Làm An Tâm Người Bệnh 8 - Quán Chiếu Lạc Thỏ - Quán Từ Bỏ Ngũ Uẩn
Kinh Nikāya Giảng Giải
Làm An Tâm Người Bệnh 8
Quán Chiếu Lạc Thọ - Quán Từ Bỏ Ngũ Uẩn
Thích Minh Thành
Ngày 05 tháng 09 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu cảm thọ - tham dục PAGEREF _Toc83975971 \h 1
II. Ái - tình PAGEREF _Toc83975972 \h 4
III. Cá thoát khỏi lưới PAGEREF _Toc83975973 \h 6
IV. Ràng buộc PAGEREF _Toc83975974 \h 9
V. Quán từ bỏ - thoát ra PAGEREF _Toc83975975 \h 12
I. Quán chiếu cảm thọ - tham dục
Kính bạch chư tăng ni và tất cả Phật tử, chúng ta đang chiêm nghiệm về ba cảm thọ. Khi mình chiêm nghiệm, suy xét, mình thấy trí tuệ của Đức Phật thật khủng khiếp, siêu việt, vượt ngoài hết tất cả thấy biết của chúng sanh nên mới gọi Ngài là vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hai chữ lạc thọ bao trùm hết cả mười ngàn thế giới. Nhiều khi mình cảm giác vui đó là bình thường, không có gì đặc biêt, mình tu thì sẽ nhiếp phục nó dễ thôi, nhưng không phải đơn giản như vậy. Lạc thọ - cảm giác vui sướng, vui vẻ, vui thích, vui nhộn, sung sướng, dễ chịu, êm ái, ngọt ngào đó, tất cả chúng sanh trong Tam giới đi ra không được, không biết đường ra.
Chúng ta đang quán về cảm giác vui sướng, mình nói về những ví dụ hết sức thông thường. Cái ăn, mình đã ra nổi chưa? Ngày nào cũng quán thọ thực nhưng thấy khủng khiếp không, chỉ món ăn thôi, một xíu cảm giác dễ chịu trên đầu lưỡi thôi nhưng tu bao nhiêu năm nay có đi ra nổi không? Nó rất ghê gớm chứ không phải chuyện đơn giản, bằng trí tuệ thông thường của mình, mình xem thường, nghĩ rằng có gì đâu, chỉ là miếng ăn.
Chúng ta thấy mới vừa rồi, trong khu cách ly F0, cả hàng ngàn người xô đẩy giành giật với nhau như kiến, đến ngã hàng rào. Ngay cả người tu, từ cư sĩ cho đến xuất gia, đối với miếng ăn có vượt qua, nhiếp phục nổi không? Cho nên chúng ta cần phải chiêm nghiệm hai chữ lạc thọ này, nó rất ghê gớm. Đó là mới nói thức ăn thô, bốc, cầm, nắm, nhai, là đoàn thực, ngoài ra còn có xúc thực, tư niệm thực, làm sao chúng sanh thấy nổi nếu không tu học Thánh trí huệ này?
Tứ thực tập khởi là do gì? Ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái là yêu thích. Trong sự tu của chúng ta, tuy mình tu chưa sâu, nhưng nhận thức mình phải biết, xem thường là chết ngay. Trong tất cả mọi góc độ của tu hành mà xem thường thì sẽ không thành tựu trí huệ, thiện pháp, sự nhiếp phục, sự tinh tấn, sự tăng thượng, hướng thượng của pháp đó. Bây giờ mình xem việc hút thuốc, để điếu thuốc phì phà nhưng nhiều khi tới chết bỏ không được. Đừng nói chi người đời, ngay cả người xuất gia cũng vậy.
Chúng ta thấy lạc thọ có ghê gớm không? Đó là thọ, hãy tu đi. Thậm chí biết nó là bệnh, đưa đến khổ đau, nguy hiểm, bệnh hoạn, thậm chí đến tính mạng những người bệnh mà bỏ không được. Thiếu nó là thiêu đốt tâm can, thậm chí trên gói thuốc có in: “Hút thuốc có hại cho sức khỏe” để hình lủng phổi, cháy phổi, nhưng hút vẫn hút, vẫn bán, vẫn buôn lậu. Chúng ta thấy không, đó là lạc thọ.
Bây giờ tới nhậu, không nói ai xa, trong nhà anh của Minh Thành, tới nỗi rượu đi vô trong não, té lên té xuống, trần trụi, té ngoài đường cũng không biết. Vợ con xem thường, bạn bè, thiên hạ khinh khi, khóc lóc, lạy sám hối, muốn tu, nhưng cuối cùng cũng bị cảm thọ lạc của con ma men, đi ra không nổi, mà mỗi lần uống vô là có chuyện. Làm cho cha mẹ đau khổ, cô bác, ông bà lo lắng, bất an, vợ con xấu hổ, nhục nhã, xóm làng… Thậm chí gây ra những việc hết sức nguy hiểm, nhưng đi ra lạc thọ đó nổi không? Nhiếp phục nó nổi không? Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Chỉ một chút xíu men rượu thôi mà làm cho chúng sanh thê thảm, thảm hại, làm tai nạn, đau khổ, thống khổ, thậm chí sụp đổ hết những danh dự, địa vị. Chúng ta nhớ một người hết sức thành đạt, đang xỉn say rồi gặp đứa bé, sanh khởi dục vọng lên, có những hành vi, cử chỉ… Sau đó sụp đổ hết, thân bại danh liệt, đó chỉ là chút xíu cảm giác của men rượu.
Trong sinh hoạt cuộc sống, miếng ăn, điếu thuốc, rượu…tất cả những điều đó đều là cảm thọ; cái dục cũng vậy, rất khủng khiếp. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, mở màn câu đầu tiên Đức Phật nói:
“Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
(Kinh Tăng Chi Bộ - Tập I – Chương Một Pháp – I. Phẩm Sắc – Kinh Nữ sắc)
Đức Phật nói điều này trong bài đầu tiên nên chúng ta biết nó quan trọng cỡ nào. Xâm là xâm lấn, tiến vô, chiếm là chiếm lấy những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, tiến công vô, xâm lấn, chiếm lấy trái tim, suy nghĩ, cảm giác….” sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
“Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
Tiếng nói, âm thanh đó rất ghê gớm, đó là lý do phải cắt cái xúc, độc cư, viễn ly. Mình thấy sống chung bình thường, không có gì nhưng nó ngấm ngầm bên trong, mình không thấy nó lậu hoặc, qua mặt mình từng chút mà mình không hay. Độ tín nhiệm và tĩnh giác mà quán chiếu cảm thọ của mình không đủ, tới khi hay đã lún sâu rồi, gỡ không được.
“Tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”. Người đàn ông nhớ tiếng, âm thanh, tưởng đó, da diết trong âm thanh đó, về nhớ lại. Tất cả những điều đó đều tập trung trong thọ, xúc trong âm thanh, thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác sanh ra do tiếp xúc với âm thanh, do mức độ Chánh Niệm tỉnh giác của mình không rõ ràng, sâu sắc, tinh vi, tinh minh, tinh tường. Cho nên, những chỗ nhỏ nhiệm ngấm vô hồi nào mình không biết gọi là lậu hoặc. Giống như ngôi nhà bị dột nhưng mình không biết, tới khi nước chảy xuống là đã bị dột lâu lắm rồi. Mình không khéo quán chiếu tâm thì nó rò rỉ hồi nào không hay, tức lậu hoặc, nó ngấm vào, thấm vào.
