Bước Đầu Tu Học
Bước Đầu Tu Học
Thích Minh Thành
Ngày 13 tháng 09 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ba loại cảm thọ PAGEREF _Toc84255682 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc84255683 \h 6
I. Ba loại cảm thọ
Kính bạch chư tăng ni cùng toàn thể quý nam nữ Phật tử, hôm nay được sự chỉ dạy của quý ngài, Minh Thành sẽ chia sẻ đôi điều theo tinh thần những lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Hai từ tinh hoa là nói lên tinh yếu, tinh tủy, cốt tủy, cốt lõi. Nikāya là những lời dạy gốc, lời dạy nguyên chất của Đức Phật được các bậc Thánh tăng truyền thừa suốt hơn hai ngàn sáu trăm năm nay. Tinh hoa Nikāya là những phần cốt lõi của những lời dạy nguyên chất, được truyền thừa từ Đức Phật, suốt gần ba ngàn năm.
Tinh hoa, cốt tủy, cốt lõi của kinh Nikāya giúp cho chúng ta có một cái nhìn thấu đáu, chính xác, đúng đắn về đời sống này, về thân và tâm của chính mình. Vì Đức Thế Tôn từng tuyên bố: “Này các Tỳ-kheo, xưa và nay, Như Lai chỉ tuyên bố hai điều: sự thật về đau khổ và con đường chấm dứt khổ đau.”
Hơn bao giờ hết, nhất là trong hoàn cảnh hiện tại, chúng ta thấy được chỉ có một cái khổ về dịch bệnh thì cả thế giới đã điêu đứng. Tất cả những giá trị của cuộc sống bị đảo lộn nên để mình thấy rõ hơn về cái khổ thì mình phải hiểu được cái khổ này nằm ở chỗ nào. Là căn nguyên, gốc rễ của nó là ở đâu.
Trong kinh Nikāya Đức Phật có trình bày về tám điều khổ, sau cùng thì Đức Phật tóm lại: năm thủ uẩn là khổ, là sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau. Sự nắm chặt vào trong năm uẩn tạo ra cho chúng ta rất nhiều sự lo lắng, bất an, sợ hãi, buồn đau, trong kinh gọi là sầu bi, khổ, ưu não.
Như vậy, cái khổ của chúng ta là do sự nắm chặt vào năm uẩn nên khổ. Vậy năm uẩn là gì? Nếu chúng ta không có sự thấy biết đúng đắn về năm uẩn thì chúng ta không tìm được căn nguyên của đau khổ. Mỗi đêm chúng ta tụng về Bát Nhã Tâm Kinh, đọc thuộc cả bài kinh nhưng hiểu được ngũ uẩn là gì?
Theo tinh thần Nikāya Đức Phật từng dạy chúng ta: “Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ, nói thầm trong tâm là hành, nhận thức rõ biết là thức.”
Thân của chúng ta là sắc, những đồ vật chung quanh mình là tứ đại, đất, nước, gió, lửa là sắc. Những cảm giác là thọ. Hình bóng trong tâm là tưởng. Những suy nghĩ, nói thầm trong tâm là hành. Sự rõ biết là thức.
Về sắc là chúng ta dễ thấy, như thân xác này, những đồ vật, hoàn cảnh xung quanh chúng ta, từ đất, nước, gió, lửa tạo thành, tất cả gọi là sắc.
Về thọ, Đức Phật dạy có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Về tưởng, những hình bóng trong tâm là khi mình nhìn ai đó, như một món đồ, sau đó mình trở về nhà và nhớ lại người đó thì có hình bóng của người đó trong tâm. Chính hình bóng của người đó trong tâm gọi là tưởng.
Về hành, những suy nghĩ lầm thầm trong tâm là như mình suy nghĩ về một người đó, một món đồ đó, suy nghĩ về câu nói mà người kia nói với mình thì suy nghĩ đó gọi là hành.
Về thức, chúng ta có sự rõ biết là mình đang có hình bóng người đó, đang có suy nghĩ, đang có cảm giác dễ chịu hay khó chịu đó thì sự thấy biết đó gọi là thức.
Chúng ta nên nắm vững những kiến thức trên, vì đây là cánh cửa để bước vào ngôi nhà tâm linh của chúng ta.
Ví dụ, khi chúng ta đang vui vẻ, thoải mái thì đột nhiên có một cuộc điện thoại reo lên, mình bắt lên thì trong điện thoại nói xối xả, nói những lời chỉ trích, nói những lời nặng nề, sân si đối với mình. Khi đó thì cảm giác của chúng ta lúc đó là khó chịu. Hình bóng của người đó, nếu như mình đã gặp thì có hiện ra trong tâm của mình không? Hình bóng đó là tưởng. Sau đó mình suy nghĩ bực mình, tức giận, suy nghĩ những câu nói để mình đáp trả lại, trả đũa lại, thì suy nghĩ đó là hành. Chúng ta rõ biết rằng mình đang có một cảm giác khó chịu với lời nói đó, mình đang có hình bóng người đó trong tâm và mình đang có suy nghĩ để mình đáp trả, trả đũa lại. Chính sự rõ biết ba điều đó: hình bóng người đó trong tâm, cảm giác khó chịu, những suy nghĩ mình đang suy nghĩ thì sự rõ biết đó chính là thức.
Chúng ta thấy trước giờ chúng ta tụng ngũ uẩn thuộc lòng nhưng đến khi ra thực tế thì mình lại không thấy rõ. Chúng ta cần nắm vững để nhận diện được ngũ uẩn này thì mới bắt đầu mở được cánh cửa bước vào thân tâm của mình một cách đúng đắn, đó gọi là chánh kiến, là cách nhìn chân xác, chính xác về thân tâm của chính mình.
Khi nãy là ví dụ về cảm giác khó chịu (sân), giờ đến cảm giác dễ chịu. Ví dụ như có một cuộc điện thoại, khi mình bắt lên thì những lời nói tán thưởng, khen ngợi, dịu dàng, êm ái, ngọt ngào, ca tụng mình thì lúc đó mình có cảm giác dễ chịu. Hình bóng của người nói hiện ra trong tâm mình, đó là tưởng. Sau đó mình lại suy nghĩ người này nói chuyện dễ thương quá, là người tốt, đúng là bạn thân của mình thật sự, những suy nghĩ đó là hành. Mình có sự rõ biết mình đang có cảm giác dễ chịu khi nghe lời khen, đang có hình bóng của người nói đó trong tâm mình là tưởng, có những suy nghĩ người đó tốt, dễ thương… là hành. Sự rõ biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, đó gọi là thức. Lúc này mình đang có một cảm thọ dễ chịu làm mình thích, khoái, thấy tâm mình lâng lâng, nhẹ nhàng.
Đó là hai cảm giác, cảm giác khó chịu thì có sân, cảm giác dễ chịu thì có tham.
Ví dụ tiếp theo cũng là một cuộc điện thoại, không có mắng chửi hay ca ngợi, êm ái, ngọt ngào, chỉ là nói chuyện bình thường. Khi đó là cảm giác không dễ chịu, không khó chịu. Cảm giác này chúng ta không thấy rõ được đó là cảm giác mà chúng ta thấy được đó là cái tôi, “Tôi đang nghe. Những người đó nói về tôi.” Trong sự không thấy rõ được lúc đó cảm thọ và những tưởng, hành, thức chỉ là ngũ uẩn vận hành mà mình không thấy, mà mình chỉ thấy là “Có một cái tôi và mọi người đang nói về tôi” trong một công việc nào đó với tâm trơ trơ, đơ đơ không thương cũng không ghét, không khó chịu cũng không dễ chịu, đó gọi là si.
Chúng ta cần nhớ kĩ, bước thứ nhất là chúng ta nhận diện được năm uẩn: thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Bước thứ hai là nhận diện được ba cảm thọ, cảm xúc, cảm giác. Vì sao chúng ta phải nhận diện được chúng? Vì Đức Phật từng nói tất cả những pháp đều quy tụ ở nơi cảm giác, cảm thọ, cảm xúc của mình.
Mình muốn biết được trong tâm đang có cái gì, mình chỉ cần nhìn vào trong cảm giác, cảm thọ đó là mình sẽ biết được. Nếu mình không nhìn thấy cảm giác, cảm xúc đó thì mình sẽ sống trong sự vô tri, vô trí, sống trong sự vô minh, không thấy biết mình. Vậy nên bước tiếp theo sau khi chúng ta nhận diện được năm uẩn là chúng ta phải nhận diện được ba loại cảm thọ, cảm xúc. Trong cảm xúc dễ chịu có tham ái, trong cảm xúc khó chịu có sân hận, trong cảm xúc không dễ chịu không khó chịu thì có si mê.
Những pháp này rất cơ bản và quan trọng nên chúng ta cần phải nắm thật vững, hiểu thật rõ để sau này chúng ta đi vào những bài tập, những pháp sâu sắc thì chúng ta mới có lối vào.
Ví dụ tiếp theo, như chúng ta thích ăn bánh xèo hay phở, nhưng hôm đó chúng ta được đãi món ruột của mình, nấu rất ngon và đặc biệt thì khi mình ăn có được cảm giác ra sao? Đó là cảm giác dễ chịu, dù chưa ăn, chỉ nhìn thấy tô phở mang lên bốc khói, mùi thơm phảng phất đến mũi mình thì cảm giác của mình ra sao? Là dễ chịu, thích thú, khoan khoái, muốn ăn, khi mình gắp đũa phở đó đưa vào trong miệng, chạm tới lưỡi, húp miếng nước lèo thật ngon thì trong cảm giác dễ chịu đó có sự thích thú, khoan khoái, thích, muốn.
