Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh tấn - nhiệt tâm - sợ hãi - tác ý

2026-03-03 00:54:30
TINH TẤN - NHIỆT TÂM - SỢ HÃI - TÁC Ý

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhiệt tâm: PAGEREF _Toc59781787 \h 1

II. Làm bạn với thiện: PAGEREF _Toc59781788 \h 5

III. Ví dụ của Năm Triền Cái: PAGEREF _Toc59781789 \h 8

IV. Như Lý Tác Ý: PAGEREF _Toc59781790 \h 10

V. Thực tập nhận diện ngũ uẩn: PAGEREF _Toc59781791 \h 11

I. Nhiệt tâm:

Hôm nay chúng ta nghe Đức Thế Tôn nhắc nhở chúng ta không nhiệt tình, không sợ hãi, không thể chứng ngộ Chánh Giác. Trong kinh Tiểu Bộ tập 1, bài kinh Phật Thuyết Như Vậy:

“Ðiều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nhiệt tình, không có sợ hãi, không có thể chứng được Chánh giác, không có thể chứng được Niết-bàn, không có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có nhiệt tình, có sợ hãi, có thể chứng được giác ngộ, có thể chứng được Niết-bàn, có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

Người không có nhiệt tình,

Không có biết sợ hãi,

Biếng nhác, không tinh cần,

Nhiều hôn trầm thụy miên,

Không biết đến xấu hổ,

Không có lòng tôn kính,

Vị Tỷ-kheo như vậy,

Không có thể đạt tới,

Tối thượng Chánh-Ðẳng-Giác.

Ai giữ được chánh niệm,

Thông minh, tu thiền định,

Nhiệt tình, biết sợ hãi,

Và không có phóng dật,

Sau khi chặt đứt được

Kiết sử sanh và già,

Ở đây có thể đạt,

Chánh Ðẳng Giác vô thượng.

Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.”

(Kinh Tiểu Bộ tập 1, Chương 2. Hai Pháp, Phẩm I, Bài kinh Phật Thuyết Như Vậy, (XXXIV) (Duk. I,7) (It. 27))

Người không nhiệt tình trong sự tu, không nhiệt tình trong sự học pháp, trong sự hành trì, trong lý tưởng, mục tiêu của đời sống, của sự tu tập, người đó không thể đạt được kết quả. Làm sao hằng ngày phải tiếp tế nhiên liệu cho ngọn lửa tu tập, học pháp trong lòng mình luôn luôn rực cháy, luôn luôn tỏa sáng, bừng sáng trong tâm mình, nhiệt tâm, nhiệt tình, nhiệt huyết trong pháp học và pháp hành.

Nếu không có ngọn lửa đó, thì giống như đống tro tàn, đời tu của mình không đi đến đâu hết, mà không chỉ là năm bảy ngày, mười ngày được nghe pháp thì lúc đó mới nhen nhúm được ngọn lửa. Mà khi đã có ngọn lửa lên, Đức Phật và các bậc thiện tri thức nhen nhúm thì mình phải giữ lửa, giữ lửa bằng cách châm dầu, bỏ củi, tiếp tế nhiên liệu, làm cho ngọn lửa nhiệt tâm, nhiệt tình, nhiệt huyết trong sự tu học này phải được cháy sáng liên tục mỗi giờ. Và phải biết sợ hãi ác bất thiện pháp, trong tất cả các ác bất thiện pháp, Đức Thế Tôn thường nhắc buông lung, phóng dật là đứng đầu. Từ buông lung, phóng dật đó mới sanh khởi lên dục tham, sân hận, vô minh, si ám, bản ngã hướng ngoại, tất cả đều là do sự buông lung phóng dật.

Đức Phật ví dụ như máy nhà có nóc nhọn, tất cả rui mè đều hướng về, nghiêng về, quy tụ về nóc nhọn, cũng vậy, tất cả thiện pháp, lấy không buông lung phóng dật làm nóc nhọn, tất cả ác pháp lấy buông lung phóng dật làm nóc nhọn. Tức ác pháp đi đầu là sự buông lung, thiện pháp dẫn đạo là sự không buông lung. Nên lâu nay mình nghĩ là tham, sân, si bản ngã tất nhiên là có và xâm chiếm nội tâm rất mạnh nhưng điều đầu tiên để cho những cái đó dẫn dắt, sanh khởi được là tại vì mình buông lung, mình không hộ trì, mình bỏ qua để vui, buông lơi, buông thả, buông xuôi, buông trôi. Dầu cho mình có nghe được Chánh Pháp nhưng không nhiệt tình, nhiệt tâm mà mình lại buông xuôi, buông lơi, buông trôi, buông thả như vậy thì cũng sẽ không đi đến đâu, sẽ không có chân đứng trong pháp và luật.

Chúng ta thấy khi nấu cơm, có lúc nào lửa ngưng lại khi còn đang nấu được không? Nếu một chút tắt rồi chút cháy như vậy thì nồi cơm sống hoặc hư, không thể ăn được. Một nồi cơm còn nấu như vậy huống chi sự Chánh Giác, chứng ngộ, đòi hỏi lửa tu học của chúng ta phải được liên tục tiếp nối, giữ gìn, phát huy, phát triển. Chúng ta không hài lòng với chút ít thiện pháp đó, chỉ làm được một ít mà mình nghĩ làm được như vậy là tốt rồi, rồi mình dừng lại và lại cho phép mình buông lơi.

Vì vậy phải sợ hãi đối với buông lung phóng dật, đối với dục tham, đối với tham ái trong sự nhận diện ngũ uẩn mình nhìn thấy, sợ hãi đối với những sân hận, si mê, vô minh, bản ngã, vô thường, bệnh tật, sự thiêu đốt của phiền não, sự tàn lụng, biến hoại, biến diệt của các hành.

