Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Soi Gương và Hổ Thẹn

2026-03-03 00:54:29
SOI GƯƠNG VÀ HỔ THẸN

ĐĐ. Thích Minh Thành giảng

Kính thưa đại chúng, giờ phút này chúng ta có chương trình soi sáng, quý Phật tử có những khó khăn và thắc mắc trong sự tu học trong tinh thần kinh Nikāya có thể nêu lên. Quý thầy và đại chúng có thể soi sáng cho chúng ta những thắc mắc, những điều mình chưa hiểu về con đường tu học tinh thần tu học của kinh Nikāya.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con là Phật tử Diệu Châu. Vì sao Đức Phật dạy cho mình ngũ uẩn là vô ngã và còn dạy thêm ngũ uẩn giai không? Con kính thưa sư phụ có thể chỉ rõ để con hiểu thêm về ngũ uẩn vô ngã và ngũ uẩn giai không ạ.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói "người có tà kiến là người có tri kiến điên đảo, không có bố thí, không có lễ hi sinh, không có cúng tế tự, không có quả vị thục trong các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh ở đời, không có các hàng Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình thắng trí giác ngộ đời này, đời sau để truyền dạy lại"(Mười ác nghiệp,C.Ba Ác Nghiệp Của Ý). Trong bài pháp này con không hiểu "không có lễ hi sinh, không có cúng tế tự" thì đó là người tà kiến, xin thầy giải đáp giúp con.

Chúng ta có hai câu hỏi. Thầy sẽ giải thích câu hỏi dễ hiểu trước. Đại ý ở trong đoạn kinh đó nói rằng người tà kiến có quan niệm rằng không có bố thí, không có cúng dường, không có thiện ác, nghiệp báo, không có sự cúng kiếng, không có đời này đời sau. Đây là một quan điểm, một cách nhìn sai trái, không đúng theo tinh thần của Đức Phật. Đức Phật dạy chúng ta có nhân, có quả, có nghiệp, có thiện ác, có phước báo và tội lỗi, nhưng trong cách nhìn của một số người thì họ nghĩ rằng không có những cái đó, chết là hết, mình cứ hưởng thụ, muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói, thì cái đó là tà kiến, là cái thấy và hiểu biết sai lầm. Đối với người tu học chúng ta, mình phải hiểu hai giáo pháp: Một là nhân thiên pháp, hai là bất tử pháp. Bất tử pháp là pháp đưa đến Niết-bàn, diệt tận tham sân si toàn vẹn và triệt để, xả ly vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn. Những người có tâm muốn đạt đến chỗ rốt ráo giải thoát thì đây là pháp bất tử. Pháp nhân thiên là Đức Phật thường hướng dẫn cho hàng cư sĩ, là thiện và bất thiện, tội và không tội, phước, nhân quả của bố thí, cúng dường, nhân quả của đời này đời sau, nhân quả của thiện và ác, Phật dạy rất kĩ. Cho nên đối với người tu mình phải hết sức cẩn thận đối với suy nghĩ, lời nói và hành động. Mỗi khi mình suy nghĩ, có ý hành tức là có một suy nghĩ nơi nội tâm thì mình phải coi suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, cái suy nghĩ này đem đến lợi mình hay hại mình, hại cho người, cái suy nghĩ này đem đến niềm vui hay đau khổ. Như vậy là mình thực tập, Đức Phật gọi là phản tỉnh. Một hôm Đức Phật dạy cho ngài La-hầu-la, khi Đức Phật đến thì ngài La-hầu-la đem nước cho Phật rửa chân, khi còn lại chút nước thì Đức Phật đổ nước và nói, cũng vậy với người nói dối cũng như nước bị đổ đi không dùng được, Đức Phật ví dụ người soi gương là luôn luôn nhìn lại gương mặt, vóc dáng của mình. Sáng nào mình cũng soi gương thì đó cũng là một pháp tu, mình soi để xem mặt mình có sạch không, có dính hay nổi mụn gì không, thì sự tu tập phản tỉnh cũng như vậy. Nghĩa là hằng ngày mình soi gương xem mặt mình mà mình không chiu soi cái tâm, cho nên mỗi một hành động mình soi lại là rất hay, không soi lại là mình không thấy cũng như không soi gương là mình không biết mặt mình dính lọ dơ bẩn. Thì sự tu hành trong pháp soi gương này mà Đức Phật gọi là pháp kính, tức là chiếc gương chánh pháp. Ngày nào mình cũng phải học cái hạnh soi gương. Khi thức dậy là mình phải soi gương thì mình cũng phải nhớ soi tâm, luôn luôn nhìn lại những cảm giác và nghĩ tưởng. Cái này hay lắm, mình sẽ thấy một cách rành rõ, quý vị soi cảm giác, quay trở lại an trú toàn thân. Mình phải cảm ơn người đó, đây là bài tập cho mình thực tập, mình đừng để nó sanh khởi cảm giác khó chịu. Quý vị thực tập rồi sẽ thấy tuyệt diệu, cái khổ của mình sẽ được giảm, trường hợp đó đúng ra mình bực nhưng mình lại không bực. Một tiếng điện thoại vang lên là mình đã khó chịu thì một câu chỉ trích sẽ như thế nào? Một tiếng chửi sẽ ra sao? Cho nên thực tập cái này rất hay, hãy thực tập và Minh Thành sẽ cho quý vị bài tập sống động trong thực tế. Minh Thành mời một vị nhận diện năm uẩn khi nghe tiếng chuông điện thoại bất ngờ vang lên trong buổi pháp thoại.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Sắc là thân tứ đại đất, nước, gió, lửa của con đang ngồi đây. Thọ do nhĩ xúc sanh, tiếp xúc với âm thanh điện thoại. Nếu không tu sẽ nổi tâm sân, mà tâm sân gọi là khổ thọ. Nếu là người tu học ngũ uẩn thì tâm mình sẽ hoan hỷ, thương cho người đó "tại sao trước khi đi tu không để điện thoại ở nhà, sẽ không gặp cảnh khổ này. Nội tâm người ta cũng khổ chứ không phải người ta sướng vui gì, cho nên mình đừng giận người ta". Mình phải khởi tâm từ thương người ta, nhiều khi người ta có việc cần mới gọi chứ không phải tự nhiên lại gọi. Mình sẽ có lạc thọ, không còn khổ thọ là mình có tâm từ yêu thương để trừ khử được tâm sân. Tưởng của con là hình ảnh của điện thoại hiện ra. Hành sẽ nói lầm thầm "thương người ta chứ đừng giận". Thức của con rõ biết thọ, tưởng, thành.

