Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Thiền Quán - Sữa Cỏ Củi - Đống Xương Như Núi - Nhàm Chán Từ Bỏ Giải Thoát

2026-03-03 00:54:29
Kinh Nikāya Thiền Quán

Sữa Cỏ Củi – Đống Xương Như Núi

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài Kinh PAGEREF _Toc113024159 \h 1

II. Thiền quán nhàm chán PAGEREF _Toc113024160 \h 4

I. Bài Kinh

Kính thưa các bậc hiền trí, Tăng, Ni và quý Phật tử. Hôm nay là rằm tháng 7, đại lễ Vu Lan, nhân sự việc này chúng ta chiêm nghiệm lại một phương diện sâu rộng về hiếu đạo rộng lớn, theo tinh thần kinh tạng Nikāya trong Tương Ưng Vô Thỉ, Vu Lan trong Nikāya rất là sâu xa và rộng lớn. Trước khi tổ chức lễ Vu Lan cho Phật tử tại chùa Bửu Liên, bây giờ thì chúng ta chiêm nghiệm sâu sắc, rộng lớn, dài xa về công ơn của cha mẹ. Để lấy đó làm động lực để thực hành hiếu hạnh, đại hiếu, hiếu thảo to lớn, Sau đây là bài kinh “Sữa”

“Một thời Thế Tôn Trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

-Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?

-Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!

-Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập II – bài kinh Sữa)

Sữa mẹ mà chúng ta được mớm, nhiều hơn nước của biển cả. Chúng ta đã từng gà, dê, trâu, bò, heo, chó ngựa, đã từng trải qua đời sống của súc sanh, thú vật. Cho nên chúng ta nhìn đi, nhìn trong tâm thức, cảm giác của mình, nhìn ra ngoài xã hội chúng ta thấy, bây giờ rất là nhiều chúng sanh phần con nhiều hơn phần người. Chúng ta đã từng làm những con bò con để bú sữa mẹ, đã từng sống những đời sống cô hồn, quỷ đói. Chúng ta đã từng chịu đựng những cảnh thảm khốc, khủng khiếp, hải hùng, kinh hoàng và hoảng loạn ở trong địa ngục. Chúng ta đã từng sinh ra được 5, 3 tuổi rồi chết, 1,2 tuổi rồi chết, thậm chí mới tượng hình ở trong bào thai là bị giết chết vô lượng, vô lượng, vô số, vô tỉ lần.

Tiếp theo chúng ta đến bài kinh “Cỏ Và Củi”

“Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-Này các Tỷ-kheo”.

-Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

-Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập II – bài kinh Cỏ và Củi)

Chúng ta chưa nói đến cây cỏ, cành lá trên cả trái đất này, chúng ta chỉ nói tại Linh Quy thôi. Chúng ta thử tưởng tượng, mình bứt từng cái lá cây bỏ xuống, từng cái lá trúc bỏ xuống “Đây là mẹ của tôi, là mẹ của mẹ tôi, là mẹ của mẹ của mẹ tôi”, bao nhiêu bà mẹ? Bao nhiêu dòng sữa? Bao nhiêu sự tham dục, tham ái? Bao nhiêu sự chấp thủ, đau khổ, chia ly, tang tóc, lo lắng, bất an, sợ hãi? Mỗi khi mẹ mình bệnh, gặp tai nạn, bệnh hoạn hay mẹ mình chết, ra đi. Bao nhiêu lần chúng ta khóc tức tối? Bao nhiêu lần chúng ta đã đau khổ tột độ, tận cùng? Bao nhiêu là ngàn lần, vạn lần, tỷ lần?

