Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vạch Mặt Tham Sân Si - 03 Jul 2020

2026-03-03 00:54:31
Kinh NIKĀYA Giảng Giải

VẠCH MẶT THAM, SÂN, SI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bốn tin báo của Diêm Vương PAGEREF _Toc74906227 \h 1

II.Chiếu phá sắc uẩn PAGEREF _Toc74906228 \h 4

III.Vạch mặt tham, sân, si PAGEREF _Toc74906229 \h 8

IV.Chiến sĩ trong Phật giáo PAGEREF _Toc74906230 \h 13

Bốn tin báo của Diêm Vương

Đời sống của kiếp người chúng ta luôn luôn tất bật từ khi còn tấm bé cho đến khi trưởng thành. Sau đó có gia đình chồng con, tiếp theo là phải lo cho sự nghiệp, lo cho cháu, khi nhìn lại là đã bạc đầu hết rồi, cho nên, bây giờ phải gọi là tu mau kẻo trễ. Nhìn xuống mọi người ngồi đây thì có thể hơn phân nửa là tóc hoa râm và trắng xóa rồi, đây gọi là tuổi xế chiều. Cho nên, trong những giờ phút chúng ta trở về chùa thực tập, có nhiều thời gian để nhìn lại nội tâm, nhìn lại xác thân của mình là những giờ phút rất là thiêng liêng và quý báu, không có gì so sánh được hết.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài kinh “Ví Dụ Hòn Núi”, lúc đó vua Ba Tư Nặc đến viếng Đức Thế Tôn.

Thế Tôn nói với vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) nước Kosala đang ngồi một bên:

- Thưa Đại vương, Đại vương đi từ đâu lại?

-Bạch Thế Tôn, con rất là bận rộn với những sự việc các vua chúa bận rộn. Các vua chúa Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, say đắm kiêu hãnh với vương quyền, thọ hưởng tham lam vật dục, đạt được sự an toàn quốc độ, và sống chinh phục cả vùng đất đai rộng lớn.

-Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có người đến với Đại vương từ phương Đông (phương Tây, phương Bắc, phương Nam cũng như vậy) một người thân tín, đáng tin cậy. Người ấy đến Đại vương và thưa: "Tâu Đại vương, mong Đại vương được biết, con từ phương Đông (phương Tây, phương Bắc, phương Nam) lại và có thấy tại đấy một ngọn núi cao như hư không, đang di chuyển và chà đạp, đè bẹp tất cả loại hữu tình. Tâu Đại vương, Đại vương hãy làm những gì cần phải làm".

Nếu sự kiện đó xảy ra thì mình phải làm gì? Bốn hướng Đông, Tây, Nam Bắc, bốn ngọn núi lớn cao ngút trời đang di chuyển, nghiền nát hết, nó sắp sửa đến bên mình thì lúc đó quý vị làm gì? Đức Phật mới nói rằng:

- Như vậy, thưa Đại vương, một khủng bố lớn khởi lên cho Đại vương, sự diệt tận nhân loại thật khủng khiếp, được tái sanh làm người thật khó khăn, thời Đại vương có thể làm được những gì?

- Bạch Đức Thế Tôn, thời con có thể làm được những gì, ngoại trừ sống đúng pháp, sống chơn chánh làm các hạnh lành, làm các công đức!

- Thưa Đại vương, Ta nói cho Đại vương biết, Ta cáo cho Đại vương hay. Thưa Đại vương, già và chết đang tiến đến chinh phục Đại vương. Khi Đại vương bị già chết chinh phục, Đại vương có thể làm được gì? (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập I, I. Tương Ưng Chư Thiên, Chương II. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, bài kinh Ví Dụ Hòn Núi)

Tất cả chúng ta đang, sẽ và đã bị già, bị bệnh, bị chết chinh phục. Cái già chinh phục mình, nó làm cho mình hoa mắt, ù tai, lưng còng, gối mỏi, tóc bạc, da nhăn, đi run rẩy, nghe không rõ, nhìn không tỏ, đi đứng không còn thoải mái nữa. Buồn thay cho cái tuổi già, chán ngán thay cho cái tuổi già, nguy hiểm thay cho cái tuổi già! Mình đâu có muốn già nhưng cái già nó vẫn đến, mình đâu có muốn bệnh nhưng bệnh có đến không?

Đức Thế Tôn diễn tả căn bệnh mà chúng ta đã chứng kiến thấy được ngay trong xung quanh mình. Có những người bệnh nằm một chỗ, xung quanh đầy phân và nước tiểu, mỗi lần muốn ngồi dậy phải có người nâng đỡ, đó là bệnh chinh phục. Quý vị ngồi đây còn khỏe mạnh, còn sáng suốt, còn dự được khóa tu, còn nghe pháp, quý vị phải thấy quý vị có phước đức. Nếu không có phước đức nhiều là không ngồi đây được, hoặc ngồi nhưng mà ngồi xe lăn. Đó là bệnh chinh phục mình.

Cái cuối cùng là chết. Có một bài kinh gọi là “Kinh Diêm Vương”, một chàng thanh niên, một ông già.

Diêm Vương hỏi mấy người đang quì ở dưới:

- Khi còn sống ngươi có thấy tin báo không? Tức là ngươi có nhìn thấy được có người hàng xóm đó, họ tóc bạc hoa râm đi run rẩy, suy lão.

- Dạ con có thấy!

- Đó là có báo tin rồi đó. Tại sao ngươi không chịu nỗ lực tinh tấn tu?

- Dạ bạch ngài, con buông lung phóng dật. Con thấy vậy mà con không có để ý. Con nghĩ đó là chuyện của người ta, không phải chuyện của con, con còn lâu lắm mới già nên con buông lung con phóng dật, con làm những cái ác pháp. Bây giờ con xuống đây con mới biết cái đó là báo tin cho con.

- Còn tin báo khác nữa có hay không? Đó là người bệnh nằm một chỗ liệt giường, liệt chiếu.