Tốt, cô phải nhìn sâu sắc vào cảm giác hơn nữa, nhưng nhận diện như vậy là tốt. Bình thường mình có thường trực nhận diện những cảm giác, nghĩ tưởng thì khi có chuyện thì mình mới nhận diện và nhiếp phục được. Chứ mình đợi có chuyện mới nhận diện thì không kịp, lúc mình sân lên rồi làm sao kịp. Minh Thành lấy cái này làm ví dụ để quý vị nhìn ra được những sự kiện khác, chỉ cần một tiếng chuông điện thoại vang lên thì quý vị sẽ động chuyển hết ngũ uẩn, quay qua nhìn xem ai, ngồi ở đâu, đó là sắc bị động. Cảm giác của mình thay đổi, khổ thọ khó chịu. Tưởng là hình bóng điện thoại lờ mờ hiện lên. Hành thì nói "giờ này còn mở điện thoại". Thức thì mình rõ biết hết những cái đó, quý vị phải nhìn thấy rõ như vậy, nhà tâm lý học của thế giới chưa chắc bằng quý vị ngồi đây. Đó là sự thật. Tâm lý học ở ngoài đời học đến cùng cực suốt đời cũng không thấy được ngũ uẩn, đây là trí huệ của bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhà tâm lý học làm sao biết được ngũ uẩn, có biết thì biết một phần là suy tưởng. Sau này chúng ta học thâm sâu rồi quý vị sẽ thấy Đức Phật dạy nhân duyên tập khởi của ngũ uẩn và nhân duyên đoạn diệt của ngũ uẩn. Tức là từ đâu sanh ra cảm giác, rồi cảm giác vận hành như thế nào, nó an trú như thế nào, nó chấm dứt ra sao thì Phật nói hết. Như vậy mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, mình có cách để làm cho những suy nghĩ yên tịnh và mình có cách làm cho cảm giác vui sướng, nó buồn nhưng làm cho nó vui là vui được, nó giận mà mình làm cho nó thương là nó nghe lời, nó rất là ngoan, rất là hiền và mình sẽ điều khiển được cái tâm của mình. Tu là phải tu như vậy, đó là những cái gọi là tăng thượng tâm học. Tăng thượng tức là nâng cao tâm học, thậm chí là mình muốn an trú vào từ tâm thì mình an trú suốt ngày cũng được, lúc nào tâm mình cũng dào dạt tình thương. Bây giờ nhiều khi kêu mỉm cười mà mỉm không nổi, do tâm mình chưa có nhu nhuyến, chưa có mềm mại. Còn tâm có tu tập là nhu nhuyến, dễ sử dụng, mình kêu gì là nó nghe đó. Mình được gọi là con ngoan, là do dễ dạy, dễ sai, dễ bảo. Mà tâm mình chưa có ngoan, do mình kêu nó không nghe, nó ngồi thiền mà không yên. Đó là lậu hoặc, từ từ mình sẽ học: Dục lậu; hữu lậu và vô minh lậu. Nó qua mặt mình vù vù mà mình không biết, cho nên cái sự tu học là cả một sự phản tỉnh nội soi, bình thường là mình hướng ngoại, tối ngày lo nhìn người ta, đây là tự tìm phiền não, tự đi kiếm chuyện cho mình khổ rồi vào than "thầy ơi con khổ quá", "ai làm con khổ? Con kiếm chuyện cho con khổ thì con tự chịu", chuyện của người ta mà mình cũng tham gia. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú, việc tu như giọt nước trong lá sen, cái gì rơi vào là trôi xuống hết, không lưu giữ lại, nếu tu mà không khéo, không nhìn nhận được ngũ uẩn, không tẩy sạch ngũ uẩn thì mình giống như cái máy hút bụi, đi lại chỗ này hút một chút, chỗ kia hút một chút rồi về nhà xả ra, chồng con đi làm về mệt "sao bà tu mà xả ra tùm lum làm tôi mệt thêm". Mình tu giống như giọt nước trên lá sen, mình làm lá sen, chảy cái gì lên là tuột hết, không bị thấm ướt. Cho nên mỗi khi quý vị thấy sắc, hương, vị, xúc ở bên ngoài và pháp ở bên trong, thấy một hình sắc gì, nghe một âm thanh gì, ngửi một mùi gì, nếm một vị gì hay đụng chạm một cái gì là lúc đó mình phải nội soi, phản tỉnh, an trú cảm giác toàn thân. Coi chừng ăn trộm. Mọi người sợ ăn trộm không? Đi có khóa cửa không hay là mở toang hoang ai muốn lấy gì thì lấy. Đồ đạc thì khóa kỹ nhưng cái quý giá thiêng liêng nhất là trí huệ của mình mà mình không gìn giữ. Cái sự bình an thanh tịnh của nội tâm mà mình không bảo hộ, mình để cho tâm mình giống như vết thương.

