Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

CÁCH ĐIỀU PHỤC TÂM - KINH AN TRÚ TẦM

2026-03-03 00:54:30
CÁCH ĐIỀU PHỤC TÂM – KINH AN TRÚ TẦM

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Năm cách an trú tâm PAGEREF _Toc107915002 \h 1

1.Tác ý thiện pháp PAGEREF _Toc107915003 \h 1

2.Quán nguy hại PAGEREF _Toc107915004 \h 2

3.Không ức niệm, không tác ý PAGEREF _Toc107915005 \h 4

4.Tác ý và an trú vào hành tướng các tầm PAGEREF _Toc107915006 \h 5

5.Nghiến răng, dán chặt lưỡi PAGEREF _Toc107915007 \h 6

II.Đạo tầm pháp môn PAGEREF _Toc107915008 \h 7

Năm cách an trú tâm

Tác ý thiện pháp

Trong “Kinh An trú tầm”, Đức Phật có dạy:

-- Chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm?

Ở đây, Tỳ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỳ-kheo, ví như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác; chư Tỳ-kheo, cũng vậy, khi một Tỳ-kheo y cứ một tướng nào, tác ý một tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An trú tầm)

“An trú tầm” tức là an trú tâm. Tầm là sự suy tầm, là cái mà tâm mình hướng đến. Hiểu đơn giản tức là hành, sự suy nghĩ. Khi tâm hướng đến chỗ nào mà chỗ đó liên hệ đến dục tham, sân hận, si mê thì phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện để đánh tan suy nghĩ xấu đó. Ví dụ, khi nghe về việc mình bị lấn đất thì lúc đó trong tâm có những suy tầm liên hệ đến sân sanh khởi, những suy nghĩ liên hệ đến sự tức giận, phiền não sanh khởi thì phải liền tác ý "miếng đất đó là chỗ chôn mình đó, không có gì là mình, không có gì là của mình". Như vậy cũng giống như một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác, đây chính là vận dụng lời dạy của Đức Phật vào sự tu tập tâm.

Hoặc khi được thầy nhắc nhở mà mình khó chịu, có sự liên hệ đến sân thì phải tác ý ngược lại "điều này là tác thành cho mình, thân cận người trí chỉ lỗi cho mình giống như chỉ chỗ chôn vàng thì sao mình bản ngã, mình bực bội, sân hận? Vì những sân hận này mà mình luân hồi vô lượng kiếp, không thành tựu thánh đạo vì chính cái này" cho nên mình phải đánh “đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác” như người thợ mộc trong đoạn kinh, đó là sự tu tập an trú tâm.

Đối với dục cũng vậy, khi có suy nghĩ và tưởng mơ những gì liên hệ đến dục thì phải dùng bất tịnh tướng, dùng cái tướng trương phình bị giòi ăn để đánh bật cái dục. Chứ không phải ngồi đó khởi cái gì biết cái nấy mà phải dùng cái này đánh bật cái kia ra, đó là những gì trong “Kinh An trú tầm” chỉ dạy, tức là làm cho tâm mình được an trú vào thiện pháp.

Bất cứ thời khóa nào tu học thì Minh Thành cũng nghĩ đây là thời khóa cuối cùng, có thể chút nữa mình sẽ chết nên sự tu học của mình trong thời khóa đó rất đặc biệt. Nhiều khi học trong kinh mình sẽ không thể hiểu được hết mà cần phải giải thích ra thì mình có thể hiểu rõ được. Đức Phật chỉ mình cách an trú tâm là nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia cho nên các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Những cái tham dục ái, sân si bên trong khiến tâm mình không an trú, không định tĩnh được, chỉ khi nào nhổ nó quăng đi thì tâm sẽ được an tịnh, định tĩnh.

Khi học chánh thống kinh Nikāya rồi mới thấy trước giờ chúng ta ngồi thiền khác với những gì Đức Phật đã dạy. Dù đã tác ý liên hệ đến thiện nhưng các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi tiếp tục, mọi người có thấy không? Cho nên, không phải tác ý như vậy là xong, một người tác ý mà tan liền thì người đó phải có sự thuần thục, có sức mạnh trong pháp, võ sĩ ra đấu chỉ đấm một cú là knock out thì cái lực đó mạnh phải biết.