Chúng ta phân biệt ba loại cảm giác này: dục, tham, ái là khác nhau. Khi nãy là phân biệt ba cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Khi đi sâu vào, trong cảm giác dễ chịu có ba kiểu của sự ham thích: trong cảm giác dễ chịu này có sự thúc giục bên trong như “Muốn ăn cho nhanh, cảm thấy đói rồi!” Cảm giác thúc giục đó gọi là cảm giác của dục, cảm xúc của dục.
Dục ở đây là thúc giục. Khi thấy món ăn thật ngon trước mặt mình khi đói bụng, mùi bay phảng phất lên mũi thì bên trong có cảm giác thúc giục muốn mau được ăn thì đó là dục. Khi mình được ăn món ăn đó thì mình thích thích, khoái, đó là ái. Tức là, cảm giác thúc giục muốn ăn mau, ăn lẹ, ăn nhanh, gắp ăn nhanh, nuốt nhanh là cảm xúc, cảm giác, cảm thọ dục. Đối với cảm giác nếm thức ăn, chạm vào lưỡi, nhai và nuốt làm cho mình thích thích, khoái khoái đó gọi là cảm giác ái. Ái có nghĩa là yêu thích, khoan khoái, thích thú.
Khi đã gắp ăn, nhai chưa xong thì múc thêm một muỗng, đũa thứ hai để chờ, để ăn tiếp tục, đó gọi là cảm giác tham. Tham là cảm giác muốn thêm nữa, muốn nhiều, nhanh nữa. Chúng ta phân biệt được ba cảm giác dục, tham ái ở trong cảm giác dễ chịu.
Đối với món ăn như vậy nhưng đối với sự tiếp xúc bên ngoài, đối với cảnh đẹp cũng vậy, hay như tiền bạc, món đồ…cũng như vậy. Từ đó quán chiếu rộng ra đối với con người cũng vậy.
Người nào mình cảm thấy dễ thương, có sắc đẹp thì lúc đó bên trong này có sự muốn được tiếp xúc, lúc đó là bịn rịn, lưu luyến, đó là ái. Muốn được ngồi lâu hơn, nói chuyện thêm thì đó là tham. Chúng ta nhận diện được dục, tham, ái ở trong cảm giác dễ chịu này.
Đó là chúng ta quán chiếu dục, tham, ái ở trong cảm giác dễ chịu.
Trong cảm giác khó chịu thì luôn có sân bên trong, là sự bực bội, bực tức, tức giận, bức xúc, nóng giận. Mình chỉ cần thấy một người nào đó có một cử chỉ là lập tức bên trong mình sanh ra cảm thọ bực bội ngay.
Sau này chúng ta học duyên sanh pháp của xúc thì sẽ hiểu được tại sao như vậy. Hiện tại thì chúng ta hiểu một cách vắn tắt là ở trong cảm giác khó chịu đó, luôn luôn có sân trong đó. Đó gọi là sân tùy miên, tức là sự bực tức đi theo miên man ở trong cảm giác khó chịu đó. Nếu khó chịu là có sân bên trong đó, mắt thấy khó chịu, tai nghe điện thoại khó chịu. Ví như khi bị muỗi chích, ong chích thì mình thấy khó chịu, bực bội, khi đó có sân hận lên.
Cảm giác không dễ chịu, không khó chịu thì luôn luôn có si bên trong, si ám, si mê, vô minh luôn đi theo trong đó. Vì khi đó mình không biết rằng đang có một cảm giác không dễ chịu, không khó chịu sanh khởi trong thân, mình lại có ý niệm là “Tôi bình thường, không có vui mà cũng không buồn. Tôi không dễ chịu mà cũng không khó chịu. Tôi thấy thường thường vậy tôi.” Chính cái nhìn thấy có tôi, có của tôi và nhận cảm giác không dễ chịu, không khó chịu, đơ đơ, thường thường đó là mình mà không thấy được nó là cảm giác thì lúc đó chúng ta bị cái si mê, vô minh, si ám trong người.
Trạng thái này làm cho chúng ta không tinh tấn tu học. Ví như hiện nay dịch bệnh, bao nhiêu người mất, bao nhiêu người phải khốn khó, khổ sở, lâm vào những cảnh hết sức đau thương. Nhưng nhiều lúc chúng ta nghĩ là do chưa tới mình, dễ gì bệnh thì đó là suy nghĩ si mê. Nếu mình nhìn thấy người người khổ, người bệnh chết và mình quán chiếu, tư duy thì trong tâm có một cảm giác là “Phải nỗ lực tinh tấn, siêng năng tu tập, đừng dễ vui và buông lung, thả lỏng các căn, đừng phóng dật, có thể bị bệnh, phải cẩn thận.” Những suy nghĩ đó làm mình thoát ra cảm giác trơ trơ, đơ đơ, không khổ không vui, làm cho mình có cảm giác tinh cần, tinh tấn để tu học.
II. Huấn luyện cảm thọ
Đó là chúng ta nói sơ lượt về ba cảm giác, cảm thọ có tham, sân, si bên trong đó.
Như vậy thì làm sao để chúng ta tu? Tu chính là trong ba cảm giác này vì tất cả những nỗi khổ trên đời này đều là từ tham, sân, si mà ra. Tại sao lại có tham, sân si? Vì chúng ta không thấy biết được bản chất của thân tâm là ngũ uẩn nên cứ chấp thủ, nắm chặt trong đó, cho rằng “Tôi là hay, tôi là giỏi, tôi là tài, là hơn, có một cái nguyên vẹn, trọn vẹn, cứng chắc, vững chắc, bền vững.” Đều là do mình không thấy đúng về thân thể này, bên trong chứa ruột gan, phèo phổi, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, gan, tỳ phế, thận, chứa mủ, máu, mỡ, da, thịt, tóc, lông, móng, răng, chất chứa phân, nước tiểu… Chúng ta đang bị lớp da này lừa dối, lừa gạt, lừa phỉnh, dối trá.
Ví như nhìn thấy nguyên vẹn nhưng khi bị té, rách một đường thì bên trong có thể đổ ra đống ruột, phèo, phổi, tim, gan. Vậy nên thân này được gói, bọc bởi lớp da. Nếu như cắt, xẻ, mở lớp da này ra thì bên trong là cái mà ai cũng rùng rợn, kinh hãi. Chính mình thấy máu mình cũng sợ, nhưng khi được bọc, được gói kĩ thì tất cả chúng ta đều bị đam mê, si mê, u mê, vô minh.
Vậy nên về trí tuệ năm uẩn, Đức Phật đã giải phẫu cho chúng ta sự thật về sắc pháp và sắc uẩn này, dạy mình quán bất tịnh để trị tham dục, tham ái, cảm xúc thúc giục, tham muốn, yêu thích, thèm khát, khao khát, đói khát thì Đức Phật dùng từ khát ái này có ý nghĩa rất sâu xa. Chúng ta thấy sâu sắc trong cảm thọ của mình là một cảm thọ này, thèm muốn, thèm thuồng, thèm khát, khao khát, bị những cảm giác này làm cho chúng ta đau khổ từ nhỏ đến lớn, đến trưởng thành, đến già, đến chết, bên trong đều là những cảm giác thúc giục, thèm muốn, tham dục, thèm khát, thèm thuồng, khát ái.
Đối với dịch bệnh, trong Chỉ thị 16 phải ở yên trong nhà, bên trong thúc giục phải đi ra, thì khi đi ra rồi bị phạt, xảy ra chuyện này chuyện kia, nguy hiểm, nhiễm dịch bệnh. Như vậy thì cái gì bên trong làm cho mình nhiễm dịch bệnh, làm cho mình bị khổ đau, thậm chí là qua đời? Đó là cảm giác thúc giục, thúc đẩy, hối thúc bên trong, mà mình không nhận ra, không thấy biết được nên mình bị nó dẫn dắt, say khiến, lôi kéo.
Đức Thế Tôn từng nói chúng sanh làm nô lệ, đầy tớ cho dục. Chính những cảm giác thúc giục đó sai khiến, sai sử chúng ta nên chúng ta thành nô lệ, đầy tớ, hầu hạ, cung phụng, phụng dịch cho nó. Cuối cùng tấm thân này tan rã, nằm bất động, trở thành tử thi, thây sình, nứt nẻ, trương phình, tuôn ra những chất hôi hám không ai chịu nổi, phân hủy thành bộ xương và cuối cùng trở thành cát bụi.
Chúng ta thấy những người công an, chiến sĩ giao từng hủ cốt từng nhà, từng phường, từng quận. Vậy sau mấy chục năm hơn thua, giành giật, đấu đá, đầy rẫy những tham muốn, hận thù, ta đây, bản ngã thì kết quả chung cuộc của một kiếp người là một đống tro, một hủ cốt, một nấm mồ.
Đức Phật dạy chúng ta nhìn sâu sắc vào sắc thân này, để mình thành tựu được sự thấy biết đúng đắn, chính xác về tự thân. Để mình phá đi được vô minh, si mê, ngu muội, dạy khờ, nhìn sai, ngộ nhận, hiểu lầm, lầm lạc về thân xác này. Chúng ta cứ trao chuốt, nâng niu, chiều chuộng, cung phụng, phụng sự, phục dịch cho nó và thậm chí tạo nghiệp cho nó. Và bao nhiêu những nước mắt, suy tư, toan tính rồi cuối cùng tan nát, bao nhiêu những nghiệp phía sau đó mà chúng ta phải chịu khổ.