Trong Tăng Chi Bộ kinh, Đức Phật ví dụ ba dạng trí huệ, ba dạng tâm thức: Một tâm giống như vết thương; một tâm giống như ánh chớp; một tâm giống như kim cương. Tâm như vết thương là vừa đụng vào là đau, la lên, sừng sộ, sân hận. Tâm như ánh chớp tức là lóe sáng thấy được đây là khổ, khổ là đây, thấy được cái sân hận, ham muốn, bản ngã là khổ, cái sự vô minh, tham ái chấp thủ là khổ, nghe được kinh Nikāya, nhận diện được năm uẩn, thực hành cảm giác toàn thân, thấy được bản chất ngũ uẩn là khổ, trống rỗng, thấy được tính chất của ngũ uẩn là phiền phức và đủ thứ khó chịu cho nên mình phải chịu khó để tu. Trở lại vấn đề khi nghe một tiếng gì đó là sắc thân bị động chuyển, cảm giác của mình động chuyển, cái tưởng nổi lên hình bóng, suy nghĩ sanh khởi lên, cái thức của mình biết bao nhiêu đó thôi. Cho nên mình tu tập là tu cái tâm rộng mở, không hàng cuộc trong một tiếng nói, hay trong một món đồ, hay trong cơn giận của cảm giác mà tâm phải bung ra rộng lớn. Đây là tu tập tâm, còn bây giờ tâm mình nhỏ hẹp, chỉ cần một tiếng nói hay một cảm giác gì là mình chết trong đó, đi ra không được, giống như kiến bò miệng chén hay cá chậu chim lồng, cứ khởi lên là ra không được, lòng vòng trong dục tham sân. Ví dụ giận ai là cứ nhớ tới hình bóng người đó, cảm giác sanh lên, tưởng sanh lên, suy nghĩ nói lầm thầm, thức chỉ biết bao nhiêu đó, sáng trưa chiều tối lầm bầm nói bao nhiêu đó, nhiều khi ngủ chiêm bao cũng thấy người đó. Khổ! Đây là khổ! Khổ là đây! Thấy được là mình thoát ra, mình biết cái này là những thứ làm mình khổ. Tham dục cũng vậy, cứ lòng vòng một chút cảm giác đó, những hình bóng đó, những suy nghĩ về cái đó và cũng biết bao nhiêu đó, cứ lòng vòng hoài như vậy. Ví dụ mê xe, mê đồng hồ, cái nhà… là hình bóng đó cứ hiện lên hoài, nhớ cái đó không đi ra được. Lúc mình mới quen người yêu mà biết nhận diện ngũ uẩn chắc giờ này đỡ lắm, tại vì hình bóng người đó hiện hoài trong nội tâm, quý vị có thấy bao trùm hết tất cả thế giới, đời sống con người đâu có ra khỏi năm uẩn, vậy mà mình không thấy không biết mà Đức Phật gọi là vô minh. Nó đang có mặt, nó đang vận hành, nó đang làm cho mình khốn khổ, hoạn nạn mà mình không biết gì về nó. Tối ngày mình cứ "Phật độ để con hết tham sân si", Phật chỉ cho mình cách nhận diện để nhìn thấy được, rồi nhiếp phục tẩy sạch thì mình mới hết. Chứ mình cứ lạy lục cầu xin như Minh Thành ví dụ ngọn lửa đang cháy mà quỳ xuống cứ "lửa ơi tắt đi. Tắt đi lửa ơi", nói từ sáng tới chiều tối thì có tắt không? Nói thêm bảy ngày nữa có tắt không? Miệng thì nói tắt đi mà tay thì châm dầu vô thì làm sao tắt. Suốt đời lạy hoài thì làm sao tắt được, muốn tắt là thổi, dùng cái gì dập tắt nếu ngọn lửa lớn. Cũng vậy với ngọn lửa dục, thúc giục bên trong, ngọn lửa ưa thích có đốt cháy mình không? Mình đang nhận diện tham dục ái, ba cái này khác nhau, mình phải nhận diện đó là cảm giác của dục. Cảm giác thích thú, ưa thích này là ái. Ưa tu, ưa nghe pháp, ưa ngồi thiền, ưa quán chiếu là phải phát huy nhưng nó ưa mấy cái khổ là dập tắt nó, đoạn giảm, triệt hạ nó.