Sư cô Thủy Đức bây giờ sưng người lên và mới vừa ngất xỉu các đây vài ngày nên không dự khóa tu được. Nhờ bài buổi tối, chúng ta học về quán chiếu thâm sâu và cảm thọ mà Đức Phật dạy gồm có nhiếp phục được và an trú. Bây giờ phải có khả năng hóa trị, đó là những người ở kế bên cạnh chúng ta hay trước mắt chúng ta.

Nên thầy Pháp An bảy mươi mấy tuổi rồi đừng nghĩ là mình được an ổn như vậy mỗi ngày, phải lo lắng và sợ hãi. Minh Thành vây giờ thì thầy thuốc cũng báo động rồi. Gần tới tuổi năm mươi là bắt đầu bệnh trổ ra, làm gì trong các pháp phổ vi này mà có được sự an ổn, làm sao có được sự bình an trong các hành vô thường, không kiên cố, biến hoại này? Phải lo lắng, sợ hãi dù mình còn trẻ.

Sư cô Hạnh Đức bao nhiêu tuổi?

Dạ 57 tuổi.

Vậy là già hay trẻ?

Sao mình có thể cho phép mình là giờ mình còn trẻ từ từ mới tu? Chúng ta đi ra nghĩa địa, nhìn vào trong nhà thờ linh cốt của chùa, nhìn tất cả số tuổi.

Cách đây có một hai ngày, ở Lâm Đồng có cô bé 17 tuổi đi học về, xe tải cán chết tại chỗ, người bị đứt làm đôi. Mỗi ngày có rất nhiều người ra đi, rất nhiều những tai nạn thảm khốc, kinh hoàng, chưa kể đến nay đã có bảy mươi mấy triệu ca nhiễm. Hằng ngày có cả triệu ca, một ngày có cả triệu con người bệnh đó như thế nào? Cảm giác của họ như thế nào? Nghĩ tưởng của họ như thế nào? Thân xác họ như thế nào? Ở đây chúng ta phải biết lo lắng và sợ hãi, không sợ hãi không thể chứng đạt được Chánh Giác.

Trong ba ngày nay, Minh Thành có mười buổi lên lớp, khi giảng xong rồi thì Minh Thành đi vào phòng giáo thọ nằm trong đó, bồng bềnh giống như trên mây. Mình thấy giống như là cái chết kề cận bất cứ lúc nào. Mình cảm thấy thật là mong manh cho đời sống này, thật là ngắn ngủi cho kiếp người này, thật là tạm bợ cho thể xác này.

Mục đích của đời sống này là gì? Học pháp và thực hành chứng ngộ pháp. Ngoài ra không có gì nữa. Học pháp, hành pháp, chứng ngộ pháp và chia sẻ pháp này, đến những người có duyên. Hai yếu tố Đức Phật dạy mình: Hãy giữ được Chánh Niệm, thông minh, tu thiền định, nhiệt tình, biết sợ hãi và không phóng dật. Sau khi chặt đứt trượt, kiết sử, sanh và già là vô minh và tham ái đưa đến sanh hữu, sự trói cột ở trong ngũ uẩn này, trong thân xác này, trong những nghĩ tưởng, cảm giác và nhận thức này, đều cắt đứt.

Không ngày nào bình an, nếu mình quán chiếu không ngày nào bình an, không giờ nào là mình bình thường, từng ngày từng giờ như vậy, sắp chất này đi đến chỗ suy, suy kiệt, suy lão, suy bại, suy tàn.

Từng ngày từng giờ cứ như vậy, nội tâm mình là những ngọn lửa dục ái, sân, vô minh, bản ngã thiêu đốt. Vì mình không thấy nên mình cứ cho là bình an nhưng thật sự là bất an và cực kì bất an, cực kì nguy hiểm. Bây giờ bất thình lình mình chết hoặc là đổ một bệnh lớn, lúc đó mình ứng phó như thế nào nếu bình thường mình không có trang bị, niệm định tuệ. Không trang bị định luật, đạo luật, niệm luật thì khi đó sẽ như thế nào?

Vì vậy, không lo lắng, sợ hãi tức là vô minh, si mê, người luôn luôn Chánh niệm sự sanh diệt các uẩn, sự hoan hỉ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết. Tức là nhìn thấy sự sanh diệt của các sắc, sanh diệt của cảm thọ, sanh diệt của các tưởng, sanh diệt của các hành, sanh diệt của các thức. Khi mình nhìn ra nội tâm của mình, ngũ uẩn vận hành, mình sẽ thấy nhàm chán, không muốn ở trong trạng thái đó nữa. Hết dục đến sân rồi lại đến vô minh, buông lung rồi lại đến bản ngã, mình thấy nhàm chán, không muốn ở trong trạng thái đó nữa.

II. Làm bạn với thiện:

Nếu mình muốn thực hiện những điều mình đã nói nãy giờ thì Đức Phật dạy mình một phương pháp nữa là phải làm bạn với thiện:

Này các Tỳ-kheo, với các vị Tỳ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách, sau khi làm thành ngoại chi phần, ta không thấy một chi phần nào khác được nhiều lợi ích như vậy. Này các Tỳ-kheo, tức là làm bạn với thiện, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, Tỳ kheo làm bạn thiện, tôn kính và kính trọng, làm theo những lời nói của bạn bè thân hữu, tỉnh giác và Chánh Niệm, vị ấy sẽ tuần tự, đạt được sự hoại diệt tất cả mọi kiết sử.

Làm sao để từ bỏ bất thiện và tu tập thiện, Đức Phật dạy mình: “Đối với những người tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu, đạt đến sự an ổn, vượt khỏi các trói buộc khổ ách đó thì sau khi làm thành ngoại chi phần, tức là các chi phần tu tập ở bên ngoài mình đã có được rồi” thì giờ Đức Phật dạy rằng: “Ta không thấy được chi phần nào khác được nhiều lợi ích giống như làm bạn với thiện.”