Vậy nên Đức Phật dạy cho chúng ta về trí tuệ năm uẩn này rất tuyệt vời, để mình không còn mê lầm, ngộ nhận, hiểu lầm về thân xác này. Đối với những cảm giác đó thì chúng ta thấy chính vì những cảm giác đó thúc giục bên trong nên cảm giác thiêu đốt, bức xúc, bực bội, khó chịu, cộc cằn, hơn thua. Đừng nói chỉ người dưng mà với cả người trong gia đình của mình, với cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái của mình mà nhiều lúc nói để giành phần hơn, phần thắng, không chịu bại, giành phần phải chứ không chịu sai.
Như vậy là chúng ta đang tự làm khổ mình, làm khổ người, làm hại mình làm hại người, tự làm cho mình bất an trong cảm thọ bức xúc, bực bội thiêu đốt bên trong.
Khi nãy là chúng ta đã nói về tham dục, giờ là chúng ta nói về sân hận. Vậy nên tham, sân, si ở chỗ nào, nếu như chúng ta không nhận diện năm uẩn, chúng ta sẽ không biết chúng ta chỉ học trên lý thuyết. Khi chúng ta nhận diện được năm uẩn, chúng ta sẽ thấy tham ở trong cảm giác dễ chịu, sân ở trong cảm giác khó chịu, si ở trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Quý vị nên nghe bài Tham, sân, si ở đâu? Minh Thành đã chia sẻ, quý vị có thể nghe thật kĩ. Khi chúng ta có một sự nhìn nhận đúng đắn, chính xác về thân tâm, ngũ uẩn này, nhất là về cảm thọ thì chúng ta sẽ thấy được hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si. Nếu không thì chúng ta chỉ nói trên miệng, hiểu trên suy nghĩ, suy tưởng mà không thể nhìn sâu vào hang ổ, cảm thọ, cảm xúc của tham, sân, si.
Chúng ta thấy cảm giác bức xúc, nóng giận, bực bội, nhiệt não, sân hận như vậy thì như chúng ta đang đứng gần bếp lửa, bếp gas thì nó sẽ phà ra hơi nóng, tỏa ra nhiệt. Cũng như vậy, người bực bội, bức xúc như vậy thì người ở gần có khổ không? Có dễ chịu hay khó chịu? Như vậy thì mình cứ đem lò lửa để củi vào hoài thì những người ở chung nhà với mình có khổ không? Khổ với mình không?
Vậy nên Đức Thế Tôn nói một khi một người có tham, sân trong đó thì người đó làm khổ mình và làm khổ người. Người có tham, chất chứa những dục ái bên trong là người đó cũng làm khổ mình và làm khổ người. Chất chứa những cảm giác bực dọc, tức giận, sân hận, bức xúc, nhiệt não, nóng bức thì mình cũng làm khổ mình, làm khổ người nhất là trong giai đoạn này. Khi làm ăn không được, không có tiền, bước ra đường cũng không được chỉ ở trong nhà lòng vòng với bốn bức tường nên bực bội, bức xúc, bức rứt, ray rứt, tù túng nên dễ phát sinh chuyện vì mình không biết nhận diện, tu tập cảm xúc. Sau đó, chúng ta sẽ có phần chia sẻ cảm xúc, lắng dịu, dễ chịu.
Vì vậy, lúc này rất cần thiết để chúng ta tu tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Vậy chúng ta tu ra sao để có được những cảm giác dễ chịu, nhẹ nhàng, mát mẻ, an lạc, an tịnh, hỷ lạc. Giống như chúng ta ở trong phòng có máy điều hòa thì sẽ thấy không khí mát mẻ, thanh lương, dễ chịu. Cũng như vậy, khi đứng gần lò lửa thì tỏa nhiệt, nóng bức, khó chịu còn khi ở trong phòng có máy điều hòa thì mát mẻ, thư thái.
Chúng ta cũng vậy, từ một tâm nóng bức, nhiệt não, giống như lò lửa, chúng ta biến thành máy điều hòa. Đó là chúng ta tập ngồi thiền, ngồi yên tịnh, hoặc xem những bài Minh Thành chia sẻ cách thực tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đó. Chúng ta ngồi, thở vào, thở ra, cảm nhận cảm giác toàn thân, bước vào một phương pháp trong thời gian rất ngắn gọn nên Minh Thành giới thiệu với quý vị những cốt lõi, tinh túy để chúng ta thực tập.
Quý vị cùng thực tập cảm giác toàn thân. Khi quý vị ngồi thiền, cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu gương mặt của mình. Cảm giác ở chỗ đó như thế nào thì mình cảm nhận nó, mắt nhìn xuống về phía trước, khoảng một mét. Chúng ta để tâm và cảm nhận trên đỉnh đầu, trên mặt của mình, cảm nhận đó. Sau đó cảm nhận cảm giác trên vai, trên tay, bàn tay, ở lưng, ở bụng, ở mông, ở chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân. Cảm giác từ đầu, xuống vai, tay, bụng, mông, chân, ống chân, lòng bàn chân… Cảm nhận một cách toàn vẹn như vậy, cả cảm giác của toàn bộ cơ thể như vậy thì Đức Phật gọi là cảm giác toàn thân.
Đây đều là những pháp thực hành, thực tập của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, quý vị hãy nhớ thực tập. Khi chúng ta cảm nhận được thì sẽ thấy được lúc đó cảm thọ trong người mình như thế nào, nếu có chỗ nào khó chịu thì mình sẽ biết và điều chỉnh, nếu có chỗ nào dễ chịu thì mình biết và an trú. Vậy nên khi ngồi và chúng ta cảm nhận được cảm giác từ đỉnh đầu tới gót chân, gọi là an trú trong cảm giác toàn thân, như vậy thì mình sẽ tập hướng váo bên trong lồng ngực, để ý trong đó vì lồng ngực là chỗ tập trung tất cả các cảm giác.
Sau khi hướng vào lồng ngực và quý vị tác ý – tức lời nói thầm trong tâm, quý vị kêu gọi “An tịnh. Cảm giác ơi an tịnh đi. An tịnh! Lắng dịu!” Đó là nói cho cảm giác bên trong của mình, không phải nói cho người bên ngoài, là hướng vào trong cảm giác, cảm thọ của mình, rồi kêu gọi “Cảm xúc, cảm thọ, cảm giác ơi! An tịnh đi! Lắng dịu đi! Dễ chịu đi!” Giống như mình đang niệm Phật. “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu! Ngọt ngào!” Cứ lặp lại như vậy.
Quý vị có thể làm theo ngay, thực tập ngay lúc này. Quý vị hướng ngồi theo thế ngồi thiền, mắt nhìn xuống về phía trước khoảng một mét, để ý vào cảm giác trong người quý vị. Sau đó kêu gọi “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu! Ngọt ngào!” Lặp lại như vậy.
Quý vị sẽ cảm thấy được sự dễ chịu hiện ra. Đó là Đức Phật dạy mình tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tác ý là sự tác động tâm ý, tức là sự cố tình suy nghĩ của mình, mình tác động tâm ý theo chiều hướng nào thì pháp đó sẽ sanh khởi trong tâm mình.
Chúng ta nhớ những lần đi đến Thất Sơn, Châu Đốc, Núi Cấm, khi mình leo núi thì mồ hôi đổ, mệt, mỏi chân thì mình tự nói là “Dễ chịu quá! Dễ chịu quá! Khỏe quá! Khỏe quá!” mà như vậy mình đi lên tới đỉnh núi được. Vậy nên sự tác ý của mình Đức Phật dạy là rất quan trọng. Chúng ta tác ý theo chiều hướng nào đó thì pháp sẽ sanh khởi, nên khi mình hướng vào trong cảm thọ, cảm xúc, cảm giác ở chỗ lồng ngực hay toàn bộ cơ thể của mình rồi mình kêu “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu! Ngọt ngào!” Khi đó, pháp sẽ sanh ra trong thân tâm của mình, lúc đó những cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào đó sẽ sanh khởi, có mặt, hiện hữu trong tâm.
Những bài giống như vậy Minh Thành hướng dẫn rất nhiều, quý vị nên nghe những bài thực tập thiền quán, quý vị mở lên và làm theo.
Tại sao phải thực tập như vậy? Vì thực tập đó là mình nuôi dưỡng cho mình có cảm giác dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào, vì cảm giác của mình không tu tập là cảm giác thường hay bức xúc, khó chịu, sôi nổi, sôi động, nổi loạn. Chúng ta thấy chỉ nghe là bực, là sân ngay, chỉ tiếp xúc là giận, tức lên ngay. Vì vậy, cảm thọ của mình là cảm thọ dao động, sôi nổi, sôi động, nổi loạn.
Chính cảm thọ đó làm phát khởi, phát tác lên những tham, sân, si, bản ngã mà chúng ta không thể kiềm chế được, kiểm soát được vì chúng ta không tu tập cảm giác toàn thân hay sự an trú trong cảm giác toàn thân, không tu tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu nên không giáo huấn, huấn luyện, không nhiếp phục và làm cho nó nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng nên tâm mình trở nên ương ngạnh. Khi mình kêu nó đừng giận thì nó có nghe mình không? Hay nó giận thì cứ giận? Mình không muốn giận nhưng nó giận thì cứ giận. Hay khi mình kêu “Đừng tham nha!” thì nó cũng muốn.