Quán nguy hại

Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: "Ðây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo". Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỳ-kheo, ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An trú tầm)

Phương pháp thứ hai để an trú tâm, để trị những suy nghĩ suy tầm về ác, bất thiện pháp, về tham sân si, dục ái là phải phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy. "Sân hận này đưa đến phá vỡ sự nghiệp tu hành của mình, sân hận này làm cho không thành tựu cung kính pháp, sân hận này làm cho bất hòa đại chúng. Cái sân hận, bực bội, khó chịu này làm sụp đổ đạo nghiệp đời tu của mình. Cái dục ái hủy hoại hết công trình tu hành một đời của mình". Phải quán sâu, quán mạnh, quán thật nhiều phương diện góc độ về nguy hiểm và tác hại của nó. Có thể khai triển bao nhiêu thì cứ việc khai triển, càng khai triển nhiều chừng nào thì trí huệ càng sắc bén chừng đó, chính những cái tác ý như vậy làm cho trí huệ càng ngày càng sáng tỏ, càng rõ ràng.

Một pháp tu nếu cứ ngồi yên không làm gì thì làm sao có thể sanh khởi được trí huệ? Trong bài Đức Tỳ-bà-thi Như Lai, Chánh Đẳng Chánh Giác khi tu là như lý tư duy, phát sanh minh kiến, tức là suy nghĩ đúng chân lý thì mới phát sanh ra cái thấy sáng tỏ về sự thật của dòng sanh tử luân hồi này chứ không phải ngồi im không suy nghĩ là đúng. Như lý tư duy mới phát sanh minh kiến, suy xét chân lý và sanh khởi lên cái thấy biết sáng tỏ về sự thật của năm uẩn của các pháp. Tức là lúc đó mình đã tác ý rồi mà vẫn sanh khởi lên dục thì mình phải quán sự nguy hại của cái dục này. Đem những hình ảnh xảy ra những vụ án thê thảm nhất để quán chiếu, từ đó phát sanh ra sự rùng rợn. Ví dụ như một ông già hơn 80 tuổi đi xâm hại một đứa trẻ mới đầy năm tuổi, mình đem cái này ra quán để thấy khiếp sợ, khinh sợ cái dục ác độc này. Tác ý những cái này để bản thân sanh khởi sự sợ hãi, đó gọi là quán sát những nguy hiểm của sự suy tầm đó.

Đó là cách thứ hai để mình tẩy sạch những các ác, bất thiện pháp. Đức Phật ví dụ một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Những suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng xấu đó mà sanh khởi thì mình phải thấy như xác rắn chết, xác chó chết, xác người chết đang quàng lên người mình thì mình phải quăng bỏ, phải thấy sợ hãi để nỗ lực hành trì.

Không ức niệm, không tác ý

Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. Nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỳ-kheo, ví như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Chư Tỳ-kheo, cũng vậy, nếu Tỳ-kheo ấy, trong khi không ức niệm, không tác ý... được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An Trú Tầm)

Nếu đã quán sự nguy hại mà những suy nghĩ liên hệ đến dục, tham ái, sân si vẫn sanh khởi thì bỏ nó qua một bên, mặc kệ nó, không tác ý, không nhớ nghĩ đến nó nữa. Đây là pháp thứ ba, mỗi lần nó sanh khởi lên thì bỏ nó qua một bên, vì đã tác ý, đã quán nguy hiểm nhưng suy nghĩ đó vẫn còn thì không suy nghĩ về nó nữa mà suy nghĩ chuyện khác. Cũng như một người không muốn nhìn cảnh trước mắt của mình thì họ quay qua chỗ khác hoặc nhắm mắt lại. Có những người gặp chuyện gì sợ quá thì họ sẽ nhắm mắt lại, hoặc quay qua chỗ khác và không nhìn nữa, không tác ý, không ức niệm, không nghĩ nhớ đến nữa.

Trong bài kinh Song Tầm, Đức Phật nói người nào tâm nghiêng về dục nhiều thì những suy nghĩ về dục tầm sanh khởi nhiều, tâm nghiêng về sân nhiều thì những ý niệm về giận hờn sẽ sanh khởi nhiều, những người nào thiên về si nhiều thì trạng thái si sanh khởi nhiều. Tâm mình hướng về chỗ nào nhiều thì những cái tư duy đó sẽ sanh khởi nhiều lên.

