Ái Dục Là Đau Khổ Sợ Hãi 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
ÁI DỤC LÀ ĐAU KHỔ SỢ HÃI 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ái dục là khổ đau, sợ hãi PAGEREF _Toc107401332 \h 1
II.Soi sáng hành thiền PAGEREF _Toc107401333 \h 8
Ái dục là khổ đau, sợ hãi
Chúng ta sẽ tìm hiểu bài kinh “Sợ hãi”, Tăng Chi Bộ, tập III.
" - Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghiệp với các dục. Bệnh, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Tham dính, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bùn lầy, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Và này các Tỳ-kheo, vì sao sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?
Này các Tỳ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi các tham ước muốn, ngay trong hiện tại không thoát khỏi sợ hãi, đời sau cũng không thoát khỏi sợ hãi. Do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục.
Này các Tỳ-kheo, vì sao khổ... bệnh... cục bướu... tham dính... bùn lầy là đồng nghĩa với các dục?
Này các Tỳ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi tham dục, ngay trong hiện tại không thoát khỏi bùn lầy, đời sau cũng không thoát khỏi bùn lầy. Do vậy bùn lầy là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Tham dục chính là tật bệnh, là ốm đau, bệnh hoạn, tâm bệnh. Tất cả chúng ta ngay trong hiện tại không thoát khỏi bệnh tật và đời sau cũng tiếp tục mang một tấm thân đầy rẫy những bệnh hoạn, đầy rẫy những bệnh khổ và mang một cái tâm đầy rẫy những chứng bệnh gọi là tâm bệnh, do vậy bệnh tật là đồng nghĩa với các dục, dục là bệnh tật.
Dục là ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư, do vậy cục bướu đồng nghĩa với các dục. Tham lam, dính mắc, bị dính chặt, say đắm bởi những sự tham ái, ham thích và bị trói cột trong cái tham đắm đó, bị ràng buộc trong cái tham muốn đó, ngay trong hiện tại không thoát khỏi tham dính và đời sau cũng không thoát khỏi tham dính, do vậy tham dính đồng nghĩa với các dục.
Khi một người có tham ái thì người đó sẽ có sợ hãi, bất cứ tham ái đối với cái gì cũng sẽ lo lắng, sợ hãi. Chúng ta lo sợ, sợ hãi là do mình có tham ái. Nói cách khác, vì tham ái mà có lo lắng, vì tham ái mà có sợ hãi, vì tham muốn, tham dính, tham chấp mới có sợ hãi. Cho nên mỗi khi thấy tâm mình tham muốn cái gì đó thì mình biết rằng mình sẽ sợ hãi, sẽ lo lắng đối với cái đó. Ví dụ, ham muốn chiếc xe thì mình lo lắng xe hư, xe mất. Ham thích ngôi chùa sẽ có lo lắng, sợ hãi đối với ngôi chùa đó. Tham ái đối với hội chúng thì mình vẫn thấy lo lắng và sợ hãi đối với hội chúng, người ta đi mình buồn, người ta đến đông là mình vui, đi đâu cũng lo không biết đại chúng ở nhà, đệ tử, học trò ở nhà đang như thế nào, đó là tham ái đồng nghĩa lo sợ. Đó là tham ái và lo lắng đối với những thứ bên ngoài.
Sâu sắc hơn, chúng ta tham ái đối với sắc uẩn này, đau khổ đối với sắc uẩn này, bệnh tật đối với sắc uẩn này. Tâm mình trở thành khối u đối với cái thân ung nhọt, ung bướu này. Tâm mình tham dính đối với thân xác này, đối với tứ đại này, đối với sắc uẩn này. Tâm mình trở thành bùn lầy đối với hình hài này, đối với thân xác này, đối với da thịt, gân xương này. Tâm mình trở thành bùn lầy và mình lún sâu trong đây không thoát ra được. Đây là những pháp quán sâu sắc để cho chúng ta thiền tư, chiêm nghiệm, suy tư sâu sắc.
"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Trong những sự suy tư, thiền tập, thiền quán, hãy thường nhìn sâu sắc vào thân này và xem nó là ung nhọt, là cục bướu, là khối u từ dục sanh ra, từ tứ đại tác thành, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng. Hằng ngày, hằng giờ thân này rỉ chảy ra những thứ gì? Nước mũi, nước bọt, cứt ráy, ghèn, nước mắt, mồ hôi, phân và nước tiểu, máu và mủ… chỉ toàn là sự dơ bẩn, bất tịnh, tanh hôi, hôi thối, bẩn thỉu, nhơ nhớp. Chúng ta phải nhìn thật sâu sắc trí tuệ này vì đây là Thánh trị tuệ Đức Phật truyền trao.
Ung nhọt này đã trải qua nhiều năm. Đầu tiên nó là tinh huyết, tượng hình từ cục máu, vì lòng dục, vì vô minh, khát ái mà ung nhọt đó được hình thành, lớn dần trong bụng mẹ và tượng hình ra. Chúng ta mang ung nhọt này nên phải chịu đựng biết bao sự mệt mỏi, nhọc nhằn, khốn khổ, bệnh tật. Ung nhọt là thân này, một cái ung nhọt đã trải qua nhiều năm nhiều tháng, nó phải rỉ chảy ra những thứ thật nhàm chán, nó rỉ chảy ra những thứ rất xấu hổ. Mỗi ngày đi vào toilet phải thấy xấu hổ, tanh hôi, bất tịnh, hôi hám. Chúng ta tập nhìn cái thân này là một ung nhọt. Lỡ có ai hay cái gì đâm trúng người thì máu chảy ra.
Những điều đó là sự thật nhưng tại sao chúng ta không chấp nhập? Vì vô minh, tham ái, tham dục đối với thân xác sắc uẩn tứ đại xương da này, chúng ta bị tham, ái, dục che mờ trí sáng, chúng ta bị lớp da trơn láng này gói lại, bao bọc lại, "phủ ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàng thứ nhớp nhơ". Do vậy hãy nhàm chán thân xác này, ai còn yêu thích thì phiền não, khổ đau sẽ còn mãi, ai còn say đắm nhìn thân xác thì ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn mãi, ai còn say mê nhìn thân xác thì lo lắng, bất an, đau khổ, bệnh tật sẽ còn hoài, không thể hết được.
Ai còn ngã mạn vì thân xác,
Phiền não, khổ đau sẽ dài dài.
Ai còn cao ngạo vì thân xác,
Luân hồi, thần chết sẽ hân hoan.
Ai còn say đắm nhìn thân xác,
Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.
Ai còn yêu thích nhìn thân xác,
Tự sát hại mình trong tử sanh.