Có rồi nhưng muốn thêm là cảm giác của tham. Vì mình không nhìn nhận được cảm giác sâu sắc đó nên mình không thấy chứ không phải mình không có tham. Giống như trước giờ mình chưa học ngũ uẩn, giờ này mới biết thì ngũ uẩn đúng như vậy, thì như vậy đâu phải lúc trước mình không biết là nó không có. Giờ này mình mới biết, mới thấy nên Đức Phật dạy tâm thứ hai là tâm giống ánh chớp để mình thấy được. Tâm thứ ba là tâm kim cương tức là đoạn tận được tất cả lậu hoặc, dục tham ái đối với ngũ uẩn, đây là tâm kim cương của bậc A-la-hán. Mình phải luôn luôn soi gương, kiểm tra cảm giác trong đó là cái gì, chứ không phải chỉ biết có cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác trơ trơ vậy là xong, phải nhìn sâu vào trong cảm giác đó. Trong cái dễ chịu, khó chịu đó có cái gì, cái gì đang sanh khởi, trong phần niệm tâm hay niệm pháp trong Tứ Niệm Xứ thì sân chưa sanh nay đã sanh khởi thì phải biết bằng tuệ tri, mà biết bằng trí huệ xong là phải xử lý nó thì mới gọi là biết bằng trí huệ, chứ nếu biết mà vẫn để nguyên thì không gọi là biết bằng trí huệ. Đây là chỗ quan trọng, nhiều người hiểu lầm rất nhiều, nội tâm có sân thì biết nội tâm có sân, nội tâm có tham thì biết nội tâm có tham, biết rồi thôi. Minh Thành ví dụ mình nằm ngủ, biết có rắn hổ mang bò kế bên thì mình chỉ biết con rắn bò kế rồi kệ nó, cứ việc ngủ thì người đó có bình thường không? Người đó có vấn đề thần kinh, hai là bị liệt, ba là bị câm chứ người bình thường gặp rắn là la lên rồi. Cũng vậy, khi nội tâm xuất hiện lên sân hận hay tham dục thì đó là rắn hổ mang, tại sao mình chỉ thấy biết rồi thôi? Do đó Đức Phật nói biết bằng tuệ tri tức là biết bằng trí tuệ, lúc đó mình phải dùng như lý tác ý mạnh mẽ, đánh đuổi nó ra "ưa sân lắm hả? thích giận phải không? Muốn cảm giác đốt mình, đốt người, đốt cả nhà phải không? Đương nhiên là không muốn, mà không muốn thì đi chỗ khác chơi", "dập tắt đi, lắng dịu đi, thanh lương mát mẽ đi, đừng đốt cháy ta nữa, ngươi đốt ta mấy chục năm nay là vừa đủ rồi" Mình như lý tác ý mạnh như vậy mà lắng dịu thì tốt rồi, còn chưa lắng dịu thì mình phải quán mạnh những cái nguy hại của sân hận, cái sân này đưa đến cái gì, nguy hiểm tác hại của nó như thế nào, mình phải nhớ những vụ án hình sự, mình nuôi cái sân này có ngày chia tay, tan nát, xảy ra những trường hợp đáng tiếc thậm chí là tù tội. Quán sâu vào nguy hiểm và tác hại của nó, đem đống thịt bầy nhầy, bộ xương ra quán thì lúc đó cái sân dịu lại. Đó gọi là biết bằng trí tuệ. Quý vị có thấy phương pháp Đức Phật dạy ở đây là trực tiếp không? Đi thẳng vào trong hang ổ, xào huyệt, từ nơi này sanh khởi ra nguồn cội của khổ đau, tham sân si, mình