Chư Tỳ-kheo, nếu vị Tỳ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vấn đề gì thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo suy tư, quán sát nhiều về ly dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly dục tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vô sân tầm... nếu Tỳ-kheo suy tư, quán sát nhiều về bất hại tầm, vị ấy từ bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về bất hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về bất hại tầm. (Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song tầm)

Cho nên, nếu mình hướng về pháp, cứ suy nghĩ về pháp thì pháp sẽ nhiều, trí huệ sẽ sanh khởi nhiều, pháp trong người mình sẽ được tăng trưởng và phát triển. Nếu không nghiêng về pháp mà nghiêng về những cái khác thì những cái đó sẽ sanh khởi nhiều. Nhiều vị khi được gọi lên trình pháp, chia sẻ pháp mà không biết gì để nói vì cái tâm không đặt vào trong pháp, nói chuyện đời này kia thì nói rất nhiều vì tâm nghiêng về cái này nhiều hơn pháp.

Như vậy, trong trường hợp mình đã tác ý, quán chiếu sự nguy hại của các ác, bất thiện pháp rồi mà những thứ đó không giảm đi lại còn sanh khởi thêm thì mình bỏ qua nó, đừng suy nghĩ về nó nữa mà hãy tu tập tâm từ, tu tập các thiện pháp.

Tác ý và an trú vào hành tướng các tầm

Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục... được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An Trú Tầm)

Mặc dù đã không tác ý đến những tham, sân, si đó nhưng chúng vẫn hiện khởi thì chúng ta cần để ý đến việc trong tâm sanh khởi lên những suy nghĩ gì, trong tâm hiện tại như thế nào, những cảm thọ, hình bóng như thế nào. Tâm đang diễn biến như thế nào thì mình để xem xét thật kĩ lưỡng. Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: "Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại". Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: "Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại". Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: "Tại sao Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống". Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: "Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống". Chư Tỳ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Chư Tỳ-kheo, cũng vậy, nếu Tỳ-kheo ấy tác ý đến... (như trên)... được an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An Trú Tầm).

Ví dụ này rất hay, đang đi nhanh thì suy nghĩ tại sao mình đi nhanh, rồi hãy đi chậm lại, đi chậm lại thấy vẫn mệt thì hãy đứng lại, đứng lại thì suy nghĩ sao mình không ngồi xuống sẽ khỏe hơn, ngồi xuống chưa được thì nằm dài xuống. Tức là khi chú ý, tác ý đến hành tướng của các suy nghĩ, suy tầm, mình làm cho nó bắt đầu từ những cái thô cứng nhất thay đổi từ từ sang những cử chỉ tế nhị nhất. Từ sự dao động mạnh của việc đi nhanh, chạy nhanh thì chuyển thành đi chậm, đứng lại, ngồi xuống rồi cuối cùng là nằm nghỉ. Phải làm cho lắng dịu, an tịnh từ cái thô đi đến cái tế, bỏ dần các cử chỉ thô cứng và làm theo những cử chỉ tế nhị nhất, làm như vậy thì lần lần cái tâm mình lắng dịu xuống và an tịnh trở lại.

Nghiến răng, dán chặt lưỡi

Chư Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ... đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục... liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong... được an trú, an tịnh nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An Trú Tầm)

Đây là tối hậu chiêu, Đức Thế Tôn có rất nhiều điều thiện xảo để diệt trừ các bất thiện pháp trong tâm, Thế Tôn đã trải qua hết tất cả những điều này và giờ đây Ngài để lại lời dạy cho hậu thế: nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Còn bây giờ tu mà nói tham sân si không có thật thì làm sao trị được nó. Mọi người cứ nghĩ tham sân si là điều huyễn hoặc cho nên không cần trị nó vì không thấy nó có thật, nhưng thực tế là nó có thật. Khi nhận diện năm uẩn sẽ giúp mọi người sáng ra đều này, chúng ta sẽ thấy bản ngã có thật, sân hận, dục, tham ái có thật. Ngày đêm tu học tinh tấn, trầy da tróc vảy mà những cái bất thiện pháp còn chưa thể tẩy rửa được, vậy mà giờ nói tham sân si đều không có, tánh không, là trống rỗng không có gì hết thì đó là thất bại, như vậy là Phật pháp hoại diệt về cái chấp không đó. Đức Phật dạy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm là phương pháp cuối cùng để trị những tên cứng đầu, khó dạy nhất.