Vì vậy giờ phút này mình đang ngồi đây, là làm bạn với thiện, sáng mình tụng kinh Nikāya là làm bạn với thiện, tất cả đại chúng nào ngồi trang nghiêm, thiền tập là làm bạn với thiện. Giờ này mình cùng ngồi chung với nhau để tuyên lại, nhắc lại lời của bậc Chánh Đẳng Giác là làm bạn với thiện. Hãy nhớ làm bạn với thiện, đừng làm bạn với ác.

Ác có cả ở trong và ở ngoài, trong thọ, tưởng, hành có ác không thưa đại chúng? Những suy nghĩ của mình có ác ở trong không? Những hình bóng bên trong có ác ở trong không? Và những cảm giác nữa, đừng làm bạn với ác, thấy nó rồi là phải đuổi nó ra, tẩy sạch các tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, quét rác ra, làm bạn với ác chỉ đưa đến những khổ đau, ở đây là mình đang nói ngược lại Đức Phật đã nói: “Ở đây ta không thấy một pháp nào khác, được nhiều lợi ích giống như làm bạn với thiện.” Thì mình đang nói ngược lại: “Ta không thấy một pháp nào khác có nhiều tổn hại như là làm bạn với ác.”

Nên pháp thứ hai Đức Phật dạy mình là làm bạn với thiện, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện pháp. Hàng ngày mình được nghe, mình được suy tư, được thực tập, được sống một đời sống hiền thiện, hội chúng hiền thiện, hiền hòa, hiền hậu, hiền lành, hiền lương, hiền đức, thực tập tâm hiền, mình được học hạnh, hiền Thánh của Ngài Xá-lợi-phất. Mỗi ngày được trải tâm hiền, trải tâm từ, đó là “Ta không thấy một pháp nào khác, đem lại lợi ích nhiều giống như làm bạn với thiện.” Nên khi tu học mình phải tác ý hân hoan, hoan hỷ, hạnh phúc vì mình được kết bạn, làm bạn với thiện pháp.

Nhưng mình không biết nhận ra thì mình làm cảm thấy lạc lõng, lạc lẽo, nhợt nhạt, không đậm đà, giống như muỗng với vị canh không giống lưỡi với vị canh. Nếu muỗng ở trong tô canh thì có biết được mùi vị không? Nhưng lưỡi nếm canh thì lại biết được mùi vị. Như vậy, khi có trí tuệ mình nhận thức vấn đề một cách đúng, đặt tâm đúng hướng, biết cảm nhận pháp thì giống như lưỡi và vị canh, còn nếu mình không đặt tâm đúng pháp, luôn ở trạng thái buông lung phóng dật, giống như vô cảm đối với pháp thì lúc đó lại giống như muỗng và canh, không thể nếm được hương vị.

Người ta tu càng ngày càng tươi thắm, càng hỷ lạc, càng hân hoan, còn mình không biết cách tu, càng tu thì nhìn thấy bèo nhèo, tiều tụy, khô đét, khổ, không pháp hỷ, pháp lạc, thiền diệt. Nên phải nhớ làm bạn với thiện.

“Này các Tỳ-kheo, với các Tỳ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu, vô thượng, an ổn khỏi các khổ ách, các triền ách, sau khi làm thành nội chi phần, ta không thấy một chi phần nào khác nhiều lợi ích như vậy. Này các Tỳ-kheo, tức là như lý tác ý, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.

Vị Tỳ-kheo hữu học, hành như lý tác ý, không một pháp nào khác nhiều lợi ích như vậy để đạt cho bằng được lợi ích thật tối thượng, vị Tỳ-kheo như lý tinh tấn và tinh cần có thể thành đạt được sự đoạn diệt khổ đau.”

Chúng ta pháp như lý tác ý là tuyệt đối quan trọng, nhưng nhớ Đức Phật đã nói là:

“Đã làm thành nội chi phần, khi nãy là làm thành ngoại chi phần, nên sau khi đã có sự thấy biết chân chánh, Chánh Kiến, hiểu được vấn đề, nhìn thấy ngũ uẩn, lậu hoặc, đôi phần, bắt đầu thực hành như lý tác ý. Ta không thấy chi phần nào khác được nhiều lợi ích như vậy, như là như lý tác ý, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, có thể đạt đến lợi ích tối thượng, đoạn diệt tất cả khổ đau.”

Như lý tác ý là xuyên suốt, Minh Thành nếu không như lý tác ý thì giờ này không còn ngồi đây mà nằm bên dưới, hơn 10 giờ đêm mới về, nếu không như lý tác ý thì những buổi lên lớp ở Sài Gòn có thể nằm bệnh nhưng khi như lý tác ý thì như là sanh ra thần lực, pháp lực, diệu lực, đánh tan cảm giác mệt mỏi, bệnh tật, cũng giống với sư cô Hạnh Đức chia sẻ, lúc đó cô đang nằm và nghe tới quán cảm thọ thì ngồi bật dậy, dù lúc đó đang bệnh nặng, nhưng khi nghe tới quán tận cùng của sinh mạng là bật dậy, nghe đó chính là như lý tác ý.

Vì vậy như lý tác ý rất quan trọng, lúc mình yếu hay mệt thì nhờ các bậc thiện tri thức như lý tác ý giúp cho mình. Những buổi giảng pháp này Minh Thành như lý tác ý giúp cho đại chúng, vậy có hoan hỉ không mà ngồi đó đơ đơ hai mắt? Đó là mình được người khác như lý tác ý cho mình. Phải như lý tác ý, phá năm triền cái. Làm sao mà khi Minh Thành nhìn đại chúng thấy người nào cũng là đống lửa, diệt tâm tinh thần trong pháp, thì Minh Thành thấy hạnh phúc lắm. Ngồi nghe pháp mà mặt đơ đơ ra thì không muốn giảng chút nào hết.

