CÙNG NHAU NHẮC NHỞ- CẨN TRỌNG- TINH CẦN- AN TỊNH TRẦM MẶC
CÙNG NHAU NHẮC NHỞ- CẨN TRỌNG- TINH CẦN- AN TỊNH TRẦM MẶC
Thích Minh Thành
Cảm nhận trời đất này, mở rộng tầm nhìn ra khắp không gian. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Cảm nhận sự bình an, cảm nhận sự yên tịnh, thanh tịnh, cảm nhận sự bao la, thênh thang và rộng lớn.
Qua sự việc vừa rồi chúng ta nhìn thấy được điều gì? Pháp và kinh tạng ở trong này rất nhiều. Sự việc vừa rồi cho chúng ta thấy chúng ta thiếu vài điều:
Thận trọng, cẩn trọng.
Nhiệt tâm, tinh cần.
An tịnh, trầm mặc.
Chúng ta không có sự cẩn thận, con thấy sự đối đầu với sanh tử trong việc đại chúng hỗn loạn, con thấy đó là thời đã đến. Đây không đơn thuần chỉ là một buổi nghe pháp, con đã thông báo trước một ngày mà không có một ai chuẩn bị, ngay cả với những người có trách nhiệm, cái này phải phạt người chịu trách nhiệm chính bên bộ phận quay phim. Chúng ta không cẩn trọng, không cẩn thận để chuẩn bị, mình mang cái tâm thế xem thường, trong sự tu và học pháp của mình cũng thế thôi. Nếu một bác sĩ bất cẩn có thể làm chết bệnh nhân, người tài xế bất cẩn có thể xảy ra tai nạn cho mấy chục mạng người, đầu bếp bất cẩn có thể làm cho thực khách ngộ độc thực phẩm, nhân viên bất cẩn có thể làm cho công ty phá sản, một bước đi không cẩn thận có thể nằm một chỗ suốt đời. Việc học pháp không cẩn thận có thể lạc lối vào tà đạo, tà kiến, mê tín suốt đời, tiền mất tật mang. Tu hành không cẩn thận có thể tẩu hỏa nhập ma trở thành Tăng thượng mạn, chưa thấy nói đã thấy, chưa ngộ nói đã ngộ, chưa chứng nói đã chứng, chưa đắc nói đã đắc, đó là hậu quả của sự bất cẩn. Cái tâm cẩn thả, xem thường này là một cái tâm thường thấy ở con người. Đế Thích là vị vua trời, tức là thiên chủ, cái chính yếu mà ngài tu là tâm thận trọng và lãnh đạo 33 tầng trời. Học không cẩn thận đọc kinh sai hết mà cũng không biết, tu không cẩn thận thì sự nghiệp cả đời xuất gia đổ sông đổ biển, bị thối đọa mà không hay biết. Mình đang được thầy lành bạn tốt chỉ dẫn từng chút một mà còn như vậy thì nói gì đến việc ở trong môi trường không thiện lành, không gặp chánh pháp thì mình sẽ đi đến đâu? Chúng ta đọc kinh Nikāya sẽ thấy sự thận trọng của Đức Thế Tôn, ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên, cái y của ngài chỉ chấm đất thôi là ngài đã thấy xấu hổ, tàm quý và phải sám hối mà đó là bậc tướng quân của chánh pháp, là bậc thượng thủ của Tăng chúng thời Đức Phật.
Còn bây giờ tu học, làm việc đều xem thường và có sự cẩu thả, không có sự để tâm. Khi con ngồi trên ghế tre thấy đại chúng lăng xăng, rối loạn chuẩn bị nghe pháp thì con không thấy đó là buổi chuẩn bị nghe pháp mà con thấy đó là sóng thần, động đất, thiên tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông và mọi người đang đối đầu với cái chết. Con thấy mọi người chạy lăng xăng trong giây phút người thân mình chết, cha mẹ mình chết, em mình chết và tự thân mình khi thời đã đến, lúc đó trong con tràn ngập lòng bi mẫn, xót xa. Làm sao mình đủ khả năng đối đầu với những tai nạn, bất trắc, thảm họa và cái chết? Chỉ cần bước ra khỏi thiền đường là rối loạn mà trong khi đó là giờ thiền, giờ hành thiền. Những người dẫn đầu rối loạn.
Cái tâm thứ hai chúng ta thiếu là sự nhiệt tâm, tinh cần trong pháp. Tinh là không có gì xem tạp vào, trong giờ mình thiền thôi mà mình đã vọng động với trạng thái của tâm thiền chứ khoan nói đến lúc xả thiền. Mình có tinh thuần trong 1 tiếng thiền đó không? Cho nên cái tâm thứ hai mình thiếu là nhiệt tâm, tinh cần.
Cái tâm thứ ba mình thiếu là sự an tịnh, trầm mặc. Đó không phải là danh từ trống rỗng để đọc trên môi mà đó phải là tiêu chí, khẩu quyết, phải là sự thực tập hằng ngày của mình.