triệt hạ nó ngay chỗ đó. Phương pháp này rõ ràng như vậy, đây là cảm giác của mình chứ không phải của ai khác, cái tưởng trong tâm mình chứ không phải của ai mà khó nhìn, những suy nghĩ trong ý hành của mình, như vậy mình cứ nhìn gương soi vào các tưởng. Chẳng hạn mình nghe một câu bực quá thì cái tưởng hình ảnh hiện lên sự la mắng, đánh lại thì mình tác ý "sao người tu lại có những hình ảnh này, xấu hổ quá, không xứng đáng là người tu, hình bóng này đáng nhục nhã" Mình thấy tàm quý, hổ thẹn như vậy thì mình mới đẩy cảm giác sanh những hình bóng ra khỏi tâm mình, sau này khi nó khởi lên như vậy thì nó e dè, cái tưởng đó từ từ sẽ bị xóa nhòa, phai mờ dần dần. Cái dục ái, cái bản ngã cũng vậy, khi khởi lên những ý nghĩ không tốt thì mình nói "xấu hổ, nhục nhã cho một người tu". Nếu như người kia hoặc những người bạn đạo thấy được những cái tưởng, cái suy nghĩ của mình thì mình úp mặt vô gối chết. Người ta không đọc được những cái suy nghĩ của mình, còn nếu người ta đọc được thì xấu hổ đến cỡ nào? Từ nhục nhã mà đưa đến thánh quả. Đó là bài Minh Thành giảng trên núi cho khóa tu vừa rồi "Từ nhục nhã đưa đến thánh quả", cái này rất quan trọng, nếu mình không phát sanh được cái tàm quý, tức là cái nhục nhã và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp thì không bao giờ mình hoàn thiện được thân tâm. Tại vì mình có lỗi mà mình không xin lỗi, cứ trơ trơ, như vậy thì làm sao mình nhận lỗi và sửa lỗi. Cho nên ý nghĩa của sự sám hối không phải chỉ là chuyện mặc đồ tu vào, gõ chuông rồi lạy 108 lạy là xong, mình lạy như vậy 100 năm thì cái lỗi vẫn y nguyên. Lúc lạy mình phải kiểm tra, kiểm soát lại tất cả những suy nghĩ, lời nói và hành động trong nữa tháng vừa qua, và mình xét những cái nghiêm trọng thì phải phát sanh cảm giác nhục nhã trước Đức Phật, xấu hổ trước Tam bảo. Mình quỳ lạy rồi nhìn lên Đức Thế Tôn thân hành, khẩu hành thanh tịnh, các bậc A-la-hán ba nghiệp trong sạch mà tại sao con đã thấy pháp, đã hiểu mà trong tâm lại còn chất chứa, dung túng các tham sân si, vô minh và ngã mạn. Nước mắt tràn ra, sanh khởi cảm giác đau xót thì lúc đó mỗi một lạy của mình là làm rung chuyển cái ác và bất thiện pháp, làm những cái rác bẩn trong nội tâm được tẩy rửa, như vậy mới là sám hối, mới là nội soi thân tâm mình. Mội cái tâm thanh tịnh, ác và bất thiện pháp giảm từ từ thì lúc đó mình mới phát huy từ, bi, hỷ, xả, những công đức trí huệ phát triển lên. Còn một cái tâm đầy rẫy tham sân si, bản ngã trong đó mà không thanh lọc, trừ ác, bất thiện pháp thì làm sao phát huy những cái lớn lao. Từ nhục nhã đưa đến thánh quả là hết sức quan trọng, là hai pháp tàm và quý của một người tu.