III. Ví dụ của Năm Triền Cái:

Bệnh hoạn, hôn trầm, ai nhớ được năm ví dụ trong năm triền cái? Tham, dục, sân, hôn trầm, thụy miên ví dụ cho gì?

Phật tử thứ nhất:

Kính bạch sư phụ, các quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Trong năm triền cái, con xin ví dụ tham, dục giống với bát nước được đổ thuốc nhuộm, sân hận giống với nồi nước đang được đun sôi sùng sục, hôn trầm giống với mặt hồ bị rong rêu che phủ, trạo hối giống với mặt hồ bị gió làm cho dao động, nghi ngờ giống với hồ nước bị khuấy động, làm cho đục hồ và đặc trong bóng tối.

Sư phụ giảng giải:

Hồ nước của mình bị rong rêu che hết, đây là một ví dụ, còn có ví dụ khác nữa. Mời Thiện Cần.

Thầy Thiện Cần:

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin trả lời câu hỏi của sư phụ. Năm ví dụ như sau, thứ nhất là tham dục, ví dụ giống như người bị mắc nợ; sân hận tác ý giống như mình là người bệnh, hôn trầm và thụy miên thì giống như đang ở tù, trạo cử giống như người nô lệ, nghi ngờ thì giống như một người đi giữa hoang mạc, sa mạc nóng, đụng đến là…

Sư phụ giảng giải:

Hôn trầm, thụy miên giống như ở trong ngục, trong tù. Khi mình bị hôn trầm tấn công, mình phải tác ý: “Ta phải thoát ra khỏi ngục tù này, ta phải thoát khỏi lao ngục này, ta phải thoát ra cái khám này, ta không thể là kẻ tù nhân được, ta không thể là kẻ bị nhốt, bị giam hãm được, ta phải thoát ra.” Phải luôn quán cảm giác hôn trầm đó là ngục, là lao ngục, ngục tù, giải phá các cảm giác đó để mình thấy một cảm thọ tung ra, thoát ra, đi ra.

Phải thuộc bài thì mới nhớ được quán, năm triền cái này tuyệt đối quan trọng, nếu không nhiếp phục được, thì làm sao đi vào sơ thiền? Nếu một đời tu của mình không đi vào được sơ thiền thì xem như uổng công. Sơ thiền là hương vị hỷ lạc của tu học, nếu không được cái đó thì đời tu của mình giống như là cây tre khô. Vì vậy, nếu như mình có được hương vị của sơ thiền thì mình mới tươi thắm, hỷ lạc, và nếu không diệt được năm cái này, thì mình không thể thành tựu được. Mình không biết nó, không hiểu nó, không thành tựu trí huệ về nó thì làm sao mình nhiếp phục, đoạn tận nó?

Tham dục là giống như người bị mắc nợ, khi nào trong lòng mình sanh khởi tham dục lên thì mình nói: “Nợ tới rồi, nợ tới đòi rồi!” là bị đòi nợ, mắc nợ, phải tác ý diệt, tẩy sạch, món nợ này, phải trả cho xong món nợ này, phải giải quyết. Minh Thành vừa giảng bài kinh đó, tựa đề là Tham Dục Là Mắc Nợ, khi giảng bài này quý thầy giật mình hết, không thể ngờ được.

Khi nào trong lòng mình có dục ái? Có hình bóng của ai đó xâm chiếm? Những cảm giác nào chế ngự trong suy nghĩ? Lúc đó mình cũng quán là: “Nợ tới rồi!”

Sân thì quán là: “Nổi giận lên là bệnh, cái đồ bệnh hoạn!” Nếu nổi lên cảm giác sân là mình chỉ thẳng vào cảm giác trong lồng ngực: “Mày là đồ bệnh hoạn, bệnh nhân, dịch bệnh, muốn truyền nhiễm cho người ta hay sao?” Mình phải tác ý trong lúc nó sân lên.

Sân là bệnh hoạn còn tham là mắc nợ, hôn trầm, thụy miên là ở tù, lúc nào mà lao chao, lóc chóc, lăng xăng, dao động thì mình tác ý: “Đồ nô lệ, kẻ nô lệ tôi đòi!”. Phải tác ý, quán thâm sâu, phải thuộc lòng vì tất cả các ví dụ này Đức Phật đã chỉ cho mình cách như lý tác ý, mình không thuộc thì lúc nó sanh khởi lên thì mình lấy gì để trị nó được? Khi lao chao, lóc chóc, lăng xăng, dao động thì mình phải tác ý: “Đồ nô lệ, kẻ nô lệ, kẻ tôi đòi, kẻ đầy tớ. Kêu đi là mi đi hay sao? Kêu nói là nói hay sao? Kêu chạy là chạy hay sao?” phải nhiếp phục thân, thiện, ý hộ trì sáu căn, mình tác ý từ từ mới quen, không chỉ một lần mà hay mười lần là xong, phải làm một năm, năm năm, bảy năm, mười năm.

Hoài nghi là gì? Là đi trong hoang mạc, sa mạc hoang vu, không biết đường đi, không định hướng, lạc vô một hoang mạc, sa mạc hoang vu, mênh mông năm trăm cây số chỉ toàn cát không. Hoài nghi là vậy, như đi trong hoang mạc.