Hôm qua con đã dặn lạy kinh xong thì đi thiền hành từng bước lên thì bây giờ có ai nhớ không? Tại sao mình phải làm như vậy? Bây giờ mình không giữ cái tâm trong giờ tu, giờ thiền thì làm sao ra khỏi giờ thiền mình có thể giữ được? Mình hoàn toàn sụp đổ, thất bại chứ đừng nói gì đến những tai nạn bất trắc xảy ra thì rất thê thảm. Làm sao mình có thể giữ được sự định tĩnh, chánh niệm, điều này không thể xảy ra. Chúng ta tu học là để đối đầu với tai nạn, để chạm mặt với những cái bất trắc trong cuộc đời này và cái sau cùng chúng ta thành tựu là khi đương đầu với cái chết vẫn có sự bình tĩnh, bất động. Đó là kết quả, là thành tích, thành công của chúng ta. Mình tu là để chinh phục sanh tử, bước lên sanh tử, bình thản và bất động trước sanh tử. Mục đích mà chúng ta hướng đến rất tối thượng mà chúng ta lại không lo tạo nền tảng, chỉ toàn là sự ảo tưởng trong sự tu. Các chú vào dọn thất cho con thì cửa chánh mở toang hoang, con đã nhắc và các chú cũng đã sám hối rồi nhưng lần sau cửa chánh không mở mà cửa sổ lại mở. Con thấy cái tâm thức chúng ta đang rong chơi rất nhiều, những cái hết sức gần gũi trước mắt mà mình vẫn chưa làm được. Mình phải đi những bước vững vàng dưới đất, cái chân của mình phải chạm mặt đất, từng bước phải thật sự đi trên đất, phải có sự thực tế. Mình muốn những thứ như thánh trí vô ngã thì đó là sự ảo tưởng, ảo vọng, mình đi còn chưa xong, mở cửa còn quên đóng lại thì làm sao tu lên cao hơn được? Tinh cần phải luôn để tâm vào sự tu học, tu học kinh Nikāya đến mức thâm sâu thì không cần mở kinh nữa mà tất cả những chuyện xảy ra trước mắt mình đều vận dụng pháp vào đó. Nếu chúng ta không thận trọng hết mức tận cùng thì làm sao chúng ta có thể tìm ra được thánh pháp đã thất truyền hơn 2000 năm qua? Bậc thiện tri thức nhìn thấu 3000 năm giáo pháp thì chúng ta phải biết sự cẩn trọng của họ đến mức nào. Giữa vô vàng những hình thức như vậy mà có thể bỏ qua hết tất cả, cho nên trong bài Xưng Tán con có nói đến việc nhìn thấu 3000 năm thánh giáo. Thật sự không phải là chuyện dễ dàng, chúng ta nhìn thế gian lo làm, lo ăn, lo chơi, lo hưởng thụ rồi cuối cùng kết thúc trong chết chóc, nước mắt và đau khổ trong vô minh, tham ái. Họ không biết tự thân của họ, họ không biết cái gì cấu tạo thành thân tâm, họ không biết cái gì ở trong đang điều khiển và vận hành, họ không biết cái gì làm cho họ khổ thì đừng nói đến những phương pháp để chấm dứt khổ, ngay cả người xuất gia cũng vậy nếu không gặp chánh pháp, cũng không biết dục tham ái điều khiển, không biết vô minh, bản ngã môi giới cho nhau và nó phá hủy thân tâm. Cho nên cái tâm thứ hai là sự nhiệt tâm, tinh cần phải được tụng mỗi ngày nhưng chúng ta vẫn chưa vận dụng được nhiều. Phải làm thế nào loại bỏ loại bỏ những cái gì là tạp niệm, tạp loạn để lần lần sự tu học của mình là một sự thuần nhất, tinh ba và có một hội chúng tinh ba chứ không phải hội chúng cặn bã.
Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai?
Hội chúng cặn bã.
Hội chúng tinh ba.
Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng tinh ba. (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Chúng ta đã đẹp nhưng chưa hoàn hảo, phải đẹp hơn nữa mới được. Chúng ta đã tốt nhưng chưa viên mãn mà phải tròn đầy hơn nữa. Chúng ta không phải không nhìn thấy sự tiến bộ của mình mà chúng ta phải nhìn thấy, thừa nhận nhưng chúng ta không tự mãn, không hài lòng với những thiện pháp nhỏ bé này, con đường chúng ta đi vẫn còn dài, còn xa, còn lớn. Chúng ta phải để tâm thật nhiều vào trong giáo pháp, con rất hạnh phúc khi thấy đại chúng đọc kinh, cảm xúc hỷ lạc dào dạt khắp thân tâm con. Những lời thánh giáo mấy ngàn năm trước bây giờ được vang vọng mỗi ngày trên núi cao, trong đêm khuya thanh vắng nhưng chúng ta phải làm hơn thế nữa. Phải tinh cần hơn nữa.
Điều thứ ba chúng ta cần phải có là sự an tịnh, trầm mặc. Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, trầm mặc và hướng dẫn cho chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh, trầm mặc. Ngài không dễ dao động, ngay cả có người chửi thì ngài vẫn bước đi ung dung thông thả, hay có người đảnh lễ, khen ngợi, xưng tán thì ngài vẫn bình thản cho nên bốn chữ an tịnh, trầm mặc phải được thường niệm, đó cũng là đề tài tu tập.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (IX) (29) Không Phải Thời)
Sự chuyển động, dao động sẽ tương ưng với sanh tử luân hồi, bất động mới thể nhập Niết-bàn, cho nên hãy tập sự an tịnh, trầm mặc, chừng nào có công việc thì mình làm, cái gì cần nhanh thì phải nhanh, còn lúc bình thường phải tập sự an tịnh. 500 vị Tỳ-kheo là đệ tử của ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và Phú-lâu-na mới xuất gia thì đi đến chỗ của Phật để phân phối tọa cụ rất ồn ào thì Đức Phật hỏi ngài Anan tiếng ồn này phát ra từ đâu mà giống hàng tôm hàng cá ngoài chợ. Ngài Anan bạch Thế Tôn đó là 500 vị Tỳ-kheo đến phân phát tọa cụ với bát thì Thế Tôn bảo ngài Anan ra đuổi đi hết và ngài sẽ không gặp họ. Một nhóm Tỳ-kheo hàng mấy trăm người về đến cũng ồn ào như vậy nên cũng bị Thế Tôn đuổi đi. Có những đoạn kinh trong đó ghi nhà vua, các chư Thiên thích trầm mặc, an tịnh và khó gần vì đối với hạng phàm phu vô minh, khát ái thì thích dao động. Vua Ba-tư-nặc mỗi lần đến thăm Đức Phật phải dừng xe ngựa bên ngoài, đi chân đất vào rồi gõ nhẹ cửa ba lần hoặc là tằng hắng lên, sau đó bước nhẹ vào đảnh lễ Thế Tôn. Đức Thế Tôn mới đến một vùng đó, 500 thương nhân giàu có biết tin nên những người này đến kéo đem theo phẩm vật, đồ đạc làm vang dội tịnh xá, Thế Tôn hỏi người thị giả tạo sao ồn vậy thì được thị giả bạch lại nên Thế Tôn yêu cầu ra đuổi họ đi vì ngài không đi tìm cầu danh lợi với đời.
Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam được nghe: "Sa-môn Tôn giả Gotama là Thích tử xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangalam, trú ở Icchànanagalam trong khóm rừng Icchànangalam. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: "Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác..."
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
- Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn?
- Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, III. Phẩm Năm Phần, (X) (30) Tôn Giả Nàgita)
Cho nên mình đừng nghĩ Thế Tôn lúc nào cũng hiền, cũng từ bi. Có những lúc ngài la rầy các Tỳ-kheo là đồ ngu si, súc sanh, có như vậy ngài mới giáo huấn những vị Tỳ-kheo từ phàm trở thành thánh. Lúc ngài đuổi những vị Tỳ-kheo thì Phạm thiên Sahampati là chúa tể của các chư thiên từ cung trời phía trên hiện ra trước mặt Thế Tôn rồi quỳ lạy và bạch Thế Tôn: Các Tỳ-kheo mới như những con bê con cần sữa mẹ, Thế Tôn từ bi thương xót cho họ, họ như cái cây mới nảy mầm nên cần sự chăm sóc, dạy dỗ, giáo huấn, nhắc nhở của Như Lai.
Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
"Chúng Tỳ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỳ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỳ-kheo!" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VIII. Người Khất Thực)
Khi Đức Phật khởi tâm niệm phải dạy dỗ, giáo huấn các Tỳ-kheo mới thì Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VIII. Người Khất Thực)
Cho nên sự an tịnh và trầm mặc rất hay, con thật sự không quen chỗ ồn ào, ngay cả người thân của con như cha mẹ, cô bác con chỉ giao tiếp một chút rồi thôi, còn ồn ào là con không quen. Con thấy các thầy, các chú lăng xăng ồn ào dù đang làm việc con cũng buồn, như vậy người này không nhiệt tâm, tinh cần trong pháp, người này không quy y pháp một cách chân thành, không đặt pháp trong lòng. Nếu luận bàn về pháp thì được, nói về những thứ liên hệ về pháp thì được còn ngoài ra những điều khác đều phải giảm bớt, nó không liên hệ đến mục đích của chúng ta. Mục đích của một thiện gia nam tử bỏ nhà, cạo tóc, đắp y, sống đời sống không nhà, chí cầu vô thượng đạo. Phải tập sống an tịnh, trầm mặc, những bậc thánh hiền thường ở rừng núi một mình trong sự yên tịnh mới có thể thâm sâu trong tuệ giác. Còn mình thích giao thiệp, thích ồn ào, ưa thích những công việc thế sự thì đó là những pháp thối đọa của người xuất gia.
Sự bất cẩn không có thận trọng, không có sự nhiệt tâm tinh cần, là thích dao động là kiết sử. Tất cả chúng sanh bị sợi dây kiết sử này trói buộc khủng khiếp, không thể nào yên tịnh được vì thấy nó nhạt nhẽo, vô vị, nhàm chán. Họ chỉ thích những gì ồn ào, đông đúc, náo nhiệt nhưng Đức Thế Tôn lại là bậc an tịnh, trầm mặc dù cho chỗ đó có bao nhiêu ngàn người nhưng khi ngài xuất hiện thì tất cả đều yên lặng, đó là uy lực của Như Lai. Thậm chí các vị đệ tử của Thế Tôn hay các vị thầy nào bên Phật giáo khi xuất hiện thì các du sĩ ngoại đạo đều bảo nhau phải im lặng. Nó đã trở thành một thuần phong mỹ tục, nề nếp từ ngàn xưa của hàng Thích-tử chúng ta.
Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: "Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả chớ có làm ồn, các Tôn giả. Gia chủ Anàthapindika này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi, Gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây". Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, (III) (93) Kiến)
Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến, khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: "Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, Gia chủ Vajjiyamàhita này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, có gia đình, mặc áo trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây." Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) (94) Vajjiyamahita)
Người nào thích sự náo nhiệt, hội họp huyên náo, ồn ào thì đó không phải người tu chân chánh. Vì vậy kiết sử gọi là trạo cử rất kinh khiếp, nó buộc chặt hết thế giới này, còn dao động nên mới đi trong luân hồi. Con thật sự rất thích nhìn đại chúng yên tịnh, con bước vào mà thấy cả thiền đường lặng lẽ như tờ, khi học cũng yên tịnh thì cảm giác hạnh phúc hỷ lạc tràn dâng khắp thân tâm. Đó là kỉ lục của nhân sinh, khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở bất cứ nơi đâu thì nơi đó lập tức yên tịnh, trầm mặc, đó là uy lực của Đức Như Lai, cái dung nghi an tường của Đức Thế Tôn làm chinh phục tất cả tâm niệm của đại chúng. Trên Linh Quy không có chuông trống Bát Nhã mỗi khi giảng pháp hay làm lễ, mình không có làm rầm rộ. Mình phải tập cẩn thận, tập tinh cần, nhiệt tâm, tập sự an tịnh, trầm mặc trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ lúc vào thiền. Mình tu làm sao mà đi đến đâu cũng lan tỏa sự an tịnh cho đại chúng, dưới bếp đang ồn ào mà mình bước xuống là yên tịnh nhưng không phải do người ta sợ mà vì cái tâm bình an của mình, năng lượng chánh niệm của mình được tỏa ra rộng khắp mọi nơi, vì vậy sự yên tịnh, trầm mặc của một người tu thật sự rất đẹp. Không hiểu sao trong tâm con thường nghĩ đến ngày con nhắm mắt ra đi, hầu như mỗi ngày đều nghĩ đến. Con không biết rằng mình chết như thế nào, chết ở đâu, chết lúc nào và không biết cái chết xảy ra bằng cách nào. Con lo không biết lúc đó mình đối đầu với nó như thế nào cho nên những khi có chuyện xảy ra thì con lại nhớ đến việc này nên cảm giác sẽ nhẹ nhàng lại, thậm chí là xả ngay cảm thọ bên trong "cái này mình còn dao động thì khi chết làm sao bất động được". Mình nghĩ đến cái chết nhưng mình lại vui vì "làm sao mình có thể nhớ được cái chết trong khi biết bao nhiêu người không nhớ được". Con ngồi đây mà suy nghĩ chỗ này là nấm mồ sẽ chôn mình tại đây, chính vì mình thường suy nghĩ như vậy nên những việc lặt vặt, nhỏ nhặt trong đời sống mình bỏ qua rất nhẹ nhàng, mình không để tâm đến những cái hơn thua, tranh giành của đời. Tu rồi sẽ thấy rất nhiệm màu, có một chú gọi điện báo cho con biết tin có người lấn một sào đất chùa, khi nghe tin thì thọ trong người con khởi lên thì con mới tác ý "miếng đất đó Phật tử đứng tên giấy tờ chứ không phải mình. Người đứng tên có trách nhiệm giải quyết chứ không phải mình. Hãy an trú vào trong pháp, coi chừng miếng đất đó là mồ chôn mình", ngay lập tức cái thọ tan ra, cái tâm dính mắc cũng lập tức tan biến tận gốc rễ, không còn nhắc lại điều này nữa. Chúng ta thấy sự tu tập về cảm thọ, sự quán chiếu có diệu dụng, thần lực rất vi diệu, đối với người bình thường không có tu tập thì chỉ 1m thôi cũng có chuyện đại sự xảy ra, báo chí đưa tin anh em ruột tranh giành nhau 0,5m đất thôi mà án mạng xảy ra. Vì vậy phải niệm tử, không có cái gì trên cuộc đời này là của mình.
Niệm chết, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:
"Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX) (19) Niệm Chết (1)).
Một ngày nào đó sẽ không thấy mặt con ở đây nữa, điều này là chắc chắn. Có thể con sẽ ẩn cư trong núi rừng hoặc là đi vân du hoằng pháp, cũng có thể đã chết. Ở chùa Bửu Liên con đóng cửa ở chỉ có một mình, tới giờ cơm thì có người đưa cơm hoặc quên đưa cơm thì con để sẵn mấy gói mì trong phòng, con thường quán chiếu một ngày nào đó mình bị lên huyết áp hoặc đột quỵ mà không ai hay thì thân thể này phân hủy ngay chỗ mình nằm ngủ, có người hay tin thì mùi hôi thối đã bay khắp nơi, trong thất trên núi con cũng thường quán chiếu hình ảnh mình nằm chết một mình. Khi các thầy, các cô ở đây đã vững vàng trong pháp thì mọi người sẽ không thấy con ở đây nữa nhưng thật sự vẫn còn rất lâu để đạt được đến ngày đó. Con làm một kẻ không nhà thật sự, con đi lang thang khắp núi đồi rừng cây, bất cứ chỗ nào cũng có thể ở lại ngủ được, có duyên chia sẻ pháp thì tới đó chia sẻ rồi cứ đi, đến khi chết thì nằm trong rừng chết một mình không ai hay, thân thể này rã ra thành bộ xương khô. Mình có là gì trong cuộc đời này đâu? Không có gì trong đời này có giá trị ngoài chánh pháp, đối với con trong giây phút này chỉ có thánh pháp mới thật sự có giá trị, đầy rẫy trong đời này là những tâm dục tham, sân si, vô minh, bản ngã. Nó đang di động, hoạt động, nó đang hành tội, hành hạ nhau, vợ chồng hành hạ nhau, cha con hành hạ nhau, trong ngày giỗ bố mà anh em ruột đâm nhau chết. Mục đích duy nhất của đời sống này là tìm cầu thánh pháp, đó là mục đích duy nhất chúng ta chứng nghiệm, thể nhập chánh pháp. Vài năm sau nữa thì người ta sẽ đặt mình xuống đất và gắn tấm bia lên, trên đó ghi họ tên, sanh ngày tháng năm, mất ngày tháng năm hoặc là sẽ có một hủ tro cốt. Thời gian đầu mỗi ngày họ cho mình một cây nhang, về sau nhang tàn khói lạnh, thậm chí là đem vào chùa, nhiều khi chùa cũng không có chỗ chứa hết nên đi phải đem ra biển rắc tro cốt ngoài đó.
Phải đặt hết tâm tư của mình vào pháp, tinh cần trong pháp, không có gì tuyệt vời hơn pháp. Không phải dễ mà chúng ta được ngồi ở đây, thật sự rất khó khăn mới có được điều này, có thể ngồi lần này là lần duy nhất trong cuộc đời chúng ta. Mỗi lần tu học phải nghĩ lần này là lần cuối cùng./.