Chính vì vậy, tâm không tu tập là tâm không nghe lời, còn tâm có tu tập, cảm thọ, cảm xúc mà mình có tu tập, thì nó sẽ trở thành nghe lời, dễ sai, dễ bảo, dễ dạy, dễ bảo, trở thành một tâm ngoan hiền. Chúng ta tu là một sự huấn luyện thân tâm của mình, huấn luyện cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình. Vậy nên chúng ta tu tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào. Khi chúng ta tu như vậy nên rất hay, vì giờ ngồi thiền giống như mình nạp điện, sạc pin, châm dầu vào đèn của mình. Đến khi ra giờ ngồi thiền, thì mình có đủ năng lượng, đủ điện để mình sử dụng. Còn nếu giờ mình cứ xài hoài, không sạc thì phải hết pin.
Cũng vậy, nếu mình không tu tập cảm giác hiền thiện, hiền lành, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền từ, hiền trí thì mình trở thành cảm giác dữ. Ví như nói “Thưa thầy con hiền lắm!” nhưng khi đụng chuyện đến thì mới biết. Giờ nhìn thấy thì rất hiền nhưng chạm tới thì mới biết được. Vì tham, sân, si ngủ ngầm, đi theo mình miên man, ở trong ba cảm giác đó, mình không biết hang ổ, sào huyệt, không biết căn cứ địa, địa chỉ, đường đi, số nhà, có rất nhiều hẻm hóc, trong hẻm này lại có hẻm khác, trong ngã rẽ lại có ngã rẽ khác. Đó gọi là “kỳ lộ vong dương”, tức là trong lối tẻ lại có lối tẻ khác, con dê không biết lối nào nên người chăn dê bị mất dê vì đi vào lối tẻ này lại đến lối tẻ khác, vì nhiều lối tẻ nên mất dê.
Tâm của chúng ta cũng như vậy, có muôn ngàn lối tẻ, nếu mình không biết thực tập theo lời Đức Phật dạy thì mình không nhìn ra được thân tâm của mình, khi mình không nhìn được thì mình sống trong sự không hiểu biết, trong sự u tối, không thấy, không biết, không thức, không tri, không tuệ tri, không minh trí, vô minh.
Sau đó mình suy nghĩ, nói năng, hành động là mình gây ra nghiệp, làm khổ cho mình và khổ cho người, cho cộng đồng, thậm chí là làm khổ cả thế giới. Vậy nên sự tu tập của chúng ta rất tuyệt vời.
Phật pháp thiết thực hiện tại, đến để thấy, không trải qua thời gian, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Thiết thực hiện tại là ngay trong cảm giác tham, sân, si chúng ta thấy được giờ chúng ta nuôi dưỡng, tưới tẩm, rèn luyện cho mình có được cảm thọ, cảm xúc an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương. Và muốn dễ thương thì phải tu tập cảm thọ, cảm xúc, cảm giác dễ thương. Muốn dễ thương thì trước tiên phải lắng dịu trước, còn sôi nổi là không được, chỉ nghe một câu là phừng phừng lên. Như vậy làm cho trong gia đình lại có chuyện, cự cãi, huơ tay, múa chân, đấu khẩu, đấu võ. Đó là do không tu tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương.
Vậy nên chúng ta thực tập cảm giác toàn thân thì chúng ta thực tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, hiền lành, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương và chúng ta luôn sống với một tâm hiền hòa, hòa kính thì nhất là trong giai đoạn này cảm giác giảm được khổ. Lúc nào trong thân tâm mình cảm giác cũng nhẹ, dịu, an, hòa, hiền lành, hiền hậu, hiền lương, hiền hòa, hiền kính, hiền phúc, hiền đức, hiền từ…
Tu tập để hiền từ, trong cảm thọ hiền ra ngoài. Còn hiền bên ngoài là ráng kiềm chế nhưng nhất quá tam cũng có thể bung ra. Vậy nên tu thì hiền từ trong ruột hiền ra, tức là từ trong cảm thọ, cảm xúc. Như vậy thì gia đình của mình được an hòa, nhẹ nhàng, bình yên và nhất là chúng ta tìm được sự bình yên ở trong hoàn cảnh bất an này là rất quý giá. Đó là người biết tu tập.
Vậy nên chúng ta tu tập cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào này là đỡ khổ hơn, làm cho mình khỏe, hơn cả uống thuốc bổ, hơn cả khi quý vị đi đến thẩm mỹ viện. Mình có một nội tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương thì gia đình của mình rất êm ái, hòa hợp, bình an, hạnh phúc, bớt khổ. Đó là bí quyết bình an của đạo Phật.
Không phải là chỉ lên chùa ghi tên, cầu mãi mà không chịu tu cho tâm an, chỉ lo hướng ra ngoài, không chịu tu thì cũng là bất an. Quý vị nhớ về gốc rễ của sự tu tập của mình là trong cảm thọ, cảm xúc.
Vậy nên chúng ta tu tập cảm thọ tâm hiền thì quý vị sẽ rất được an ổn trong giai đoạn này, nên làm gì thì mình cũng tập làm cho nhẹ nhàng, đừng làm rộn ràng, nói gì cũng nên tập nói cho dịu dàng, đừng nói nặng nề, khó nghe. Từng cái muỗng, cái chén, cái tô, cái bát mình để cũng nên để một cách nhẹ nhàng. Dù mình có làm mệt đi nữa thì khi nói chuyện với con cái, người thân trong gia đình mình thì cũng nên nói chuyện từ ái, là từ trong lời nói phải tập nói hiền, từ trong hành động thì mình tập cho hiền dịu, trong suy nghĩ thì mình cũng suy nghĩ cho hiền dịu.
Ví dụ như có hình bóng tức giận người kia thì mình tự nói là “Thôi hình bóng này tan biến đi. Hiền đi.” Đang có một hình bóng sân hận ai thì nói “Thôi đừng sân. Đừng bực nữa, đừng tự thiêu đốt cháy mình nữa. Khổ lắm. Khổ nhiêu đây không đủ hay sao mà giờ muốn đốt thêm cho cháy nữa, khổ nữa? Thôi dập tắt đi. Lắng dịu đi. Mát mẻ đi. An tịnh đi!” Trong suy nghĩ của mình thì mình kêu như vậy.
Trong cảm thọ của mình phừng phừng, dâng dâng lên, miệng giựt giựt, mặt đỏ lên rồi, tai lùng bùng, miệng chuẩn bị phát ra những lời nói khó chịu, bực bội, sân hận thì mình nói “Thôi. Hãy nghe lời. Đừng quậy nữa. Quậy là khổ lắm. Khổ nhiêu đây đủ rồi. Lắng xuống đi, dịu xuống đi. An tịnh đi, hiền đi, dễ thương đi. Đừng sân, hận, tức hoài. Đó là khổ, đốt là cháy hết.”
Đó là sự tác ý khi tu tập. Hãy nhớ lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm. Tức khi ngồi thiền, trong mọi sinh hoạt thì mình để ý nhìn vào xem cảm thọ này là cảm thọ gì. Cảm thọ bực dọc, khó chịu thì nói “Thôi, dễ chịu đi!”, nếu là hình bóng sân hận thì “Thôi, trải tâm từ đi! Giận làm chi, khổ lắm.” Nếu là suy nghĩ hơn thua thì “Thôi, suy nghĩ hơn thua rồi được cái gì. Gây gổ rồi được cái gì. Vợ chồng, anh em gây cự nhau thì được cái gì? Thôi, an tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi, hiền lành đi. Hiền, ngoan, dễ chịu, dễ thương, trải tâm từ, ngọt ngào, mát dịu, ngoan nha, dễ thương nha!” Đó là mình dẫn tâm của mình đi vào trạng thái an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, dễ thương.
Hôm nay, trong một thời gian ngắn, Minh Thành đã giới thiệu cho quý vị một phương pháp gọi là tinh túy, tinh hoa, tinh anh, cốt tủy, cốt lõi trong tạng kinh Nikāya. Quý vị hãy nhớ những bước chúng ta thực tập.
Thứ nhất là cần nhớ kĩ năm uẩn, định nghĩa về năm uẩn là phải học thuộc lòng: thân là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Sau khi thuộc thì phải ngồi lại nhận diện trong sinh hoạt là mình nhìn ra được sự vận hành trong thân tâm mình chỉ là năm uẩn, để mình xả bớt chấp ngã, cái tôi, cái ta, bản ngã.
Thứ hai, nhìn ra được có ba cảm thọ: cảm thọ dễ chịu có tham trong đó, cảm thọ khó chịu có sân trong đó, cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si trong đó. Chúng ta tu tập cảm giác toàn thân. Luôn luôn để ý cảm giác đó là cảm giác gì, trong đó có sân hận là mình phải hướng dẫn nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tâm hiền, làm cho mình có một thân, tâm, cảm xúc rất nhẹ nhàng, dễ thương, rất từ ái, hiền hòa, hiền kính thì trong gia đình của mình sẽ bình an, an lạc, an vui, nhất là trong lúc này.
Khi quý vị tu tập cảm giác dễ chịu này thì sẽ hóa giải được cảm xúc bức xúc, khó chịu, bực bội trong thời điểm này. Chúng ta sẽ có được sự bình an, an lạc, hỷ lạc, thanh tịnh trong sự tu tập.
Kính chúc tất cả quý vị luôn luôn có được bình an, hạnh phúc trong Chánh pháp.