- Dạ con có thấy. Con thấy rồi con để đó, con không biết lo, không biết suy nghĩ con vẫn sống buông lung phóng dật.

Diêm Vương nói cái đó là tin báo đó mà Diêm Vương gửi. (Tăng Chi Bộ Kinh I, bài kinh Diêm Vương)

Đó chính là bốn tấm thư mời: Sanh - Già - Bệnh - Chết, vậy mà mình sống nhởn nhơ qua ngày đoạn tháng, không nhớ đến những thứ này. Khi mình bệnh nằm đó, những đứa con mình thương nhất nó có thay thế mình cái bệnh đau đó được không? Ông chồng thương nhất ổng có thế bệnh giùm mình được không? Mấy cục tiền, mấy cục vàng làm mấy chục năm nay, mình để vào két sắt hay cất trong nhà băng, lúc bị bệnh mới móc ra, mà bác sĩ nói nan y không chữa được, thì những cục đó có giúp mình khỏe lại được không? Chúng ta nên nhớ rằng lúc đó chỉ có tu tập giúp mình.

Đức Phật dạy mình chớ có buông lung, đừng phóng dật. Buông lung là sao? Phóng dật nghĩa là gì? Buông lung là cái tâm muốn nghĩ gì là mình cho nó nghĩ cái nấy, cái miệng muốn nói cái gì là cứ để cho nó nói cái nấy, cái thân muốn làm gì là cứ để cho nó thoải mái tự nhiên, như vậy gọi là buông lung. Quý vị có bị cái này nhiều không? Thấy cái gì bực cái sực, sực thì nó phựt, bây giờ mình sực người ta, người ta sực mình lại thì lúc đó phiền não. Mà mình nực, mình phựt lên, rồi nó cháy, cháy xong rồi nó rụi hết, là sầu, bi, khổ, ưu, não.

Chính vì vậy, Đức Phật dạy, điều quan trọng đầu tiên trong sự tu là phải biết chánh niệm tỉnh giác, không có buông lung. Chánh niệm là khi đi mình biết mình đang đi, ngồi mình biết là mình đang ngồi, nằm mình biết là mình đang nằm. Lái xe biết là mình đang lái xe, ngồi ngoài sau xe thì biết là mình đang ngồi trên xe, đừng có tưởng mình đang ngồi băng đá là bật té ra ngoài sau. Đi lên cầu thang mà không biết mình đang đi, miệng nói lầm bầm lầm bầm, tay cầm điện thoại nên không đi tới mà nhũi ngược ra sau thì rất nguy hiểm.

Cho nên, điều quan trọng ở đây là chánh niệm tỉnh giác và không có buông lung. Cái chữ không có buông lung này hay vô cùng hay, là đừng có cho nó nghĩ sao nó nghĩ, đừng cho nó muốn nói gì nó nói, đừng cho nó muốn làm gì nó làm mà phải bắt nó vào thiện pháp, nghĩ thiện pháp, không cho nghĩ ác. Quý vị có kiểm tra được cái tâm của mình không? Tối ngày kiểm tra người ta mà không kiểm cái tâm của mình. Khi nghĩ điều gì mình thấy có hại, đưa đến phiền não, đưa đến sầu bi, khổ đau cho mình và người thì không cho nghĩ tiếp nữa. Nếu biết lời nói này phát ra làm cho buồn giận, làm cho hờn mát, làm cho khổ sầu, làm cho tan nát nhà cửa thì mình không cho phát cái lời nói này ra. Thực hành như vậy chỉ bớt được một nửa những ác bất thiện, kế tiếp Minh Thành sẽ chỉ cách để bớt được hết.

Chúng ta muốn bớt được hết những cấu uế thì phải nhìn lại cảm giác. Đức Phật dạy con người chúng ta tối nào cũng tụng Tâm Kinh Bát Nhã . Ai cũng thuộc ro ro mà không biết gì hết. Chúng ta thường đọc “chiếu kiến ngũ uẩn”, như vậy, đó là chiếu kiến cái gì, chỗ này là chỗ quan trọng. Minh Thành và mọi người sẽ tìm hiểu.

Chiếu phá sắc uẩn

Thân này sáu mươi kí đang ngồi đây là sắc uẩn, mà cái sắc này là do đất, nước, gió, lửa nó kết hợp lại. Khi mình mới sinh, chỉ có ba kí, mà bây giờ mình sáu chục kí, như vậy hỏi năm mươi bảy kí kia từ đâu mà ra? Có phải mình đem từ đất, nước, gió, lửa ở ngoài vào không? Tất cả thức ăn mọc từ đất; mình đem nước vào uống, ngồi đây mình thở là nhờ không khí; nhiệt độ, hơi ấm trong ngoài là lửa – bốn đại này kết hợp thành thân này. Thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường tan hoại, tan nát, hoại diệt. Hãy nhàm chán cái thân này, đừng mê say nữa.

Phải thấy rõ thân này là bốn đại, nó không phải mình. Bưng chén cơm lên phải biết đây là đất, bưng cái ly nước lên dầu cho là nước suối hay cà phê sữa cũng biết là nước, nước gì uống cũng được, không có đòi hỏi. Hằng ngày mình mượn vô, rồi mình có trả ra không? Chúng ta đi vào cái phòng nhẹ khỏe để trả, nếu không có phòng đó có khổ không. Bây giờ leo lên xe đi Đà Lạt, xe đi tám tiếng mà không ghé đâu để dừng hết, lỡ uống chai nước suối rồi thì lúc đó mặt mày xanh lè xanh lét, tay chân run hết. Chúng ta thấy rõ ràng cái sự mượn trả không? Nếu sự mượn trả này có vấn đề trục trặc là mình bệnh mình chết, thở không được – chết, đó là không mượn được gió (phong đại). Minh Thành nói chuyện với quý vị là bên trong có phong đại, có gió thì mới nói được, còn không có gió là nhúc nhích không được. Những người bại liệt là phong đại trong thân không còn đủ để vận hạnh nữa nên bại liệt. Như vậy, phải gồm có gió bên trong và gió bên ngoài.