“Ta không thấy một hương...một vị...một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương...vị.. xúc người đàn bà”
Phải quán chiếu rất nhiều, trí tuệ của Đức Phật thật khủng khiếp, siêu khủng, Ngài nhìn không còn sót chỗ nào, như vậy mới gọi là Toàn Giác, Chánh Biến Tri – là sự thấy biết chân chánh, phổ quát, cùng khắp, không sót chỗ nào. Ở trong tiếng nói, mùi hương đó, mà nhiều khi nói hôi rình mà cũng chết, mùi lạ, mùi của mấy người hôi nách, nghe thôi cũng thấy ớn, nhưng rồi cũng chết. “Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi” (ca dao), thiếu mùi hôi đó chịu không nổi, nó ghê gớm như vậy đó. Cái mùi độc địa đó xâm chiếm và ngự trị trái tim, khủng khiếp không?
Mà bây giờ cái dục đó càng mạnh hơn, không phải chỉ nam nữ, mà còn nam nam, nữ nữ, già, trẻ, bé, lớn gì cũng bất kể. Cái dục càng mạnh hơn, đi tới chỗ mạnh mẽ, mãnh liệt, chúng sanh càng đau khổ nhiều chừng đó, nước mắt càng chảy nhiều, máu chảy nhiều, sự thống khổ, khốc liệt mà chúng sanh càng phải chịu đựng nhiều chừng đó, vì cái dục càng ngày càng mãnh liệt.
Chúng ta thấy không, nam nữ thôi còn muốn chết, mà bây giờ còn rộng ra thêm những tình cảm khác. Lại phải dùng những chất trợ giúp, tăng lực, thuốc này thuốc kia, bóng cười, thuốc lắc, xì ke, ma túy… vô số những chất làm con người hưng phấn, dục vọng tăng thêm. Thời Đức Phật mà Ngài nói còn khó tu mà bây giờ tùm lum hơn nữa làm chúng sanh đắm chìm trong lạc thọ, cảm giác vui sướng, êm ái, chúng ta thấy khủng khiếp không?
Mình đã học kinh thì không được xem thường, nhiều khi chưa tu tới đâu nhưng phải thành tựu trí, mình biết còn con đường phía trước. Nếu mình nghĩ miếng ăn có chút xíu chứ đâu có gì quan trọng, ăn thì cứ bưng lên ăn, xuống quán thọ thực chứ làm sao phải khổ. Mình nghĩ theo kiểu phàm phu, nói thì cứ nói thôi chứ làm gì phải nói nhỏ, đi cứ việc đi thôi, cần gì phải nhìn xuống? Tất cả những điều đó là tâm buông lung, buông thả, buông lơi, buông trôi, phóng dật. Đó là kiết sử mà mình không biết, nó cũng là thọ, cái thọ nó muốn bung ra, thúc giục. Tất cả do thọ điều khiển, tưởng, hành đi theo, rồi xác này chỉ là công cụ, con rối của nó.
“Ta không thấy một hương...một vị...một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương...vị.. xúc người đàn bà”. Đọc một chút xíu cho chúng ta quán chiếu, đó mới chỉ là chương mở đầu trong Tăng Chi Bộ Kinh. Chữ tình này rất ghê gớm, khủng khiếp. Ở trong kinh không dùng chữ tình mà là chữ thọ, lạc thọ bao gồm tình cảm bên trong. Chữ tình chỉ thế gian dùng, vì nó không bao trùm được hết tất cả, nhưng chúng ta sẽ dùng những chữ dễ hiểu để quy kết trở về trí huệ của Đức Phật rất siêu khủng, siêu việt.
II. Ái - tình
Đức Phật nói dục và ái, chữ ái đó là tình, thế gian gọi tình ái, ái tình, tình cảm, tình yêu, tình nghĩa, tình thương… Tất cả những chữ tình đều có chữ ái ở trong kinh Nikāya. Chữ tình có tình trong và tình đục, tình ác bất thiện pháp và tình thiện pháp, đó đều là thọ, cảm xúc. Bây giờ mình thấy một chữ tình này làm cho chúng sanh…
Ngày xưa còn nhỏ xem phim kiếm hiệp, Lý Mạc Sầu có bài thơ nổi tiếng mà Minh Thành không nhớ từng chữ, chỉ nhớ ý, “Hỏi thế gian tình là chi”. Hỏi thế gian tình là cái gì mà khiến cho người ta sống chết có nhau, chết cũng chết chung, người này có thể hi sinh mạng sống cho người kia. Vậy chữ tình đó là gì? Nó là gì mà làm cho người ta ăn không được, ngủ không được, nhớ thương ngày đêm, tiều tụy, đau đớn, khổ sở, giày vò, hành hạ, đay nghiến, làm cho người ta sống không được chết không xong.
Chúng ta có nhớ chuyện “Kỳ duyên tái thế” cô thiên kim tiểu thơ đi chùa gặp thầy Ngọc Lâm làm hương đăng trên chánh điện, nhìn thấy viết chữ đẹp nên về bệnh tương tư. Như vậy tình này làm cho cô thiên kim tiểu thư này đau khổ đến bệnh. Ở ngoài đời người ta dùng từ cảm xúc hay xúc cảm, từ này ở trong kinh Nikāya, thế nào là cảm xúc, xúc cảm? Tiếp xúc tạo ra cảm giác, xúc thọ. Cảm xúc là cảm giác có được sau khi mình tiếp xúc, tức xúc sanh thọ, vì từ dùng khác nên mình thấy nó lạ.
Xúc cảm là mình sanh ra cảm giác, cảm thọ, cảm tình, xúc cảm là cảm xúc. Tình cảm là do mình tiếp xúc, cảm xúc, cảm thọ; từ cảm thọ đó tạo ra thương hay ghét, tình đó là sự thương ghét. Cho nên người ta hay gọi có cảm tình, do mình tiếp xúc với món đồ đó, người đó, mình thấy người này dễ thương, hiền lành, có cảm tình. Một lần, hai lần, năm lần, bảy lần, mười lần… mình cảm thọ, nhận cảm giác đó, nó đi vô, chất chứa bên trong, cho đến lúc sung mãn, xâm chiếm hết.
Trong kinh dùng từ “xâm chiếm và chế ngự”, nó chiếm trọn trong thọ, tưởng, hành, thức. Ngoài đời gọi là sa lưới tình, hoặc trúng mũi tên, tức sự tiếp xúc sanh ra cảm giác, mà cảm giác dễ chịu, phù hợp với những cái mình ưa thích, cứ vô hoài như vậy, riết rồi nó đầy trong này. Bên trong là thọ, tưởng, hành về đối tượng đó, món đồ đó, con người đó. Hận cũng giống như vậy, nó là hai mặt, bên kia lạc thọ, bên này khổ thọ. Lát nữa chúng ta quán chiếu khổ thọ, giờ mình đang nói về lạc thọ.
Yêu và hận là một, hai mặt của một bàn tay, lật qua lật lại, vì nó cũng đều là cảm thọ. Thương ghét, thân sơ, gần xa cũng y như thế.