Thích Minh Thành
Ngày 13 tháng 09 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ba loại cảm thọ PAGEREF _Toc84255682 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc84255683 \h 6
I. Ba loại cảm thọ
Kính bạch chư tăng ni cùng toàn thể quý nam nữ Phật tử, hôm nay được sự chỉ dạy của quý ngài, Minh Thành sẽ chia sẻ đôi điều theo tinh thần những lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. Hai từ tinh hoa là nói lên tinh yếu, tinh tủy, cốt tủy, cốt lõi. Nikāya là những lời dạy gốc, lời dạy nguyên chất của Đức Phật được các bậc Thánh tăng truyền thừa suốt hơn hai ngàn sáu trăm năm nay. Tinh hoa Nikāya là những phần cốt lõi của những lời dạy nguyên chất, được truyền thừa từ Đức Phật, suốt gần ba ngàn năm.
Tinh hoa, cốt tủy, cốt lõi của kinh Nikāya giúp cho chúng ta có một cái nhìn thấu đáu, chính xác, đúng đắn về đời sống này, về thân và tâm của chính mình. Vì Đức Thế Tôn từng tuyên bố: “Này các Tỳ-kheo, xưa và nay, Như Lai chỉ tuyên bố hai điều: sự thật về đau khổ và con đường chấm dứt khổ đau.”
Hơn bao giờ hết, nhất là trong hoàn cảnh hiện tại, chúng ta thấy được chỉ có một cái khổ về dịch bệnh thì cả thế giới đã điêu đứng. Tất cả những giá trị của cuộc sống bị đảo lộn nên để mình thấy rõ hơn về cái khổ thì mình phải hiểu được cái khổ này nằm ở chỗ nào. Là căn nguyên, gốc rễ của nó là ở đâu.
Trong kinh Nikāya Đức Phật có trình bày về tám điều khổ, sau cùng thì Đức Phật tóm lại: năm thủ uẩn là khổ, là sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau. Sự nắm chặt vào trong năm uẩn tạo ra cho chúng ta rất nhiều sự lo lắng, bất an, sợ hãi, buồn đau, trong kinh gọi là sầu bi, khổ, ưu não.
Như vậy, cái khổ của chúng ta là do sự nắm chặt vào năm uẩn nên khổ. Vậy năm uẩn là gì? Nếu chúng ta không có sự thấy biết đúng đắn về năm uẩn thì chúng ta không tìm được căn nguyên của đau khổ. Mỗi đêm chúng ta tụng về Bát Nhã Tâm Kinh, đọc thuộc cả bài kinh nhưng hiểu được ngũ uẩn là gì?
Theo tinh thần Nikāya Đức Phật từng dạy chúng ta: “Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ, nói thầm trong tâm là hành, nhận thức rõ biết là thức.”
Thân của chúng ta là sắc, những đồ vật chung quanh mình là tứ đại, đất, nước, gió, lửa là sắc. Những cảm giác là thọ. Hình bóng trong tâm là tưởng. Những suy nghĩ, nói thầm trong tâm là hành. Sự rõ biết là thức.
Về sắc là chúng ta dễ thấy, như thân xác này, những đồ vật, hoàn cảnh xung quanh chúng ta, từ đất, nước, gió, lửa tạo thành, tất cả gọi là sắc.
Về thọ, Đức Phật dạy có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Về tưởng, những hình bóng trong tâm là khi mình nhìn ai đó, như một món đồ, sau đó mình trở về nhà và nhớ lại người đó thì có hình bóng của người đó trong tâm. Chính hình bóng của người đó trong tâm gọi là tưởng.
Về hành, những suy nghĩ lầm thầm trong tâm là như mình suy nghĩ về một người đó, một món đồ đó, suy nghĩ về câu nói mà người kia nói với mình thì suy nghĩ đó gọi là hành.
Về thức, chúng ta có sự rõ biết là mình đang có hình bóng người đó, đang có suy nghĩ, đang có cảm giác dễ chịu hay khó chịu đó thì sự thấy biết đó gọi là thức.
Chúng ta nên nắm vững những kiến thức trên, vì đây là cánh cửa để bước vào ngôi nhà tâm linh của chúng ta.
Ví dụ, khi chúng ta đang vui vẻ, thoải mái thì đột nhiên có một cuộc điện thoại reo lên, mình bắt lên thì trong điện thoại nói xối xả, nói những lời chỉ trích, nói những lời nặng nề, sân si đối với mình. Khi đó thì cảm giác của chúng ta lúc đó là khó chịu. Hình bóng của người đó, nếu như mình đã gặp thì có hiện ra trong tâm của mình không? Hình bóng đó là tưởng. Sau đó mình suy nghĩ bực mình, tức giận, suy nghĩ những câu nói để mình đáp trả lại, trả đũa lại, thì suy nghĩ đó là hành. Chúng ta rõ biết rằng mình đang có một cảm giác khó chịu với lời nói đó, mình đang có hình bóng người đó trong tâm và mình đang có suy nghĩ để mình đáp trả, trả đũa lại. Chính sự rõ biết ba điều đó: hình bóng người đó trong tâm, cảm giác khó chịu, những suy nghĩ mình đang suy nghĩ thì sự rõ biết đó chính là thức.
Chúng ta thấy trước giờ chúng ta tụng ngũ uẩn thuộc lòng nhưng đến khi ra thực tế thì mình lại không thấy rõ. Chúng ta cần nắm vững để nhận diện được ngũ uẩn này thì mới bắt đầu mở được cánh cửa bước vào thân tâm của mình một cách đúng đắn, đó gọi là chánh kiến, là cách nhìn chân xác, chính xác về thân tâm của chính mình.
Khi nãy là ví dụ về cảm giác khó chịu (sân), giờ đến cảm giác dễ chịu. Ví dụ như có một cuộc điện thoại, khi mình bắt lên thì những lời nói tán thưởng, khen ngợi, dịu dàng, êm ái, ngọt ngào, ca tụng mình thì lúc đó mình có cảm giác dễ chịu. Hình bóng của người nói hiện ra trong tâm mình, đó là tưởng. Sau đó mình lại suy nghĩ người này nói chuyện dễ thương quá, là người tốt, đúng là bạn thân của mình thật sự, những suy nghĩ đó là hành. Mình có sự rõ biết mình đang có cảm giác dễ chịu khi nghe lời khen, đang có hình bóng của người nói đó trong tâm mình là tưởng, có những suy nghĩ người đó tốt, dễ thương… là hành. Sự rõ biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, đó gọi là thức. Lúc này mình đang có một cảm thọ dễ chịu làm mình thích, khoái, thấy tâm mình lâng lâng, nhẹ nhàng.
Đó là hai cảm giác, cảm giác khó chịu thì có sân, cảm giác dễ chịu thì có tham.
Ví dụ tiếp theo cũng là một cuộc điện thoại, không có mắng chửi hay ca ngợi, êm ái, ngọt ngào, chỉ là nói chuyện bình thường. Khi đó là cảm giác không dễ chịu, không khó chịu. Cảm giác này chúng ta không thấy rõ được đó là cảm giác mà chúng ta thấy được đó là cái tôi, “Tôi đang nghe. Những người đó nói về tôi.” Trong sự không thấy rõ được lúc đó cảm thọ và những tưởng, hành, thức chỉ là ngũ uẩn vận hành mà mình không thấy, mà mình chỉ thấy là “Có một cái tôi và mọi người đang nói về tôi” trong một công việc nào đó với tâm trơ trơ, đơ đơ không thương cũng không ghét, không khó chịu cũng không dễ chịu, đó gọi là si.
Chúng ta cần nhớ kĩ, bước thứ nhất là chúng ta nhận diện được năm uẩn: thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Bước thứ hai là nhận diện được ba cảm thọ, cảm xúc, cảm giác. Vì sao chúng ta phải nhận diện được chúng? Vì Đức Phật từng nói tất cả những pháp đều quy tụ ở nơi cảm giác, cảm thọ, cảm xúc của mình.
Mình muốn biết được trong tâm đang có cái gì, mình chỉ cần nhìn vào trong cảm giác, cảm thọ đó là mình sẽ biết được. Nếu mình không nhìn thấy cảm giác, cảm xúc đó thì mình sẽ sống trong sự vô tri, vô trí, sống trong sự vô minh, không thấy biết mình. Vậy nên bước tiếp theo sau khi chúng ta nhận diện được năm uẩn là chúng ta phải nhận diện được ba loại cảm thọ, cảm xúc. Trong cảm xúc dễ chịu có tham ái, trong cảm xúc khó chịu có sân hận, trong cảm xúc không dễ chịu không khó chịu thì có si mê.
Những pháp này rất cơ bản và quan trọng nên chúng ta cần phải nắm thật vững, hiểu thật rõ để sau này chúng ta đi vào những bài tập, những pháp sâu sắc thì chúng ta mới có lối vào.
Ví dụ tiếp theo, như chúng ta thích ăn bánh xèo hay phở, nhưng hôm đó chúng ta được đãi món ruột của mình, nấu rất ngon và đặc biệt thì khi mình ăn có được cảm giác ra sao? Đó là cảm giác dễ chịu, dù chưa ăn, chỉ nhìn thấy tô phở mang lên bốc khói, mùi thơm phảng phất đến mũi mình thì cảm giác của mình ra sao? Là dễ chịu, thích thú, khoan khoái, muốn ăn, khi mình gắp đũa phở đó đưa vào trong miệng, chạm tới lưỡi, húp miếng nước lèo thật ngon thì trong cảm giác dễ chịu đó có sự thích thú, khoan khoái, thích, muốn.
