “Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ”.
Chỉ có đi vào trong trí huệ này mình mới thấy hết được sự trình bày Thánh trí về khổ này của Đức Phật. Lúc nãy mình mới chỉ thấy trên lý thuyết, nhận thức, pháp học, còn pháp hành mình thấy được như vậy là tối thiểu, là nhập lưu, tối cao, A-la-hán. Khi thấy khổ rồi mình mới có sự nhàm chán, mới không tham muốn nữa, mới từ bỏ, mới đến sự chấm dứt, mới thoát ra được khỏi ngũ uẩn này. Thể nhập Thánh trí, diệt tham sân si mới thoát ly sanh tử. Mình còn thấy cái này vui lắm, sướng lắm, hay lắm, khoái lắm, thương lắm thì còn xa lắm, xa vời lắm. Đó là những cái khổ, còn ràng buộc trói trăng mình.
Hôm nay chúng ta giới thiệu tổng quát trí tuệ về khổ đau của bậc Thánh chứng ngộ. Đức Thế Tôn trình bày chân tướng của các pháp, không rơi vào hai cực đoan, hoặc có tự ngã, hoặc trống không, không có gì hết. Đức Thế Tôn trình bày do duyên sanh, khổ do ai làm ra? Không phải chính mình làm ra, không phải người khác làm ra, không phải mình và người cộng lại để làm ra, không phải khổ không có, không phải khổ vô nhân vô duyên tự nhiên sanh ra. Không phải, khổ do duyên sanh, do không thấy, không biết về tự thân, ngũ uẩn.
Do không thấy, không biết, không rành tự thân, không rõ, không thấu triệt về bản tính, bản chất, lắp ráp, móc xích vô thường, tan hoại, hoại diệt của năm uẩn nên mình mới bám vào trong đó, cho đó là tôi, của tôi, tự ngã của tôi. Khi đã cho như vậy rồi, trở thành một sự chấp thủ trong năm uẩn. Từ đó, những suy nghĩ, hành động, lời nói của mình tạo theo nghiệp xấu, nghiệp ác rồi tiếp nhận lấy quả báo đau khổ.
Cũng như từ căn, trần, thức tạo thành sự tiếp xúc sanh ra những cảm thọ rồi mình yêu thích, nắm giữ, tạo ra nghiệp. Từ đó sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não hiện hữu. Chúng ta bước qua đầu tiên là Thánh trí về khổ trong bài kinh “Một pháp môn quyết trạch”, chúng ta đang tìm hiểu trí huệ thứ nhất: thế nào là khổ. Chúng ta mới tìm hiểu sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu thương và xa lìa là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ.
Tóm lại, sự nắm chặt vào hình hài, vật chất này, sự nắm chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là phiền não, khổ đau. Như vậy, năm thủ uẩn là khổ, cũng như tất cả mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Từ đó mình mới có một sự nhàm chán, muốn xa lìa, từ bỏ, thoát ra. Đó chính là xuất ly đạo lộ, khổ đoạn diệt, khổ chấm dứt. Đó cũng là con đường thoát mọi khổ đau. Hôm nay là buổi thứ nhất, Minh Thành nhường pháp bảo đến chư tăng ni.