Từ đâu mình có những cảm giác, là từ cái sự luôn luôn nhìn lại, luôn luôn phản tỉnh, soi gương. Nếu mình không soi làm sao mình thấy, nếu không thấy làm sao phát giác ra, nếu không phát hiện thì làm sao biết dơ, không biết dơ thì làm sao chùi tẩy, không chùi lau thì làm sao đi đến chỗ sạch sẽ, thanh tịnh. Thành ra bước phản tỉnh hết sức quan trọng. Mà phản tỉnh là nhận diện năm uẩn, nói đơn giản là luôn luôn nhìn lại cảm giác và nghĩ tưởng, thường trực để ý những cảm giác, những nghĩ tưởng, thường trực để ý những hành động, những lời nói. Cho nên Tứ Niệm Xứ là một sự quay lại để nhìn thân thể, hành động, để nhìn những cảm giác, để nhìn những nghĩ tưởng, nhìn những cái sanh khởi nơi nội tâm, nó đang vận hành trong đó mình đều thấy, đều biết, đều có cách xử lý thật tốt đẹp. Để ý và nhớ thân thể, cảm giác nội tâm và những sự vận hành đang có cái gì trong đó, nếu có rắn thì đuổi ra. Quý vị nghe bài "Bên bờ kia", trong đó Đức Phật ví dụ có bốn con rắn độc, nói gần là bốn con tứ đại, nói sâu sắc là tham sân si và bản ngã. Kiểm soát chúng, mà quản lý được chúng là hay lắm. Minh Thành thấy kinh Nikāya tuyệt diệu ở chỗ Đức Phật phanh phui ra hết, còn mình ưa thích lời văn hoa mỹ miều, khen ngợi nhưng Phật không nói vậy, Đức Phật chỉ những cái tiêu cực, những cái xấu mà mình dẹp những cái đó thì hết khổ. Quý vị gặp hai người, một người mới gặp đã chỉ những lỗi xấu "về khám bệnh đi, coi chừng có triệu chứng nan y", người kia thì "chị có tướng mạo tu hành tốt, phúc tướng", thì hai người đó mình thích người nào? Nhưng người kia là người thương mình thật sự vì người đó có học ngành y, làm bác sĩ, dược sĩ, thấy những triệu chứng trong chuyên môn của họ mới nói cho mình mà chẳng những mình không nghe mà còn sân hận "vô duyên, tự nhiên nói bệnh nan y, trù hả", đây là phi như lý tác ý, tức là tác ý ngược lại, trong khi cái đó là tâm từ mà Minh Thành bị hoài, mình thương người ta cuối cùng mình lãnh đủ, thành ra cái thương và cái ghét mà không có trí huệ là không hiểu được, mình làm trật lất hết, đừng tưởng mình thông minh, những cái biết của mình là biết trong vô minh.