Chúng ta phân biệt ba loại cảm giác này: dục, tham, ái là khác nhau. Khi nãy là phân biệt ba cảm giác dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Khi đi sâu vào, trong cảm giác dễ chịu có ba kiểu của sự ham thích: trong cảm giác dễ chịu này có sự thúc giục bên trong như “Muốn ăn cho nhanh, cảm thấy đói rồi!” Cảm giác thúc giục đó gọi là cảm giác của dục, cảm xúc của dục.
Dục ở đây là thúc giục. Khi thấy món ăn thật ngon trước mặt mình khi đói bụng, mùi bay phảng phất lên mũi thì bên trong có cảm giác thúc giục muốn mau được ăn thì đó là dục. Khi mình được ăn món ăn đó thì mình thích thích, khoái, đó là ái. Tức là, cảm giác thúc giục muốn ăn mau, ăn lẹ, ăn nhanh, gắp ăn nhanh, nuốt nhanh là cảm xúc, cảm giác, cảm thọ dục. Đối với cảm giác nếm thức ăn, chạm vào lưỡi, nhai và nuốt làm cho mình thích thích, khoái khoái đó gọi là cảm giác ái. Ái có nghĩa là yêu thích, khoan khoái, thích thú.
Khi đã gắp ăn, nhai chưa xong thì múc thêm một muỗng, đũa thứ hai để chờ, để ăn tiếp tục, đó gọi là cảm giác tham. Tham là cảm giác muốn thêm nữa, muốn nhiều, nhanh nữa. Chúng ta phân biệt được ba cảm giác dục, tham ái ở trong cảm giác dễ chịu.
Đối với món ăn như vậy nhưng đối với sự tiếp xúc bên ngoài, đối với cảnh đẹp cũng vậy, hay như tiền bạc, món đồ…cũng như vậy. Từ đó quán chiếu rộng ra đối với con người cũng vậy.
Người nào mình cảm thấy dễ thương, có sắc đẹp thì lúc đó bên trong này có sự muốn được tiếp xúc, lúc đó là bịn rịn, lưu luyến, đó là ái. Muốn được ngồi lâu hơn, nói chuyện thêm thì đó là tham. Chúng ta nhận diện được dục, tham, ái ở trong cảm giác dễ chịu này.
Đó là chúng ta quán chiếu dục, tham, ái ở trong cảm giác dễ chịu.
Trong cảm giác khó chịu thì luôn có sân bên trong, là sự bực bội, bực tức, tức giận, bức xúc, nóng giận. Mình chỉ cần thấy một người nào đó có một cử chỉ là lập tức bên trong mình sanh ra cảm thọ bực bội ngay.
Sau này chúng ta học duyên sanh pháp của xúc thì sẽ hiểu được tại sao như vậy. Hiện tại thì chúng ta hiểu một cách vắn tắt là ở trong cảm giác khó chịu đó, luôn luôn có sân trong đó. Đó gọi là sân tùy miên, tức là sự bực tức đi theo miên man ở trong cảm giác khó chịu đó. Nếu khó chịu là có sân bên trong đó, mắt thấy khó chịu, tai nghe điện thoại khó chịu. Ví như khi bị muỗi chích, ong chích thì mình thấy khó chịu, bực bội, khi đó có sân hận lên.
Cảm giác không dễ chịu, không khó chịu thì luôn luôn có si bên trong, si ám, si mê, vô minh luôn đi theo trong đó. Vì khi đó mình không biết rằng đang có một cảm giác không dễ chịu, không khó chịu sanh khởi trong thân, mình lại có ý niệm là “Tôi bình thường, không có vui mà cũng không buồn. Tôi không dễ chịu mà cũng không khó chịu. Tôi thấy thường thường vậy tôi.” Chính cái nhìn thấy có tôi, có của tôi và nhận cảm giác không dễ chịu, không khó chịu, đơ đơ, thường thường đó là mình mà không thấy được nó là cảm giác thì lúc đó chúng ta bị cái si mê, vô minh, si ám trong người.
Trạng thái này làm cho chúng ta không tinh tấn tu học. Ví như hiện nay dịch bệnh, bao nhiêu người mất, bao nhiêu người phải khốn khó, khổ sở, lâm vào những cảnh hết sức đau thương. Nhưng nhiều lúc chúng ta nghĩ là do chưa tới mình, dễ gì bệnh thì đó là suy nghĩ si mê. Nếu mình nhìn thấy người người khổ, người bệnh chết và mình quán chiếu, tư duy thì trong tâm có một cảm giác là “Phải nỗ lực tinh tấn, siêng năng tu tập, đừng dễ vui và buông lung, thả lỏng các căn, đừng phóng dật, có thể bị bệnh, phải cẩn thận.” Những suy nghĩ đó làm mình thoát ra cảm giác trơ trơ, đơ đơ, không khổ không vui, làm cho mình có cảm giác tinh cần, tinh tấn để tu học.
II. Huấn luyện cảm thọ
Đó là chúng ta nói sơ lượt về ba cảm giác, cảm thọ có tham, sân, si bên trong đó.
Như vậy thì làm sao để chúng ta tu? Tu chính là trong ba cảm giác này vì tất cả những nỗi khổ trên đời này đều là từ tham, sân, si mà ra. Tại sao lại có tham, sân si? Vì chúng ta không thấy biết được bản chất của thân tâm là ngũ uẩn nên cứ chấp thủ, nắm chặt trong đó, cho rằng “Tôi là hay, tôi là giỏi, tôi là tài, là hơn, có một cái nguyên vẹn, trọn vẹn, cứng chắc, vững chắc, bền vững.” Đều là do mình không thấy đúng về thân thể này, bên trong chứa ruột gan, phèo phổi, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, gan, tỳ phế, thận, chứa mủ, máu, mỡ, da, thịt, tóc, lông, móng, răng, chất chứa phân, nước tiểu… Chúng ta đang bị lớp da này lừa dối, lừa gạt, lừa phỉnh, dối trá.
Ví như nhìn thấy nguyên vẹn nhưng khi bị té, rách một đường thì bên trong có thể đổ ra đống ruột, phèo, phổi, tim, gan. Vậy nên thân này được gói, bọc bởi lớp da. Nếu như cắt, xẻ, mở lớp da này ra thì bên trong là cái mà ai cũng rùng rợn, kinh hãi. Chính mình thấy máu mình cũng sợ, nhưng khi được bọc, được gói kĩ thì tất cả chúng ta đều bị đam mê, si mê, u mê, vô minh.
Vậy nên về trí tuệ năm uẩn, Đức Phật đã giải phẫu cho chúng ta sự thật về sắc pháp và sắc uẩn này, dạy mình quán bất tịnh để trị tham dục, tham ái, cảm xúc thúc giục, tham muốn, yêu thích, thèm khát, khao khát, đói khát thì Đức Phật dùng từ khát ái này có ý nghĩa rất sâu xa. Chúng ta thấy sâu sắc trong cảm thọ của mình là một cảm thọ này, thèm muốn, thèm thuồng, thèm khát, khao khát, bị những cảm giác này làm cho chúng ta đau khổ từ nhỏ đến lớn, đến trưởng thành, đến già, đến chết, bên trong đều là những cảm giác thúc giục, thèm muốn, tham dục, thèm khát, thèm thuồng, khát ái.
Đối với dịch bệnh, trong Chỉ thị 16 phải ở yên trong nhà, bên trong thúc giục phải đi ra, thì khi đi ra rồi bị phạt, xảy ra chuyện này chuyện kia, nguy hiểm, nhiễm dịch bệnh. Như vậy thì cái gì bên trong làm cho mình nhiễm dịch bệnh, làm cho mình bị khổ đau, thậm chí là qua đời? Đó là cảm giác thúc giục, thúc đẩy, hối thúc bên trong, mà mình không nhận ra, không thấy biết được nên mình bị nó dẫn dắt, say khiến, lôi kéo.
Đức Thế Tôn từng nói chúng sanh làm nô lệ, đầy tớ cho dục. Chính những cảm giác thúc giục đó sai khiến, sai sử chúng ta nên chúng ta thành nô lệ, đầy tớ, hầu hạ, cung phụng, phụng dịch cho nó. Cuối cùng tấm thân này tan rã, nằm bất động, trở thành tử thi, thây sình, nứt nẻ, trương phình, tuôn ra những chất hôi hám không ai chịu nổi, phân hủy thành bộ xương và cuối cùng trở thành cát bụi.
Chúng ta thấy những người công an, chiến sĩ giao từng hủ cốt từng nhà, từng phường, từng quận. Vậy sau mấy chục năm hơn thua, giành giật, đấu đá, đầy rẫy những tham muốn, hận thù, ta đây, bản ngã thì kết quả chung cuộc của một kiếp người là một đống tro, một hủ cốt, một nấm mồ.
Đức Phật dạy chúng ta nhìn sâu sắc vào sắc thân này, để mình thành tựu được sự thấy biết đúng đắn, chính xác về tự thân. Để mình phá đi được vô minh, si mê, ngu muội, dạy khờ, nhìn sai, ngộ nhận, hiểu lầm, lầm lạc về thân xác này. Chúng ta cứ trao chuốt, nâng niu, chiều chuộng, cung phụng, phụng sự, phục dịch cho nó và thậm chí tạo nghiệp cho nó. Và bao nhiêu những nước mắt, suy tư, toan tính rồi cuối cùng tan nát, bao nhiêu những nghiệp phía sau đó mà chúng ta phải chịu khổ.