Bài kinh “Quả Đất”

“Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người từ quả đất lớn này làm thành những cục đất tròn, lớn bằng hạt táo, cầm từng cục đất đặt xuống và nói: "Đây là cha tôi, đây là cha của cha tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các người cha, cha của người ấy. Nhưng quả đất lớn này đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày càng lớn lên.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập II – bài kinh Quả Đất)

II. Thiền quán nhàm chán

Chúng ta cứ tưởng tượng, hết một ngọn đồi, ngọn núi Linh Quy, chúng ta cứ nhặt từng các viên sỏi, nhặt từng cục đất nhỏ bằng hạt táo nói: “Đây là cha của tôi, là mẹ của tôi, đây là cha của cha tôi, mẹ của mẹ tôi, đây là cha của cha của cha tôi.” Lá cây, cành cỏ, có thể cạn kiệt trên toàn trái đất này. Nhưng những người cha, những người mẹ, đếm không xuễ, không hết, không đủ. “Không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là những người cha, cha của người ấy”. Chúng ta đã từng làm con của bao nhiêu người cha, người mẹ trên trái đất này? Chúng ta đã từng làm cháu của bao nhiêu ông, bao nhiêu bà trên địa cầu, hành tinh này? Chúng ta đã đóng bao nhiêu vở tuồng của những đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch, phan ngang, bổ củi, hỗn hào, phùng mang, trợn mắt, mắng chửi, đánh đập cha mẹ? Bao nhiêu lần chúng ta sanh ra là những đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch, thậm chí là ngũ nghịch, rơi xuống địa ngục, hay là giết cha, giết mẹ, vì một chút tài sản, một chút sân si?

Đã rất là lâu ngày chúng ta chịu đựng khổ, chúng ta không phải mới chịu đựng đây đâu, không phải chúng ta mới chịu đựng lần đầu, mất cha mất mẹ. Không phải chúng ta mới chịu đựng lần đầu, cha mình bán thân bất toại, mẹ bệnh ung thư, không phải chúng ta mới chịu lần đầu.

Những bài kinh khác Đức Phật nói:

“Này các Tỷ-kheo, khi các ông gặp tai nạn, tai họa như vậy, các ông phải nghĩ rằng: “Chúng ta đã chịu đựng những cái thứ này, trăm, ngàn, vạn, vô lượng lần.”

Khi các ông có gặp những cuộc vui, các ông phải nghĩ rằng: “Những cái này chúng ta đã từng nếm trải vô số, vô lượng lần những trò này.”

Khi chúng ta bị mắng chửi, huỷ nhục, kinh khi, chúng ta phải nghĩ rằng: “Cái này chúng ta đã chịu đựng vô lượng, vô số, vô biên, vạn ức lần rồi, chúng ta bị mắng chửi, chúng ta đã bị huỷ nhục đã lâu ngày rồi.”

Này các vị, các ông đã chịu đựng khổ, thống khổ, đã chịu đựng tai họa.”

Khi chúng ta bị ăn cướp, ăn trộm, mất đồ, bị giật nợ, giật hụi, cướp đoạt, chúng ta phải nghĩ rằng: “Những cái này là con phải chịu vô số, vô lượng lần rồi”

Hãy nhàm chán, ngán ngẩm, ê chề, não nề, chán chê với những trò cũ rích này, những vở tuồng tham, sân, si, dựt dọc, tranh giành này, nó đã cũ rích, ngàn năm, mười ngàn năm, triệu năm, tỷ năm rồi. Phải nhìn xuyên thấu, xuyên thủng, xuyên phá nó. Vô minh che đậy, không biết được bản chất vô thường, khổ đau, trống rỗng, bất an, tai họa của ngũ uẩn. Nên chúng ta mới ham thích, ưa thích, say sưa, đắm đuối, si mê, nghĩ rằng “đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi”. Mà chúng ta không thấy rằng, chúng ta đã chịu đựng khổ, thống khổ tai họa, tai họa, trong cái vòng luân hồi oan nghiệt này. Chúng ta đã chịu đựng biết bao nhiêu tai họa? Chồng chết, con chết, cha chết, mẹ chết, ông chết, bà chết, cháu chết, anh, chị, bạn thân, huynh đệ, thầy trò chết. Tất cả những cái này chúng ta đã trải qua vô lượng, vô số, vô biên những vở tuồng cũ rích, nhàm chán như vầy đã lâu ngày.