Người ngu nghĩ mình ngu

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí

Thật xứng gọi chí ngu

(Kinh Pháp Cú 05- Phẩm Ngu)

Mình biết mình ngu thì mình lo chỉnh cái ngu mới hết ngu thành người khôn, mình biết mình bệnh, mình lo trị bệnh thì thành hết bệnh còn này mình không chịu. Minh Thành ví dụ hai cái đơn giản, quý vị đừng nghĩ tu là vào chùa, lên chánh điện rồi mở kinh hoặc là lên bồ đoàn mới gọi là tu, mà quý vị phải kiểm soát trong tất cả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình tiếp xúc, ngay chỗ tiếp xúc sanh ra cảm thọ, cảm giác. Chính chỗ đó này các Tỳ-kheo, các đệ tử vực thẳm là ở ngay đây, ngay chính cảm giác. An trú vào cảm giác toàn thân thật vững chắc nếu không là nguy hiểm thay, cho nên Minh Thành nhắc quý vị phải soi gương bằng cách nhìn lại sắc uẩn, nhìn lại hơi thở, nhìn lại oai nghi, hành động, cử chỉ, thân thể sử dụng như thế nào phải biết là sử dụng như thế đó, đi đứng ngồi nằm phải tỉnh giác, ăn uống nhai nếm phải tỉnh giác, đại tiện tiểu tiện, co duỗi, cúi ngước đều phải tỉnh giác. Học tại đây, làm bài tập tại đây và thi ở tại đây, đậu hay rớt cũng tại đây.

Mình kiểm soát, kiểm tra những cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái suy nghĩ. Tại sao mình là người tu mà lại suy nghĩ như vậy? Cho nên chủ đề là "Soi gương và hổ thẹn". Soi gương và hổ thẹn để chấn chỉnh, chỉnh sửa lại, đây là một công trình tu tập, quý vị thấy một người lúc nào cũng chăm sóc cho sức khỏe, vóc dáng của mình thì người đó đỡ xấu nhiều không? Có nhiều người đưa hai hình, một hình có bụng bia, tập một thời gian là sáu múi, Minh Thành ví dụ để nói cái gì? Người luôn luôn để ý chăm sóc nội tâm thì người này chắc chắn sẽ đưa đến nội tâm tốt đẹp, người luôn để ý tham sân si, nhiếp phục thì nhất định sẽ đi đến chỗ đoạn giảm và diệt tận tham sân si. Còn một người hoàn toàn không biết năm uẩn, không biết dục tham sân si và bản ngã là cái gì thì người đó có thể làm chủ được không? Cho nên mình phải tập nhìn, soi rọi thân tâm, nhất là những cái làm cho mình sanh ra tham muốn, bực bội, bản ngã thì lúc đó mình phải nhìn thật kỹ, nhìn không kỹ thì nó cuốn mình vào sầu bi khổ ưu não. Giận một người đâu có khỏe mà mình lại hay giận, mình phải canh chừng cảm giác, nó vừa sanh khởi là mình giải quyết liền, khỏe lắm. Vừa thấy người ta quăng tàn thuốc là lấy giày đạp lên, chà tắt là nó hết. Còn để tàn thuốc đó lan ra là cháy hết như cháy rừng, cơn sân hận, cơn tham dục bản ngã cũng giống y vậy. Bà chủ chửi mắng thậm tệ người làm công, chịu hết nổi thì án mạng xảy ra, giết chết năm mạng người. Quý vị thấy khủng khiếp không, cái sân hận và bản ngã có thể làm những việc động trời nhưng nó xuất phát từ những cảm giác nhỏ bé nhưng cứ chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng và phát triển, cuối cùng bung ra là tan tành. Mình tu cái này sẽ đem lại an bình, hạnh phúc cho tự thân, cho gia đình, cho thai nhân và mình sẽ đóng góp vào thái bình cho toàn thế giới.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.