Cho nên, cái thân này thuần túy là bốn đại mà mình không biết cứ nói đây là tôi, đây là của tôi, ai đụng vô thì có chuyện. Đức Phật gọi đó là vô minh, si mê, không thấy được sự thật, đi đâu cũng tôi, của tôi không. Rồi tới lúc đẩy vào lò thiêu rồi đẩy ra được một hủ, thì hủ đó của ai. Vì vậy, điều đầu tiên là phải thành tựu trí tuệ để nhìn thấu được sắc uẩn, sắc uẩn này mà không nhìn thấu thì khổ đau dài dài. Đức Phật nói “ai yêu sắc là người đó thích khổ, ai thích khổ thì người đó không thể giải thoát”. Người nào nhàm chán sắc, thì người đó không còn thích khổ, mà người không thích khổ thì người ta giải thoát khỏi khổ đau.

Chúng ta còn yêu thích cái xác thân này không? Còn chăm chuốt cho nó nhiều không? Mình già rồi mà nghe ai khen đẹp lão cũng mừng. Đẹp cái nổi gì nữa mà đẹp, sắp sửa xuống hố rồi mà nghe khen cũng khoái, mà bị chê là xụ mặt xuống giận liền. Vậy thì tối ngày mình buồn giận biết bao nhiêu lần vì cái tiếng nói đó. Vì vậy, chúng ta phải thấy cho sâu sắc, ngồi lại quán chiếu thân tứ đại này là pháp duyên sanh, duyên hợp, tạm bợ. Đi đường mà thấy chiếc xe chữ thập rú rú chạy là biết trong đó có cái gì, nó chạy chậm chút nữa là nó hết chạy luôn. Rồi chiếc xe rồng phụng đẹp, mình có thích lên đó ngồi không? Xe đó đẹp quá mà sao mình không chịu lên, nhưng nó là chung cuộc của cuộc đời này. Cho nên, chúng ta phải nhìn sâu vào, thân này là như vậy, bản chất là nó là như vậy.

Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Thân này làm bằng xương, phủ bên ngoài bằng lớp da, ở trong là thịt, là máu, ở trong là nước tiểu, là phân, là nước miếng, là nước mũi. Nó tiết ra chỗ nào cũng là chỗ mình ớn, mình ngán, nhưng mà ai khen đẹp thì khoái, khổ chưa! Đức Phật dạy dùng trí tuệ phân tích mổ xẻ ra. Minh Thành ngồi đây, quý vị nhìn và cười, bây giờ mình lột da mặt ra, lọt hai tròng mắt xuống, máu thịt đổ ra, mỡ nó lòi ra quý vị còn dám ngồi đây nữa không? Khi lột da mặt xuống thì một ngàn người cũng giống hệt như nhau. Đẹp như hoa hậu hoàn vũ thế giới với người bệnh cùi thì khi lột cái da ra rồi thì mặt cũng y hệt chứ có khác gì đâu. Rồi mình rạch trên thân ra thì bên trong là phèo, phổi, ruột già, ruột non, bao tử, lá lách, gan, tim. thận, một đống bộ đồ lòng, máu nó chảy ra. Đó là sự thật của thân này, nó bị một lớp da nó phủ lên rồi là mình mê chết, mê mệt, mê say, mê tới già gần chết rồi mà vẫn còn mê, chưa có tỉnh, cho nên tụng Bát Nhã hoài mà không có thấy Bát Nhã. Hãy nhìn cái lớp vỏ ở ngoài, nhìn cái lớp sơn ở ngoài, tróc sơn là máu nó chảy ra. Lâu lâu quý vị xắt gọt ở trong bếp, xắt cà rốt không xắt mà xắt vô tay là chảy máu. Thấy máu có người xỉu, mà máu trong người mình không lẽ xỉu luôn hay sao.

“Thân này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu”, giống như mình thấy cái nhà đó, người ta làm khung sườn ở bên trong, cây cột là sắt ở trong đó, sắt đó giống như xương vậy. Còn xi măng, cát là thịt, mỡ và lớp phết ở ngoài là da. Chỉ cần tróc lớp da thì nó lòi ở trong ra, lòi ra thì chạy hết, đẹp cỡ nào cũng chạy hết, rồi nó sình lên nằm đó. Quý vị quán chiếu đi, nằm đó đứt hơi cái khì, bốn người khiêng, đội nhị tỳ mai táng xông vào bỏ vô bao, nó lấy dây siết từ trên đầu xuống dưới chân. Lúc đó sao không bật dậy, sao không cự, bây giờ ai nói một câu là tức giận lên liền, mà lúc đó thì nằm im re, ai muốn làm gì thì làm.

Đó là chung cuộc của kiếp người đó. Sao giờ không lo mà chỉ lo giận, lo tham. Nhìn thấy vậy để xả bớt cái chấp vô tấm thân này. Ở đằng xa xa kia nghe ai nói tới cái tên mình, mà nói xấu một cái là phùng mang trợn mắt, lại đó hỏi thì không phải, là trùng tên “tôi nói cái bà kia kìa, không phải nói cô đâu”. Lúc đó tự nhiên vui trở lại, thấy ghê gớm cái chấp của mình không? Nó cứ chấp vào cái giả danh, giả tướng, chấp trong cái giả thanh. Âm thanh đó nói xong là quên mất tiêu, mà người ta nói một câu thôi là ba tháng cũng còn giận, là sao, khổ không?

Cho nên mình nhìn thấu vô cái xác thân tứ đại này để mình thấy một đống bầy nhầy, xe tông một cái văng ra cái bộ não, “tàu hủ bánh lọt” văng ra, văng cánh tay, văng cái chân ra, bầy nhầy một đống rồi lấy chiếu quấn lại. Đó là bản chất của thân, nhìn cho sâu sắc để phá chấp đây là tôi, đây là của tôi, không có cái nào là tôi, cái nào của tôi hết.

Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu tài sản đâu.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)

Chính mình mà còn không có thiệt, làm gì có con tôi, tài sản tôi, nhà cửa tôi, xe cộ tôi, đất đai tôi, ruộng vườn tôi, tất là toàn là tôi nên khổ. Cho nên nhìn sâu để thấy được cái bản chất thân tứ đại này là vô thường. Nghỉ ăn bảy bữa là nó vào cái chỗ nằm gọn ơ, nghỉ uống mấy ngày cũng vào cái chỗ gọn nhẹ. Có cái gì đâu mà trong này mình cứ bám chấp vô đây mà cho là thiệt, thế nên không tỉnh ngộ được, không có giác ngộ được.

Vạch mặt tham, sân, si

Điều kế tiếp rất quan trọng là thọ, tức là cảm giác, cái này ghê gớm lắm. Cảm giác này là hang ổ của tất cả phiền não, là xào huyệt của tham, sân, si, là căn cứ địa của tất cả của các pháp. Sầu, bi, khổ, ưu, não ở trong cảm giác. Đức Phật nói có ba loại cảm giác: cảm giác khổ, cảm giác vui, cảm giác không khổ không vui. Nói cho dễ hiểu là: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Ba cảm giác này là bao trùm hết tất cả cảm giác, thường thường là mình sống với ba cái cảm giác này.

Ví dụ bây giờ mới bắt đầu thời pháp thoại mà có nhiều người ngồi ở dưới chân tê, lưng mỏi rồi thì đó là cảm giác khó chịu. Mà chân tê, lưng hơi mỏi, nhưng miệng vẫn cười, như vậy cái thân là cảm giác khó chịu, nhưng cái tâm là cảm giác dễ chịu. Bởi vì mình muốn nghe pháp nhưng mà cái thân nó không nghe lời, cho nên cái cảm giác của tâm là nó dễ chịu mà cảm giác của thân là cảm giác khó chịu. Do cảm giác của tâm nó mạnh nên nó nhiếp phục được cảm giác của thân. Minh Thành nói để quý vị thấy, ví dụ như mình đi ra ngoài nắng mười hai giờ trưa mà 38℃, tự nhiên trời nóng nực, đổ mồ hôi, bực lên, nóng quá chừng, nóng chịu không nổi. Tự nhiên thân mình nó khó chịu và nó kéo theo tâm mình khó chịu, đó là có sân ở trong đó. Rồi mình đang nóng 38℃, mình bước vô phòng có điều hòa 18℃, dễ chịu nên mình ngồi không muốn ra, đó là tham. Thấy ghê gớm không? Chỗ cảm giác khó chịu là sân trú ẩn, chỗ cảm giác dễ chịu là tham trú ẩn.

Đó là Minh Thành chỉ cho quý vị thấy hang ổ của tham, sân, si. Quý vị nói mình tu là mình phải diệt tham, sân, si, phải bỏ tham sân si, mà không biết nó ở đâu thì sao bỏ? Bữa nay chỉ cho quý vị thấy được hang ổ của nó đó là ở trong cảm giác, Minh Thành sẽ chỉ kĩ chỗ này cho quý vị tu là nhập Thánh quả luôn. Hằng ngày tham, sân, si xâm chiếm tâm, chế ngự tâm mình, nó quấy rối tâm mình, nó áp đảo mình hết mà mình không biết. Quý vị đừng có tưởng là quý vị biết tham sân si, Minh Thành vạch cái mặt tham sân si ra cho quý vị thấy. Vạch mặt nó ra, chỉ mặt nó ra, điểm mặt nó ra, dộng cho banh bản mặt của tham, sân, si. Mình phải thấy được mình mới diệt nó được, mình không thấy, không biết nó làm sao mình diệt. Tối ngày cứ nói con tu, con bỏ tham, sân, si, bây giờ hết tham, sân, si mà ai đụng vô một cái là cháy nhà luôn, như vậy làm sao mà diệt được tham, sân, si. Bây giờ nói kiếm người đi đòi nợ mà hỏi người thiếu nợ là ai, già hay trẻ, nam hay nữ, mập hay ốm, đen hay trắng không biết, ở đâu không biết rồi làm sao đòi nợ. Đức Phật chỉ mình tham trú ở trong cảm giác, sân trú ở trong cảm giác, và si trú ở trong cảm giác như thế nào.

Ví dụ ngồi nghe pháp, mà ông thầy ở trên mắt dòm xuống nói đều đều, nhỏ nhỏ trong miệng, ngồi một hồi cũng muốn theo nhắm mắt lại luôn, cái đầu quẹo qua bên, vai xệ xuống, ngủ gục, đó là cảm giác si mê hôn trầm lâu lâu xuất hiện. Hết chỗ ngủ hay sao mà lên ngay trước Phật ngủ mới chết, mai mốt không có ngủ lộn chỗ. Ngủ ở trong phòng ngủ, còn trước bàn Phật không được ngủ. Trước Phật ngồi nói tu mà lên ngủ không.

Cho nên bây giờ mình nhìn kĩ thấy cảm giác ghê gớm lắm. Bởi vì sắc uẩn là cái vật chất, nó vô tri, vật chất không biết tham, sân, si; đất, nước, gió, lửa đâu có biết tham, sân, si. Ba cái uẩn sau: tưởng là những hình bóng trong nội tâm; hành là những lời nói thầm thầm, suy nghĩ; còn thức là cái nhận biết, đó hoàn toàn thuộc về phần tinh thần mình không bám víu, nắm bắt được. Nhưng cái thọ, các cảm giác là cái kết nối giữa phần vật chất và tinh thần biểu hiện ra những chỗ trên thân. Minh Thành sẽ chỉ cho quý vị thấy cái thọ này biểu hiện trên thân của mình, nó là nhịp cầu, gạch nối giữa sắc pháp và tâm pháp. Cái thọ này nó gắn liền vừa sắc pháp vừa tâm pháp cho nên mình thấy được nó biểu hiện.