Đạo tầm pháp môn

Chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn; vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau. (Trung Bộ Kinh, 20. Kinh An Trú Tầm)

Làm theo năm cách Đức Phật đã chỉ để đi đến chỗ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh thì vị Tỳ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Tức là đây là pháp môn đánh bại được tất cả những suy tầm của kiết sử, tham sân si, pháp môn này đánh gục được hết những bất thiện pháp. Tu tập pháp môn này thì vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn, tức là vị ấy bây giờ làm chủ thân tâm, cái tâm đã được an trú và tự chủ được thân tâm mình. Muốn nghĩ thì sẽ nghĩ, muốn nghĩ về từ bi, hỷ xả vô lượng thì sẽ nghĩ, còn không muốn thì sẽ không nghĩ, không còn việc tự động thân tâm nghĩ về dục ái, tham sân si.

Vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau, nếu Thế Tôn không có tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm chuyên chú, dồn hết tâm lực vào sự tu thì làm sao có thể chứng ngộ, làm sao có được những pháp môn này cho chúng ta tu tập theo, nếu Ngài không từng kinh qua? Bây giờ vào ngồi thiền chung chung, ngồi để yên, tham thì biết có tham, sân biết có sân, si thì biết có si là xong, biết xong rồi để đó không làm gì nữa. Ngược lại khi đã biết rồi thì phải dọn rác, phải lau chùi, phải tổng vệ sinh. Đức Phật dạy phải đem đốt, gió từ bốn phương tám hướng thổi cho nó bay hết, đổ xuống sông xuống biển để không còn gì nữa, chặt nó như chặt cây tala để nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai.

Ví như này các Tỳ-kheo, các hạt giống không thể bị bể vụn, không bị hư thối, không bị gió và nắng làm hư, còn được tươi tốt, được khéo gieo. Và một người lấy lửa đốt chúng, sau khi lấy lửa đốt, làm cho chúng thành tro, sau khi làm thành tro, quạt chúng trong gió lớn, hay cho vào dòng nước sông chảy nhanh mang cuốn đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hạt giống ấy được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, phàm nghiệp nào được làm từ không tham ... không thể sanh khởi trong tương lai. Phàm nghiệp nào được làm từ không sân ... không thể sanh khởi trong tương lai. Phàm nghiệp nào được làm từ không si ... không thể sanh khởi trong tương lai. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 33.- Các Nguyên Nhân)

Qua đoạn kinh trên chúng ta thấy sự tu học cần phải để tâm rất nhiều, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, cần cầu, chư Tỳ-kheo thời Đức Phật thiền định suốt ngày, chỉ trừ thời gian đi khất thực, còn lại dồn hết tâm huyết vào trong pháp, trong luật, trong sự hành trì nên mới chứng ngộ. Còn bây giờ tu theo kiểu văn nghệ, tu sơ sơ, đến giờ tu còn than thở nên mình phải cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ngược lại mình phải có sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực thì mới có thể thành tựu trong đạo tầm pháp môn.

Như vậy, đó là năm bước Đức Phật dạy để đoạn tận các ác, bất thiện pháp khi khởi lên trong nội tâm.

Thứ nhất nếu có những sự suy tầm liên hệ đến dục, sân, si, Đức Phật nói gọn là vô minh, bản ngã thì phải tác ý một tướng thiện pháp để đánh đuổi nó ra, giống như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác.

Thứ hai là tác ý đến sự nguy hiểm, nguy hại của các sự suy tầm đó, nó sẽ đưa đến khổ đau, đọa lạc, sụp đổ sự nghiệp tu tập của mình, nó nguy hiểm như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ.

Thứ ba là mặc kệ nó, không nghĩ nhớ và không tác ý đến nó nữa, thay vào đó, phải nhìn chỗ khác, nhắm mắt lại, giống như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Nếu làm đủ cách mà cái giận vẫn khởi lên thì mình bỏ nó qua bên và trải tâm từ.

Thứ tư là tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, nhìn kĩ, nhìn sâu sắc và tác ý để từ cái thô cứng đi đến chỗ tế nhị, an tịnh, giống như một người đi nhanh, đi chậm, ngồi xuống và cuối cùng là nằm nghỉ. Chúng ta biết làm giảm tốc độ lại, từ từ mình đạp thắng.

Cuối cùng, giống như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. Phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ vậy mà các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Năm bước này để an trú tâm và cũng là pháp hành cho mình thực tập tu học.

./.