Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghe Giảng & Thiền Quán Khác Nhau Thế Nào

2026-03-03 00:54:30
Nghe Giảng & Thiền Quán Khác Nhau Thế Nào?

Thích Minh Thành

Ngày 24 tháng 11 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán PAGEREF _Toc90839357 \h 2

II. Hỷ và ưu PAGEREF _Toc90839358 \h 4

III. Thức PAGEREF _Toc90839359 \h 7

I. Thiền quán

Mời các vị trình bày sự tu học, tổng kết lại những pháp mình đã tu học, mình đã học được những gì, thực tập được những gì từ vấn đề thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, đến pháp tâm hiền. Đây là mang tính chất giới thiệu tổng quát, vì đúng thì mỗi pháp có thời gian tu học riêng, đào sâu vào. Vì thời gian các vị đến ngắn nên với tính cách giới thiệu tổng quát, căn bản để chúng ta có được khái niệm, cách thức để khi trở về mình có duyên với pháp nào thì mình thực tập.

Trong năm ngày qua, các cô đã thực tập về thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, thực tập tâm hiền, hiện tại lạc trú, thực tập tâm từ và hôm nay thực tập quán bộ xương.

Mời quý vị nói lên những cảm nhận, thu hoạch của mình về những phương pháp đó.

04:00-49:00: sư cô trình pháp

Ngày trước sư cô Tuệ Nhẫn có hỏi nhưng Minh Thành chưa trả lời được. Về lúc khi mình nghe pháp và lúc ngồi thiền được nghe những bài tác ý thì có giống nhau hay không? Đó là khác nhau.

Đều là mình nghe pháp nhưng khi nghe để mình nhận thức và hiểu ra được vấn đề. Khi mình nghe pháp, nghe giảng thì tâm mình hướng theo lời giảng, lời pháp, bài pháp, để mình hiểu ra được vấn đề đó. Đối với khi thiền quán, là sâu sắc, tế nhị hơn. Khi thiền quán thì người nhận diện được ngũ uẩn thì mới thực tập được thiền quán một cách chính xác và sâu sắc, mới có thể khai mở được những cảm thọ hiền thiện, trí tuệ, những cảm thọ thấy biết về khổ, những cảm thọ nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ. Vì vậy, thiền quán sâu sắc hơn nghe giảng.

Các cô có thời gian nghe những bài kinh Nikāya giảng giải sẽ khác với những bài Tinh hoa Nikāya Thiền quán sẽ khác. Về ngôn ngữ, âm điệu, cách trình bày khác nhau. Khi Thiền quán thì người giảng nói với tâm sâu sắc, đưa vào cảm thọ của người nghe và người nghe phải biết an trú tâm mình trong cảm thọ và dẫn những lời tác ý đó đưa vào trong cảm thọ. Điều này phải thật thiện xảo.

Nên lúc xưa khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì trong các bài Trưởng lão ni kệ, Trưởng lão tăng kệ mình sẽ thấy rất nhiều các vị chứng Thánh quả là nhờ triển khai thiền quán. Vậy nên khi mình nhận diện được năm uẩn, biết được thọ, tưởng, hành, thức của mình thì khi nghe tác ý thì mình đưa những lời tác ý đó vào trong cảm thọ, làm cho cảm thọ của mình thấm, ngấm, được ngấm tận vào xương tủy, tâm, não của mình, để cho nó đi vào thật sâu thẳm đến những tầng lớp thâm sâu của cảm thọ mình. Sẵn sàng mở tâm của mình ra để đưa những lời tác ý của Thánh trí, của sự thật, đưa nó đi càng sâu càng tốt.

Khi cảm thọ được trào dâng thì đừng kiềm hãm lại, kiềm chế mà hãy để cho cảm thọ bung ra. Vậy nên khi Minh Thành đưa micro cho các sư cô trình pháp mà có những cô khóc, xúc động nhiều là Minh Thành để cho các vị tuôn trào cảm thọ ra. Có thể không biết nên các cô sợ khóc trước mặt người ta thì sợ bị nghĩ là yếu đuối nhưng không phải vậy, đó cũng là bản ngã, để cho cảm thọ về hiền trí thấm đẫm về thâm sâu về vô thường, về đời sống này một sự thật phũ phàng thì mình cho cảm thọ đó tuôn ra. Những lần tuôn ra như vậy là khai mở cánh cửa của cảm thọ, sau đó mình sẽ thấy thân tâm của mình nhẹ nhõm, sự thấy biết của mình về pháp sâu sắc hơn.