(Nghi thức tu học Nikāya – Sám hối diệt ngã)
Cho nên, cần thấy sợ đối với cảm giác tham dục, tham ái, mỗi khi khởi lên cảm giác, tham đắm, say mê, ưa thích, thèm thuồng, khao khát phải cảm thấy sợ cảm giác đó. Bản thân nó là thứ sợ hãi vì Đức Phật đã định nghĩa dục là thứ đáng sợ hãi, sợ hãi đồng nghĩa với dục, chính vì sự say sưa, yêu thích đó mà mình bị say đắm trong các dục, bị trói cột trong các tham muốn này. Chúng ta đã ăn mấy chục năm nay nhưng lòng tham, lòng ưa, lòng thích, lòng khoái trong cái ăn vẫn chưa thỏa mãn vì bản chất của các dục là thiếu thốn, khát khao, không bao giờ cảm thấy đủ và chúng ta bị say đắm trong đất đai, nhà cửa, xe cộ, chùa chiền, ruộng vườn, tiền bạc… chúng ta bị trói cột trong đó không thoát ra được. Chúng ta bị trói cột trong ngôi chùa, trong tịnh thất và chúng ta bị trói buộc trong thân xác xương da này, bị kiết sử trói buộc và sai khiến không thoát ra được. Tu hoài vẫn không thoát ra được vì không thực tập những pháp quán này, phải thấy các tham muốn, tham ái đó là sợ hãi, mỗi khi sanh khởi lên phải thấy rùng mình, ghê sợ, chỉ muốn lánh xa, viễn ly, thoát ra khỏi nó.
Vì sao các dục này là khổ đau và khổ đau đồng nghĩa với các dục? Vì say đắm trong tham ái, ham thích nên bị trói buộc trong năm dục trưởng dưỡng sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mọi người có cảm thấy mình bị trói buộc trong sắc thân này không? Nếu có một người nói lời chê bai thân thể mình thì lúc đó mình cảm thấy khó chịu, sân hận, đó là mình đang bị trói buộc bởi kiết sử. Một người khác xưng tán, khen ngợi, ca tụng thì mình có cảm giác hân hoan, phấn khởi, ưa thích, đó là mình bị trói cột trong hình tướng, hình hài, trong ảo ảnh của vô thường, như thế là mình đau khổ. Khi mắt thấy sắc khởi lên sự ưa thích, lỗ tai nghe tiếng khoan khoái, mũi ngửi mùi thích thú, lưỡi nếm vị đam mê, thân xúc chạm thì say đắm và mình bị năm thứ này nuôi lớn lòng dục nên gọi là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ nuôi lớn lòng tham, lòng ái của chúng sanh.
Vì vậy, chúng ta đang tập gỡ ra khỏi nó. Hễ thấy thích sắc nào là biết khổ đau, bệnh tật, bùn lầy; thích âm thanh nào đó phải quán chiếu nó là hệ lụy, ràng buộc; thích mùi vị nào phải quán chiếu đây là bệnh hoạn, là sự tham dính, là vũng bùn; còn sự xúc chạm là khổ đau, là lún sâu bùn lầy, ngay trong hiện tại không thoát khỏi bùn lầy và đời sau cũng không thoát khỏi bùn lầy. Chúng ta đi sâu vào nội tâm sẽ thấy tham ái đối với cảm giác; tham ái đối với hình bóng trong tâm; tham ái đối với những suy nghĩ, cho suy nghĩ đó là đúng, là giỏi; tham ái đối với sự rõ biết, bị dính mắc vào cái thấy biết, cho rằng sự thấy biết đó là đúng, là hơn mà không biết rằng cái thấy biết đó của vô minh, tham ái, dính mắc, cái thấy biết trong bùn lầy, sợ hãi. Chúng ta thấy các sắc rồi để sanh khởi ra dục, ái; nghe để sân si; ngửi nếm rồi tham đắm, không thoát ra được; nhận thức rồi lại chấp thủ trong cái thấy biết đó và cho cái thấy biết đó là ta, là của ta.
Sợ hãi và khổ đau,
Bệnh hoạn và cục bướu,
Cả hai tham dính bùn,
Được gọi là các dục,
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Trong tham muốn có sự sợ hãi, trong tham muốn có khổ đau, bệnh hoạn, bệnh tật, trong tham muốn có khối u, cục bướu, ung thư. Bản chất của nó là dính mắc, là trói cột, là sình lầy, bản chất của nó là sự lún sâu không thoát ra được, không xuất ly được.
Tại đấy kẻ phàm phu,
Tham đắm và chấp trước,
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Thánh, không nghe pháp các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh thì cả đời chạy theo những tham muốn, cả kiếp người đi đuổi tìm, truy tầm các tham muốn. Thế nhưng không ngờ rằng, truy tầm những tham muốn đó cũng là truy tầm sự sợ hãi, đuổi tìm tham muốn đó cũng đồng nghĩa đuổi tìm khổ đau, đồng nghĩa đi tìm bệnh tật, đi tìm cục bướu, tham dính, đồng nghĩa với việc rơi xuống bùn lầy và tiếp tục khổ đau. Đi tìm vui nhưng không thấy vui mà chỉ thấy khổ đau vì bản chất của tham dục là khổ đau, một cái tên khác của tham muốn là sợ hãi, là bệnh hoạn, là cục bướu, dính mắc, sình lầy.
Thấy sợ trong chấp thủ,
Nguồn gốc của tử sanh,
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy sợ trong chấp thủ. Một khi cái tâm mình dính mắc, tham ái vào cái nào thì lúc đó cảm thấy sợ hãi, bất an, thao thức, trăn trở, ưu tư, đau buồn, khổ sở. Mình ưu tư làm sao để mình đi ra khỏi chấp thủ, sự đau khổ, dính mắc, tham ái là nguồn gốc của tử sanh.
Không chấp thủ, giải thoát,
Ðoạn tận được sanh tử,
Chúng đạt được an ổn,
Ðược hiện tại tịnh lạc,
Vượt sợ hãi oán thù,
Mọi đau khổ vượt qua.
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Thấy sợ trong chấp thủ nghĩa là thấy sợ trong dục tham vì Đức Phật đã nói ở đâu có tham dục ở đấy có chấp thủ, ở đâu có chấp thủ ở đó có dục tham.
"Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)
Ưa thích, khoan khoái, dính mắc, ràng buộc là chấp thủ, là sự nắm chặt, trói buộc và người tu phải thấy sợ trong chấp thủ vì nó là nguồn gốc của tử sanh, phải thấy lo lắng và sợ hãi trong sự yêu thích, dính mắc đó. Trong tâm phải sanh khởi cảm giác sợ hãi, không có chấp thủ thì giải thoát sanh tử. Cho nên toàn bộ giáo pháp này là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham nhưng muốn thấy dục tham để nhiếp phục và đoạn tận thì phải nhận diện năm uẩn thường xuyên và liên tục. Phải nhận diện các cảm giác, cảm thọ để xem trong đó có sự thúc giục không, có ưa thích, muốn thêm nữa không. Nhận diện các hình bóng, suy nghĩ trong tâm, trong suy nghĩ có dục, tham, ái, trong hình bóng có chấp thủ, đam mê không, có bị rơi xuống bùn lầy không, trong cảm giác có phải là ung nhọt, bệnh hoạn không. Nếu có thì nhìn nhận, nhiếp phục rồi đoạn tận những dục, tham, ái, những sự thúc giục, khoan khoái, thích thú, ham muốn trong cảm giác, nghĩ, tưởng. Những điều này được Đức Phật nói rất thâm sâu, vi diệu.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.
Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)
Hãy tu tập thiền quán, quán chiếu các pháp sẽ như thật hiển hiện. Các pháp gì như thật hiển hiện? Con mắt là vô thường, khổ đau, vô ngã sẽ như thật hiển hiện, con mắt này là bệnh hoạn, là ung nhọt, là khối u, con mắt này là sự lo lắng, sợ hãi sẽ như thật hiển hiện. Các sắc mà con mắt nhìn thấy là vô thường, khổ đau, là vô ngã, trống rỗng, là mầm mống của sự bất an, tranh đấu, giành giật, chém giết, của sự bùn lầy lún sâu vào tội lỗi sẽ như thật hiển hiện. Hãy tu tập thiền quán, thiền tư, tư duy, quán chiếu nhãn thức này vô thường, khổ, vô ngã sẽ như thật hiển hiện. Những cảm giác sanh khởi từ sự tiếp xúc của con mắt là vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã sẽ như thật hiển hiện.
Hãy dành nhiều thời gian cho pháp học, pháp hành trong kinh tạng Nikāya rồi sẽ thấy các pháp hiện rõ trong tâm mình, cái nào là sắc sẽ hiện ra, cái nào là những tổ hợp của sắc chất sẽ hiện ra, cái nào là tổ hợp của những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức sẽ hiển hiện rõ ra tính chất vô thường, tan hoại, khổ đau, sẽ hiện rõ ra tính chất trống rỗng, sanh diệt, không đáng tham muốn và nhàm chán sẽ sanh khởi. Thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, sanh diệt, hủy hoại thì một cảm giác nhàm chán dào dạt, sung mãn sẽ sanh khởi. Từ đó dẫn đến ly tham, từ bỏ, thoát ly, xuất ly đối với năm uẩn, đối với các dục, đối với những cảm giác hư ảo này, không chấp thủ nữa mà giải thoát. Như vậy gọi là: "Ðoạn tận được sanh tử, Chúng đạt được an ổn, Ðược hiện tại tịnh lạc, Vượt sợ hãi oán thù, Mọi đau khổ vượt qua".
Soi sáng hành thiền
Câu hỏi: Trong lúc con ngồi thiền con bị vọng tưởng khởi lên, nếu kịp nhận ra thì con buông bỏ nó sẽ mất nhưng vọng tưởng cứ khởi hoài, xin thầy dạy con cách đối trị. Con cám ơn thầy.
Sư Phụ: Khi ngồi thiền mà vọng tưởng khởi lên thì cứ trú trong cảm giác toàn thân. Khi ngồi cần thực hành ba pháp: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và bên trong nội tâm tỉnh giác nghĩa là khi có tưởng gì, thọ gì, hành gì khởi lên thì mình biết nhưng vẫn trú trong cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt. Thế nên mình không cần sợ vọng tưởng, nó khởi thì cứ khởi.
Tuy nhiên, nếu khởi những cái bình thường thì thôi nhưng khởi những cái liên hệ đến dục, sân, si thì cần dùng Như lý tác ý để đánh đuổi. Ví dụ, ngày mai hết khóa tu xuống núi nên mình nghĩ sẽ làm này làm nọ thì lúc đó phải tác động tâm ý "đang ở núi tu thì chỉ biết tu thôi tâm không hướng ngoại, không chạy theo thói quen, ưa thích". Ngươi cứ chạy theo những thứ đó thì bao giờ mới được giải thoát đây?". Tác động tâm ý và quở trách để không đi theo dòng suy nghĩ đó nữa, chứ không phải biết có vọng tưởng rồi cứ mặc kệ.
Như vậy, đối với những vọng tưởng bình thường thì cho qua nhưng những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác có liên hệ đến tham dục thì phải dùng Như lý tác ý để quét sạch. Nếu ngồi thiền mà tham ái khởi lên, nhớ con nhớ cháu thì phải tác ý "gần chết rồi vẫn không lo tu, vướng vào sợi dây tình cảm, tình thân, tình ái hoài thì đến bao giờ mới giải thoát được. Tâm ơi hãy buông xả, tháo gỡ ra đi". Tiếp theo là an trú vào cảm giác toàn thân, đây là chỗ khác hơn lúc trước, ban đầu mình biết rồi chỉ ngồi im nhưng giờ có thêm tác ý để quét rác, đánh đuổi nó ra.
Hoặc khi ngồi thiền mà hình bóng người mình giận hiện ra làm mình khó chịu, suy nghĩ về những việc người đó làm mình bực thì cũng tác ý "giận để làm gì? Mình đã chạy theo cảm giác sân giận này vô lượng vô biên kiếp rồi, bây giờ còn tiếp tục giận để thiêu đốt nhau, để đời sau gặp nhau oán hận chất chồng nữa hay sao? Để rồi sầu, bi, khổ, ưu, não nữa hay sao? Để rồi trói cột nhau trong vòng luân hồi sanh tử mãi mãi nữa hay sao? Thôi đi! Đến đây là vừa đủ rồi hỡi những cảm giác giận hờn này, ngươi thiêu đốt, làm ta đau khổ vô lượng vô biên kiếp rồi, ngươi hãy lắng dịu đi, an tịnh đi, dễ chịu đi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi hãy thành mây, thành khói, thành hư không đi".
Đó là dùng chổi thần Như lý tác ý để quét những nghĩ tưởng, cảm giác sân hận ra khỏi tâm thì mình sẽ có cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, như vậy tu là quét rác căn nhà nội tâm chính mình chứ không phải tu rồi cứ để yên cho rác chồng chất lên trong nội tâm, cần phải quét rác cho sạch. Ví dụ, đang sinh hoạt bình thường, bỗng nhiên có chú tiểu nói chuyện ta đây, giỏi hơn mình vậy là mình khởi bản ngã "ta tu lâu rồi, người này nhỏ mà dám khinh thường ta", lúc này mình cần quét rác lập tức "làm gì có tôi, có ta trong này. Đức Thế Tôn nói đây là ung nhọt chín lỗ, chảy ra những thứ dơ bẩn. Bản ngã, ta đây, hơn thua để được cái gì trong này ngoài nước mắt, khổ đau, phiền não. Mình tu lại đi tìm những thứ này hay sao? Ngươi hãy nhún nhường, cúi xuống, đừng làm ta khổ nữa". Khi tác ý như vậy, ban đầu sẽ có cảm giác dâng lên nhưng từ từ sẽ thấy cảm giác lắng xuống, dịu xuống. Cuối cùng mình có thể nở nụ cười hoặc thậm chí có thể xưng "con" với người nhỏ hơn mình. Đó là sự vi diệu thần thánh của Chánh pháp, đó là công năng của Chánh pháp: "thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Đó là những phương pháp căn bản để tác ý dẹp bỏ sân giận, bản ngã trong lúc ngồi thiền và cả những lúc sinh hoạt bình thường.