Vậy nên Đức Phật dạy cho chúng ta về trí tuệ năm uẩn này rất tuyệt vời, để mình không còn mê lầm, ngộ nhận, hiểu lầm về thân xác này. Đối với những cảm giác đó thì chúng ta thấy chính vì những cảm giác đó thúc giục bên trong nên cảm giác thiêu đốt, bức xúc, bực bội, khó chịu, cộc cằn, hơn thua. Đừng nói chỉ người dưng mà với cả người trong gia đình của mình, với cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái của mình mà nhiều lúc nói để giành phần hơn, phần thắng, không chịu bại, giành phần phải chứ không chịu sai.
Như vậy là chúng ta đang tự làm khổ mình, làm khổ người, làm hại mình làm hại người, tự làm cho mình bất an trong cảm thọ bức xúc, bực bội thiêu đốt bên trong.
Khi nãy là chúng ta đã nói về tham dục, giờ là chúng ta nói về sân hận. Vậy nên tham, sân, si ở chỗ nào, nếu như chúng ta không nhận diện năm uẩn, chúng ta sẽ không biết chúng ta chỉ học trên lý thuyết. Khi chúng ta nhận diện được năm uẩn, chúng ta sẽ thấy tham ở trong cảm giác dễ chịu, sân ở trong cảm giác khó chịu, si ở trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Quý vị nên nghe bài Tham, sân, si ở đâu? Minh Thành đã chia sẻ, quý vị có thể nghe thật kĩ. Khi chúng ta có một sự nhìn nhận đúng đắn, chính xác về thân tâm, ngũ uẩn này, nhất là về cảm thọ thì chúng ta sẽ thấy được hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si. Nếu không thì chúng ta chỉ nói trên miệng, hiểu trên suy nghĩ, suy tưởng mà không thể nhìn sâu vào hang ổ, cảm thọ, cảm xúc của tham, sân, si.
Chúng ta thấy cảm giác bức xúc, nóng giận, bực bội, nhiệt não, sân hận như vậy thì như chúng ta đang đứng gần bếp lửa, bếp gas thì nó sẽ phà ra hơi nóng, tỏa ra nhiệt. Cũng như vậy, người bực bội, bức xúc như vậy thì người ở gần có khổ không? Có dễ chịu hay khó chịu? Như vậy thì mình cứ đem lò lửa để củi vào hoài thì những người ở chung nhà với mình có khổ không? Khổ với mình không?
Vậy nên Đức Thế Tôn nói một khi một người có tham, sân trong đó thì người đó làm khổ mình và làm khổ người. Người có tham, chất chứa những dục ái bên trong là người đó cũng làm khổ mình và làm khổ người. Chất chứa những cảm giác bực dọc, tức giận, sân hận, bức xúc, nhiệt não, nóng bức thì mình cũng làm khổ mình, làm khổ người nhất là trong giai đoạn này. Khi làm ăn không được, không có tiền, bước ra đường cũng không được chỉ ở trong nhà lòng vòng với bốn bức tường nên bực bội, bức xúc, bức rứt, ray rứt, tù túng nên dễ phát sinh chuyện vì mình không biết nhận diện, tu tập cảm xúc. Sau đó, chúng ta sẽ có phần chia sẻ cảm xúc, lắng dịu, dễ chịu.
Vì vậy, lúc này rất cần thiết để chúng ta tu tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Vậy chúng ta tu ra sao để có được những cảm giác dễ chịu, nhẹ nhàng, mát mẻ, an lạc, an tịnh, hỷ lạc. Giống như chúng ta ở trong phòng có máy điều hòa thì sẽ thấy không khí mát mẻ, thanh lương, dễ chịu. Cũng như vậy, khi đứng gần lò lửa thì tỏa nhiệt, nóng bức, khó chịu còn khi ở trong phòng có máy điều hòa thì mát mẻ, thư thái.
Chúng ta cũng vậy, từ một tâm nóng bức, nhiệt não, giống như lò lửa, chúng ta biến thành máy điều hòa. Đó là chúng ta tập ngồi thiền, ngồi yên tịnh, hoặc xem những bài Minh Thành chia sẻ cách thực tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đó. Chúng ta ngồi, thở vào, thở ra, cảm nhận cảm giác toàn thân, bước vào một phương pháp trong thời gian rất ngắn gọn nên Minh Thành giới thiệu với quý vị những cốt lõi, tinh túy để chúng ta thực tập.
Quý vị cùng thực tập cảm giác toàn thân. Khi quý vị ngồi thiền, cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu gương mặt của mình. Cảm giác ở chỗ đó như thế nào thì mình cảm nhận nó, mắt nhìn xuống về phía trước, khoảng một mét. Chúng ta để tâm và cảm nhận trên đỉnh đầu, trên mặt của mình, cảm nhận đó. Sau đó cảm nhận cảm giác trên vai, trên tay, bàn tay, ở lưng, ở bụng, ở mông, ở chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân. Cảm giác từ đầu, xuống vai, tay, bụng, mông, chân, ống chân, lòng bàn chân… Cảm nhận một cách toàn vẹn như vậy, cả cảm giác của toàn bộ cơ thể như vậy thì Đức Phật gọi là cảm giác toàn thân.
Đây đều là những pháp thực hành, thực tập của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, quý vị hãy nhớ thực tập. Khi chúng ta cảm nhận được thì sẽ thấy được lúc đó cảm thọ trong người mình như thế nào, nếu có chỗ nào khó chịu thì mình sẽ biết và điều chỉnh, nếu có chỗ nào dễ chịu thì mình biết và an trú. Vậy nên khi ngồi và chúng ta cảm nhận được cảm giác từ đỉnh đầu tới gót chân, gọi là an trú trong cảm giác toàn thân, như vậy thì mình sẽ tập hướng váo bên trong lồng ngực, để ý trong đó vì lồng ngực là chỗ tập trung tất cả các cảm giác.
Sau khi hướng vào lồng ngực và quý vị tác ý – tức lời nói thầm trong tâm, quý vị kêu gọi “An tịnh. Cảm giác ơi an tịnh đi. An tịnh! Lắng dịu!” Đó là nói cho cảm giác bên trong của mình, không phải nói cho người bên ngoài, là hướng vào trong cảm giác, cảm thọ của mình, rồi kêu gọi “Cảm xúc, cảm thọ, cảm giác ơi! An tịnh đi! Lắng dịu đi! Dễ chịu đi!” Giống như mình đang niệm Phật. “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu! Ngọt ngào!” Cứ lặp lại như vậy.
Quý vị có thể làm theo ngay, thực tập ngay lúc này. Quý vị hướng ngồi theo thế ngồi thiền, mắt nhìn xuống về phía trước khoảng một mét, để ý vào cảm giác trong người quý vị. Sau đó kêu gọi “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu! Ngọt ngào!” Lặp lại như vậy.
Quý vị sẽ cảm thấy được sự dễ chịu hiện ra. Đó là Đức Phật dạy mình tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tác ý là sự tác động tâm ý, tức là sự cố tình suy nghĩ của mình, mình tác động tâm ý theo chiều hướng nào thì pháp đó sẽ sanh khởi trong tâm mình.
Chúng ta nhớ những lần đi đến Thất Sơn, Châu Đốc, Núi Cấm, khi mình leo núi thì mồ hôi đổ, mệt, mỏi chân thì mình tự nói là “Dễ chịu quá! Dễ chịu quá! Khỏe quá! Khỏe quá!” mà như vậy mình đi lên tới đỉnh núi được. Vậy nên sự tác ý của mình Đức Phật dạy là rất quan trọng. Chúng ta tác ý theo chiều hướng nào đó thì pháp sẽ sanh khởi, nên khi mình hướng vào trong cảm thọ, cảm xúc, cảm giác ở chỗ lồng ngực hay toàn bộ cơ thể của mình rồi mình kêu “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu! Ngọt ngào!” Khi đó, pháp sẽ sanh ra trong thân tâm của mình, lúc đó những cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào đó sẽ sanh khởi, có mặt, hiện hữu trong tâm.
Những bài giống như vậy Minh Thành hướng dẫn rất nhiều, quý vị nên nghe những bài thực tập thiền quán, quý vị mở lên và làm theo.
Tại sao phải thực tập như vậy? Vì thực tập đó là mình nuôi dưỡng cho mình có cảm giác dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào, vì cảm giác của mình không tu tập là cảm giác thường hay bức xúc, khó chịu, sôi nổi, sôi động, nổi loạn. Chúng ta thấy chỉ nghe là bực, là sân ngay, chỉ tiếp xúc là giận, tức lên ngay. Vì vậy, cảm thọ của mình là cảm thọ dao động, sôi nổi, sôi động, nổi loạn.
Chính cảm thọ đó làm phát khởi, phát tác lên những tham, sân, si, bản ngã mà chúng ta không thể kiềm chế được, kiểm soát được vì chúng ta không tu tập cảm giác toàn thân hay sự an trú trong cảm giác toàn thân, không tu tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu nên không giáo huấn, huấn luyện, không nhiếp phục và làm cho nó nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng nên tâm mình trở nên ương ngạnh. Khi mình kêu nó đừng giận thì nó có nghe mình không? Hay nó giận thì cứ giận? Mình không muốn giận nhưng nó giận thì cứ giận. Hay khi mình kêu “Đừng tham nha!” thì nó cũng muốn.