“Tâm không còn dao động
Hai mặt của cuộc đời”
Mình quán cảm thọ rồi mới thấy thế gian này chỉ toàn hai mặt, vì bản chất ngũ uẩn như vậy, tính chất của thọ là vậy, làm sao bắt nó một mặt? Trừ những bậc thành tựu Chánh Kiến cho đến tẩy sạch các lậu hoặc, là không nói hai lời, thấy được tâm mình, sự thật. Cho nên chúng ta thấy xúc cảm, cảm xúc, cảm tình, tình ái, tình nghĩa, tình thương, tình thân… rất ghê. Phải nhìn ra được các trạng thái vận hành của các dòng cảm thọ, cảm xúc trong thân tâm mình, trong tùy hoàn cảnh, đối tượng, con người, sự việc, trạng huống của nó phải nhìn và thành tựu trí tuệ, nhìn sâu vào bên trong và quán chiếu. Nếu không chúng ta đều sẽ bị cảm thọ lừa.
Đó là chúng ta nói về tình cảm, tình dục, đi sâu vào trong thọ. Vì dục có bao nhiêu thọ? Có thọ do nhãn xúc sanh không? Có thọ do nhĩ xúc sanh không? Có thọ do tỷ xúc sanh không? Mũi ngửi mùi. Có thọ do thiệt xúc sanh không? Lưỡi! Có thọ do thân xúc sanh không? Có thọ do ý xúc sanh không? Nó đều dính hết, nên đó là điều khủng khiếp nhất. Cho nên Đức Thế Tôn mới nói trong việc tu không được như vậy, vì nó có sáu xúc. Một xúc làm mình muốn chết rồi, mà dính vào cái đó nó bao trùm hết: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Mình dãy dụa vô trong đó làm sao đi ra khỏi, nên chúng sanh dính vô lưới tình, càng dẫy dụa càng xiết chặt, vì toàn thân mình đã nằm trong rọ rồi.
III. Cá thoát khỏi lưới
Chúng ta có nhớ câu chuyện hai vị thầy đi đàm đạo với nhau, đi ngang có người đang chài lưới, bỗng nhiên có một con cá bị mắc vào lưới nhưng nó giẫy tung ra khỏi lưới. Một thầy nói: “Ồ, hay quá, giống người tu”. Vị kia nói: “Không, ở ngoài lưới mới hay!”, vị này trả lời lại: “Huynh chưa tu nên chưa hiểu”. Đi một chặng đường dài, vị này suy nghĩ ra, nói: “À, đệ hiểu rồi, cá nhảy khỏi lưới”. Người tu mình phải vùng vẫy ra, chúng ta có bài “Vùng vẫy thoát lưới ma” ở bên Ly Trần đảo hãy nghe lại bài đó.
Điều giỏi của con cá là ở trong lưới mà nó nhảy ra được. Trong thiền đường này cũng có người trong lưới nhảy ra, nhớ nhảy ra rồi hãy ra luôn, đừng quay trở lại. Tất cả những người xuất gia ở đây toàn là cá nhảy khỏi lưới hết, mình bị lưới tình, chữ tình này rộng lớn, bao trùm hết tất cả, tình yêu, tình cảm, tình thân, tình thương, tình nghĩa… Mà tất cả chữ tình này là thọ, mà thọ nhiều nhất là lạc thọ, những cảm giác dễ chịu.
Sa vô lưới tình thật ghê gớm, vô rồi ra không được, có giẫy giụa cũng nằm trong đó, trừ những người thấy biết được mới nhảy ra, nếu không sẽ nằm mãi bên trong lưới đó hết. Chúng ta thấy nó biến dạng của tình, của lạc thọ, tức ở ngoài là chữ tình, vợ chồng, cha con, anh em, bà cháu. Tại sao mình cứ nhớ, thương người đó? Mình nhớ những lúc tiếp xúc với người đó có những cảm giác dễ chịu. Ngoại thương, ngoại lo cho mình nên nhớ ngoại. Nếu không sống với cha mẹ mà sống với cô dì thì nhớ cô dì, vì mình được tiếp xúc nhiều, nhận được tình nghĩa, tình thương, tình thân. Đó là lạc thọ, chúng ta thấy dễ sợ không?
Nhiều khi mình phớt qua, nghĩ quán lạc thọ, quán khổ thọ, quán bất khổ bất lạc thọ, quán vô thường là xong. Không phải! Đức Phật nói khẩu quyết, nhưng chúng ta phải từ chỗ đó mà nghiền ngẫm ra đương sự, đương nhân, những trạng huống, hoàn cảnh nào đó của chính mình, mình phải dùng Thánh trí huệ này soi vô mới ra pháp, pháp đó mới hiển lộ. Nếu không, điều mình học chỉ là học chữ nghĩa, không thấy sự thật.
Ví như bây giờ thấy nhớ ngoại, thương ngoại quá, không tu được thì mình bị điều gì? Nói theo thế gian là tình cảm, tình thân, nói theo trong đạo là hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, cảm giác. Nói sâu xa hơn là lạc thọ, những cảm giác ấm áp, dễ chịu mà ngoại đã cho mình. Mình bị cảm giác đó trói cột, nên không tu được. Mình tu mà cứ nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ dì, cô, nhớ con, vợ chồng, bạn, huynh đệ… đều là thọ. Nói theo thế gian là tình thân, tình thương, tình cảm, tình nghĩa nhưng nói theo kinh Nikāya là phơi bày những gì bị che kín, lạc thọ, đi ra không được.
Mới chỉ phơi bày lạc thọ có một chút mà chúng ta thấy ghê không? Thủ phạm của tất cả mọi vấn đề, “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, nên có mấy Phật tử bình luận rằng ông thọ này rất ghê gớm. Ông rất già, ngàn vạn tuổi, vô lượng tuổi, vô thỉ luân hồi, tức mình luân hồi với ông thọ. Vô minh, tham ái là ông thọ, ông là ông cố tổ, tức là lạc thọ này. Bị dính mắc điều này mình không tu, không tiến được, không cắt được, không thoát được, không viễn ly, ly tham được.
Mình nhớ hình bóng, những cảm thọ đó, suy nghĩ lòng vòng, cứ ám ảnh hình bóng, cảm giác đó. Tình dục, tình ái, tình cảm, tình thương, tình thân, tình nghĩa đều là thọ. Người ta nói con người là loài hữu tình, phải có tình, chính vì chữ tình đó, chữ tình trong kinh Nikāya, những từ ở thế gian đều từ trong này ra hết. Hữu tình là có tình thương, tình thức, chữ tình là thọ, tưởng, hành, thức. Chữ tình này mình đào sâu xuống, nói gọn lại là thọ, cảm xúc.
Giờ đây chúng ta đã thành khúc cây rồi, không có cảm giác gì nữa, nhưng chỗ đặc biệt của người tu giỏi, tu khá, khéo quán chiếu, nhiếp phục cảm thọ là không phải khúc cây. Vì khúc cây là vô tri, nhưng cũng không phải thường tình của hữu tình chúng sanh, đây mới là chỗ bậc Đa văn Thánh đệ tử thành tựu. Có hai thái cực, một thái cực vô tình vô nghĩa, không biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, không tri ơn, không có gì cả, vong ơn bội nghĩa. Hay tu thành tảng đá, khúc cây?