Khi những ý hành, cảm thọ sanh khởi lên mình cũng không sợ mà mình phải trạch pháp, chọn lựa xem nó thuộc dạng nào, nếu là thiện thì phát huy, nếu bất thiện phải đánh đuổi, diệt tận và luôn trú trong cảm giác toàn thân. Lúc nào cũng rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân toàn bộ cơ thể và trong tâm có tưởng gì, suy nghĩ, cảm giác gì thì mình đều biết: "Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Trong khi đang đi, đứng, ngồi, nằm mà trong tâm sanh khởi lên những suy nghĩ ác bất thiện pháp thì phải tẩy sạch tâm tư ngay lập tức, ngay tại lúc đang đi, đang ngồi, đang nằm, người như vậy là người tinh tấn, tinh cần.
Câu hỏi: Thưa thầy, đang trong lúc ngồi thiền mà bị đau nhức, khó chịu, bị ngứa thì mình nên nhận diện chỗ đau nhức đó như thế nào?
Sư Phụ: Trong khi ngồi bị mỏi mệt, đau nhức hoặc bị ngứa thì lúc nào cũng phải trú vào cảm giác toàn thân. Mình nhận biết, cảm nhận, rõ biết chỗ đau nhức đó nhưng đừng để tưởng uẩn phóng đại ra, vì chỉ đau một chỗ nhưng do tưởng uẩn phóng đại, làm cho cái đau lan ra toàn thân và xâm chiếm thân tâm làm mình tưởng tượng "chết rồi, chắc gãy chân quá", "ngồi xong chắc bệnh luôn quá"… Do sanh ra những cái tưởng đó sẽ làm đau nhiều hơn nên cần tỉnh giác chánh niệm, an trú cảm giác toàn thân thì mình sẽ rõ biết chỗ đau. Đồng thời tác ý "thân đau mà tâm không đau", nghĩa là mình biết rõ chỉ đau một chút ngay chỗ đó thôi, mình không để cái tưởng lan tỏa phóng đại cái đau ra.
Thứ hai, phải tác ý "chân đau nhưng lưng không đau, tay không đau, đầu không đau" và tác ý thêm một nấc nữa là "thân đau nhưng tâm không đau. Cái thân đau một chút thôi nhưng mình không chịu nhiếp phục, không chế ngự thì mai đây thân đau nhiều đối đầu sanh tử thì làm sao mình tỉnh giác chánh niệm?", cho nên cần tập kham nhẫn đối đầu chịu đựng để mình nhiếp phục cảm thọ đau này, đến khi chịu không nổi nữa mới trở chân, nhúc nhích nhưng trước tiên cần chịu đựng hết mức.
Câu hỏi: Cũng trong lúc ngồi thiền mà buồn ngủ mà không chống cự được thì phải làm sao thưa thầy?
Sư Phụ: Rất nhiều người ngồi thiền bị buồn ngủ, đây là một pháp đại chướng ngại của người tu, nếu không chinh phục, không vượt qua thì tu không bao giờ tiến bộ. Nếu lúc trú trong cảm giác toàn thân mà buồn ngủ xuất hiện thì phải nhận ra liền là hai con mắt sụp xuống và cái đầu bị nặng, đây cũng là lý do Minh Thành hay nhắc phải thường xuyên trú trong cảm giác toàn thân. Bởi vì, nhờ trú trong cảm giác toàn thân nên khi có gì vừa xuất hiện thì mình sẽ biết ngay. Lúc này mình phải cảm giác thật mạnh trước mặt, mở hai con mắt lớn lên, cảm giác vùng không gian trước mặt cực mạnh và để cho tầm nhìn phóng ra tận cùng hư không giới. Dùng tưởng, thức và cảm thọ làm cho nhãn thức rộng mở hết mức, cảm thọ thật mạnh trước mặt, tập trung vào giải phá cảm thọ nặng nề ở cái đầu và tác ý "giờ này là giờ thiền hay giờ ngủ? Ngươi ngủ mấy chục năm qua chưa đủ hay sao? Ngươi muốn ngủ trong vô lượng vô biên kiếp hay sao? Ngươi cứ si mê, u mê trong giấc ngủ ngàn năm vô minh thì ngươi sẽ vĩnh viễn và mãi mãi đọa lạc. Bóng đêm này hãy diệt tận đi, đừng bao giờ ở trong đây nữa".
Dùng Như lý tác ý để làm một luồn sức mạnh từ trong người đánh ra cảm thọ nơi hai con mắt và cái đầu, mình có thể suy nghĩ và làm đủ cách miễn sao đánh tan hết cảm thọ sụp hai con mắt và cái đầu đang bị trì trệ, dùng những từ ngữ mạnh nhất đánh tan cảm thọ nơi hai con mắt và cái đầu. Khi đánh tan được cảm giác đó rồi thì mình sẽ thấy hai con mắt sáng ra và cái đầu nhẹ nhàng.
Nếu tác ý mạnh nhưng vẫn chưa được thì đi thiền hành, lạy sám hối cái hôn trầm này "Phật ơi! Thế Tôn ơi! Con muốn tu, muốn tỉnh táo chứ không muốn ngu muội, ngủ hoài". Than thở lạy lục như vậy cũng chính là mình đang tác ý để đánh đuổi cảm thọ xấu đó, làm hoài thì cảm thọ đó tan biến hết rồi tỉnh táo vào ngồi tiếp. Cho nên mình đừng để bị trói cột trong oai nghi, nghĩa là giờ thiền đừng cứ ngồi hoài dù cho ngủ gục. Thay vào đó, nếu giờ ngồi thiền bị chướng ngại như vậy thì mình có quyền đứng lên đi kinh hành hoặc lạy sám hối, làm sao cho bản thân được chánh niệm tỉnh giác, sáng suốt rõ biết ngũ uẩn, rõ biết thân tâm thì đó mới là thiền.
Câu hỏi: Thưa thầy, khi con ngồi thiền thì rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân nhưng khi tâm bị vọng tưởng. Khi nhớ trở lại thì con thấy cảm giác toàn thân quá rộng cho nên khi quay trở lại thì có thể nhìn ngay một điểm vào ba hơi thở như bụng, mũi, ngực để quay lại có điểm tựa, sau đó sẽ rõ biết lại trước mặt. Như thế có được không thưa thầy?
Sư Phụ: Người mới thực tập sẽ không quen, kể cả Minh Thành cũng vậy. Chúng ta thường muốn có một chỗ cho dễ, nhưng phải cố gắng tập cảm giác toàn thân, chứ đừng trú vào một chỗ, vì trú vào một chỗ thì mình sẽ không thấy được hết toàn bộ thân tâm. Phương pháp chúng ta đang thực tập rất năng động, rất tinh anh sáng suốt cho nên mọi người cần nghe thêm vài bài về hiệu quả của cảm giác toàn thân, hiệu quả công năng của thực hành ba pháp, những điều này rất quan trọng. Vì khi đã trú được vào cảm giác toàn thân thì bất cứ một cái gì xảy ra mình biết ngay, còn nếu trú vào một chỗ thì những cái khác mình sẽ không biết, cho nên cần tập từ từ. Cảm giác toàn thân lúc nào cũng có nhưng vì không để ý nên mình không thấy cho nên cần quay trở lại cảm giác toàn thân thì sẽ thấy ngay những biến động và nhắc nhở bản thân pháp lệnh "rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác", sau này khi đã quen sẽ thấy rất dễ dàng chứ không còn khó nữa.
./.