Thích Minh Thành
Cảm nhận trời đất này, mở rộng tầm nhìn ra khắp không gian. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Cảm nhận sự bình an, cảm nhận sự yên tịnh, thanh tịnh, cảm nhận sự bao la, thênh thang và rộng lớn.
Qua sự việc vừa rồi chúng ta nhìn thấy được điều gì? Pháp và kinh tạng ở trong này rất nhiều. Sự việc vừa rồi cho chúng ta thấy chúng ta thiếu vài điều:
Thận trọng, cẩn trọng.
Nhiệt tâm, tinh cần.
An tịnh, trầm mặc.
Chúng ta không có sự cẩn thận, con thấy sự đối đầu với sanh tử trong việc đại chúng hỗn loạn, con thấy đó là thời đã đến. Đây không đơn thuần chỉ là một buổi nghe pháp, con đã thông báo trước một ngày mà không có một ai chuẩn bị, ngay cả với những người có trách nhiệm, cái này phải phạt người chịu trách nhiệm chính bên bộ phận quay phim. Chúng ta không cẩn trọng, không cẩn thận để chuẩn bị, mình mang cái tâm thế xem thường, trong sự tu và học pháp của mình cũng thế thôi. Nếu một bác sĩ bất cẩn có thể làm chết bệnh nhân, người tài xế bất cẩn có thể xảy ra tai nạn cho mấy chục mạng người, đầu bếp bất cẩn có thể làm cho thực khách ngộ độc thực phẩm, nhân viên bất cẩn có thể làm cho công ty phá sản, một bước đi không cẩn thận có thể nằm một chỗ suốt đời. Việc học pháp không cẩn thận có thể lạc lối vào tà đạo, tà kiến, mê tín suốt đời, tiền mất tật mang. Tu hành không cẩn thận có thể tẩu hỏa nhập ma trở thành Tăng thượng mạn, chưa thấy nói đã thấy, chưa ngộ nói đã ngộ, chưa chứng nói đã chứng, chưa đắc nói đã đắc, đó là hậu quả của sự bất cẩn. Cái tâm cẩn thả, xem thường này là một cái tâm thường thấy ở con người. Đế Thích là vị vua trời, tức là thiên chủ, cái chính yếu mà ngài tu là tâm thận trọng và lãnh đạo 33 tầng trời. Học không cẩn thận đọc kinh sai hết mà cũng không biết, tu không cẩn thận thì sự nghiệp cả đời xuất gia đổ sông đổ biển, bị thối đọa mà không hay biết. Mình đang được thầy lành bạn tốt chỉ dẫn từng chút một mà còn như vậy thì nói gì đến việc ở trong môi trường không thiện lành, không gặp chánh pháp thì mình sẽ đi đến đâu? Chúng ta đọc kinh Nikāya sẽ thấy sự thận trọng của Đức Thế Tôn, ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên, cái y của ngài chỉ chấm đất thôi là ngài đã thấy xấu hổ, tàm quý và phải sám hối mà đó là bậc tướng quân của chánh pháp, là bậc thượng thủ của Tăng chúng thời Đức Phật.
Còn bây giờ tu học, làm việc đều xem thường và có sự cẩu thả, không có sự để tâm. Khi con ngồi trên ghế tre thấy đại chúng lăng xăng, rối loạn chuẩn bị nghe pháp thì con không thấy đó là buổi chuẩn bị nghe pháp mà con thấy đó là sóng thần, động đất, thiên tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông và mọi người đang đối đầu với cái chết. Con thấy mọi người chạy lăng xăng trong giây phút người thân mình chết, cha mẹ mình chết, em mình chết và tự thân mình khi thời đã đến, lúc đó trong con tràn ngập lòng bi mẫn, xót xa. Làm sao mình đủ khả năng đối đầu với những tai nạn, bất trắc, thảm họa và cái chết? Chỉ cần bước ra khỏi thiền đường là rối loạn mà trong khi đó là giờ thiền, giờ hành thiền. Những người dẫn đầu rối loạn.
Cái tâm thứ hai chúng ta thiếu là sự nhiệt tâm, tinh cần trong pháp. Tinh là không có gì xem tạp vào, trong giờ mình thiền thôi mà mình đã vọng động với trạng thái của tâm thiền chứ khoan nói đến lúc xả thiền. Mình có tinh thuần trong 1 tiếng thiền đó không? Cho nên cái tâm thứ hai mình thiếu là nhiệt tâm, tinh cần.
Cái tâm thứ ba mình thiếu là sự an tịnh, trầm mặc. Đó không phải là danh từ trống rỗng để đọc trên môi mà đó phải là tiêu chí, khẩu quyết, phải là sự thực tập hằng ngày của mình.