Cái câu này phải đọc tới, đọc lui “đã lâu ngày chúng ta chịu đựng khổ, thống khổ, tai họa”. Tai họa bất hình lình có xảy ra với mình, không có gì phải hoảng loạn hết, mình đã chịu đựng tai họa này trăm lần, ngàn lần, ức lần, vạn lần, tỷ lần. Một sự vu khống, vu oan giá họa cho mình, mình đã chịu cái này vô số lần. Sự hơn thua, giật dọc, tranh giành, đấu đá, lừa gạt, gian trá cũng vậy.

Mình phải nhìn xuyên qua, thấu qua, thủng qua những trò cũ rích con nít, những trò chơi của trẻ con trong cuộc đời này, nhìn ra tất cả vở tuồng là trò chơi của con nít “người ngu mới mê đắm, kẻ trí nào đắm say”. Nói một câu, đáp lại hai ba câu, ngu si, bản ngã, hơn thua, để làm cái gì? Để được cái gì? Để chuốt lấy phiền não, để chuốt lấy bực tức, sân hận, thù hằng, chứ được cái gì. Mình phải có cái nhìn thấu thị, xuyên thủng, xuyên phá, tất cả những cái trò tham, sân, si, dục, ái, bản ngã của vô minh này. Đã lâu ngày, chúng ta chịu đựng khổ đau, thống khổ, đau đớn thống thiết, thảm thiết. Đã rất là nhiều kiếp rồi, chúng ta phải chịu đựng những cái tai bay họa gửi này.

Giờ có mắng, có chửi, chà đạp cũng chả có gì quan trọng trong cuộc đời này. Chỉ có nhìn thấy được sự thật này mới là quan trọng, tối thượng, ngoài ra không có gì quan trọng, chết cũng không quan trọng. Quan trọng là thấy được sự thật của năm uẫn này, thấy được sự thật của khổ đau này. Thật là nhàm chán, thật là vừa đủ để cho chúng ta nhàm chán. Chúng ta nhàm chán với những cảm thọ ở trong con người, những cảm thọ tham, sân, si, bản ngã “tại sao có một vở kịch mà mày đóng hoài, mày không thấy nhục hả? Cứ hèn hạ, thấp kém, ngu si vậy” Phải la cái tâm của mình, phải đánh thức cái tâm u mê, ngu mụi, ngu si.

Các mộ phần ngày càng lớn, chúng ta hãy nhìn những nghĩa trang, nghĩa địa. Chúng ta có thời gian hãy đi và đưa người thân mình đi vào lò thiêu, để mà nhìn một sự thật, mình phải ở đó thật lâu, nhìn thật sâu, xét thật kỹ, đưa những hình ảnh, cảm xúc, suy tư đó, thiết lập, đặt để, và an trú trong tâm của mình. Đừng cho những hình ảnh đó mất, đừng để những cảm thọ đó bị phai nhòa, đừng cho những suy nghĩ đó bị mai một. Hãy nhìn cho kỹ cái đống tro tàn, sau khi đẩy cái lò thiêu ra, đẩy vào cái quan tài, mà bây giờ thiêu trở thành một đống tro tàn. Một con người có đầy đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, bây giờ trở thành đống tro tàn, đống bụi bẩn, một nấm mồ, một cái nguyệt, cái mã.

Mình kêu cái tâm mê của mình “nhìn đi, mở con mắt to ra để nhìn, cái gì là của mày? Cái gì là mày? Cái gì là ta? Cái gì là của ta? Cái gì là tự ngã của ta? Sao cứ bám víu, nắm bắt, hơn thua hoài vậy? Mày không thấy nhàm chán, sự khờ dại, ngu si, hèn hạ của mày? Mày có biết là đang làm cái trò của con nít, ấu trĩ không? Sao tối ngày mày cứ thúc giục, cứ dao động, chạy đuổi, hơn thua, sân, si, tranh đấu với người ta để làm cái gì hả cái tâm mê ngu si này? Tỉnh hay là chưa? Chưa thì dập đầu xuống trước Thánh tượng Đức Thế Tôn, bài “Sám hối diệt ngã” dập đầu mày xuống, đập đầu ở trước Bậc Thánh Đức Tôn giả Xá-Lợi-Phất.”