Mỗi lần cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình trào dâng chấn động, chấn cảm, kinh cảm, rung chuyển tất cả sự chấp thủ trong mình. Như Đức Thế Tôn đã dạy bài kinh Thủ chuyển, nó làm cho các sự chấp thủ của mình bị rung chuyển, năm thủ uẩn bị rung chuyển trước sự thật, chân lý, ánh sáng của Thánh trí. Vậy nên nó khác nhau như vậy.

Ngày đầu các cô đến Minh Thành đã mở bài thiền quán nên làm cho các cô thấy lạ, thấy sốc, lạ vì Minh Thành muốn đưa một điều rất mới, nếu tâm mình chịu cởi mở, chịu học hỏi như chúng ta là những người hiền thiện, hiền trí, cung kính pháp, khát ngưỡng pháp, cần cầu pháp, tôn trọng pháp, quý mến pháp, học hỏi pháp, lắng nghe pháp thì chúng ta dễ dàng tiếp nhận. Vì chúng ta là những người bỏ tất cả, bỏ cha mẹ, gia đình, sắc đẹp, tài sản, tuổi trẻ, những gì thành đạt. Chúng ta đã hủy hình, hủy bỏ hình thể, như mái tóc là góc con người, nhất là đối với các cô. Chúng ta đã hủy bỏ vẻ ngoài của hình thể để cầu sự thật, nên những người thật tâm, chân tu, thật học cầu pháp thì khi họ thấy sự thật thì họ sẽ bỏ qua tất cả những thứ khác để họ tìm cầu sự thật ấy.

Thiền quán có công năng, tác dụng là đốt cháy phiền não rất mạnh nhưng khi thực tập thiền quán thì phải trải qua là phải nhận diện được ngũ uẩn. Vì không thấy được ngũ uẩn là không thấy được mình thì làm sao để tu. Và khi mình đã nhận diện được cái nào là thọ, cái nào là tưởng, là hành. Hiện tại có những vị khéo léo nhận diện nhưng cũng có những vị chưa nhận diện được chính xác. Vậy nên chúng ta cần thực tập thêm.

Ở đây, chúng ta bằng tấm lòng tự tâm, quý mến, tôn kính, những người xuất gia là những bậc tôn giả, người đáng tôn kính. Bằng sự chia sẻ hết lòng với nhau về pháp, chúng ta nhận diện được ngũ uẩn rồi thì chúng ta thực tập thiền quán. Khi thực tập thiền quán được thì mình sẽ thấy con người mình thay đổi từ trong cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng và trong nhận thức sẽ thay đổi.

Và một khi bên trong thay đổi thì bên ngoài hình dáng đổi theo. Đức Phật thật tuyệt diệu, tối thượng. Vì mình chưa học được hết trí tuệ của Đức Phật, những phương pháp của Đức Phật. Bên ngoài là Đức Phật có sự hộ trì căn, kế đến là cảm giác toàn thân, sau đó là Đức Phật có những tác ý, tuệ lực thiền quán bên trong phá thập diện. Đức Phật đã phá tám mặt, gọi là Bát Chánh Đạo, hay còn gọi là thập Thánh đạo, Chánh Trí, Chánh giải thoát. Khi học chúng ta chỉ biết Bát Chánh Đạo hay Thập Thánh Đạo. Đối với bậc A-la-hán thì còn có Chánh Trí, Chánh Giải Thoát.

Vì vậy, Đức Phật rất tuyệt diệu, nếu có duyên các cô hãy ở lại, hoặc ở các tịnh thất, khi các cô đủ duyên sẽ tu. Minh Thành cũng như đại chúng ở đây hoan nghênh tất cả các vị. Nhất là những vị tu hành theo Chánh Pháp, Nam Tông rất gần với Đức Phật nên đó là duyên lành của chúng ta.