Ví dụ như mình được người nào đó khen: “Hổm rày nhìn thấy chị tu tinh tấn, em ngưỡng mộ biết bao nhiêu mà nói, chị là người đạo hạnh, đức hạnh nhất ở trong đạo tràng này. Chị là gương mẫu, tốt quá chừng quá đất, tu hay quá.” Lúc đó ngồi nghe, mình có thấy phơi phới, hưng phấn, mặt đưa lên. Đó là thọ biểu hiện ra cảm giác lâng lâng, khoan khoái, sung sướng, thích thú, hưng phấn lên. Cảm giác đó là tham và bản ngã biểu hiện, cái tôi phình lên giống như con ễnh ương hay con ếch, con cóc phình bụng ra. Rồi bây giờ có người chỉ vào mặt mình, nói thậm tệ: “Chị mà tu cái gì, chị tu hú, tu giả dối, tu gian dối. Làm cái mặt đạo đức giả.” Lúc đó bên trong thân mình dâng lên, đỏ 2 cái lỗ tai, má hồng lên, con mắt nó lờ đờ, mờ hết trơn hết trọi, cái miệng nó giật giật. Bắt đầu nó phun tên ra, nó bắn tên ra, bắn toàn tên độc. Đó là cảm giác sân nó biểu hiện ra. Bữa nay thấy được chỗ ở của tham, sân, si chưa? Chứ không thôi lúc trước mình nổi sân lên cái mình nói người này không thể không nóng giận được, người nào tha thứ được chứ người này không thể được. Nhất là cái ông mà ở chung với mình, vô gặp mặt hoài. Hồi đó là chết mê chết mệt với ổng mà bây giờ chán với ổng vô cùng, vô tận không muốn dòm mặt nữa. Đi thì thôi về nhà nhìn cái mặt là thấy khó chịu không ưa. Như vậy tham, sân, si nó lẫn lộn trong đó. Cho nên quý vị phải nhìn cho sâu sắc vô cảm giác để thấy được, mình mới nhiếp phục được. Bây giờ mình thấy sân nổi lên rồi, không có đi theo nó.

Đức Phật dạy phải quán chiếu sự nguy hại của cơn sân, cái này quan trọng lắm. Cái sân mà nó dâng lên như vậy thì bắt đầu nóng lên. Nếu nó phát ra lời nói thì chắc chắn nó làm cho khổ mình, khổ người, khổ cả hai, khổ tất cả chứ lời nói này ra không bao giờ đem lại bình an, tốt đẹp hết. Cho nên mình phải nhiếp phục cái cảm giác đó, tránh đi đừng có gặp nữa.

“Cảm giác này là vô thường, cái thân này đâu phải là mình, đây là bộ xương mà, đống thịt bầy nhầy. Trong này phèo phổi, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, một đống ruột, có cái gì đâu mà ai khen chê ở đây. Đâu có cái nào là “Nguyễn Thị Xoài”, “Trần Văn Mít”, đâu có “Xoài, Mít, Ổi, Mận” gì ở đây. Đâu có cái gì là mình, đây là pháp vô thường, vô ngã. Chết tới không lo, ở đó lo giận, lo sân hận, ganh ghét, hơn thua chi cho nó mệ. Buông xuống đi, bỏ đi, tan biến cái cảm giác này đi, ta không chấp nhận người nữa, ngươi đi chỗ khác chơi, đừng ở đây quấy rối ta, đi chỗ khác chơi để cho bà tu con, được không? Bây giờ bà tu, bà muốn an lạc, con đi chỗ khác, đừng có đùa giỡn với bà, bà xử con à.”

Mình nói chuyện với cảm giác của mình, mình huấn luyện nó, mình không chấp nhận cái cảm giác nóng giận, mình không chấp nhận cái cảm giác hành hạ, thiêu đốt mình. Bây giờ lửa than mà bỏ vô trong tay cầm mình chịu không? Còn giận mấy người? Ba người là ba cục lửa than đó. Bỏ hết đi cho nó mát, tu như vậy đó mới có kết quả. Hãy thường trực nhìn lại cái cảm giác hoài, nó khởi một ý niệm giận ai, bỏ ý niệm này ngay. Đó là tai hại, ý niệm này là nguy hiểm, ý niệm này là đau khổ mà mình đâu có muốn khổ. Quý vị muốn vui mà cái này nó làm cho khổ thì không đi theo nó, từ bỏ nó, chấm dứt nó, đoạn diệt nó, không có nuôi dưỡng nó.

Bây giờ người ta đưa cho quý vị hai trái cây, một trái là nho ngon thiệt ngon, nho không hột, nho Mỹ rất ngon, một trái là trái độc ăn vô chết liền. Như vậy hai trái cây trước mặt mời quý vị thì quý vị ăn trái nào, trái nho Mỹ thơm ngọt ngon hay ăn trái độc, quý vị toàn ăn trái độc. “Con thưa thiệt với thầy cái gì con tha thứ được chứ cái bà đó là con không có tha được, đáng giận lắm.” Như vậy là mình ăn trái độc đó, mình chấp nhận cái sân, mình không chịu bỏ nó, mình không thấy nó nguy hại. Nếu mình biết nó là độc chết người thì mình đâu dám, có ai mà dám bưng thuốc trừ sâu mà uống trừ khi người đó muốn tự tử hoặc người đó khùng, chứ người tỉnh đâu có đi mà tự hủy hoại cái thân xác mình. Bây giờ mình nói là về tam độc – tham, sân, si. Hằng ngày mình sống chung với nó mình nuôi dưỡng nó như vậy mình chưa có thấy độc. Nếu thật sự mình thấy độc là mình không có chấp nhận nó. Vừa cảm giác bên trong hừng hực lên là mình dẹp liền, tẩy liền, bỏ liền, mình tẩy rửa liền, diệt tận nó, không có chấp nhận nó thì như vậy là mình tu.