Ví dụ như bát nước thì tham giống như bát có thuốc nhuộm trong đó, nó không còn trong sạch, trong sáng nữa mà chỉ là tâm tham. Sân là nước đun sôi sùng sục. Như vậy là để mình biết có nhiều hình ảnh để mình tác ý, nếu mình không nhớ thì làm sao mình tác ý? Nếu như cảm giác bực lên thì mình quán: “Rồi, nấu nước sôi, nồi nước sôi của mày!” Phải tác ý như vậy, đó chính là pháp hành, không phải học của mình là chữ nghĩa khác, khi thực hành lại khác thì không có, phải lấy những cái đó làm vốn liếng, làm phương tiện, để mình tác ý trong lúc nó xuất hiện, nó sanh khởi.

Hôn trầm là bát rong rêu, dơ mà rong rêu đóng để lâu ngày làm cho rong rêu phủ đầy. Trạo cử là bát nước bị khuấy động, gió thổi làm cho nước trong bát bị lay động, mặt nước không tĩnh. Nếu khi mặt nước yên tĩnh thì mình soi thấy được mặt của mình, còn khi gió làm chao động thì nhìn vào không thấy gì hết. Cũng vậy, với một tâm lao chao, lóc chóc, lăng xăng, dao động mãi không định tĩnh nên không có như thật tri kiến – thấy biết được sự thật.

Ngay cả giờ ngồi thiền hay nghe pháp cũng bị, có tiếng sột soạt, đó là sự dao động, trạo cử. Mình phải tập nhiều mới được. Nhiều khi mình đi nước ngoài thấy cũng ngại ngùng lắm, ở sân bay người ta ngồi đó mình kéo tới làm cho người ta bỏ chạy hết, là do um sùm, bát nháo. Đó chỉ mới nói là văn minh, văn hóa thôi, chưa nói tới sự tu tập, đi tới đâu làm cho người ta bỏ chạy, đó là kẻ nô lệ, đó là những cảm giác bên trong thúc giục, mình không nhìn ra được, không kiểm soát, nhiếp phục được. Hoài nghi là bát bị khuấy đục, cặn, nội tâm không trong sáng.

IV. Như Lý Tác Ý:

Trở lại vấn đề phải như lý tác ý rất quan trọng, mình phải siêng năng tác ý mới được, siêng năng tác ý. Đại chúng thấy Minh Thành chia sẻ trong trường Phật học thì phong cách khác, ở chùa mình là phong cách khác, tại sao vậy? Vì trong đó nếu nói như vầy là ngủ hết, còn ở đây là những hành giả, nên nói pháp ở đây là vừa nói vừa thực hành, đa số là thiền quán. Nên khi đại chúng nhìn thấy Minh Thành chia sẻ cho Phật tử là khác, chia sẻ trong trường tăng ni là khác.

Nếu người nào biết khéo nhìn ra, vận dụng thì lợi ích rất lớn vì vừa pháp học và vừa pháp hành cùng một lúc tại nơi này, tuy nhiên trong những buổi học của chúng ta không phải là đương cơ cho những Phật tử sơ cơ mới đến, các vị mới đến nghe được những gì thì nghe, còn đây là cho các thầy các cô tu học sâu sắc trong dòng pháp Nikāya nên vừa nghe vừa thực hành. Vì vậy, ở đây Minh Thành nhắc chúng ta nhớ như lý tác ý, bình thường tác ý thì không có hôn trầm nhiều, năm triền cái được lắng dịu.

V. Thực tập nhận diện ngũ uẩn:

Giờ hỏi bài các chú mới đã nhận diện năm uẩn được chưa? Chú ngồi bên ngoài, chú trẻ hơn nói trước đi.

Phật tử thứ hai:

Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đạo tràng, con tên Thanh. Qua câu hỏi của sư phụ, con xin trả lời là con nhận được ngũ uẩn rồi thưa thầy.

Vậy hãy nhận diện ngay lúc này xem sao.

Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thân thể là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức.

Vậy ngay lúc này cảm thọ như thế nào?

Hiện tại cảm thọ là dễ chịu thưa thầy.

Có sao nói vậy nha!

Vì con hơi run thôi ạ.

Hơi run như vậy là khó chịu rồi đó. Tức là có hai cảm thọ, dễ chịu vì được nghe pháp và hơi run vì kêu hỏi bài. Vậy trong tâm có hình bóng gì không? Chú hãy thử nhắm mắt lại xem.

Thưa thầy con không thấy gì, chỉ thấy màu đen.

Thấy màu đen? Vậy nãy giờ trong tâm có hình bóng gì không? Từ đầu khi nghe pháp tới giờ?

Con thấy sư phụ ngồi trên đó giảng pháp.

Đó là ở ngoài, còn trong tâm thì có hình bóng gì không? Chú có hình bóng người bị nhốt trong ngục không?

Dạ thưa thầy không.

Nãy giờ không có hình bóng gì hết? Vậy là chưa quen, vậy có suy nghĩ gì?

Con chưa có suy nghĩ gì thưa thầy.

Vậy chưa nhận diện ngũ uẩn được, phải học thêm nữa. Vậy mời chú ngồi kế.

Phật tử thứ ba:

Con kính bạch sư phụ, thầy cô và quý Phật tử. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ngũ uẩn. Thân là sắc, hình bóng là tưởng, cảm giác là thọ, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức.

Ngũ uẩn của chú nãy giờ ra sao?

Nó có cảm giác hăng hái học.

Có suy nghĩ gì không?

Con nhận lại lời của thầy, thầy Nghĩa và thầy Thiện Cần xem được bao nhiêu phần trăm, chắc cũng nhớ được một chút.

Không phải, nãy giờ trong suốt thời pháp này chú có suy nghĩ gì?

Con thấy ứng dụng được.

Nãy giờ trong tâm chú có hình bóng gì không?

Dạ có hình bóng của thầy.

Thôi được rồi. Các cô có các vị mới nhận diện ngũ uẩn, kiểu này chắc những đợt sau thầy đi xa về chỉ trả bài thôi chứ không giảng.