ÁI DỤC LÀ ĐAU KHỔ SỢ HÃI 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ái dục là khổ đau, sợ hãi PAGEREF _Toc107401332 \h 1
II.Soi sáng hành thiền PAGEREF _Toc107401333 \h 8
Ái dục là khổ đau, sợ hãi
Chúng ta sẽ tìm hiểu bài kinh “Sợ hãi”, Tăng Chi Bộ, tập III.
" - Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghiệp với các dục. Bệnh, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Tham dính, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bùn lầy, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Và này các Tỳ-kheo, vì sao sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?
Này các Tỳ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi các tham ước muốn, ngay trong hiện tại không thoát khỏi sợ hãi, đời sau cũng không thoát khỏi sợ hãi. Do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục.
Này các Tỳ-kheo, vì sao khổ... bệnh... cục bướu... tham dính... bùn lầy là đồng nghĩa với các dục?
Này các Tỳ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi tham dục, ngay trong hiện tại không thoát khỏi bùn lầy, đời sau cũng không thoát khỏi bùn lầy. Do vậy bùn lầy là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Tham dục chính là tật bệnh, là ốm đau, bệnh hoạn, tâm bệnh. Tất cả chúng ta ngay trong hiện tại không thoát khỏi bệnh tật và đời sau cũng tiếp tục mang một tấm thân đầy rẫy những bệnh hoạn, đầy rẫy những bệnh khổ và mang một cái tâm đầy rẫy những chứng bệnh gọi là tâm bệnh, do vậy bệnh tật là đồng nghĩa với các dục, dục là bệnh tật.
Dục là ung nhọt, ung hạch, ung bướu, ung thư, do vậy cục bướu đồng nghĩa với các dục. Tham lam, dính mắc, bị dính chặt, say đắm bởi những sự tham ái, ham thích và bị trói cột trong cái tham đắm đó, bị ràng buộc trong cái tham muốn đó, ngay trong hiện tại không thoát khỏi tham dính và đời sau cũng không thoát khỏi tham dính, do vậy tham dính đồng nghĩa với các dục.
Khi một người có tham ái thì người đó sẽ có sợ hãi, bất cứ tham ái đối với cái gì cũng sẽ lo lắng, sợ hãi. Chúng ta lo sợ, sợ hãi là do mình có tham ái. Nói cách khác, vì tham ái mà có lo lắng, vì tham ái mà có sợ hãi, vì tham muốn, tham dính, tham chấp mới có sợ hãi. Cho nên mỗi khi thấy tâm mình tham muốn cái gì đó thì mình biết rằng mình sẽ sợ hãi, sẽ lo lắng đối với cái đó. Ví dụ, ham muốn chiếc xe thì mình lo lắng xe hư, xe mất. Ham thích ngôi chùa sẽ có lo lắng, sợ hãi đối với ngôi chùa đó. Tham ái đối với hội chúng thì mình vẫn thấy lo lắng và sợ hãi đối với hội chúng, người ta đi mình buồn, người ta đến đông là mình vui, đi đâu cũng lo không biết đại chúng ở nhà, đệ tử, học trò ở nhà đang như thế nào, đó là tham ái đồng nghĩa lo sợ. Đó là tham ái và lo lắng đối với những thứ bên ngoài.
Sâu sắc hơn, chúng ta tham ái đối với sắc uẩn này, đau khổ đối với sắc uẩn này, bệnh tật đối với sắc uẩn này. Tâm mình trở thành khối u đối với cái thân ung nhọt, ung bướu này. Tâm mình tham dính đối với thân xác này, đối với tứ đại này, đối với sắc uẩn này. Tâm mình trở thành bùn lầy đối với hình hài này, đối với thân xác này, đối với da thịt, gân xương này. Tâm mình trở thành bùn lầy và mình lún sâu trong đây không thoát ra được. Đây là những pháp quán sâu sắc để cho chúng ta thiền tư, chiêm nghiệm, suy tư sâu sắc.
"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này". (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Trong những sự suy tư, thiền tập, thiền quán, hãy thường nhìn sâu sắc vào thân này và xem nó là ung nhọt, là cục bướu, là khối u từ dục sanh ra, từ tứ đại tác thành, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng. Hằng ngày, hằng giờ thân này rỉ chảy ra những thứ gì? Nước mũi, nước bọt, cứt ráy, ghèn, nước mắt, mồ hôi, phân và nước tiểu, máu và mủ… chỉ toàn là sự dơ bẩn, bất tịnh, tanh hôi, hôi thối, bẩn thỉu, nhơ nhớp. Chúng ta phải nhìn thật sâu sắc trí tuệ này vì đây là Thánh trị tuệ Đức Phật truyền trao.
Ung nhọt này đã trải qua nhiều năm. Đầu tiên nó là tinh huyết, tượng hình từ cục máu, vì lòng dục, vì vô minh, khát ái mà ung nhọt đó được hình thành, lớn dần trong bụng mẹ và tượng hình ra. Chúng ta mang ung nhọt này nên phải chịu đựng biết bao sự mệt mỏi, nhọc nhằn, khốn khổ, bệnh tật. Ung nhọt là thân này, một cái ung nhọt đã trải qua nhiều năm nhiều tháng, nó phải rỉ chảy ra những thứ thật nhàm chán, nó rỉ chảy ra những thứ rất xấu hổ. Mỗi ngày đi vào toilet phải thấy xấu hổ, tanh hôi, bất tịnh, hôi hám. Chúng ta tập nhìn cái thân này là một ung nhọt. Lỡ có ai hay cái gì đâm trúng người thì máu chảy ra.
Những điều đó là sự thật nhưng tại sao chúng ta không chấp nhập? Vì vô minh, tham ái, tham dục đối với thân xác sắc uẩn tứ đại xương da này, chúng ta bị tham, ái, dục che mờ trí sáng, chúng ta bị lớp da trơn láng này gói lại, bao bọc lại, "phủ ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàng thứ nhớp nhơ". Do vậy hãy nhàm chán thân xác này, ai còn yêu thích thì phiền não, khổ đau sẽ còn mãi, ai còn say đắm nhìn thân xác thì ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn mãi, ai còn say mê nhìn thân xác thì lo lắng, bất an, đau khổ, bệnh tật sẽ còn hoài, không thể hết được.
Ai còn ngã mạn vì thân xác,
Phiền não, khổ đau sẽ dài dài.
Ai còn cao ngạo vì thân xác,
Luân hồi, thần chết sẽ hân hoan.
Ai còn say đắm nhìn thân xác,
Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.
Ai còn yêu thích nhìn thân xác,
Tự sát hại mình trong tử sanh.