Còn cảm giác tham thì ghê hơn. Tội của cảm giác sân lớn mà bỏ nhanh lắm, còn tội của tham thầm thầm, nhỏ nhỏ mà khó bỏ. Minh Thành ví dụ cho quý vị nghe, nó nhỏ nhặt lắm mà khó bỏ lắm. Giờ đây Minh Thành cho quý vị nhận diện năm uẩn ngay tại chỗ này, quý vị thích nhất là món bún bò Huế chay, xin thưa quý vị Minh Thành có một sư cô nấu món bún Huế độc thủ đại hiệp ngon không thể diễn tả nổi. Cổ là người Huế, cổ nấu một cái rồi là ăn nhớ hoài, nhớ cái mùi bốc lên thơm mà hương vị của nó đặc biệt vô cùng, đúng chính gốc là bún Huế. Chả dai, ngon, đầy đủ gia vị hết, nước súp nấu bằng nước dừa tươi. Bây giờ Minh Thành phân tích cho quý vị thấy năm uẩn của quý vị đang vận hành. Khi Minh Thành nói vậy đó không biết có người nào thấy tươm tươm chút xíu không? Cái đó là cảm giác. Khi quý vị nghe vậy đó trong cái tưởng quý vị có hiện ra hình tô bún Huế không, đó là tưởng uẩn. Rồi quý vị có nói bữa nào lên chùa thầy ăn thử món đó cho biết, cái đó là hành uẩn. Rồi quý vị nhận thức được những cái đó là thức uẩn. Như vậy cảm giác của quý vị thấy là thích thích, khoái khoái cái món này, thấy cũng hấp dẫn, rồi cái tưởng là cái hình bóng nó hiện ra, cái hành là cái câu nói bữa nào ăn thử, cái thức là nhận biết. Như vậy năm uẩn quý vị đang vận hành ngay lúc với câu nói Minh Thành, ngay chỗ đó là nó có cái tham muốn thử. Trước giờ không có thấy bây giờ thấy chưa?

Rồi bây giờ Minh Thành ví dụ bữa đó đi tiệc dọn lên mười lăm món, mà món nào món nấy toàn là trang trí con rồng, con phụng đẹp mắt, mùi thơm hấp dẫn vô cùng. Mà sao ngồi nói hoài không chịu cho ăn, trong thân này cái bụng nó đói rồi. Mười hai giờ, mười hai giờ rưỡi rồi mà trên đó nói hoài, “Thôi nói lẹ lẹ đi tắt dùm, kết thúc nhanh nhanh dùm cái đi, nói lâu quá”. Mới nói vừa xong, tắt cái là đưa gắp liền, thì quý vị thấy bên trong mình nó thúc giục. Cho nên quý vị phải phân biệt được ba cái tham, dục, ái nó khác nhau chứ không phải giống. Dục là nó thúc giục lẹ lẹ, mau mau, nhanh nhanh gắp. Rồi cái thọ, cái lưỡi cảm giác, cắn vô một cái gắp thêm lẹ lẹ, nhai rột rột chưa kịp xong gắp thêm cái thứ hai, đó là tham.

Nào giờ quý vị tưởng tham là lượm món này món kia của người ta mà hôm nay Minh Thành chỉ cho quý vị cái tham nó vi tế lắm. Nhìn sâu mới thấy cái tham, cái dục, cái ái khác nhau. Cái dục là thúc giục; cái ái là thích thích, khoái khoái; cái tham là muốn thêm nữa. Như đi chợ trả xong xuôi rồi, bốc thêm hai, ba trái nữa, thôi cái này cho thêm đi, miệng vừa nói tay vừa bốc, đó chính là tham. Vạch mặt tham, sân, si, chỉ mặt nó ra luôn, đánh vô mặt nó. Miệng thì nói nhưng chưa biết người ta cho hay không mà đã bốc đại bỏ vô. Đó mới chính là tham.

Thế nên, chúng ta phải nhìn lại cảm giác. Trí tuệ này hay lắm, đây là giáo pháp tối thượng của Đức Phật dạy. Chúng ta không nhìn lại mình mà tối ngày cứ lạy Phật độ cho hết tham, sân, si thì có được không nếu mình không lo nhiếp phục, không lo tu. Phật chỉ cho mình cách thức, mình phải làm thì mới có hiệu quả, chứ Phật không làm cho mình được. Bây giờ ngồi rồi nói ăn ăn, no no mà quý vị không ăn, không gắp đồ bỏ vô miệng từ sáng tới tồi thì nó có no không? Đơn giản vậy, dễ hiểu vậy mà không chịu hiểu. Tối ngày vô lạy hoài, cầu xin hoài mà không chịu làm, cứ để cho cái tham nó khởi lên, sân để cho nó khởi lên, bản ngã nó khởi lên. Mình phải nhiếp phục nó ở trong cảm giác. Nhìn sâu vô cảm giác, phát hiện ra tham rục rịch, cục kịch là xử nó liền. Lấy cây roi quất bốp bốp vô con trâu, xỏ lỗ mũi nắm nó kéo, quất mạnh vô. “Mày tham hả, tham cho luân hồi sinh tử khổ đau mấy chục năm rồi, giờ tiếp tục muốn khổ nữa phải không? Thôi đừng có tham nữa, bỏ cái tham đi, ly cái tham đi, lìa cái tham đi, dứt cái tham đi, sạch cái tham đi, vứt cái tham đi, quăng cái tham đi tới Niết-bàn an lạc.”

Chiến sĩ trong Phật giáo

Cho nên, tu đúng Chánh Pháp thì hay lắm, Minh Thành sẽ bật mí cái bí mật.