II. Hỷ và ưu

Thứ hai, có các vị trình pháp thì chúng ta thấy được hỷ và ưu, có ngày tu tập Hiện tại lạc trú thì chúng ta vui, sáng nay quán Bộ xương thì chúng ta khóc. Nhưng hỷ và ưu không phải là cái vui và buồn tầm thường mà là cảm thọ của thiện pháp, Thánh trí, không liên hệ với vật chất. Mình tự hỏi “Khi mình ngồi thiền lúc nào cũng thấy mình thở vô thở ra, để cho tâm của mình yên mà giờ ngồi thiền có suy nghĩ, có tác động tâm ý, có những lời nói và khóc như vậy?” Đây là chỗ đặc biệt.

Vì mình tu không phải đến chỗ mình không có cảm giác mà tu để khai mở những cảm giác hiền trí, cảm giác trí tuệ, cảm giác thấu suốt về bản chất của sự thật. Nếu như không có những cảm xúc, cảm chấn, cảm động, kinh cảm đó thì làm sao mình vỡ ra được khối vô minh uẩn? Làm sao mình làm bể ra được ngọn núi của tham dục, tham ái? Vậy nên những lần đó là những lần rung chuyển, chấn động ở bên trong và mình càng chấn động càng nhiều thì sức công phá của sự thật càng lớn.

Nên khi nghe thiền quán thì mình đừng nghĩ là ai nói ai nghe, đừng phân tích lời đó đúng hay sai… Đó là tâm không nhu nhuyến, không thuận pháp, không tùy pháp, tâm chưa được tùy văn nhập quán, tùy pháp. Chúng ta phải bằng một tâm hết sức mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, pháp đi tới đâu là tâm mình vào tới đó. Nó sẽ không chống đối, không có ý tưởng sao nói như vậy, có đúng hay không… Đó là những ý hành thô, là tâm mình chưa nhu nhuyến. Vì đó là sự thật, những bài thiền quán đó không có gì là riêng của cá nhân người nói mà các bài thiền quán là chuyển tải lại Thánh trí tuệ, những định lý chứng ngộ của Đức Phật.

Khi chúng ta nghe các bài thiền quán là một cách diễn lại lời nói của Đức Phật theo ngôn ngữ hiện tại mà không có ý riêng của cá nhân người nói, không có người nói trong đó, đó chỉ là sự thật. Nên khi mình thuận theo pháp, tùy pháp, mình để cho tâm mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng và nó đi theo pháp đã vận hành thì lúc đó mình sẽ được lợi lạc rất lớn. Lợi lạc là mình cảm nhận, cảm thọ, cảm xúc, chạm được sự thật, rung cảm, rung chấn đối với sự thật, kinh cảm trước sự thật, kinh động, chấn động, thể nhập thực tướng sự thật trong khi thiền quán.

Nên hỷ, ưu là việc bình thường, sau này khi mình tu học và có thời gian thì đối với tâm của mình, các cảm thọ khi sử dụng nó dễ dàng. Nếu mình muốn vui thì an trú cả tuần lễ mình luôn ở trong tâm hỷ, mình muốn trú trong tâm từ thì suốt trong bảy ngày, một tháng, ba tháng, nên muốn trú tâm nào thì mình tu tập trú vào tâm đó. Như muốn trú vào tâm xả thì mình trú vào tâm xả một thời gian dài.

Như bản thân Minh Thành được ở trong hỷ của pháp là suốt như vậy trong cả năm trời, không mất tâm hỷ của pháp, cứ nghe, nói về kinh Nikāya, tác ý về kinh Nikāya là rung động, cũng như các thầy có từng trình pháp là như muốn vỡ cả lồng ngực ra. Nó dâng lên trong cảm thọ và đó là hỷ lạc trong pháp. Vậy nên mình khéo léo điều hòa, cho nó từ từ và khi nó thâm nhập được thì rất tuyệt vời, mình muốn trú vào tâm nào thì mình sẽ trú vào tâm đó. Muốn trú tâm hỷ, tâm từ thì suốt một thời gian dài chỉ ở trong đó, mình muốn trú vào tâm bi mẫn thì trú vào tâm bi mẫn.