Phật tử thứ tư:

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin phép được nhận diện ngũ uẩn lúc nãy, sắc uẩn là thân tứ đại của con ở đây, thọ uẩn là cảm giác khó chịu vì con sợ bị sư phụ hỏi bài, tưởng uẩn của con tạm thời vắng lặng, hành uẩn là suy nghĩ không biết sư phụ hỏi con câu gì, nếu như là nhận diện ngũ uẩn thì con sẽ trả lời sư phụ như thế nào, thức uẩn là con rõ biết thọ, tưởng, hành.

Vậy trước khi thầy kêu trả bài và nhận diện ngũ uẩn thì cảm thọ của cô ra sao?

Trước khi thầy kêu thì con cũng lo lắng vì sợ thầy kêu.

Từ lúc đầu luôn.

Vì các chị có nhắc với con là khi thầy về thì thầy sẽ hỏi bài nên con sợ.

Nhận diện ngũ uẩn như vậy là tốt. Người mới là nhận diện như vậy là được. Vậy ngoài nhận diện ngũ uẩn thì cô có muốn trình pháp gì không?

Bạch thầy, tạm thời thì chưa ạ.

Mời cô khác.

Phật tử thứ năm:

Con kính bạch sư phụ, các thầy, các sư cô và đại chúng chúng ta đang ngồi ở đây. Bạch sư phụ, con ở đây con được học pháp, con được sư cô Hạnh Trí hướng dẫn, con rất hoan hỷ, hôm nay con nhận diện ngũ uẩn, nếu có sai sót là do con học chưa tốt chứ không phải vì sư cô Hạnh Trí hướng dẫn không kĩ, xin sư phụ và đại chúng hiểu dùm con điều này, giờ con xin bắt đầu nhận diện ngũ uẩn. Như câu hỏi của sư phụ là con nhận diện ngũ uẩn của con trước khi sư phụ đặt bài tập, về sắc uẩn là lúc đó con ngồi an tịnh, con ngồi thân chạm lên tấm đệm, chân con chạm đất, về thọ uẩn con cảm thấy thân con được êm, da con tiếp xúc với quần áo thì hơi lạnh, cảm giác dễ chịu và tâm con rất dễ chịu khi đang nghe lời giảng của thầy.

Về tưởng quẩn, lúc con đang nghe lời giảng của thầy, con hình dung lại những ví dụ của thầy, ví dụ như tham là mắc nợ thì con lại hình dung mình đang mắc nợ, vì con thấy thân con tham, rồi con lại tưởng đến hình ảnh của thầy, lần đầu tiên con được nghe pháp của thầy, trực tiếp là lúc thầy đang ở TP.HCM và con đang ở đây, con nghe cùng với các thầy, các sư cô và đại chúng.

Về hành là trong khi nghe thầy giảng, con có một suy nghĩ rằng bài giảng hay quá, đi sâu vào trong tim của con và con có ý nghĩ là nhất định con sẽ tinh tấn tu tập theo lời giảng của thầy.

Về thức, ngay lúc đó con rõ biết thọ, tưởng, hành của con đang hoạt động. Còn sau khi thầy kêu mọi người làm bài tập nhận diện ngũ uẩn thì ngay lập tức lúc đó, tim con đập rất mạnh và ngay cả bây giờ con nói chuyện với sư phụ tim cũng đập mạnh nên cảm thọ đó là cảm thọ khó chịu, nhưng tâm của con hoan hỷ, cảm thọ lạc hỉ, dễ chịu. Ngay lúc này đây thì cảm thọ là thân của con không còn lạc nữa, con cảm thấy nóng bừng, còn sắc của con thì chân con chạm đất, tay đang cầm mic, hành thì trong khi con đang trình pháp, ý hành của con liên tục hoạt động là con sẽ nói tiếp gì để cho hết ý của con. Thức là con rõ biết là thọ, tưởng, hành đang hoạt động con rất rõ biết. Con kính bạch sư phụ con xin hết.

Sư phụ giảng giải:

Cô nhận diện như vậy là tốt. Chỉ có điều khi nhận diện sắc uẩn thì phải nhận diện là thân tứ đại. Phải nhớ để phá chấp về sắc là không được.

Mời cô khác.

Phật tử thứ sáu:

Con chào sư phụ, sư thầy và sư cô đang có mặt ở đây. Con tên Trà My, pháp danh Hiền Hòa, nhận diện ngũ uẩn của con nếu như có gì sai sót thì xin quý thầy, quý cô và quý đại chúng từ bi, hoan hỷ. Con may mắn là tháng vừa rồi con có dịp lên đây, con có dịp trò chuyện nhiều với sư cô Hạnh Đức và trong cũng chuyến vừa rồi có một duyên nên con quy y tại đây, sư cô Hạnh Đức chia sẻ cho con về nhận diện ngũ uẩn và bài tập để con trở về thực hành.

Bây giờ thì con xin nói về nhận diện ngũ uẩn của con, trước khi sư phụ giảng thì sắc lúc đó là con đang ngồi thiền, con đang ở trong một không gian rộng lớn như thế này, chân đang ngồi chạm xuống mặt sàn để ngồi thiền.

Về thọ là cảm giác đang ngồi thiền của con thì con có khó chịu, vì con bị đĩa đệm nên khi ngồi con thấy rất khó chịu, rất đau bên phía chân phải.

Về tưởng, con có khởi lên các hình ảnh về các ngày tháng vừa rồi con được ngồi trò chuyện với sư cô Hạnh Đức và giờ thì không gặp được cô nữa nên trong lòng con có hình ảnh được ngồi nói chuyện với cô ở đây, nó lại trở về trong tâm trí của con. Trưa nay cũng là ngày con xuống núi, con suy nghĩ về những điều vừa qua mà cô đã chia sẻ và nó khởi lên một hình ảnh như vậy.