Phải lay nó dậy, phải đánh thức cho nó tỉnh cái tâm mê, ngu si này. Chúng ta nhìn đi, mộ phần ngày càng lớn thêm lên, chết rồi cũng nằm chưa yên, người ta bốc mồ, bốc mã, móc cốt lên, hết đất rồi nằm chật chỗ của người ta, để người ta làm ăn, kiếm tiền nằm chật đất của người ta. “Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo là vừa đủ để cho các Ông nhàm chán, là vừa đủ để cho các Ông từ bỏ, là vừa đủ để cho các Ông thoát ra đối với tất cả các hành này.”

Bao nhiêu dòng sữa mẹ? Bao nhiêu sự chăm sóc của người cha? Chúng ta đáp đền, báo hiếu, có một cha một mẹ này sao đủ, làm sao chúng ta báo hiếu đủ đây? Cho nên chúng ta nhìn thấy, có khi mình gặp cái người đó tự nhiên mình thương mến vô cùng, nhận làm mẹ nuôi, chị nuôi, ba nuôi, đó chính là những cha mẹ gần, trong những đời kiếp trước của chúng ta “chúng ta có thấy cái này không ạ?” Có những người mình gặp, cái mình mến, mình thương, ngọt ngào, có cảm giác thân thiện lạ kỳ.

Đó chính là những cha mẹ mà trong những kiếp gần, cái thọ của quá khứ nó còn, cái hơi hướng, mùi vị của nó mình bắt được. Còn những cha mẹ mà xa trăm kiếp, ngàn kiếp, nhiều ngàn kiếp, quên rồi. Có những người bạn mình chơi thân như anh em ruột, đó là những anh em đời trước của mình, những kiếp gần. Họ đến đòi nợ, trả nợ, hoặc là nó trả nợ mình. Nhiều khi làm cho mình khổ đau, te tua, tơi tả, mà mình vẫn thương, vẫn quý, vẫn chơi thân, đó là những anh em ruột đời kiếp mà gần của chúng ta.

Có những ông cụ, bà cụ, mình thấy người ta khổ, bán vé số hay là mù lòa, thiếu ăn gì đó, mình nhìn, nước mắt tuôn chảy, mình xót xa, mình thương, mình phải làm cái gì cho bằng được để giúp, đó là ông bà nhiều kiếp của mình đó. Chúng ta mù lòa, chúng ta đâu có thấy, nếu chúng ta không nghe lời dạy của Đức Phật trong Tương Ưng Vô Thỉ, thì chúng ta cứ nghĩ đây là tình thương bình thường, thấy người ta nghèo khổ quá tội nghiệp, nhưng là ông bà của chúng ta những kiếp gần.

Có những người những người trong gia đình mà không có thân, mà rất là thân với những người dung. Có rất nhiều những tình trạng để chúng ta quán chiếu, nhìn thấy vòng luân hồi, trả vay vay trả, ân oán oán ân, thân thân, sơ sơ, thương thương, ghét ghét này. Mình quán chiếu, để mình nhìn thấy cái hiếu của mình phải là cái đại hiếu. Thật sự mỗi ngày, cố gắng chia sẻ pháp và tự thân con tu, là con báo hiếu cho các ông, các bà, các cha, các mẹ, các cô, các chú, đang ngồi đây.

Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, quý vị là các ông, bà, cha, mẹ, cô, bác, anh, chị, em nhiều đời nhiều kiếp, có khi từ đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho tới bây giờ, cùng tu ở thời đó đó. Cho nên bây giờ mình nghe, mình mới chấp nhận được cái pháp này, mình nghe mình mới vỡ òa, mình nghe mình mới xúc cảm, chấn động. Chúng ta trôi, lăn, chìm, đắm cho tới bây giờ, phải cho nó xót xa, cay đắng, ưu tư, trăn trở, thao thức trong sự tu hành này. Chứ không có tu mà trơ trơ, ngơ ngơ đơ đơ như vậy, tu mà không có cảm xúc, cảm thọ, cảm giác gì hết. Như lục bình trôi sông, nước chảy lên thì nó lên, nước chảy xuống thì nó xuống, nước đứng thì cứ lửng lờ như vậy. Chúng ta nghĩ rằng khi Đức Thế Tôn còn tại thế, thì nghe những lời này các vị Tỷ-kheo có tràn nước mắt không? Có chấn động thân tâm không? Lông tóc dựng đứng, nước mắt đầy mặt, chấn động thân tâm. Những tất cả lời trong kinh là để chúng ta quán chiếu, để chúng ta thấm thía, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm thấu đáo.