Giống như căn nhà, phòng ốc của mình thì mình dạo chơi trong đó, an trú trong đó. Vậy nên mình phải có cảm thọ, nên mình tu một pháp mà cứ đơ đơ ngồi thiền nhưng không thấy hạnh phúc, hứng thú, không thấy nó đem lại gì cho mình, chỉ ngồi yên như vậy thì đó là tốt nhưng chỉ được phần chỉ. Nhưng phần quán, triển khai để đi vào sâu trong sự thật thì nó bị khựng lại, dừng lại.

Hơn nữa, càng đi sâu vào thì chúng ta mổ xẻ, giải phẫu thân tâm của mình. Đây là bước sâu sắc về thiền quán. Chúng ta phải mổ xẻ từng hình ảnh trong tâm mình, từng suy nghĩ, cảm thọ mình sẽ mổ xẻ.

Nên tinh thần của kinh Nikāya là tích cực, siêu tích cực, không phải là chúng ta được rảnh thời gian nào. Thậm chí là mình moi móc, ở trong những cảm thọ của mình, trong những hình bóng trong tâm mình, mình phải đem nó ra xử, rà soát lại xem “À nó có cảm thọ sân, dục ái, bản ngã này.” Dù chúng không khởi lên nhưng mình soi vào xem để mình tác ý khi nó chưa khởi, tác ý khi nó đang khởi và tác ý khi nó đã chấm dứt, không có việc mình chỉ ngồi im lặng với nó.

Giống như có một con cá sấu bò vào nhà thì mình có nằm yên ngủ tiếp được không? Hay như rắn hổ mang bò vào nhà dù mình đã nhìn thấy nó bò vào thì mình có nằm ngủ tiếp được không?

Vậy nên thiền quán phải tích cực, năng động như vậy. Sau khi phát giác phát hiện những suy tư, hình bóng, cảm thọ ác bất thiện pháp của sự xúc giục, yêu thích, tham muốn những cảm giác bức xúc, bực bội, khó chịu, những cảm giác ta đây, khen mình, chê người, khinh thường người khác, cho mình là hay, là giỏi là hơn. Những điều đó mình chỉ cần nhìn thấy được trong cảm thọ hay ý hành là mình phải đem ra xử, mình phải quở trách suy nghĩ này là xấu hổ, suy nghĩ này là nhục nhã, thấp hền, hạ liệt, phàm phu, đáng tàm quý. Mình phải rầy la, quở trách nó như vậy.

Giống như một người đang đi thoải mái, tự nhiên, bỗng nhiên họ nhìn thấy có người nhìn mình, lúc đó thì người đó có sửa cách đi, có rụt rè hơn, bỗng nhiên cẩn thận hơn, để ý hơn vì có người nhìn mình. Khi nãy vẫn đang tung tăng đi nhưng có người đang nhìn mình và đang nhìn rất kỹ. Cũng vậy, ngũ uẩn, tâm này bị trí chánh niệm tỉnh giác nhìn vào, nhìn ra được dục ái, tham, sân, si, bản ngã. Đó chính là sự nhận diện ngũ uẩn, sự quán chiếu thân tâm, sự chánh niệm tỉnh thức, giống như có một người để ý vào từng suy nghĩ, hình bóng bởi sự chánh niệm và tỉnh thức.

Cũng vậy, tâm bản ngã bị nhìn nhiều nên bị rụt rè, tham, dục bị nhìn vào nên rụt rè, sợ bị la, mắng chửi, bị xấu hổ. Như Đức Phật từng dạy trong Tương Ưng Bộ Kinh, sau này người ta phát triển thành Mười bức tranh trân châu nhưng thật ra trong kinh thì rất đơn giản. Đó là đánh con trâu một trận nên thân, trong Tương Ưng Sáu Xứ, nên sau này thấy lúa mạ nó sẽ không dám ăn vì nó nhớ đến trận đòn nên thân. Đó là do sự tác ý của mình, sự la, trách, quở tâm, rầy, mắng chửi tâm ác bất thiện pháp, tâm ái nhiễm, sân hận, bản ngã.