Về hành là suy nghĩ của con về những tháng ngày vừa qua, việc làm của mình vì đây cũng là thời gian con rỗi rải, không có bận rộn quá nhiều về công việc nên con có rất nhiều thời gian để suy nghĩ về quá trình vừa rồi, về những gì mình đã làm, có những cái gì đúng, có những cái gì sai.

Về thức thì con rõ biết được là con đang ngồi thiền, đang có những suy nghĩ cũng như những hình bóng như vậy. Còn khi sư phụ giảng thì khi nói về chuyện cô Hạnh Đức, thì trong nhận diện ngũ uẩn trong thọ của con cảm thấy là…Trước đó thì con cũng có nghe thấy về tình trạng bệnh của cô Hạnh Đức mà: giờ nghe đến ngồi thiền và mất thì cũng cảm thấy đó là một sự vô thường, bản thân con cũng cảm giác được những sự bệnh tật, cảm giác được sự đau đớn đối với người tuổi đời còn rất trẻ, cũng gần tuổi với con, thì con có một thọ cảm như vậy.

Sư phụ giảng giải:

Nhận diện ngũ uẩn như vậy là tốt, còn ai muốn chia sẻ về nhận diễn ngũ uẩn nữa không?

Phật tử thứ bảy:

Con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý cô và đại chúng ở đây, con tên Duyên, pháp danh của con tên Diệu Duyên, con đến đây học pháp của sư phụ được một tuần hơn rồi ạ. Thưa sư phụ, con xin trả lời câu hỏi của sư phụ về ngũ uẩn. Sắc là hiện tại thân con đang đứng ở đây, cảm thọ của con khó chịu… Cho con xin phép được trả lời sau vì con run quá ạ.

Giơ tay lên mà run thì không sao đâu, cứ đứng đó, tiếp tục đứng đó thở, thở vào an tịnh, nhắm mắt lại, lắng dịu. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu.

Con cám ơn lời dạy của sư phụ, thọ của con lúc này là dễ chịu, tưởng của con là khi con nhắm mắt lại thì con cảm giác thân của con, hình bóng của con khó nói lắm, hình ảnh không rõ ràng, hành trong đầu con đang suy nghĩ, đang hành theo lời sư phụ giảng cho con, thức của con thì rõ biết thọ, tưởng, hành của con.

Như vậy thì đâu có gì mà phải sợ?

Nó là như vậy con cũng không biết vì sao.

Vậy cô cứ ngồi xuống hít thở an tịnh, lắng dịu.

Phật tử thứ tám:

Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng ở đây, con xin phép vì con chỉ là Phật tử thông thường thôi, con chưa hiểu thấu được Phật pháp nhiều và đây cũng là lần đầu tiên con được lên sân Pháp Ấn này với rất nhiều tâm và suy nghĩ trong đầu con. Có thể con hơi lạc đề tí nhưng con mong sư phụ, cùng tất cả quý thầy cô ở đây thông cảm cho con.

Khi con ở Sài Gòn, con qua chị Thủy thì con thấy trên này đẹp, không khí trong lành và con muốn lên đây để trực tiếp cảm nhận chứ thật sự con chẳng hiểu thọ, tưởng, hành, thức như quý thầy, quý cô ở đây là gì, vì con thật sự chưa hiểu sâu lắm. Nhưng nãy giờ con cảm nhận được khi vào tu tập thì con giống như một người đang tìm hiểu và xin quý thầy có gì hay thì dạy dỗ cho con, để con được theo và học, hành để tìm sự an lạc, vì trong cuộc sống đời thường ở Sài Gòn của con đôi lúc bộn bề, con cảm thấy nó chẳng an yên.

Do đó con hay đi tìm về những nơi con cảm thấy có được những bậc thiện tri thức, làm con cảm thấy rất thích, nên hôm nay đứng được đây làm con đứng không vững vì con cảm thấy sợ, run, nhiều loại cảm giác làm mình xoắn não lên, không biết nói như thế nào để quý sư phụ, quý thầy cô hiểu được cảm giác của con lúc này.

Lúc đầu, những lời pháp của thầy con nghe rất hay, qua những lần trầm trầm của thầy thì con ngủ lúc nào không biết, con cố gắng nhưng trong mỗi lời thầy nói con cảm thấy có điều gì làm con thích, làm con muốn học, mà không hiểu sao con không cưỡng lại được, cứ làm cho con mê mê rồi con cố kéo cho tỉnh, trạng thái đó làm con cảm thấy mình không được tốt lắm. Nên hôm nay cũng bon chen lên xin quý thầy và bạch sư phụ, quý thầy cô tí nữa con về rồi, con hy vọng là sư phụ có gì đó cho con để con cảnh tỉnh mình những khi giờ giấc con buông mình tu học để con cảm thấy một nội lực để trong cuộc sống đời thường của con luôn cảm thấy an lạc và khoan thai như sư phụ và quý thầy cô ở đây.

Nhân Thủy lâu lắm mới lên núi? Có muốn nói gì với quý thầy, quý cô và đại chúng không?

Phật tử thứ chín:

Con xin kính sư phụ, quý thầy cô và Phật tử đại chúng, con tu học thì hiểu còn thấp quá, con chỉ phát tâm là nghĩ sao con nói vậy thôi. Con không biết ra sao, vì con ở Cà Mau xa xôi và đi đứng cũng bất tiện, chùa ở Cà Mau cũng rất nhiều, nhưng không bao lâu thì con lại nhớ đến Linh Quy Pháp Ấn, con nhớ các lời giảng của thầy, lên nhà bếp để tập trung làm việc con thấy rất hoan hỷ nên không bao lâu con lại xin ông xã thu xếp để đến Linh Quy Pháp Ấn tu tập. Dù con hiểu biết không được bao nhiêu nhưng tâm con thích như vậy và con thích lên núi, không thích ở quê hay ở chợ. Con không biết duyên của con như thế nào thưa sư phụ.