Không phải! Một trạng thái tối ngày cứ tình nghĩa, thương nhớ hoài như phàm phu. Chúng ta thấy không? Có hai thái cực. Còn người tu Đa văn Thánh đệ tử là vuốt lên trên, không bị các tình đó trói cột, nhìn thấu bản chất của nó vô thường, khổ đau, bản ngã. Cho nên chúng ta có năm phép quán, mà hôm qua học, thứ nhất là quán gì? Quán vô thường, tiêu vong, ly tham, đoạn diệt, năm khía cạnh của cảm thọ trong bài kinh mà Đức Phật dạy mình. Năm góc độ của cảm thọ đó, nó là thứ vô thường, tan hoại, thứ không đáng để tham muốn, thứ biến diệt, thứ đáng phải biết bỏ. Mình cứ đeo điều đó hoài, khổ đau hoài làm sao giúp người khác hết khổ, làm sao mình hết khổ? Mà đó là thứ làm ra đau khổ, bây giờ mình ôm chặt vô trong đó làm sao hết khổ. Mình không hết khổ làm sao giúp người ta hết khổ?
Cho nên, người tu mình phải nhiếp phục từ ăn, mặc, ngủ, những thứ trong đời sống cho đến cái dục, tình thân, tình thương, tình cảm, tình nghĩa đều phải có sự nhiếp phục. Phải nhìn sâu vào bản chất của nó, là vô thường. Bây giờ nhớ sư phụ hoài, khóc hoài, làm sao tu? Ở đây mà cứ nhớ sư phụ giờ già, gần chết rồi, bệnh không ai lo, cứ ngồi nhớ hoài như vậy rồi quán được không? Định được không?
Bây giờ cứ yên định đi, tu đi, thoát khỏi những điều đó mình mới giúp được sư phụ, huynh đệ. Còn nếu cứ nhớ hoài, điện thoại hỏi thăm, nhắn tin, viết thư gửi, làm sao mình tu tiến? Chúng ta thấy không? Cho nên tất cả những điều đó là hữu tình, những tình dục, tình cảm, tình ái, tình thân, tình thương, tình nghĩa, tình yêu, bao nhiêu thứ tình là lạc thọ. Ngay cả hận thù cũng là tình, mà tình của sân, thọ của sân. Một lát nữa, tùy theo thời gian chúng ta đi phần quán cảm thọ, khổ thọ.
Cho nên, người tu của chúng ta vượt thường tình là chỗ đó, thường tình là những điều nãy giờ nói. Chúng ta sống có tình có nghĩa, có hiếu, có ân, có đức nhưng không bị điều đó trói cột. Đó là chỗ sâu sắc của người tu, biết bằng trí tuệ, tuệ tri đối với các cảm thọ. Chúng ta nhìn xem, cái thọ này gây cho thế gian nhiều điều khủng khiếp, đắm chìm, đau đớn, khổ sở, tan nát hết. Một người leo lên nhảy cầu tự vận chết hay thắt cổ chết, vì lạc thọ. Họ nhớ lại những cảm xúc đó, giờ họ mất rồi, cha mẹ không đồng ý cho cưới, không cho thương nhau nữa, bắt tách đôi không cho gặp mặt nữa. Họ nhớ lạc thọ của quá khứ, bây giờ không chịu được, làm nó day dứt, giày xéo, đau khổ trong lòng, rồi nhảy cầu tự tử, không thì buộc dây thắt cổ, nhảy sông, nhảy lầu, đó là lạc thọ, bây giờ không được lạc thọ đó là khổ thọ.
Cho nên chúng ta thấy khổ thọ này thật vô thường, gian dối, hư ảo vô cùng. Trước khi gặp vẫn sống bình thường, nhưng sau đó không gặp được lại muốn chết, thọ này có phải rất ác độc không? Trước đó sống nhởn nhơ, vô tư, vui vẻ, không có gì hết, tự nhiên gặp một người để rồi sau đó không gặp nữa lại đòi chết? Xem thọ có phải khốn nạn không? Nó gây khốn đốn, hoạn nạn, làm cho người ta đau khổ, sầu não, bệnh tật, chết chóc, đó là ái, dục. Cho nên Đức Thế Tôn mới nói: “Này, các Tỳ-kheo, dục này vui ít khổ nhiều, là lời dối gạt, lời chào sáo rỗng của kẻ ngu, dục là vô thường, là khổ, vô ngã, biến hoại, trống không”, những ưu não bên trong càng nhiều hơn. Biết bao nhiêu những bài kinh trong Nikāya Đức Phật dạy dục làm cho tàn sát, lụn bại, làm chúng sanh khổ nên mình tu là ly dục.
Mà dục là gì? Dục là lạc thọ. Chúng ta thấy các pháp liên kết với nhau không trong khi mình tưởng thọ khác, dục khác. Lạc thọ này làm cho chúng sanh cả ba cõi điêu đứng, đau khổ không thể nói nổi, nhận chìm tất cả. Rồi từ từ chúng ta sẽ học hết chín mươi mấy kiến chấp của ngoại đạo trong kinh Phạm Bổng, thật khủng khiếp. Tu mà không thành tựu Chánh Kiến, không giải thoát sanh tử đều là thọ, ta ưa thích cảm giá đó, yên yên, lặng lặng, tịnh tịnh, thanh thanh, nghĩ rằng mình đã tới chỗ cứu cánh. Thọ thật khủng khiếp, vi tế, ngũ uẩn, ma trận này thật ghê gớm.
IV. Ràng buộc
Trở lại vấn đề, thọ làm cho người ta đau khổ, giày xéo, khi lớn lên mình sống vô tư, thoải mái, hồn nhiên, trong sáng, tự nhiên gặp một người nào đó mình lại đau khổ. Vì hình bóng người đó, những suy nghĩ của mình hoàn toàn xâm chiếm, chế ngự. Nhưng thế gian lại ca tụng điều đó, càng đau khổ nhiều chừng nào càng được ca tụng chừng đó, tình sử. Chúng ta thấy đó là vô minh, gây ra đau khổ, nó trói buộc con người một cách ghê gớm, trói tất cả ngũ uẩn. Nó trói buộc thân này, không được rời xa, dù làm nô lệ, nô tỳ cũng phải ở kế bên.
Có nhiều cảnh trong lịch sử hay trong truyện, người này thương cô quận chúa, bạn thời thanh mai trúc mã nhưng thân phận thấp kém, chơi chung mấy chục năm như vậy. Đúng ra sẽ làm nên sự nghiệp nhưng không, lại làm nô tỳ, người hầu hạ cho cô này suốt cuộc đời, tới lúc hy sinh, đem thân mạng này chết đi, nhưng vẫn cam lòng, cam tâm tình nguyện.
“Hỏi thế gian tình là gì” mà khiến đôi lứa sống chết có nhau hoặc chết vì người kia, đó là thọ. Vì sao? Từ nhỏ đến lớn chơi với nhau, thương thầm trong lòng, nhưng thân phận thấp hèn, trong khi người kia là quận chúa, công chúa hay thái tử gì đó, vương tử, hoàng tộc… đại khái như vậy. Còn mình thân thấp hèn, đi theo làm nô tỳ, tùy tùng. Những điều này nói ra có vô số kể, bút mực không chép nổi một chữ “tình”, còn biết bao nhiêu tình như yêu đơn phương, thầm thương trộm nhớ, khổ đau day dứt nhưng nói không được.