Đức Phật cũng đã từng dùng nhiều từ nặng để mô tả như: ái nhiễm là ung nhọt, bệnh hoạn, cục bứu, mũi tên, rắn độc, kẻ giết người, hố than hừng…Để quở trách, tác ý, rầy la, trách mắng. Đó là chúng ta nói sơ lược về thiền quán, về hỷ, ưu, mừng, vui, sự khóc trào dâng cảm xúc khi thiền tập là tốt cho mình. Có lúc bất động như ngọn núi, có những lúc mình uyển chuyển như dòng nước, lúc cong lúc thẳng, tùy theo dòng luôn phải chảy linh hoạt, uyển chuyển trí tuệ của mình, không thể lúc nào cũng thẳng và im lặng, không có pháp để trình nhưng giữ như vậy không phải là hay, vì đó là một tâm thụ động, tâm không sắc bén, linh hoạt, không có sự nhiệt tâm, tinh cần trong sự thấy biết về tự thân của mình.

III. Thức

Các cô cũng có hỏi về thức, thức thấy như vậy nhưng không phải là dễ hiểu. Trước khi Minh Thành đi vào tu học trong đường lối Nikāya này là tu mù trong hai mươi tám năm. Mình chỉ làm được các thiện pháp mà mình hài lòng. Nhưng khi đi vào trong dòng pháp này thì mắt mình mới bắt đầu được mở ra, nhiều khi chúng ta học là nhãn thức, nhĩ thức, thiệt, thân thức, ý thức và biết được đó là sáu thức thì đó chỉ là biết trên chữ nghĩa và mình chưa nhận diện được nhãn thức không phải là sự biết của mắt. Nếu có duyên chúng ta sẽ chia sẻ về nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn.

Nhãn thức là sự rõ biết các sắc, nhĩ thức không phải là biết của tai mà là sự rõ biết âm thanh, thiệt thức không phải là sự biết của lưỡi mà là sự rõ biết các vị, tỷ thức là sự rõ biết các mùi, thân thức là sự rõ biết đụng chạm. Các cô cần phải thuộc lòng những điều trên vì nếu không thuộc thì không bao giờ nhận diện được, mình chỉ nghe nhưng khi nói lại thì sai, tam sao thất bản dù mình chỉ mới nghe kinh nhưng nhắc lại vẫn sai. Như vậy là loạn pháp.

May mắn là trao cho các vị Thánh tăng nên giờ mình mới có Đại tạng kinh, nếu đưa chúng ta thì chốc lát đã biến mất. Nhưng khi được kêu học thuộc lòng thì lại nói là “Không học thuộc lòng vì đã nhớ!” Chính sự suy diễn trong thọ, tưởng, hành, thức của mình thì chúng ta nhìn thấy được hiện tại pháp vì họ đã không tôn trọng tuyệt đối lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác mà tự ý họ suy diễn, nhớ theo vô minh, tham ái.

Nên ban đầu còn có trích dẫn câu nói của Đức Phật nhưng dần dà không phải là Phật nói cũng nói là “Đó là Phật nói!” Đến cuối cùng thì đó là mạt pháp. Chính vì vậy nên cần phải học thuộc lòng, ngay cả Đức Phật cũng đã từng nói “Điều này các ông cần phải học thuộc lòng để liên hệ đến phạm hạnh!” Đó là căn bản của phạm hạnh.

Vì vậy, các cô cần học thuộc lòng Căn bản trí một và hai, nếu như không học thuộc lòng thì không thể nào đi vào thực hành mà mình biết được. Giống như định lý, phải thuộc lòng định lý thì từ đó mới ứng dụng ra. Giống như trong phim kiếm hiệp, mình phải thuộc những bí quyết, khẩu quyết, bí kíp. Cũng vậy, đây là những bí kíp Chánh Pháp, khẩu quyết Chánh Pháp, định lí Chánh Pháp. Khi thuộc lòng là pháp học, từ đó nhìn soi trở về nội tâm thì mình mới nhận diện ra được.

Sau đó dần dần mình nhận diện ra được những điều sâu sắc, vi tế, nhỏ nhiễm hơn và mình có những pháp tương thích, tương ứng để xử lý những lậu hoặc của mình.

Vấn đề trọng yếu trong sáu thức này là ý thức. Mời các cô chia sẻ ý thức mà các cô đã học.

76:00-82:00 Các sư cô trình pháp

Lúc trước Minh Thành không biết rõ, khi đi vào học theo tinh thần kinh tạng Nikāya nguyên gốc thì mình mới thấy là không phải như mình đã hiểu, bên trong có định lí của Đức Phật và mình không hiểu chung chung được.