Chính vì vậy, tâm không tu tập là tâm không nghe lời, còn tâm có tu tập, cảm thọ, cảm xúc mà mình có tu tập, thì nó sẽ trở thành nghe lời, dễ sai, dễ bảo, dễ dạy, dễ bảo, trở thành một tâm ngoan hiền. Chúng ta tu là một sự huấn luyện thân tâm của mình, huấn luyện cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình. Vậy nên chúng ta tu tập tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào. Khi chúng ta tu như vậy nên rất hay, vì giờ ngồi thiền giống như mình nạp điện, sạc pin, châm dầu vào đèn của mình. Đến khi ra giờ ngồi thiền, thì mình có đủ năng lượng, đủ điện để mình sử dụng. Còn nếu giờ mình cứ xài hoài, không sạc thì phải hết pin.
Cũng vậy, nếu mình không tu tập cảm giác hiền thiện, hiền lành, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền từ, hiền trí thì mình trở thành cảm giác dữ. Ví như nói “Thưa thầy con hiền lắm!” nhưng khi đụng chuyện đến thì mới biết. Giờ nhìn thấy thì rất hiền nhưng chạm tới thì mới biết được. Vì tham, sân, si ngủ ngầm, đi theo mình miên man, ở trong ba cảm giác đó, mình không biết hang ổ, sào huyệt, không biết căn cứ địa, địa chỉ, đường đi, số nhà, có rất nhiều hẻm hóc, trong hẻm này lại có hẻm khác, trong ngã rẽ lại có ngã rẽ khác. Đó gọi là “kỳ lộ vong dương”, tức là trong lối tẻ lại có lối tẻ khác, con dê không biết lối nào nên người chăn dê bị mất dê vì đi vào lối tẻ này lại đến lối tẻ khác, vì nhiều lối tẻ nên mất dê.
Tâm của chúng ta cũng như vậy, có muôn ngàn lối tẻ, nếu mình không biết thực tập theo lời Đức Phật dạy thì mình không nhìn ra được thân tâm của mình, khi mình không nhìn được thì mình sống trong sự không hiểu biết, trong sự u tối, không thấy, không biết, không thức, không tri, không tuệ tri, không minh trí, vô minh.
Sau đó mình suy nghĩ, nói năng, hành động là mình gây ra nghiệp, làm khổ cho mình và khổ cho người, cho cộng đồng, thậm chí là làm khổ cả thế giới. Vậy nên sự tu tập của chúng ta rất tuyệt vời.
Phật pháp thiết thực hiện tại, đến để thấy, không trải qua thời gian, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Thiết thực hiện tại là ngay trong cảm giác tham, sân, si chúng ta thấy được giờ chúng ta nuôi dưỡng, tưới tẩm, rèn luyện cho mình có được cảm thọ, cảm xúc an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương. Và muốn dễ thương thì phải tu tập cảm thọ, cảm xúc, cảm giác dễ thương. Muốn dễ thương thì trước tiên phải lắng dịu trước, còn sôi nổi là không được, chỉ nghe một câu là phừng phừng lên. Như vậy làm cho trong gia đình lại có chuyện, cự cãi, huơ tay, múa chân, đấu khẩu, đấu võ. Đó là do không tu tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương.
Vậy nên chúng ta thực tập cảm giác toàn thân thì chúng ta thực tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, hiền lành, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương và chúng ta luôn sống với một tâm hiền hòa, hòa kính thì nhất là trong giai đoạn này cảm giác giảm được khổ. Lúc nào trong thân tâm mình cảm giác cũng nhẹ, dịu, an, hòa, hiền lành, hiền hậu, hiền lương, hiền hòa, hiền kính, hiền phúc, hiền đức, hiền từ…
Tu tập để hiền từ, trong cảm thọ hiền ra ngoài. Còn hiền bên ngoài là ráng kiềm chế nhưng nhất quá tam cũng có thể bung ra. Vậy nên tu thì hiền từ trong ruột hiền ra, tức là từ trong cảm thọ, cảm xúc. Như vậy thì gia đình của mình được an hòa, nhẹ nhàng, bình yên và nhất là chúng ta tìm được sự bình yên ở trong hoàn cảnh bất an này là rất quý giá. Đó là người biết tu tập.
Vậy nên chúng ta tu tập cảm thọ lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào này là đỡ khổ hơn, làm cho mình khỏe, hơn cả uống thuốc bổ, hơn cả khi quý vị đi đến thẩm mỹ viện. Mình có một nội tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương thì gia đình của mình rất êm ái, hòa hợp, bình an, hạnh phúc, bớt khổ. Đó là bí quyết bình an của đạo Phật.
Không phải là chỉ lên chùa ghi tên, cầu mãi mà không chịu tu cho tâm an, chỉ lo hướng ra ngoài, không chịu tu thì cũng là bất an. Quý vị nhớ về gốc rễ của sự tu tập của mình là trong cảm thọ, cảm xúc.
Vậy nên chúng ta tu tập cảm thọ tâm hiền thì quý vị sẽ rất được an ổn trong giai đoạn này, nên làm gì thì mình cũng tập làm cho nhẹ nhàng, đừng làm rộn ràng, nói gì cũng nên tập nói cho dịu dàng, đừng nói nặng nề, khó nghe. Từng cái muỗng, cái chén, cái tô, cái bát mình để cũng nên để một cách nhẹ nhàng. Dù mình có làm mệt đi nữa thì khi nói chuyện với con cái, người thân trong gia đình mình thì cũng nên nói chuyện từ ái, là từ trong lời nói phải tập nói hiền, từ trong hành động thì mình tập cho hiền dịu, trong suy nghĩ thì mình cũng suy nghĩ cho hiền dịu.
Ví dụ như có hình bóng tức giận người kia thì mình tự nói là “Thôi hình bóng này tan biến đi. Hiền đi.” Đang có một hình bóng sân hận ai thì nói “Thôi đừng sân. Đừng bực nữa, đừng tự thiêu đốt cháy mình nữa. Khổ lắm. Khổ nhiêu đây không đủ hay sao mà giờ muốn đốt thêm cho cháy nữa, khổ nữa? Thôi dập tắt đi. Lắng dịu đi. Mát mẻ đi. An tịnh đi!” Trong suy nghĩ của mình thì mình kêu như vậy.
Trong cảm thọ của mình phừng phừng, dâng dâng lên, miệng giựt giựt, mặt đỏ lên rồi, tai lùng bùng, miệng chuẩn bị phát ra những lời nói khó chịu, bực bội, sân hận thì mình nói “Thôi. Hãy nghe lời. Đừng quậy nữa. Quậy là khổ lắm. Khổ nhiêu đây đủ rồi. Lắng xuống đi, dịu xuống đi. An tịnh đi, hiền đi, dễ thương đi. Đừng sân, hận, tức hoài. Đó là khổ, đốt là cháy hết.”
Đó là sự tác ý khi tu tập. Hãy nhớ lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm. Tức khi ngồi thiền, trong mọi sinh hoạt thì mình để ý nhìn vào xem cảm thọ này là cảm thọ gì. Cảm thọ bực dọc, khó chịu thì nói “Thôi, dễ chịu đi!”, nếu là hình bóng sân hận thì “Thôi, trải tâm từ đi! Giận làm chi, khổ lắm.” Nếu là suy nghĩ hơn thua thì “Thôi, suy nghĩ hơn thua rồi được cái gì. Gây gổ rồi được cái gì. Vợ chồng, anh em gây cự nhau thì được cái gì? Thôi, an tịnh, lắng dịu đi, dễ chịu đi, hiền lành đi. Hiền, ngoan, dễ chịu, dễ thương, trải tâm từ, ngọt ngào, mát dịu, ngoan nha, dễ thương nha!” Đó là mình dẫn tâm của mình đi vào trạng thái an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, dễ thương.
Hôm nay, trong một thời gian ngắn, Minh Thành đã giới thiệu cho quý vị một phương pháp gọi là tinh túy, tinh hoa, tinh anh, cốt tủy, cốt lõi trong tạng kinh Nikāya. Quý vị hãy nhớ những bước chúng ta thực tập.
Thứ nhất là cần nhớ kĩ năm uẩn, định nghĩa về năm uẩn là phải học thuộc lòng: thân là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Sau khi thuộc thì phải ngồi lại nhận diện trong sinh hoạt là mình nhìn ra được sự vận hành trong thân tâm mình chỉ là năm uẩn, để mình xả bớt chấp ngã, cái tôi, cái ta, bản ngã.
Thứ hai, nhìn ra được có ba cảm thọ: cảm thọ dễ chịu có tham trong đó, cảm thọ khó chịu có sân trong đó, cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si trong đó. Chúng ta tu tập cảm giác toàn thân. Luôn luôn để ý cảm giác đó là cảm giác gì, trong đó có sân hận là mình phải hướng dẫn nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tâm hiền, làm cho mình có một thân, tâm, cảm xúc rất nhẹ nhàng, dễ thương, rất từ ái, hiền hòa, hiền kính thì trong gia đình của mình sẽ bình an, an lạc, an vui, nhất là trong lúc này.
Khi quý vị tu tập cảm giác dễ chịu này thì sẽ hóa giải được cảm xúc bức xúc, khó chịu, bực bội trong thời điểm này. Chúng ta sẽ có được sự bình an, an lạc, hỷ lạc, thanh tịnh trong sự tu tập.
Kính chúc tất cả quý vị luôn luôn có được bình an, hạnh phúc trong Chánh pháp.