Hôm qua con đã dặn lạy kinh xong thì đi thiền hành từng bước lên thì bây giờ có ai nhớ không? Tại sao mình phải làm như vậy? Bây giờ mình không giữ cái tâm trong giờ tu, giờ thiền thì làm sao ra khỏi giờ thiền mình có thể giữ được? Mình hoàn toàn sụp đổ, thất bại chứ đừng nói gì đến những tai nạn bất trắc xảy ra thì rất thê thảm. Làm sao mình có thể giữ được sự định tĩnh, chánh niệm, điều này không thể xảy ra. Chúng ta tu học là để đối đầu với tai nạn, để chạm mặt với những cái bất trắc trong cuộc đời này và cái sau cùng chúng ta thành tựu là khi đương đầu với cái chết vẫn có sự bình tĩnh, bất động. Đó là kết quả, là thành tích, thành công của chúng ta. Mình tu là để chinh phục sanh tử, bước lên sanh tử, bình thản và bất động trước sanh tử. Mục đích mà chúng ta hướng đến rất tối thượng mà chúng ta lại không lo tạo nền tảng, chỉ toàn là sự ảo tưởng trong sự tu. Các chú vào dọn thất cho con thì cửa chánh mở toang hoang, con đã nhắc và các chú cũng đã sám hối rồi nhưng lần sau cửa chánh không mở mà cửa sổ lại mở. Con thấy cái tâm thức chúng ta đang rong chơi rất nhiều, những cái hết sức gần gũi trước mắt mà mình vẫn chưa làm được. Mình phải đi những bước vững vàng dưới đất, cái chân của mình phải chạm mặt đất, từng bước phải thật sự đi trên đất, phải có sự thực tế. Mình muốn những thứ như thánh trí vô ngã thì đó là sự ảo tưởng, ảo vọng, mình đi còn chưa xong, mở cửa còn quên đóng lại thì làm sao tu lên cao hơn được? Tinh cần phải luôn để tâm vào sự tu học, tu học kinh Nikāya đến mức thâm sâu thì không cần mở kinh nữa mà tất cả những chuyện xảy ra trước mắt mình đều vận dụng pháp vào đó. Nếu chúng ta không thận trọng hết mức tận cùng thì làm sao chúng ta có thể tìm ra được thánh pháp đã thất truyền hơn 2000 năm qua? Bậc thiện tri thức nhìn thấu 3000 năm giáo pháp thì chúng ta phải biết sự cẩn trọng của họ đến mức nào. Giữa vô vàng những hình thức như vậy mà có thể bỏ qua hết tất cả, cho nên trong bài Xưng Tán con có nói đến việc nhìn thấu 3000 năm thánh giáo. Thật sự không phải là chuyện dễ dàng, chúng ta nhìn thế gian lo làm, lo ăn, lo chơi, lo hưởng thụ rồi cuối cùng kết thúc trong chết chóc, nước mắt và đau khổ trong vô minh, tham ái. Họ không biết tự thân của họ, họ không biết cái gì cấu tạo thành thân tâm, họ không biết cái gì ở trong đang điều khiển và vận hành, họ không biết cái gì làm cho họ khổ thì đừng nói đến những phương pháp để chấm dứt khổ, ngay cả người xuất gia cũng vậy nếu không gặp chánh pháp, cũng không biết dục tham ái điều khiển, không biết vô minh, bản ngã môi giới cho nhau và nó phá hủy thân tâm. Cho nên cái tâm thứ hai là sự nhiệt tâm, tinh cần phải được tụng mỗi ngày nhưng chúng ta vẫn chưa vận dụng được nhiều. Phải làm thế nào loại bỏ loại bỏ những cái gì là tạp niệm, tạp loạn để lần lần sự tu học của mình là một sự thuần nhất, tinh ba và có một hội chúng tinh ba chứ không phải hội chúng cặn bã.
Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai?
Hội chúng cặn bã.
Hội chúng tinh ba.
Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng tinh ba. (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Chúng ta đã đẹp nhưng chưa hoàn hảo, phải đẹp hơn nữa mới được. Chúng ta đã tốt nhưng chưa viên mãn mà phải tròn đầy hơn nữa. Chúng ta không phải không nhìn thấy sự tiến bộ của mình mà chúng ta phải nhìn thấy, thừa nhận nhưng chúng ta không tự mãn, không hài lòng với những thiện pháp nhỏ bé này, con đường chúng ta đi vẫn còn dài, còn xa, còn lớn. Chúng ta phải để tâm thật nhiều vào trong giáo pháp, con rất hạnh phúc khi thấy đại chúng đọc kinh, cảm xúc hỷ lạc dào dạt khắp thân tâm con. Những lời thánh giáo mấy ngàn năm trước bây giờ được vang vọng mỗi ngày trên núi cao, trong đêm khuya thanh vắng nhưng chúng ta phải làm hơn thế nữa. Phải tinh cần hơn nữa.
Điều thứ ba chúng ta cần phải có là sự an tịnh, trầm mặc. Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, trầm mặc và hướng dẫn cho chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh, trầm mặc. Ngài không dễ dao động, ngay cả có người chửi thì ngài vẫn bước đi ung dung thông thả, hay có người đảnh lễ, khen ngợi, xưng tán thì ngài vẫn bình thản cho nên bốn chữ an tịnh, trầm mặc phải được thường niệm, đó cũng là đề tài tu tập.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (IX) (29) Không Phải Thời)
Sự chuyển động, dao động sẽ tương ưng với sanh tử luân hồi, bất động mới thể nhập Niết-bàn, cho nên hãy tập sự an tịnh, trầm mặc, chừng nào có công việc thì mình làm, cái gì cần nhanh thì phải nhanh, còn lúc bình thường phải tập sự an tịnh. 500 vị Tỳ-kheo là đệ tử của ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và Phú-lâu-na mới xuất gia thì đi đến chỗ của Phật để phân phối tọa cụ rất ồn ào thì Đức Phật hỏi ngài Anan tiếng ồn này phát ra từ đâu mà giống hàng tôm hàng cá ngoài chợ. Ngài Anan bạch Thế Tôn đó là 500 vị Tỳ-kheo đến phân phát tọa cụ với bát thì Thế Tôn bảo ngài Anan ra đuổi đi hết và ngài sẽ không gặp họ. Một nhóm Tỳ-kheo hàng mấy trăm người về đến cũng ồn ào như vậy nên cũng bị Thế Tôn đuổi đi. Có những đoạn kinh trong đó ghi nhà vua, các chư Thiên thích trầm mặc, an tịnh và khó gần vì đối với hạng phàm phu vô minh, khát ái thì thích dao động. Vua Ba-tư-nặc mỗi lần đến thăm Đức Phật phải dừng xe ngựa bên ngoài, đi chân đất vào rồi gõ nhẹ cửa ba lần hoặc là tằng hắng lên, sau đó bước nhẹ vào đảnh lễ Thế Tôn. Đức Thế Tôn mới đến một vùng đó, 500 thương nhân giàu có biết tin nên những người này đến kéo đem theo phẩm vật, đồ đạc làm vang dội tịnh xá, Thế Tôn hỏi người thị giả tạo sao ồn vậy thì được thị giả bạch lại nên Thế Tôn yêu cầu ra đuổi họ đi vì ngài không đi tìm cầu danh lợi với đời.
Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam được nghe: "Sa-môn Tôn giả Gotama là Thích tử xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangalam, trú ở Icchànanagalam trong khóm rừng Icchànangalam. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: "Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác..."
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
- Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn?
- Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, III. Phẩm Năm Phần, (X) (30) Tôn Giả Nàgita)
Cho nên mình đừng nghĩ Thế Tôn lúc nào cũng hiền, cũng từ bi. Có những lúc ngài la rầy các Tỳ-kheo là đồ ngu si, súc sanh, có như vậy ngài mới giáo huấn những vị Tỳ-kheo từ phàm trở thành thánh. Lúc ngài đuổi những vị Tỳ-kheo thì Phạm thiên Sahampati là chúa tể của các chư thiên từ cung trời phía trên hiện ra trước mặt Thế Tôn rồi quỳ lạy và bạch Thế Tôn: Các Tỳ-kheo mới như những con bê con cần sữa mẹ, Thế Tôn từ bi thương xót cho họ, họ như cái cây mới nảy mầm nên cần sự chăm sóc, dạy dỗ, giáo huấn, nhắc nhở của Như Lai.
Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
"Chúng Tỳ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỳ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỳ-kheo!" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VIII. Người Khất Thực)
Khi Đức Phật khởi tâm niệm phải dạy dỗ, giáo huấn các Tỳ-kheo mới thì Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VIII. Người Khất Thực)
Cho nên sự an tịnh và trầm mặc rất hay, con thật sự không quen chỗ ồn ào, ngay cả người thân của con như cha mẹ, cô bác con chỉ giao tiếp một chút rồi thôi, còn ồn ào là con không quen. Con thấy các thầy, các chú lăng xăng ồn ào dù đang làm việc con cũng buồn, như vậy người này không nhiệt tâm, tinh cần trong pháp, người này không quy y pháp một cách chân thành, không đặt pháp trong lòng. Nếu luận bàn về pháp thì được, nói về những thứ liên hệ về pháp thì được còn ngoài ra những điều khác đều phải giảm bớt, nó không liên hệ đến mục đích của chúng ta. Mục đích của một thiện gia nam tử bỏ nhà, cạo tóc, đắp y, sống đời sống không nhà, chí cầu vô thượng đạo. Phải tập sống an tịnh, trầm mặc, những bậc thánh hiền thường ở rừng núi một mình trong sự yên tịnh mới có thể thâm sâu trong tuệ giác. Còn mình thích giao thiệp, thích ồn ào, ưa thích những công việc thế sự thì đó là những pháp thối đọa của người xuất gia.
Sự bất cẩn không có thận trọng, không có sự nhiệt tâm tinh cần, là thích dao động là kiết sử. Tất cả chúng sanh bị sợi dây kiết sử này trói buộc khủng khiếp, không thể nào yên tịnh được vì thấy nó nhạt nhẽo, vô vị, nhàm chán. Họ chỉ thích những gì ồn ào, đông đúc, náo nhiệt nhưng Đức Thế Tôn lại là bậc an tịnh, trầm mặc dù cho chỗ đó có bao nhiêu ngàn người nhưng khi ngài xuất hiện thì tất cả đều yên lặng, đó là uy lực của Như Lai. Thậm chí các vị đệ tử của Thế Tôn hay các vị thầy nào bên Phật giáo khi xuất hiện thì các du sĩ ngoại đạo đều bảo nhau phải im lặng. Nó đã trở thành một thuần phong mỹ tục, nề nếp từ ngàn xưa của hàng Thích-tử chúng ta.
Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: "Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả chớ có làm ồn, các Tôn giả. Gia chủ Anàthapindika này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi, Gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây". Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, (III) (93) Kiến)
Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến, khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: "Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, Gia chủ Vajjiyamàhita này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, có gia đình, mặc áo trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây." Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, (IV) (94) Vajjiyamahita)
Người nào thích sự náo nhiệt, hội họp huyên náo, ồn ào thì đó không phải người tu chân chánh. Vì vậy kiết sử gọi là trạo cử rất kinh khiếp, nó buộc chặt hết thế giới này, còn dao động nên mới đi trong luân hồi. Con thật sự rất thích nhìn đại chúng yên tịnh, con bước vào mà thấy cả thiền đường lặng lẽ như tờ, khi học cũng yên tịnh thì cảm giác hạnh phúc hỷ lạc tràn dâng khắp thân tâm. Đó là kỉ lục của nhân sinh, khi Đức Thế Tôn xuất hiện ở bất cứ nơi đâu thì nơi đó lập tức yên tịnh, trầm mặc, đó là uy lực của Đức Như Lai, cái dung nghi an tường của Đức Thế Tôn làm chinh phục tất cả tâm niệm của đại chúng. Trên Linh Quy không có chuông trống Bát Nhã mỗi khi giảng pháp hay làm lễ, mình không có làm rầm rộ. Mình phải tập cẩn thận, tập tinh cần, nhiệt tâm, tập sự an tịnh, trầm mặc trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ lúc vào thiền. Mình tu làm sao mà đi đến đâu cũng lan tỏa sự an tịnh cho đại chúng, dưới bếp đang ồn ào mà mình bước xuống là yên tịnh nhưng không phải do người ta sợ mà vì cái tâm bình an của mình, năng lượng chánh niệm của mình được tỏa ra rộng khắp mọi nơi, vì vậy sự yên tịnh, trầm mặc của một người tu thật sự rất đẹp. Không hiểu sao trong tâm con thường nghĩ đến ngày con nhắm mắt ra đi, hầu như mỗi ngày đều nghĩ đến. Con không biết rằng mình chết như thế nào, chết ở đâu, chết lúc nào và không biết cái chết xảy ra bằng cách nào. Con lo không biết lúc đó mình đối đầu với nó như thế nào cho nên những khi có chuyện xảy ra thì con lại nhớ đến việc này nên cảm giác sẽ nhẹ nhàng lại, thậm chí là xả ngay cảm thọ bên trong "cái này mình còn dao động thì khi chết làm sao bất động được". Mình nghĩ đến cái chết nhưng mình lại vui vì "làm sao mình có thể nhớ được cái chết trong khi biết bao nhiêu người không nhớ được". Con ngồi đây mà suy nghĩ chỗ này là nấm mồ sẽ chôn mình tại đây, chính vì mình thường suy nghĩ như vậy nên những việc lặt vặt, nhỏ nhặt trong đời sống mình bỏ qua rất nhẹ nhàng, mình không để tâm đến những cái hơn thua, tranh giành của đời. Tu rồi sẽ thấy rất nhiệm màu, có một chú gọi điện báo cho con biết tin có người lấn một sào đất chùa, khi nghe tin thì thọ trong người con khởi lên thì con mới tác ý "miếng đất đó Phật tử đứng tên giấy tờ chứ không phải mình. Người đứng tên có trách nhiệm giải quyết chứ không phải mình. Hãy an trú vào trong pháp, coi chừng miếng đất đó là mồ chôn mình", ngay lập tức cái thọ tan ra, cái tâm dính mắc cũng lập tức tan biến tận gốc rễ, không còn nhắc lại điều này nữa. Chúng ta thấy sự tu tập về cảm thọ, sự quán chiếu có diệu dụng, thần lực rất vi diệu, đối với người bình thường không có tu tập thì chỉ 1m thôi cũng có chuyện đại sự xảy ra, báo chí đưa tin anh em ruột tranh giành nhau 0,5m đất thôi mà án mạng xảy ra. Vì vậy phải niệm tử, không có cái gì trên cuộc đời này là của mình.
Niệm chết, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải tu học như sau:
"Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX) (19) Niệm Chết (1)).
Một ngày nào đó sẽ không thấy mặt con ở đây nữa, điều này là chắc chắn. Có thể con sẽ ẩn cư trong núi rừng hoặc là đi vân du hoằng pháp, cũng có thể đã chết. Ở chùa Bửu Liên con đóng cửa ở chỉ có một mình, tới giờ cơm thì có người đưa cơm hoặc quên đưa cơm thì con để sẵn mấy gói mì trong phòng, con thường quán chiếu một ngày nào đó mình bị lên huyết áp hoặc đột quỵ mà không ai hay thì thân thể này phân hủy ngay chỗ mình nằm ngủ, có người hay tin thì mùi hôi thối đã bay khắp nơi, trong thất trên núi con cũng thường quán chiếu hình ảnh mình nằm chết một mình. Khi các thầy, các cô ở đây đã vững vàng trong pháp thì mọi người sẽ không thấy con ở đây nữa nhưng thật sự vẫn còn rất lâu để đạt được đến ngày đó. Con làm một kẻ không nhà thật sự, con đi lang thang khắp núi đồi rừng cây, bất cứ chỗ nào cũng có thể ở lại ngủ được, có duyên chia sẻ pháp thì tới đó chia sẻ rồi cứ đi, đến khi chết thì nằm trong rừng chết một mình không ai hay, thân thể này rã ra thành bộ xương khô. Mình có là gì trong cuộc đời này đâu? Không có gì trong đời này có giá trị ngoài chánh pháp, đối với con trong giây phút này chỉ có thánh pháp mới thật sự có giá trị, đầy rẫy trong đời này là những tâm dục tham, sân si, vô minh, bản ngã. Nó đang di động, hoạt động, nó đang hành tội, hành hạ nhau, vợ chồng hành hạ nhau, cha con hành hạ nhau, trong ngày giỗ bố mà anh em ruột đâm nhau chết. Mục đích duy nhất của đời sống này là tìm cầu thánh pháp, đó là mục đích duy nhất chúng ta chứng nghiệm, thể nhập chánh pháp. Vài năm sau nữa thì người ta sẽ đặt mình xuống đất và gắn tấm bia lên, trên đó ghi họ tên, sanh ngày tháng năm, mất ngày tháng năm hoặc là sẽ có một hủ tro cốt. Thời gian đầu mỗi ngày họ cho mình một cây nhang, về sau nhang tàn khói lạnh, thậm chí là đem vào chùa, nhiều khi chùa cũng không có chỗ chứa hết nên đi phải đem ra biển rắc tro cốt ngoài đó.
Phải đặt hết tâm tư của mình vào pháp, tinh cần trong pháp, không có gì tuyệt vời hơn pháp. Không phải dễ mà chúng ta được ngồi ở đây, thật sự rất khó khăn mới có được điều này, có thể ngồi lần này là lần duy nhất trong cuộc đời chúng ta. Mỗi lần tu học phải nghĩ lần này là lần cuối cùng./.