Minh Thành sẽ hướng dẫn thêm một số, quý vị vẫn cần thực tập nhận diện bên trong mình.

… Đây là định lí, không phải mình muốn nghĩ ra sao thì nghĩ, muốn hiểu sao là hiểu mà đó là định lí của Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác giải thích cho chúng ta. Nếu mình không biết được ý thức thì không nhận diện được thức uẩn. Khi đó, mình sẽ không rõ về nó và không thành tựu trí tuệ về nó. Ý chỉ biết được thọ, tưởng, hành.

Ví dụ như khi đang ngồi thiền, mình để ý trong tâm mình có hình ảnh của mẹ mình, có một cảm giác dễ chịu, ấm áp, có những suy nghĩ không biết giờ mẹ đang làm gì. Mình để ý vào trong tâm thì hình bóng của mẹ mình hiện ra, cảm giác dễ chịu hiện ra, suy nghĩ về mẹ hiện ra và mình biết rõ điều đó. Ý thức biết được thọ, tưởng, hành. Đây là định nghĩa, định lí của Đức Phật.

Hoặc ví dụ như trong tâm mình hiện ra hình bóng của người lúc sáng đã nói nặng mình và mình có cảm giác khó chịu, suy nghĩ về người đó, tại sao họ nói như vậy, phân tích lời nói của người đó “Tại sao họ nói như vậy? Nói như vậy là khinh mình? Xem thường mình ra sao?” Khi đó tâm mình rõ biết được tâm mình có hình bóng của người mình giận, có cảm giác khó chịu, có suy nghĩ về người đó, rõ biết như vậy gọi là ý thức.

Thêm một ví dụ, khi mình đang ở trong phòng một mình, đột nhiên hiện lên hình bóng của một người dễ thương xuất hiện. Cảm thọ dễ chịu có mặt, những suy nghĩ về người đó: Người đó dễ thương như thế nào, mình từng gặp ra sao, có những hành động, cử chỉ gì… Lúc đó mình rõ biết được đang có hình bóng của người dễ thương, đang cảm thấy dễ chịu, cảm thọ dễ chịu, đang có những suy nghĩ về người đó. Đó là ý thức.

Vì vậy, ý thức chỉ biết được thọ, tưởng, hành, nhãn thức mới biết được những hình sắc bên ngoài, gọi là nhãn thức giới, phạm trù, giới phức của nhãn thức chỉ biết được hình sắc nhưng âm thanh không biết. Nhĩ thức thì chỉ biết về âm thanh còn mùi lại không biết. Tỉ thức thì chỉ rõ biết được mùi, thiệt thức chỉ biết rõ vị, thân thức thì chỉ biết được sự đụng chạm.

Ví dụ như mình để ý thì biết được quần áo đang chạm trong da thịt mình, hay khi ngồi thì mông mình chạm vào ghế, thanh tre và rõ biết được sự đụng chạm ngay nơi đó thì đó là thân thức.

Năm thức trước là biết được ở ngoài, ngoại cảnh còn ý thức là biết được trong thọ, tưởng, hành. Đây là định lí của Đức Phật, không có người nào khác có thể nói khác được điều này vì có một chuẩn mực. Không thể nói là “Giờ mình nói chung chung được!” Là mình đã không nhận thức được.

Khi để ý vào bên trong thì sẽ thấy được có cảm giác, hình ảnh, suy nghĩ, rõ biết được điều đó. Minh Thành đã nói ngắn gọn để chúng ta nhận diện được ý thức.

Nên khi học kinh Nikāya rất tuyệt vời, tất cả đều có định lí, không phải mình muốn suy nghĩ, muốn hiểu ra sao và khẳng định là “Tôi hiểu!” là không đúng. Đây đều là những điều Đức Phật chứng ngộ, trình bày cho mình và mình theo định lí đó, mình nhận diện lại thì sẽ ra pháp đó. Đó là mình đi theo sự chứng ngộ sự thật của Đức Phật, còn nếu mình tự suy nghĩ “Tôi hiểu, tôi nhận hiểu, tôi suy nghĩ, tôi cho là như vậy!” thì đó là của vô minh, không phải Thánh trí, điều của Đức Phật dạy mới là Thánh trí.