Chúng ta thấy thọ này có dễ sợ, ác độc không? Mà nói không được rất đau khổ, thậm chí nói được còn khổ, về ở chung còn khổ huống chi nói không được thì làm sao? Tất cả những điều đó đều là lạc thọ, ái và dục chế ngự và thống trị hết thế giới này, nên gọi là dục giới - thế giới của ái dục. Những người không nặng về ái dục lên cõi sắc giới ở, tâm thức họ không làm chuyện tào lao, thấp hèn đó. Họ không ưa thích tình ái, muốn đời sống thanh cao, cao thượng, họ không ở thế giới dục này mà ở trên cõi sắc, sắc giới.
Như vậy, không muốn điều này lại muốn điều khác, lại vẫn là thọ, nhưng thọ thanh, sạch còn đây là thọ trượt, thọ đục, dơ, dù vậy họ vẫn khổ. Thế giới của sắc giới, hình sắc vi tế giống như giấc chiêm bao của mình – sắc giới, chỉ có hình bóng, không có thân, thịt, máu, mủ, không tiểu tiện hôi dơ như mình, hóa sanh. Do phước đức tu tập, tâm từ hóa sanh lên thiên giới, các cõi trời sắc, tâm nhẹ nhàng không nặng về dục giống như thế giới này nhưng ưa thích hình sắc đẹp, ánh sáng. Họ phất tay áo, hiện lâu đài, bay đi tự tại, ý sanh thân, ví dụ chỉ ngọn núi, liền hóa núi vàng.
Họ thích thú với điều đó, do phước báu, công đức của họ mà có được, vì đã làm công đức, phước báu quá nhiều nên hưởng những điều đó, họ thích thú, khoan khoái trong phước đức họ tạo ra, lại dính mắc vào thọ. Chúng ta thấy không, thọ lạc đối với phước báu công đức mà người ta đã làm trong quá khứ. Bây giờ không thích thành sắc nữa, sắc giới đôi khi cũng mệt mỏi, thỉnh thoảng chư thiên và A-tu-la đánh nhau, có khi giành giật sắc, nhưng là cái sắc vi tế, không nặng về ái dục bên trong. Họ đánh nhau, giành quyền thống trị các cõi nên họ chán, mệt mỏi, chư thiên cũng có ngũ suy tướng hiện, có sanh tử, già chết. Rồi lại chán, muốn tu không còn sắc tướng nữa, tâm yên lặng, rộng lớn, không dao động, im hoài ở chỗ không có hình tướng.
Như vậy, sau tứ thiền có bát định: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ. Bốn từ này là vô sắc giới, không có hình tướng, không tưởng, không vô biên xứ nên tâm trống rỗng, vô cùng, vô tận, vô lượng, vô biên. Bây giờ cũng có những người tu thiền như vậy, ngồi thiền, tâm trùm khắp, im ru, không dao động, thích thú trong tâm đó, ở trong tâm đó – không vô biên xứ. Thức vô biên xứ là biết cùng khắp, rộng lớn, vô bờ cõi, cứ thiền quán về tâm thức như vậy hoài, trú bên trong, không ưa thích hình sắc, thế gian dục. Cứ trú bên trong, thích thú, khoan khoái, lạc thọ với nó. Vô sở hữu xứ là không có gì, trống không. Phi tưởng phi phi tưởng xứ là tưởng mà không phải là tưởng, tức tưởng đó cực kỳ vi tế, nhỏ nhiệm, cũng ở trong tâm tưởng đó.
Những người này không có sắc tướng, hình dáng, nhưng tuổi thọ khủng khiếp. Càng tế chừng nào càng sống lâu chừng đó, tuổi thọ dài, phước của người ta như vậy. Trong kinh Nikāya dùng từ bất định bất động nghiệp – nghiệp bất động của thiền định. Một số người không thích dục cũng không ưa thích sắc mà thích tâm bất động. Tại sao bên kia là bất động tâm giải thoát, bên này cũng tâm bất động lại ở vô sắc giới?
Bất động tâm giải thoát là thấy ngũ uẩn nhàm chán, ly tham ngũ uẩn, giải thích như vậy chúng ta mới hiểu được, giải mã được chỗ này. Bên này tu đến chỗ tâm định, bất động, vẫn còn sanh tử luân hồi. Tại sao? Vì không thấy ngũ uẩn, không biết sự tập khởi, đoạn diệt của ngũ uẩn, không biết bản chất của ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, không nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ đối với ngũ uẩn nên yêu thích, khoan khoái tâm thanh tịnh, tâm im ru, trống rỗng, thênh thang, cái biết trùm khắp, vô chỗ này biết là bản lai diện mục, là chân tâm, tự tánh. Về trong đó, trú trong đó hoài, vậy nếu chứng sẽ sanh lên cõi vô sắc giới. Người này an trú, thích thú, an lạc trong đó, rồi lại dính trong lạc thọ, dễ sợ không?
Sắc uẩn không dính nên lìa sắc nhưng lại sống trong tâm tưởng, thọ, thức, hành an tịnh, tưởng an tịnh, thọ an tịnh làm người ta tưởng đâu chứng đắc như mình học trong “Cửa vào bất tử”. Thật sự đó là sự lắng dịu, an tịnh của thọ, tưởng, hành, vô sắc. người này ưa cảm giác vui, thích thú, nhẹ nhàng, dễ chịu, an tịnh trong cõi vô sắc thì người này lại sanh vào cõi vô sắc giới, lạc thọ. Họ không nhìn thấy được ngũ uẩn, không biết và không thấy được bản chất của ngũ uẩn, cho đó là tâm mình, chân thật, cái tôi của mình, tự ngã, đại ngã, chân ngã, trong khi Đức Thế Tôn nói là vô ngã. Nhưng họ không chịu, họ không được nghe hoặc nghe mà không chấp nhận, nghĩ mình đã tu tới vô ngã rồi còn tu làm gì, tu phải có tôi, đặng tôi hưởng.
Có một vị cũng tu rất lâu rồi, vị này lên núi, khi đi bộ cùng nhau, vị này khen cảnh núi non, kiến trúc đẹp. Minh Thành thấy vị này tu lâu năm nên cũng chia sẻ pháp, nói “Nếu như con, con nhìn cảnh này, núi này, kiến trúc này, con ưa thích, tán thưởng hoài, vậy con bị dính mắc trong lạc thọ, mình phải quán cái này là vô thường, vô ngã, trống rỗng, không có gì là tôi, của tôi, không có gì hết”. Vị này nói: “Người ta tu cực khổ mấy chục năm, rồi dựng lên chùa, bây giờ có một chút cảm thọ vui này mà cũng không cho thì còn gì nữa thầy”
Minh Thành cười nhẹ nhàng, thấy rằng đó là chỗ vượt qua không được. Linh Quy Pháp Ấn này chính từ mồ hôi, nước mắt, công sức, thời gian, tâm lực, trí lực, sức lực mình dựng lên mà không cho mình thành tựu, cho mình hưởng, thấy cảm giác ngọt ngào, thích thú? Ái, lạc thọ, mà điều đó sẽ làm mình khổ. Như vị này nói, mình cực khổ bao nhiêu năm, gầy dựng nên Tam Bảo cũng nên cho mình một chút cảm giác vui thích, hưởng thụ trong nội tâm, cảm thọ của mình.