(Nghi thức tu học Nikāya – Sám hối diệt ngã)
Cho nên, cần thấy sợ đối với cảm giác tham dục, tham ái, mỗi khi khởi lên cảm giác, tham đắm, say mê, ưa thích, thèm thuồng, khao khát phải cảm thấy sợ cảm giác đó. Bản thân nó là thứ sợ hãi vì Đức Phật đã định nghĩa dục là thứ đáng sợ hãi, sợ hãi đồng nghĩa với dục, chính vì sự say sưa, yêu thích đó mà mình bị say đắm trong các dục, bị trói cột trong các tham muốn này. Chúng ta đã ăn mấy chục năm nay nhưng lòng tham, lòng ưa, lòng thích, lòng khoái trong cái ăn vẫn chưa thỏa mãn vì bản chất của các dục là thiếu thốn, khát khao, không bao giờ cảm thấy đủ và chúng ta bị say đắm trong đất đai, nhà cửa, xe cộ, chùa chiền, ruộng vườn, tiền bạc… chúng ta bị trói cột trong đó không thoát ra được. Chúng ta bị trói cột trong ngôi chùa, trong tịnh thất và chúng ta bị trói buộc trong thân xác xương da này, bị kiết sử trói buộc và sai khiến không thoát ra được. Tu hoài vẫn không thoát ra được vì không thực tập những pháp quán này, phải thấy các tham muốn, tham ái đó là sợ hãi, mỗi khi sanh khởi lên phải thấy rùng mình, ghê sợ, chỉ muốn lánh xa, viễn ly, thoát ra khỏi nó.
Vì sao các dục này là khổ đau và khổ đau đồng nghĩa với các dục? Vì say đắm trong tham ái, ham thích nên bị trói buộc trong năm dục trưởng dưỡng sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mọi người có cảm thấy mình bị trói buộc trong sắc thân này không? Nếu có một người nói lời chê bai thân thể mình thì lúc đó mình cảm thấy khó chịu, sân hận, đó là mình đang bị trói buộc bởi kiết sử. Một người khác xưng tán, khen ngợi, ca tụng thì mình có cảm giác hân hoan, phấn khởi, ưa thích, đó là mình bị trói cột trong hình tướng, hình hài, trong ảo ảnh của vô thường, như thế là mình đau khổ. Khi mắt thấy sắc khởi lên sự ưa thích, lỗ tai nghe tiếng khoan khoái, mũi ngửi mùi thích thú, lưỡi nếm vị đam mê, thân xúc chạm thì say đắm và mình bị năm thứ này nuôi lớn lòng dục nên gọi là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ nuôi lớn lòng tham, lòng ái của chúng sanh.
Vì vậy, chúng ta đang tập gỡ ra khỏi nó. Hễ thấy thích sắc nào là biết khổ đau, bệnh tật, bùn lầy; thích âm thanh nào đó phải quán chiếu nó là hệ lụy, ràng buộc; thích mùi vị nào phải quán chiếu đây là bệnh hoạn, là sự tham dính, là vũng bùn; còn sự xúc chạm là khổ đau, là lún sâu bùn lầy, ngay trong hiện tại không thoát khỏi bùn lầy và đời sau cũng không thoát khỏi bùn lầy. Chúng ta đi sâu vào nội tâm sẽ thấy tham ái đối với cảm giác; tham ái đối với hình bóng trong tâm; tham ái đối với những suy nghĩ, cho suy nghĩ đó là đúng, là giỏi; tham ái đối với sự rõ biết, bị dính mắc vào cái thấy biết, cho rằng sự thấy biết đó là đúng, là hơn mà không biết rằng cái thấy biết đó của vô minh, tham ái, dính mắc, cái thấy biết trong bùn lầy, sợ hãi. Chúng ta thấy các sắc rồi để sanh khởi ra dục, ái; nghe để sân si; ngửi nếm rồi tham đắm, không thoát ra được; nhận thức rồi lại chấp thủ trong cái thấy biết đó và cho cái thấy biết đó là ta, là của ta.
Sợ hãi và khổ đau,
Bệnh hoạn và cục bướu,
Cả hai tham dính bùn,
Được gọi là các dục,
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Trong tham muốn có sự sợ hãi, trong tham muốn có khổ đau, bệnh hoạn, bệnh tật, trong tham muốn có khối u, cục bướu, ung thư. Bản chất của nó là dính mắc, là trói cột, là sình lầy, bản chất của nó là sự lún sâu không thoát ra được, không xuất ly được.
Tại đấy kẻ phàm phu,
Tham đắm và chấp trước,
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Thánh, không nghe pháp các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh thì cả đời chạy theo những tham muốn, cả kiếp người đi đuổi tìm, truy tầm các tham muốn. Thế nhưng không ngờ rằng, truy tầm những tham muốn đó cũng là truy tầm sự sợ hãi, đuổi tìm tham muốn đó cũng đồng nghĩa đuổi tìm khổ đau, đồng nghĩa đi tìm bệnh tật, đi tìm cục bướu, tham dính, đồng nghĩa với việc rơi xuống bùn lầy và tiếp tục khổ đau. Đi tìm vui nhưng không thấy vui mà chỉ thấy khổ đau vì bản chất của tham dục là khổ đau, một cái tên khác của tham muốn là sợ hãi, là bệnh hoạn, là cục bướu, dính mắc, sình lầy.
Thấy sợ trong chấp thủ,
Nguồn gốc của tử sanh,
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Bậc Đa văn Thánh đệ tử thấy sợ trong chấp thủ. Một khi cái tâm mình dính mắc, tham ái vào cái nào thì lúc đó cảm thấy sợ hãi, bất an, thao thức, trăn trở, ưu tư, đau buồn, khổ sở. Mình ưu tư làm sao để mình đi ra khỏi chấp thủ, sự đau khổ, dính mắc, tham ái là nguồn gốc của tử sanh.
Không chấp thủ, giải thoát,
Ðoạn tận được sanh tử,
Chúng đạt được an ổn,
Ðược hiện tại tịnh lạc,
Vượt sợ hãi oán thù,
Mọi đau khổ vượt qua.
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Thấy sợ trong chấp thủ nghĩa là thấy sợ trong dục tham vì Đức Phật đã nói ở đâu có tham dục ở đấy có chấp thủ, ở đâu có chấp thủ ở đó có dục tham.
"Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)
Ưa thích, khoan khoái, dính mắc, ràng buộc là chấp thủ, là sự nắm chặt, trói buộc và người tu phải thấy sợ trong chấp thủ vì nó là nguồn gốc của tử sanh, phải thấy lo lắng và sợ hãi trong sự yêu thích, dính mắc đó. Trong tâm phải sanh khởi cảm giác sợ hãi, không có chấp thủ thì giải thoát sanh tử. Cho nên toàn bộ giáo pháp này là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham nhưng muốn thấy dục tham để nhiếp phục và đoạn tận thì phải nhận diện năm uẩn thường xuyên và liên tục. Phải nhận diện các cảm giác, cảm thọ để xem trong đó có sự thúc giục không, có ưa thích, muốn thêm nữa không. Nhận diện các hình bóng, suy nghĩ trong tâm, trong suy nghĩ có dục, tham, ái, trong hình bóng có chấp thủ, đam mê không, có bị rơi xuống bùn lầy không, trong cảm giác có phải là ung nhọt, bệnh hoạn không. Nếu có thì nhìn nhận, nhiếp phục rồi đoạn tận những dục, tham, ái, những sự thúc giục, khoan khoái, thích thú, ham muốn trong cảm giác, nghĩ, tưởng. Những điều này được Đức Phật nói rất thâm sâu, vi diệu.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.
Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)
Hãy tu tập thiền quán, quán chiếu các pháp sẽ như thật hiển hiện. Các pháp gì như thật hiển hiện? Con mắt là vô thường, khổ đau, vô ngã sẽ như thật hiển hiện, con mắt này là bệnh hoạn, là ung nhọt, là khối u, con mắt này là sự lo lắng, sợ hãi sẽ như thật hiển hiện. Các sắc mà con mắt nhìn thấy là vô thường, khổ đau, là vô ngã, trống rỗng, là mầm mống của sự bất an, tranh đấu, giành giật, chém giết, của sự bùn lầy lún sâu vào tội lỗi sẽ như thật hiển hiện. Hãy tu tập thiền quán, thiền tư, tư duy, quán chiếu nhãn thức này vô thường, khổ, vô ngã sẽ như thật hiển hiện. Những cảm giác sanh khởi từ sự tiếp xúc của con mắt là vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã sẽ như thật hiển hiện.
Hãy dành nhiều thời gian cho pháp học, pháp hành trong kinh tạng Nikāya rồi sẽ thấy các pháp hiện rõ trong tâm mình, cái nào là sắc sẽ hiện ra, cái nào là những tổ hợp của sắc chất sẽ hiện ra, cái nào là tổ hợp của những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức sẽ hiển hiện rõ ra tính chất vô thường, tan hoại, khổ đau, sẽ hiện rõ ra tính chất trống rỗng, sanh diệt, không đáng tham muốn và nhàm chán sẽ sanh khởi. Thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, sanh diệt, hủy hoại thì một cảm giác nhàm chán dào dạt, sung mãn sẽ sanh khởi. Từ đó dẫn đến ly tham, từ bỏ, thoát ly, xuất ly đối với năm uẩn, đối với các dục, đối với những cảm giác hư ảo này, không chấp thủ nữa mà giải thoát. Như vậy gọi là: "Ðoạn tận được sanh tử, Chúng đạt được an ổn, Ðược hiện tại tịnh lạc, Vượt sợ hãi oán thù, Mọi đau khổ vượt qua".
Soi sáng hành thiền
Câu hỏi: Trong lúc con ngồi thiền con bị vọng tưởng khởi lên, nếu kịp nhận ra thì con buông bỏ nó sẽ mất nhưng vọng tưởng cứ khởi hoài, xin thầy dạy con cách đối trị. Con cám ơn thầy.
Sư Phụ: Khi ngồi thiền mà vọng tưởng khởi lên thì cứ trú trong cảm giác toàn thân. Khi ngồi cần thực hành ba pháp: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và bên trong nội tâm tỉnh giác nghĩa là khi có tưởng gì, thọ gì, hành gì khởi lên thì mình biết nhưng vẫn trú trong cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt. Thế nên mình không cần sợ vọng tưởng, nó khởi thì cứ khởi.
Tuy nhiên, nếu khởi những cái bình thường thì thôi nhưng khởi những cái liên hệ đến dục, sân, si thì cần dùng Như lý tác ý để đánh đuổi. Ví dụ, ngày mai hết khóa tu xuống núi nên mình nghĩ sẽ làm này làm nọ thì lúc đó phải tác động tâm ý "đang ở núi tu thì chỉ biết tu thôi tâm không hướng ngoại, không chạy theo thói quen, ưa thích". Ngươi cứ chạy theo những thứ đó thì bao giờ mới được giải thoát đây?". Tác động tâm ý và quở trách để không đi theo dòng suy nghĩ đó nữa, chứ không phải biết có vọng tưởng rồi cứ mặc kệ.
Như vậy, đối với những vọng tưởng bình thường thì cho qua nhưng những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác có liên hệ đến tham dục thì phải dùng Như lý tác ý để quét sạch. Nếu ngồi thiền mà tham ái khởi lên, nhớ con nhớ cháu thì phải tác ý "gần chết rồi vẫn không lo tu, vướng vào sợi dây tình cảm, tình thân, tình ái hoài thì đến bao giờ mới giải thoát được. Tâm ơi hãy buông xả, tháo gỡ ra đi". Tiếp theo là an trú vào cảm giác toàn thân, đây là chỗ khác hơn lúc trước, ban đầu mình biết rồi chỉ ngồi im nhưng giờ có thêm tác ý để quét rác, đánh đuổi nó ra.
Hoặc khi ngồi thiền mà hình bóng người mình giận hiện ra làm mình khó chịu, suy nghĩ về những việc người đó làm mình bực thì cũng tác ý "giận để làm gì? Mình đã chạy theo cảm giác sân giận này vô lượng vô biên kiếp rồi, bây giờ còn tiếp tục giận để thiêu đốt nhau, để đời sau gặp nhau oán hận chất chồng nữa hay sao? Để rồi sầu, bi, khổ, ưu, não nữa hay sao? Để rồi trói cột nhau trong vòng luân hồi sanh tử mãi mãi nữa hay sao? Thôi đi! Đến đây là vừa đủ rồi hỡi những cảm giác giận hờn này, ngươi thiêu đốt, làm ta đau khổ vô lượng vô biên kiếp rồi, ngươi hãy lắng dịu đi, an tịnh đi, dễ chịu đi, ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi hãy thành mây, thành khói, thành hư không đi".
Đó là dùng chổi thần Như lý tác ý để quét những nghĩ tưởng, cảm giác sân hận ra khỏi tâm thì mình sẽ có cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, như vậy tu là quét rác căn nhà nội tâm chính mình chứ không phải tu rồi cứ để yên cho rác chồng chất lên trong nội tâm, cần phải quét rác cho sạch. Ví dụ, đang sinh hoạt bình thường, bỗng nhiên có chú tiểu nói chuyện ta đây, giỏi hơn mình vậy là mình khởi bản ngã "ta tu lâu rồi, người này nhỏ mà dám khinh thường ta", lúc này mình cần quét rác lập tức "làm gì có tôi, có ta trong này. Đức Thế Tôn nói đây là ung nhọt chín lỗ, chảy ra những thứ dơ bẩn. Bản ngã, ta đây, hơn thua để được cái gì trong này ngoài nước mắt, khổ đau, phiền não. Mình tu lại đi tìm những thứ này hay sao? Ngươi hãy nhún nhường, cúi xuống, đừng làm ta khổ nữa". Khi tác ý như vậy, ban đầu sẽ có cảm giác dâng lên nhưng từ từ sẽ thấy cảm giác lắng xuống, dịu xuống. Cuối cùng mình có thể nở nụ cười hoặc thậm chí có thể xưng "con" với người nhỏ hơn mình. Đó là sự vi diệu thần thánh của Chánh pháp, đó là công năng của Chánh pháp: "thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Đó là những phương pháp căn bản để tác ý dẹp bỏ sân giận, bản ngã trong lúc ngồi thiền và cả những lúc sinh hoạt bình thường.