Và khi mình đã nhận diện được ý thức thì mình thành tựu trí về ý thức, trí huệ về nó, thấy, biết về nó và xem sự vận hành, vận động của nó ra sao thì mình mới có khả năng nhiếp phục, chế ngự được nó. Nếu mình chưa biết về nó, nói rằng “Để tôi tới gặp người kia để tôi xử lý họ!” nhưng họ tên gì cũng không biết, mặt mũi ra sao, đen trắng, cao thấp, mập ốm ra sao cũng không biết. Tính tình họ ra sao, già hay trẻ, lớn hay nhỏ đều không biết thì làm sao mình đến để xử lý người đó?

Vậy nên phải biết tên tuổi, mặt mũi, dáng vẻ, tính tình, gốc gác, chỗ cư trú ở đâu thì sau đó mình mới làm việc với họ được, xử lý họ được. Nên sự tu của mình trong kinh Nikāya là rõ biết hết tất cả nguồn gốc, tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn, từ đâu nó sanh khởi ra.

Chúng ta học kĩ nguyên lí sanh khởi của ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức do gì sanh khởi, vận hành và chấm dứt như thế nào? Chúng ta nắm được hết Ba mươi bảy trí về ngũ uẩn thì chúng ta phải học, nên Minh Thành khuyên các cô phải học thuộc lòng căn bản trí thì mới nắm vững được.

90-92: Sư cô trình pháp.

Ở đây, chúng ta chưa nói về tuệ tri mà chúng ta đang nói về ý thức. Minh Thành muốn trình bày cho chúng ta thấy được đây là sự giải thích của Đức Phật trong Tương Ưng Bộ Kinh. Khi trình bày duyên sanh pháp trong bài kinh Cả hai, Đức Phật giải thích ý thức là biết được những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm.

Vấn đề tuệ tri là một phạm trù khác, là lĩnh vực riêng, ở đây mình chỉ nói gọn về ý thức. Khi nãy giờ chúng ta trình bày về ý thức thì chỉ nói chung chung, lẫn lộn giữa ý thức, nhãn thức, nhĩ thức… Minh Thành phân biệt rạch ròi để chúng ta thấy được sự rõ biết sắc là nhãn thức, sự rõ biết tiếng là nhĩ thức, sự rõ biết mùi là tỉ thức, sự rõ biết vị là thiệt thức và sự rõ biết sự đụng chạm của thân là thân thức. Năm điều này ở bên ngoài, biết đến các đối tượng ở bên ngoài.

Ý thức ngược lại, nó biết đối tượng ở bên trong, biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong. Chúng ta chưa mở rộng đến tuệ tri mà chỉ đang nói về ý thức. Đây là định lí của Đức Phật trong bài kinh “Cả hai”, chúng ta cần tìm hiểu thêm, đọc thêm về bài kinh đó. Chúng ta khoan vội và phản ứng, đánh giá mà chúng ta sẽ thực tập nhận diện khi mình thiền tập trong thời gian ở đây. Đừng vội đánh giá hay phản ứng sớm vì đây là lời của Đức Phật, không thể thay đổi được, vì nó là định lí, không thể ý kiến. Vì nếu là lời của Minh Thành thì có thể ý kiến được nhưng đây là lời của Đức Phật thì không thể ý kiến, chỉ có thể tập nhận diện để nhìn ra nó. Lời của Đức Phật thì không thể bàn cãi, nếu là lời của ai thì mình có thể bàn cãi. Vậy nên chúng ta phải thuận pháp, tùy pháp để mình xem lại có đúng như vậy không, nếu thấy chưa đúng thì từ từ mình sẽ nhận ra để thấy đúng như lời của Đức Phật. Vậy nên cách học của kinh Nikāya khác với những cách học khác là như vậy.

Nên Minh Thành mong các cô cứ trầm tĩnh, kham nhẫn, để nhận diện thân tâm của mình, có những điều mình đã học, đã quen với nhận thức, nhận định đó rồi nhưng chưa hẳn đó là tuyệt đối. Chúng ta nên lấy kinh điển y cứ, y cứ vào Thánh điển để chúng ta nhận diện thân tâm của mình thì chúng ta mới có thể chạm đến sự thật thật sự.

Tâm thương này trải rộng,

Cùng khắp thể giới này

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.