Ví dụ mình đi chùa này hai mươi lăm năm, mình công quả, siêng năng, chỗ mình ngồi sát bên ông thầy, bữa nào tụng kinh, nghe pháp là mình cũng ngồi hàng đầu, làm gì mình cũng ngồi hàng đầu. Bữa nay có cái bà kia mới vô công quả ba ngày, mà bả nhảy lên ngồi cái chỗ hai mươi lăm năm của mình. Bữa đó mình có công việc, mình vô trễ thì thấy bả ngồi chỗ đó rồi, lúc đó thấy sao? Cái thân này còn không phải của mình thì cái chỗ đó sao là của mình được. Bỏ cái tâm sân đi, cái sân này nó đốt lên mình khổ, mình là người khổ trước. Bỏ đi cảm giác sân đó, vô thường chứ có cái gì đâu. Cái thân còn giữ không được thì chỗ đó sao là chỗ của mình, chỗ của chùa chứ chỗ của mình đâu. Buông xả xuống, cái tâm được nhẹ, mỉm cười lên, chiến thắng được lòng sân hận, chiến thắng được cảm giác sân, nhiếp phục được cảm giác sân. Mỗi lần mình chiến thắng được như vậy đó mình đãi tiệc tâm linh, mình mừng ngày đó, mình cười. Mỗi lần chiến thắngđược một tên giặc là mình cười. Người ta hỏi sao cười hoài vầy là do tu hay quá chiến thắng nội tâm.

Dầu tại bãi chiến trường,

Thắng ngàn ngàn quân địch ,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngàn)

Tự chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất. Tối ngày lo thắng người ta, người ta thắng lại thì phiền não. Mình t thắng mình vui lắm, thắng với cơn giận của mình, thắng với cơn tham của mình, thắng với bản ngã của mình. Bản ngã của mình làm mình khổ nhiều. Cái tôi đó mình phải để ý nó, mình phải bắt nó khiêm hạ, cho nên mình lạy Phật hay lắm. Mình lạy Phật là để hạ cái tôi của mình thấp xuống. Quý vị thấy không, ngoài Đức Phật ra mình có lạy ai không? Lạy cha mẹ mà đợi lên bàn thờ mới lạy chứ còn sống đâu có lạy. Cho nên lạy Phật mình phải hiểu được ý nghĩa. Lạy Phật không phải Phật rót xuống cho mình cái gì, mà lạy Phật là để mình nhiếp phục bản ngã, làm cho mình hạ thấp xuống, nhún nhường, khiêm hạ.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, ngài Xá-lợi-phất gầm lên tiếng gầm sư tử trước mặt của Đức Thế Tôn. Có một vì Tỳ-kheo vu khống ngài Xá-lợi-phất xâm hại rồi có lỗi xong bỏ đi. Lúc đó ngài Xá-lợi-phất đến bạch Đức Thế Tôn, Ngài nói rất là nhiều, trong đó Ngài có nói: “Bạch Đức Thế Tôn, thường thường con xem con giống như cái nùi giẻ để cho mọi người chùi chân, để cho mọi người sử dụng chùi những thứ đồ dơ. Như vậy làm gì con có cái tôi, cái của tôi mà dám xâm hại người khác, không biết xấu hổ rồi bỏ đi.” đó là tiếng gầm của sư tử. Các bậc Thánh nhân nhìn như vậy, luôn luôn quán mình là cái nùi giẻ, là cái đồ chùi chân, cái đồ dậm chân, cái đồ lau nhà. Còn chúng ta có dám quán mình là cái nùi giẻ không? Phải quán mình như cái nùi giẻ vậy đó, quán mình giống như đất vậy ai muốn quăng cái gì quăng lên, mình đều mặc kệ. Quán tâm mình giống như nước ai muốn quăng sạch, dơ thì nước nó cuốn trôi hết. Quán tâm mình như lửa, ai quăng cái gì cũng đốt cháy hết. Quán mình như là không có gì cả, là trống rỗng, đơn giản nhất là cái bộ xương.

Cho nên có ông già bảy mươi mấy tuổi lên trên núi Minh Thành tu, ổng hỏi: “Thầy ơi con giờ già gần đất xa trời, không còn bao lâu nữa hết trơn, thầy chỉ cho con cách tu cách gọn gọn”. Minh Thành hỏi năm nay bảy mươi mấy rồi, vậy thì ông có hình lúc mười bảy tuổi không, ổng bảo có. Minh Thành hỏi giờ ông có hình ông chụp X-Quang không, ổng cũng có. Minh Thành nói ông để cái hình mười bảy tuổi, rồi chụp hình lúc bảy mươi mấy để kế bên, rồi xong chính giữa ông để hình chụp X-Quang cái đầu lâu, cái đầu sọ. Rồi hãy ngồi quán mình là vậy đó, tu đơn giản như vậy. Ông thấy thân này là cái đầu lâu là cái đầu sọ, thấy cái hình mười bảy tuổi có đẹp trai không và hình bảy mươi mấy có đẹp trai không? Làm như vậy để thấy được sắc uẩn này là vô thường, biến hoại, tan nát có cái gì đâu mà bám víu hoài trong này.

Một hồi đi ra , bị mất dép, kệ nó. Mình khỏi cần đi bố thí xa, khỏi đi từ thiện, họ tới họ lấy giùm, khỏi cần đi. Đi từ thiện xa lắm, ở đây để sẵn lại, có người lượm rồi thì mua cái khác. Có cô Phật tử đến nói với Minh Thành: “Con thưa thiệt với thầy, con đi làm từ thiện nhiều lắm, con đi xa con cho quà nhiều lắm, nhưng mà con bực mình một cái đồ của con mà ai lại ăn cắp là con tức lắm. Bây giờ thầy chỉ con cái cách nào con tu đi chứ con bực mình lắm, con khó chịu lắm, con cho nhiêu cũng được hết. Một trăm phần, năm trăm phần con cho được hết mà lại ăn cắp đồ, con bực lắm.” Minh Thành nói: “Vậy con đi từ thiện cả ngàn cây số, nhiều chỗ người ta đâu có kêu đâu cô cũng đem tới. Rồi bệnh, rồi cảm, nhức đầu, đi tới cực khổ vất vả, sáng đêm ngồi xe tới phát cho người ta. Cái này người ta lại người ta lượm sẵn cô khỏi cần đi đâu hết trơn, cô coi như là làm từ thiện đi. Người ta cần thì mình cho người ta, mình mua cái khác có gì đâu.” Cô cười: “Dạ thôi được rồi thầy ơi từ nay về sau con khỏe rồi thầy.” Quý vị thấy không, nghĩ và quán chiếu vậy đó cho khỏe.