Khi những ý hành, cảm thọ sanh khởi lên mình cũng không sợ mà mình phải trạch pháp, chọn lựa xem nó thuộc dạng nào, nếu là thiện thì phát huy, nếu bất thiện phải đánh đuổi, diệt tận và luôn trú trong cảm giác toàn thân. Lúc nào cũng rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân toàn bộ cơ thể và trong tâm có tưởng gì, suy nghĩ, cảm giác gì thì mình đều biết: "Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Trong khi đang đi, đứng, ngồi, nằm mà trong tâm sanh khởi lên những suy nghĩ ác bất thiện pháp thì phải tẩy sạch tâm tư ngay lập tức, ngay tại lúc đang đi, đang ngồi, đang nằm, người như vậy là người tinh tấn, tinh cần.
Câu hỏi: Thưa thầy, đang trong lúc ngồi thiền mà bị đau nhức, khó chịu, bị ngứa thì mình nên nhận diện chỗ đau nhức đó như thế nào?
Sư Phụ: Trong khi ngồi bị mỏi mệt, đau nhức hoặc bị ngứa thì lúc nào cũng phải trú vào cảm giác toàn thân. Mình nhận biết, cảm nhận, rõ biết chỗ đau nhức đó nhưng đừng để tưởng uẩn phóng đại ra, vì chỉ đau một chỗ nhưng do tưởng uẩn phóng đại, làm cho cái đau lan ra toàn thân và xâm chiếm thân tâm làm mình tưởng tượng "chết rồi, chắc gãy chân quá", "ngồi xong chắc bệnh luôn quá"… Do sanh ra những cái tưởng đó sẽ làm đau nhiều hơn nên cần tỉnh giác chánh niệm, an trú cảm giác toàn thân thì mình sẽ rõ biết chỗ đau. Đồng thời tác ý "thân đau mà tâm không đau", nghĩa là mình biết rõ chỉ đau một chút ngay chỗ đó thôi, mình không để cái tưởng lan tỏa phóng đại cái đau ra.
Thứ hai, phải tác ý "chân đau nhưng lưng không đau, tay không đau, đầu không đau" và tác ý thêm một nấc nữa là "thân đau nhưng tâm không đau. Cái thân đau một chút thôi nhưng mình không chịu nhiếp phục, không chế ngự thì mai đây thân đau nhiều đối đầu sanh tử thì làm sao mình tỉnh giác chánh niệm?", cho nên cần tập kham nhẫn đối đầu chịu đựng để mình nhiếp phục cảm thọ đau này, đến khi chịu không nổi nữa mới trở chân, nhúc nhích nhưng trước tiên cần chịu đựng hết mức.
Câu hỏi: Cũng trong lúc ngồi thiền mà buồn ngủ mà không chống cự được thì phải làm sao thưa thầy?
Sư Phụ: Rất nhiều người ngồi thiền bị buồn ngủ, đây là một pháp đại chướng ngại của người tu, nếu không chinh phục, không vượt qua thì tu không bao giờ tiến bộ. Nếu lúc trú trong cảm giác toàn thân mà buồn ngủ xuất hiện thì phải nhận ra liền là hai con mắt sụp xuống và cái đầu bị nặng, đây cũng là lý do Minh Thành hay nhắc phải thường xuyên trú trong cảm giác toàn thân. Bởi vì, nhờ trú trong cảm giác toàn thân nên khi có gì vừa xuất hiện thì mình sẽ biết ngay. Lúc này mình phải cảm giác thật mạnh trước mặt, mở hai con mắt lớn lên, cảm giác vùng không gian trước mặt cực mạnh và để cho tầm nhìn phóng ra tận cùng hư không giới. Dùng tưởng, thức và cảm thọ làm cho nhãn thức rộng mở hết mức, cảm thọ thật mạnh trước mặt, tập trung vào giải phá cảm thọ nặng nề ở cái đầu và tác ý "giờ này là giờ thiền hay giờ ngủ? Ngươi ngủ mấy chục năm qua chưa đủ hay sao? Ngươi muốn ngủ trong vô lượng vô biên kiếp hay sao? Ngươi cứ si mê, u mê trong giấc ngủ ngàn năm vô minh thì ngươi sẽ vĩnh viễn và mãi mãi đọa lạc. Bóng đêm này hãy diệt tận đi, đừng bao giờ ở trong đây nữa".
Dùng Như lý tác ý để làm một luồn sức mạnh từ trong người đánh ra cảm thọ nơi hai con mắt và cái đầu, mình có thể suy nghĩ và làm đủ cách miễn sao đánh tan hết cảm thọ sụp hai con mắt và cái đầu đang bị trì trệ, dùng những từ ngữ mạnh nhất đánh tan cảm thọ nơi hai con mắt và cái đầu. Khi đánh tan được cảm giác đó rồi thì mình sẽ thấy hai con mắt sáng ra và cái đầu nhẹ nhàng.
Nếu tác ý mạnh nhưng vẫn chưa được thì đi thiền hành, lạy sám hối cái hôn trầm này "Phật ơi! Thế Tôn ơi! Con muốn tu, muốn tỉnh táo chứ không muốn ngu muội, ngủ hoài". Than thở lạy lục như vậy cũng chính là mình đang tác ý để đánh đuổi cảm thọ xấu đó, làm hoài thì cảm thọ đó tan biến hết rồi tỉnh táo vào ngồi tiếp. Cho nên mình đừng để bị trói cột trong oai nghi, nghĩa là giờ thiền đừng cứ ngồi hoài dù cho ngủ gục. Thay vào đó, nếu giờ ngồi thiền bị chướng ngại như vậy thì mình có quyền đứng lên đi kinh hành hoặc lạy sám hối, làm sao cho bản thân được chánh niệm tỉnh giác, sáng suốt rõ biết ngũ uẩn, rõ biết thân tâm thì đó mới là thiền.
Câu hỏi: Thưa thầy, khi con ngồi thiền thì rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân nhưng khi tâm bị vọng tưởng. Khi nhớ trở lại thì con thấy cảm giác toàn thân quá rộng cho nên khi quay trở lại thì có thể nhìn ngay một điểm vào ba hơi thở như bụng, mũi, ngực để quay lại có điểm tựa, sau đó sẽ rõ biết lại trước mặt. Như thế có được không thưa thầy?
Sư Phụ: Người mới thực tập sẽ không quen, kể cả Minh Thành cũng vậy. Chúng ta thường muốn có một chỗ cho dễ, nhưng phải cố gắng tập cảm giác toàn thân, chứ đừng trú vào một chỗ, vì trú vào một chỗ thì mình sẽ không thấy được hết toàn bộ thân tâm. Phương pháp chúng ta đang thực tập rất năng động, rất tinh anh sáng suốt cho nên mọi người cần nghe thêm vài bài về hiệu quả của cảm giác toàn thân, hiệu quả công năng của thực hành ba pháp, những điều này rất quan trọng. Vì khi đã trú được vào cảm giác toàn thân thì bất cứ một cái gì xảy ra mình biết ngay, còn nếu trú vào một chỗ thì những cái khác mình sẽ không biết, cho nên cần tập từ từ. Cảm giác toàn thân lúc nào cũng có nhưng vì không để ý nên mình không thấy cho nên cần quay trở lại cảm giác toàn thân thì sẽ thấy ngay những biến động và nhắc nhở bản thân pháp lệnh "rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác", sau này khi đã quen sẽ thấy rất dễ dàng chứ không còn khó nữa.
./.