Cho nên ngày lễ Vu Lan chúng ta phải là đại hiếu, Đức Thế Tôn được gọi là đại hiếu Thích Ca Văn, báo đáp những cha mẹ trong vòng luân hồi này, bằng Thánh trí tuệ.

Bài kinh “Người”

“Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).

Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo.

-Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.

-Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo...

Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập II – bài kinh Người)

Xương của một người giữ lại, đừng cho nó phân hủy, giống như cách ướp xác ở Ai Cập, một người thôi thì chấc bằng cái núi. Những tấm thân mà chúng ta đổ xuống, chết đi, những bộ xương mà chúng ta để lại, nếu bảo quản, giữ gìn cẩn thận theo công nghệ kỹ thuật giống như ướp xác ở Ai Cập. Thì xương người của chúng ta, của một người bằng một ngọn núi, núi Gijjhakuuta là một ngọn núi rất lớn.

“Này các Tỷ-kheo, vậy là vừa đủ cho các Ông nhàm chán, vậy là vừa đủ cho các Ông từ bỏ, vậy là vừa đủ cho các Ông giải thoát khỏi tất cả các hành.” Bao nhiêu tấm thân? Bao nhiêu cái đầu lâu? Bao nhiêu bộ xương? Đến giờ này cũng còn dục, ái, tham, sân, si, cũng còn chưa có ngao ngán, chưa nhàm chán, từ bỏ. Cho nên trong ngày lễ Vu lan, chúng ta chiêm nghiệm, thiền quán, nghiền ngẫm nhiều lắm Tương Ưng Vô Thỉ. Để chúng ta nhắc lại đại công, công lao của cha mẹ, trong vòng luân hồi vô lượng, vô tận, vô biên, nào là sữa bằng nước bốn biển, thân nhiều như là những hạt sỏi ở trên trái đất.

Những người cha nhiều như những hạt sỏi trên địa cầu, những người mẹ thì nhiều như những cái cành, nhánh, lá, cỏ trên toàn thế giới. Để chúng ta có một cái nhìn, một cái trí tuệ rộng lớn về sự báo hiếu, nhất là người xuất gia và các vị tập sự xuất gia đi tu. Chúng ta đừng nhìn cha mẹ một cách nhỏ hẹp chỉ trong đời này, mình đi tu, rồi khi mình nhớ thương, mình nghe gì đó là mình lo lắng, ngồi thiền không được, muốn chạy về nhà. Và mình biết rằng, là chỉ có sự thể nhập Chánh kiến, chỉ có sự thành tựu thượng nhân pháp, thành tựu tri kiến của bậc Thánh, chỉ có sự thấu đáo được sự thật bản chất của thân tâm, của thế giới này. Chỉ có sự thực hành tám đúng, thì mới báo ơn đức đầy đủ, trọn vẹn, viên mãn. Báo ơn thực sự là báo ơn cùng khắp đối với tất cả mẹ cha trong vòng luân hồi. Đó là chúng ta thiền quán bài kinh “Sữa”, bài kinh “Cỏ Và Củi” và bài kinh “Quả Đất”, cũng như là bài kinh “Người”.

(Phần Phật tử trình pháp)

“Tâm thương này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng, khắp trời đất bao la”

Mong cho các Phật tử trong mùa Vu Lan lòng đầy hiếu tâm, hiếu đạo, hiếu hạnh. Thành tựu đức hạnh, thiền định, trí tuệ cứu cánh phạm hạnh