Cho nên phải thấy được cái chỗ sâu sắc của cái sự tu, quý vị phải thấy được năm uẩn, phải thấy được cái cảm giác của mình, thấy những cái hình bóng trong nội tâm. Những tiếng nói thầm thầm nếu mình nghe theo là mình chết, đó là mình nghe tiếng nói của tham, sân, si. Trong đầu mình có nghe nó nói nhiều không? Quý vị ngồi tu trong đây ba ngày thì đây toàn là anh hùng chiến sĩ, chỉ chưa là liệt sĩ thôi. Bởi vì quý vị đã vượt qua được những tiếng nói thầm của tham ái, của sự giải đãi thì quý vị mới dám vô đây. Chứ không thôi nó nói mình già rồi, tu không nổi để mấy người trẻ tu; còn mấy người trẻ nói mình còn trẻ thôi để già rồi tu. Còn mấy người bệnh nói bệnh sao tu để mấy người khỏe tu; còn mấy người khỏe nói mình khỏe tu làm gì để già già gần chết rồi lúc đó tu, ghê gớm không? Mình nghe mấy cái đó là mình chết đó, chính nó lôi mình xuống địa ngục, nó lôi mình đi vô tam đồ, lôi mình đi vô sầu, bi, khổ, ưu, não.

Đừng có nghe theo nó, quyết chí từ nay về sau là chiến thắng nó. Không được thua, mình tu mình phải làm chiến sĩ. Đức Phật có bài kinh “Chiến Sĩ”, trong Phật giáo phải là chiến sĩ, lực sĩ chứ khi tu mình không được làm xì ke. Ở chỗ chánh điện ghi là “Đại hùng bảo điện” – cái cung điện quý báo thờ bậc đại anh hùng. Mình phải là những người mạnh mẽ, tinh tấn, nhiếp phục. Mỗi khi làm biếng là xử nó liền: “Mày làm biếng hả, mày kêu tao ngủ hả, mày kêu tao nằm xuống hả? Không được nằm, ngồi dậy tu, chết nè. Không nghe theo nó, mày kêu tao chết hả, tao phải đạt chỗ bất tử, Niết-bàn. Đừng có dụ dỗ ta. Mi dụ dỗ, mi rù quến ta hả, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than hả? Rồi cuối cùng kéo ta đi phải không, ta không lầm nữa đâu.”

Trong bài kệ mà Đức Phật thành đạo, Đức Phật nói:

Lang thang bao kiếp sống,

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay phải tái sanh.

Ôi! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy người!

Người không làm nhà nữa.

Đòn tay ngươi bị gãy,

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Tức là bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, sở dĩ Ngài không thành đạo giác ngộ, cứu cánh Chánh Đẳng Chánh Giác là Ngài đi tìm hoài kẻ làm ra căn nhà này mà tìm không có gặp, nhưng bây giờ người tìm thấy rồi, đó chính là: tham ái, ái dục.

Tham ái là gì? Là yêu thân thể này lắm, nó muốn ăn cho ngon, mặc cho đẹp, ở cho sang, xe cho xịn, nhà cho cao cấp. Tâm chúng ta cứ thích những cái như vậy, rồi mình bị cuốn theo, sau đó già, bệnh rồinnhăn răng ra chết. Bên trong cứ kêu mình hưởng thụ đi, vui đi, tu làm gì, tu khổ lắm! Đó chính là ái dục, tham ái, nếu tham ái không được thì nó sân. Mà tại sao lại có tham ái? Đó là vì chúng ta không thấy bản chất một đống thịt bầy nhầy và một bộ xương. Cuối cùng cũng bị đốt thành một nắm tro, một hủ để trên nóc tủ đó, chứ có cái gì đâu. Tranh đấu cả đời, hơn thua cả đời, ganh tị cả đời, tật đố cả đời, đủ thứ hết trơn, cuối cùng là một hủ không có gì cả. Cái thân này trong kinh nói là kẻ vong ơn, bội nghĩa, vô nghĩa, vô tình tột độ. Chúng ta lo cho nó sáu, bảy chục năm, trước khi đi, nó có từ giã mình không? Nó không có nói: “Chị ơi, em cảm ơn chị em đi”, mà nó đi đâu mình không biết, lúc nào mình không hay, nó muốn đi là nó đi thôi. Thân này là kẻ vong ơn bội nghĩa, cho nên, hãy nhàm chán cái thân này, đừng có ham thích, đừng có tham đắm nữa. Buông xuống đi!

Trong giáo pháp tối thượng của Đức Phật nói: “Này các Tỳ Kheo, trong các cái pháp vô vi và hữu vi, pháp ly tham là tối thượng”. Vì vậy, chúng ta hãy tu sao để tâm ngày càng bớt tham muốn, lìa tham muốn là mình thành tựu. Bớt tham muốn, bớt tham ăn, bớt tham ngủ, bớt tham chơi, bớt tham nói, bớt tham hưởng thụ, bớt hết tất cả những gì bất thiện. Thay vào đó, hãy thêm tinh tấn, thêm chánh niệm, thêm tỉnh giác, thêm sự quán chiếu sâu sắc, thêm sự buông xả, xa lìa để thành tựu trí tuệ. Được như vậy là quý vị thẳng tiến đến Niết-bàn, thẳng tiến tới giải thoát, thẳng tiến tới sự an lạc. Ngồi chỗ nào sen cũng nở dưới chân, đi tới đâu đất vọt lên, sen ngàn cánh thơm tho, an tịnh, hạnh phúc, màu nhiệm. Đó là giá trị chân thật của sự tu hành Chánh Pháp.

./.