Cho nên chúng ta thấy sự tu theo đúng tinh thần Đức Phật dạy rất sâu sắc, như vậy mình mới diệt khổ được. Theo đúng lẽ thường tình, như vậy cũng bình thường thôi, mình làm nên thấy tự hào, vui với điều mình làm thành công. Nhưng không phải, bản ngã, lạc thọ. Đức Thế Tôn nói: “Đối với kẻ vô văn phàm phu, cảm giác vui giống như người đang bị trói buộc. Tới cảm giác khổ, không vui không khổ cũng đều giống như người đang bị trói buộc”
V. Quán từ bỏ - thoát ra
Nếu mình không khéo thoát ra, mình phải thoát ra từ trong suy nghĩ, không cho suy nghĩ đó tồn tại mình mới đuổi ra từ từ được. Mình nói không cho suy nghĩ nhưng nó vẫn khởi, mình phải đuổi từ từ nó mới hết. Còn mình chấp nhận nó, nó tăng trưởng, phát triển, do nó có gốc rễ, nó sẽ nảy mầm, hằng ngày sẽ càng lớn sự chấp thủ:
“Con tôi, tài sản tôi
Người ngu nghĩ như vậy,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?”
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Ở ngoài đời là nhà cửa, con cái, vợ chồng, trong đạo là chùa, đệ tử, huynh đệ, sư phụ. Nếu mình không thoát ra khỏi lạc thọ, tình cảm, tình nghĩa, tình ái này làm sao mình giải thoát cho nên phải quán từ bỏ, điều này thật tuyệt diệu, ngày nào cũng nhắc mà không nhớ để mà thực hành:
“Mẹ ơi niệm thầm trong tự tâm
Niệm bỏ hết đi cảnh vô thường
Niệm tâm lặng yên tâm dễ chịu
Niệm ngũ uẩn này không phải ta”
Đem câu đó đọc cho má nghe, gửi về bắt má học thuộc lòng, mà phải thực tập theo, tự thân mình cũng phải thực tập. Phải niệm, phải tự nhắc hoài, chùa này không phải của mình, thân này không phải của mình, cảnh này cũng không phải của mình, dù cho mình có làm ra nó, không phải tôi, không phải của tôi. Sắc uẩn này không phải tôi, không phải của tôi, chùa cũng là sắc uẩn, mà sắc là do tứ đại.
Tại sao mình dán chữ Linh Quy Pháp Ấn lên rồi đi đâu mình cũng nói lên Linh Quy, “ách giữa đàng mang vào cổ” làm gì? Nó trói cột trong tâm tưởng, cảm thọ của mình, thở ra, quán từ bỏ. Nhiều khi đi kinh hành, hãy niệm sắc tướng này từ bỏ, niệm tới đâu thọ phải sanh ra tới đó, sắc thân này từ bỏ. Có những cảm giác bên trong như tham, sân, dục, ái, bản ngã, cảm thọ này con nguyện từ bỏ.
Từ những hình bóng trong tâm sanh khởi người này, người nọ, người kia lên thì mình niệm những hình bóng, tưởng uẩn này, con nguyện từ bỏ, buông bỏ. Suy nghĩ lung tung lang tang bên trong, những suy nghĩ này, hành uẩn này con xin từ bỏ, buông bỏ, buông xả, quăng bỏ. Do nhận thức, thấy biết của mình, nhận thức này con xin từ bỏ, xả bỏ, buông bỏ. Đây không phải là tôi, là tự ngã của tôi, xin từ bỏ, cả ngũ uẩn này con xin từ bỏ, buông bỏ, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Chúng nó là vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, là đoạn diệt, là thứ không đáng để tham. Tham muốn, dính mắc trong đây là đau khổ, là thứ đáng từ bỏ, buông bỏ, xả bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ.
Như vậy là quán từ bỏ đối với ngũ uẩn, mỗi một quán mình lặp lại đối với ngũ uẩn. Có hai mươi lăm pháp quán, mỗi một pháp như vậy mình kết hợp với ngũ uẩn. Bây giờ quán vô thường, sẵn đây mình chia sẻ luôn để mình biết mà ứng dụng. Đầu tiên là quán vô thường, dù đi kinh hành hay ngồi thiền, hoặc lúc đang nằm, bất cứ lúc nào mình tác ý với xác thân này, hình dáng này, bao thịt, bị thịt, túi thịt này là thứ vô thường, biến đổi.
Hình hài này là thứ chắc chắn sẽ tiêu tan, tan ra, đó là quán tiêu vong. Hình hài này, thân xác này không đáng cho mình tham đắm, tham ái, tham muốn, tham dục. Đây là thứ không đáng để tham, tham chỉ có khổ, ưu não, mình tham đắm nó chỉ có buồn lo, bất an, sợ hãi. Đây là thứ không đáng để tham, đó là quán ly tham, nếu tham đắm vào nó mình sẽ đầy nước mắt, đau khổ, lo lắng, bất an và sợ hãi. Không có gì trong này để mà tham, đó là thứ nhơ nhớp, tanh hôi, bẩn thỉu này.
Không có gì đáng để cho mình tham, ái, quán ly tham, thân xác này, hình hài này sẽ chấm dứt, sẽ tiêu diệt, thân xác này sẽ đoạn diệt, chấm dứt trong một hơi thở bất cứ lúc nào, ở đâu. Bất cứ khi nào thân xác này sẽ chấm dứt mạng sống, sẽ đoạn diệt, chấm hết, chấm dứt, hoại diệt, rệu rã, tan nát, thành một thây chết, tử thi, sẽ thành những nấm mồ, nằm xuống huyệt, đưa vào nhà thiêu, lò thiêu, trở thành cát bụi, tro tàn, đó là quán đoạn diệt. Tiếp tục chúng ta quán từ bỏ về tính chất vô thường, tiêu tan của nó, về tính chất không đáng để tham muốn, rã nát, đoạn diệt của nó.
Cho nên, con nguyện xin từ bỏ, từ bỏ vóc dáng này, thể xác này, sắc uẩn này, đống da thịt, máu mủ này con nguyện từ bỏ, buông bỏ, xả bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ trong tâm con. Con từ bỏ ý nghĩ, xác thân này là con, của con, hình hài này là con, của con, vóc dáng này là tôi, của tôi. Nguyện xin từ bỏ suy nghĩ này, từ bỏ những cảm thọ vô thường này.
Nãy giờ chúng ta mới quán về phần sắc uẩn, năm pháp quán này ứng dụng cho cả năm uẩn. Thọ cũng vậy, mình an trú, quán cảm giác vui này, như khói mây, như bọt nước, dễ dàng tan biến vào hư không những cảm thọ vô thường, khói mây này. Những cảm thọ hư ảo này là vô thường, là tiêu tan, cảm thọ này sẽ tan, tan biến, tiêu vong, tiêu tan, tiêu diệt những cảm giác này là những thứ tiêu vong, tan biến, tan hoại, tan rã, những cảm thọ vui này không đáng cho mình tham. Mình tham nó nó sẽ trói cột mình, mình sẽ làm tôi đòi cho những cảm giác vui thích này.