Là duyên núi. Mời cô Phật tử mới mang mắt kiếng.

Phật tử thứ mười:

Con kính thưa sư phụ, quý thầy, quý cô và Phật tử đại chúng, con là Diệu Vũ và con mới tới lúc chiều tối hôm qua. Trước tiên con xin cám ơn sư phụ và đại chúng đã chấp nhận cho con được ở đây để tu học, học hỏi theo sư phụ và theo quý thầy, quý cô và mọi người, con xin được nhận diện ngũ uẩn. Sắc là tất cả những gì được tạo ra từ tứ đại (gồm bốn đại chủng và 24 tiểu sắc), con là sắc, sư phụ và tất cả mọi người, tất cả cảnh vật những gì mà mình thấy thậm chí có những thứ mắt mình không thấy cũng là sắc, nãy giờ con ngồi thì con đã rõ biết là con đang ngồi, giờ con đang đứng thì con rõ biết con đang đứng.

Về thọ có lạc thọ, khổ thọ hoặc xả thọ thì con thấy những thọ đó của con liên tục thay đổi, ví dụ như khi nghe sư phụ nói pháp thì con có lạc thọ, khi con bị hôn trầm thì con thấy đó là khổ thọ, vì con không thắng được nó, giờ con đang run cũng đang là khổ thọ, người có những lúc không thấy khó chịu dễ chịu thì đó là xả thọ và nãy giờ con cũng có những lúc xả thọ.

Về tưởng thì nãy giờ con có ghi nhớ lại hình ảnh của sư phụ, hình ảnh của Đức Phật hay những ví dụ về năm hạ phần kiết sử, những ví dụ người mắc nợ thì con ấn tượng với người mắc nợ vì con thấy tham ái mạnh, hay con thấy ấn tượng với hình ảnh của người đi trong sa mạc, con thấy có những giây phút như là mình đang đi trong sa mạc, lạc đường, mất định hướng. Về hành thì con thấy mình bị hành liên tục, các tham, sân, si, vô minh hay các hạ phần kiết sử quay mình liên tục, những cái đó ngầm, lúc thì ẩn, lúc thì trồi lên, nói chung không lúc nào nó tha hết. Về thức là con thấy mình có sự rõ biết, thực ra cũng có những lúc không rõ biết, cũng mê mờ.

Con thấy năm uẩn của mình vậy mà con cũng thấy mình chỉ đang nói mặt lý thuyết nhiều hơn, nếu nói thực với bản thân mình là có nhận diện được hay không thì con thấy mình nhận diện dưới 50%. Lúc sư phụ giảng pháp ở đây thì con thấy mình may mắn, vì con lười nên không đọc được hết kinh Nikāya, nên những ví dụ của sư phụ và quý thầy, quý cô, quý đại chúng tụng vào sáng nay toàn là những tinh túy của kinh Nikāya. Giúp cho con rút ngắn được nhiều thời gian, lúc con lười thì con học cốt lõi, lõi cây đó để con ghi nhó và con thực hành.

Nhưng con cũng thấy mình chỉ ở giai đoạn sơ cơ thôi, trước tiên là ghi nhớ lời Đức Phật dạy, hình ảnh ví dụ qua những lời gợi nhắc của sư phụ, quý thầy, quý cô và đại chúng, còn việc thực hành thì cũng cố gắng, luôn luôn được sư phụ và quý thầy quý cô nhắn nhở, truyền lửa cho nhau.

Với khi nãy con có thấy tâm đắc được chỗ là mọi ác pháp bắt đầu từ phóng dật, con sẽ ghi nhớ điều đó vì có lẽ con đã phóng dật rất nhiều. Con xin hết.

Sư phụ:

Khi nãy có Phật tử ở Cà Mau đi chung với cô Nhân Thủy hôm nay xuống núi đúng không? Sáng nay là thời pháp cuối rồi, cũng là thời pháp đầu trong chuyến lên thăm tại Linh Quy Pháp Ấn. Khi cô về cô cứ nghe trên trang Linh Quy Pháp Ấn, trên đó có bài tên Nấc Thang Kinh Tạng Nikāya, nghe theo thứ tự, vì thời gian không có nhiều, ở đây chỉ có thể chia sẻ một vài phương pháp đơn giản để cô thực tập như khi nãy có chia sẻ là thực tập hơi thở và cảm giác an tịnh, lắng dịu. Mỗi khi cô giận hay buồn, phiền não thì cô hướng về tâm của mình hướng về lồng ngực, theo hơi thở khi hít vào cảm giác an yên, an tịnh, thở ra lắng dịu, hướng vào lồng ngực của mình là cảm thọ khó chịu, đó là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Nếu có sân hận thì cô thêm chữ dễ thương nữa là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương. Đó là sự thực tập hơi thở kết hợp với cảm giác, để làm cho mình có được cảm thọ lắng dịu. Điều này thấy đơn giản nhưng nó giúp ích cho mình rất nhiều. Đó là đơn giản nhất trong những lúc lo lắng, bực bội, sợ hãi, ham muốn, sân hận hay cái ta sanh khởi bản ngã thì mình thực tập đó. Bước dễ nhất là chỉ có thực tập pháp thực tập, thực hành. Nếu cô muốn tìm hiểu thêm thì phải tìm trên trang Linhquyphapan.vn. Hoặc cô có thể nghe bài Lợi Ích Của Cảm Giác Toàn Thân, Ngũ Uẩn Là Gì… những bài nào có chữ cảm giác thì cô nghe, để nhìn nhận lại thân tâm của mình để thực tập, chuyển hóa.

./.