Nó là thứ không đáng để tham, thích, muốn, nó chỉ là những hơi nước, bốc lên rồi sẽ tan, không có gì đáng tham muốn trong này, tìm cầu trong này. Những thứ này không đáng tham, nó sẽ chấm dứt, quán đoạn diệt cảm thọ này, cảm xúc, cảm giác này sẽ đoạn diệt, tan biến, chấm dứt. Cảm thọ này bản tính, bản chất của nó là đoạn diệt, chấm dứt, tiêu tan. Con nguyện từ bỏ cảm xúc, cảm giác, cảm thọ vui thích, thích thú này, lạc này, con nguyện từ bỏ, từ bỏ, từ bỏ, buông bỏ, xả bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ…
Đối với tưởng, hành, thức cũng vậy, mỗi một uẩn mình đều đưa năm pháp quán vào chiếu soi năm góc độ, năm tính chất. Tưởng cũng vậy, những hình bóng vô thường này, mình càng quán lâu, an trú lâu chừng nào càng tốt chừng đó, cho mình an trú trong những cảm giác đó. Những hình bóng trong tâm này là vô thường, ảo ảnh, tiêu tan, không đáng để dính mắc, tham đắm. Con nguyện từ bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ, buông bỏ những hình bóng này. Hãy tan biến khỏi tâm ta, cứ đuổi hoài, tác ý hoài như vậy, những thứ này từ từ sẽ giảm dần rồi tan biến, quét rác ra khỏi nhà mình.
Những suy nghĩ lầm thầm này là biến đổi, vô thường, hoại diệt, tính chất của nó là hư ảo, sẽ chấm dứt, không đáng cho mình ham thích, lưu luyến. Những suy nghĩ này đáng cho mình quăng bỏ, vứt bỏ, từ bỏ, xả bỏ, diệt tận, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta. Nhận thức này, những sự rõ biết này là vô thường, tan hoại, không phải thứ để ham thích, để nắm, để yêu, không phải ta, không phải của ta. Nó là pháp duyên sanh, pháp cấu tạo, lắp ráp, tan hoại, là thứ không đáng để tham, để thích, yêu, chấp thủ.
Con nguyện từ bỏ những sự rõ biết này, nhận thức này, sắc này, âm thanh này, mùi vị này, sự xúc chạm này, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức này. Không phải tôi, của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nó là pháp duyên sanh vô thường, đau khổ, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, trống không, đó là trò ảo thuật, ảo ảnh. Con nguyện từ bỏ sự rõ biết thọ, tưởng, hành, ý thức này, duyên sanh, vô thường, khổ, vô ngã.
Con xin từ bỏ, xả bỏ, buông bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ ngũ uẩn vô thường, đầy đau khổ, bất an, bệnh tật đầy lo lắng và sợ hãi này. Con xin từ bỏ ý nghĩ sắc này là con, của con, thọ này là con, của con, tưởng này, ý nghĩ về tưởng này là con, của con. Con xin từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ ý nghĩ, những suy nghĩ, hành này là con, của con. Con xin từ bỏ ý nghĩ nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức này, sự rõ biết này là con, của con. Con xin từ bỏ ý niệm này, vứt bỏ, quăng bỏ ý niệm này, xả bỏ, vứt bỏ ngũ uẩn vô thường, đau khổ, đầy bất an, lo lắng và sợ hãi này. Con nguyện xả bỏ, từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ!
Vì nắm chặt ngũ uẩn này mà bao nhiêu nước mắt của con đã chảy xuống. Vì nắm chặt hình hài này mà bao nhiêu đau khổ con phải gánh chịu. Vì con đam mê trong thân xác này mà bao nhiêu những sầu bi, ưu não đầy ngập cuộc đời con. Vì tham đắm trong những cảm thọ này mà cuộc đời con trở thành nô lệ, tôi đòi, kẻ phục dịch cho dục, cho tham ái. Vì con bị ám ảnh trong những hình bóng này mà con giống như thiêu thân, chết trong ánh đèn.
Vì con bị ám ảnh trong những hình bóng của nội tâm này mà con giống như những con ruồi chết trong những chén mật, giống như những con tằm kéo kén, càng buộc càng mệt, như bướm lau đèn tự thiêu, tự đốt. Vì con bị ám ảnh trong những hình bóng này mà phải sống đời sống thấp hèn, thấp kém, hạ liệt, xấu hổ, xấu xa, tội lỗi, nhục nhã, tàm quý.
Vì chấp thủ vô những suy nghĩ này mà con bị dẫn dắt trong năm dục, trong mê hồn trận của ái, tham. Vì con ngu mê, cho rằng những suy nghĩ này là con, của con nên bị vay hãm trong ma trận – trận của ác ma. Vì những suy nghĩ vô minh, tham ái, ngu si, mê muội, chấp ngã, sân hận này. Con đau khổ đến đây là đủ rồi, cũng quá vừa rồi, tràn ngập hết rồi. Nay con xin từ bỏ, xả bỏ, buông bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ.
Vì con tham đắm, chấp thủ trong nhận thức, rõ biết này, cho đây là con, của con, tự ngã của con, đây là ta, của ta, tự ngã của ta. Cho nên, con sanh tử trong vô lượng, vô biên, vô số kiếp trong nhận thức rõ biết này, trong ngôi nhà đại ảo thuật, huyễn hóa, huyễn ảo, huyễn ảnh, huyễn thức này mà con khổ đau, chìm đắm, lăn lóc, trôi nổi.
Ngày hôm nay con thấy rồi, nghe rồi, hiểu rồi, biết được sự thật đau đớn, oan nghiệt của dòng luân hồi này. Con nguyện xả bỏ, từ bỏ, buông bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ sự chấp thủ về ngũ uẩn này. Con nguyện từ bỏ khổ đau, bản ngã ác độc này, tham ái ngu si này, vô minh hắc ám này, sự chấp thủ trong năm uẩn, vô thường này. Con nguyện từ bỏ khổ đau! Con nguyện xả bỏ bản tự ngã ngu này, ác này, độc hại này, mê muội hắc ám này. Con nguyện từ bỏ khổ đau! Con nguyện xả bỏ những cảm thọ dục ái, tham muốn, thúc giục, đòi hỏi, thèm thuồng, khao khát này. Con nguyện xả bỏ, từ bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ khổ đau.
Đó là phương pháp để chúng ta thực tập năm pháp quán này, đối với lạc thọ, ngũ uẩn. Nhất là những vị đang bệnh, bất an trong đại dịch, bài quán này giúp ích cho chúng ta rất lớn. Đối với những người bình thường, tăng ni, Phật tử, tự thân chúng ta thực tập pháp này. Đây là những pháp quán sâu sắc, phải là những người có nhận diện năm uẩn, có trí tuệ căn bản về năm uẩn thực tập thiền quán mới thực tập được. Pháp này tương đối sâu sắc cho người có trí tuệ về năm uẩn.
Về nhân duyên trong bài này, sẵn chúng ta thực tập để làm bài mai mốt mở ra thiền quán, sẽ giúp cho tâm mình nhả ra, xả ra, quăng bỏ những tham đắm, chấp thủ. Ít nhất là trong khi mình thiền quán, mình nuôi lớn, tiếp tục quán như vậy sẽ giúp tâm mình buông, nhả, xả từ từ những tham ái, chấp thủ, thân kiến, tà kiến, vô minh, mê muội về tự thân, cảm thọ, về năm uẩn này.
Kính mong quý chư tăng ni Phật tử an trú và duy trì vào pháp quán này, lưu giữ nó trong cảm thọ càng dài càng tốt, xuyên suốt cho đến buổi học tiếp theo của ngày hôm sau.
Làm An Tâm Người Bệnh 8
Quán Chiếu Lạc Thọ - Quán Từ Bỏ Ngũ Uẩn
Thích Minh Thành
Ngày 05 tháng 09 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu cảm thọ - tham dục PAGEREF _Toc83975971 \h 1
II. Ái - tình PAGEREF _Toc83975972 \h 4
III. Cá thoát khỏi lưới PAGEREF _Toc83975973 \h 6
IV. Ràng buộc PAGEREF _Toc83975974 \h 9
V. Quán từ bỏ - thoát ra PAGEREF _Toc83975975 \h 12
I. Quán chiếu cảm thọ - tham dục
Kính bạch chư tăng ni và tất cả Phật tử, chúng ta đang chiêm nghiệm về ba cảm thọ. Khi mình chiêm nghiệm, suy xét, mình thấy trí tuệ của Đức Phật thật khủng khiếp, siêu việt, vượt ngoài hết tất cả thấy biết của chúng sanh nên mới gọi Ngài là vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hai chữ lạc thọ bao trùm hết cả mười ngàn thế giới. Nhiều khi mình cảm giác vui đó là bình thường, không có gì đặc biêt, mình tu thì sẽ nhiếp phục nó dễ thôi, nhưng không phải đơn giản như vậy. Lạc thọ - cảm giác vui sướng, vui vẻ, vui thích, vui nhộn, sung sướng, dễ chịu, êm ái, ngọt ngào đó, tất cả chúng sanh trong Tam giới đi ra không được, không biết đường ra.
Chúng ta đang quán về cảm giác vui sướng, mình nói về những ví dụ hết sức thông thường. Cái ăn, mình đã ra nổi chưa? Ngày nào cũng quán thọ thực nhưng thấy khủng khiếp không, chỉ món ăn thôi, một xíu cảm giác dễ chịu trên đầu lưỡi thôi nhưng tu bao nhiêu năm nay có đi ra nổi không? Nó rất ghê gớm chứ không phải chuyện đơn giản, bằng trí tuệ thông thường của mình, mình xem thường, nghĩ rằng có gì đâu, chỉ là miếng ăn.
Chúng ta thấy mới vừa rồi, trong khu cách ly F0, cả hàng ngàn người xô đẩy giành giật với nhau như kiến, đến ngã hàng rào. Ngay cả người tu, từ cư sĩ cho đến xuất gia, đối với miếng ăn có vượt qua, nhiếp phục nổi không? Cho nên chúng ta cần phải chiêm nghiệm hai chữ lạc thọ này, nó rất ghê gớm. Đó là mới nói thức ăn thô, bốc, cầm, nắm, nhai, là đoàn thực, ngoài ra còn có xúc thực, tư niệm thực, làm sao chúng sanh thấy nổi nếu không tu học Thánh trí huệ này?
Tứ thực tập khởi là do gì? Ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái là yêu thích. Trong sự tu của chúng ta, tuy mình tu chưa sâu, nhưng nhận thức mình phải biết, xem thường là chết ngay. Trong tất cả mọi góc độ của tu hành mà xem thường thì sẽ không thành tựu trí huệ, thiện pháp, sự nhiếp phục, sự tinh tấn, sự tăng thượng, hướng thượng của pháp đó. Bây giờ mình xem việc hút thuốc, để điếu thuốc phì phà nhưng nhiều khi tới chết bỏ không được. Đừng nói chi người đời, ngay cả người xuất gia cũng vậy.
Chúng ta thấy lạc thọ có ghê gớm không? Đó là thọ, hãy tu đi. Thậm chí biết nó là bệnh, đưa đến khổ đau, nguy hiểm, bệnh hoạn, thậm chí đến tính mạng những người bệnh mà bỏ không được. Thiếu nó là thiêu đốt tâm can, thậm chí trên gói thuốc có in: “Hút thuốc có hại cho sức khỏe” để hình lủng phổi, cháy phổi, nhưng hút vẫn hút, vẫn bán, vẫn buôn lậu. Chúng ta thấy không, đó là lạc thọ.
Bây giờ tới nhậu, không nói ai xa, trong nhà anh của Minh Thành, tới nỗi rượu đi vô trong não, té lên té xuống, trần trụi, té ngoài đường cũng không biết. Vợ con xem thường, bạn bè, thiên hạ khinh khi, khóc lóc, lạy sám hối, muốn tu, nhưng cuối cùng cũng bị cảm thọ lạc của con ma men, đi ra không nổi, mà mỗi lần uống vô là có chuyện. Làm cho cha mẹ đau khổ, cô bác, ông bà lo lắng, bất an, vợ con xấu hổ, nhục nhã, xóm làng… Thậm chí gây ra những việc hết sức nguy hiểm, nhưng đi ra lạc thọ đó nổi không? Nhiếp phục nó nổi không? Chúng ta thấy khủng khiếp không?
Chỉ một chút xíu men rượu thôi mà làm cho chúng sanh thê thảm, thảm hại, làm tai nạn, đau khổ, thống khổ, thậm chí sụp đổ hết những danh dự, địa vị. Chúng ta nhớ một người hết sức thành đạt, đang xỉn say rồi gặp đứa bé, sanh khởi dục vọng lên, có những hành vi, cử chỉ… Sau đó sụp đổ hết, thân bại danh liệt, đó chỉ là chút xíu cảm giác của men rượu.
Trong sinh hoạt cuộc sống, miếng ăn, điếu thuốc, rượu…tất cả những điều đó đều là cảm thọ; cái dục cũng vậy, rất khủng khiếp. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, mở màn câu đầu tiên Đức Phật nói:
“Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
(Kinh Tăng Chi Bộ - Tập I – Chương Một Pháp – I. Phẩm Sắc – Kinh Nữ sắc)
Đức Phật nói điều này trong bài đầu tiên nên chúng ta biết nó quan trọng cỡ nào. Xâm là xâm lấn, tiến vô, chiếm là chiếm lấy những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng, tiến công vô, xâm lấn, chiếm lấy trái tim, suy nghĩ, cảm giác….” sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
“Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”.
Tiếng nói, âm thanh đó rất ghê gớm, đó là lý do phải cắt cái xúc, độc cư, viễn ly. Mình thấy sống chung bình thường, không có gì nhưng nó ngấm ngầm bên trong, mình không thấy nó lậu hoặc, qua mặt mình từng chút mà mình không hay. Độ tín nhiệm và tĩnh giác mà quán chiếu cảm thọ của mình không đủ, tới khi hay đã lún sâu rồi, gỡ không được.
“Tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông”. Người đàn ông nhớ tiếng, âm thanh, tưởng đó, da diết trong âm thanh đó, về nhớ lại. Tất cả những điều đó đều tập trung trong thọ, xúc trong âm thanh, thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác sanh ra do tiếp xúc với âm thanh, do mức độ Chánh Niệm tỉnh giác của mình không rõ ràng, sâu sắc, tinh vi, tinh minh, tinh tường. Cho nên, những chỗ nhỏ nhiệm ngấm vô hồi nào mình không biết gọi là lậu hoặc. Giống như ngôi nhà bị dột nhưng mình không biết, tới khi nước chảy xuống là đã bị dột lâu lắm rồi. Mình không khéo quán chiếu tâm thì nó rò rỉ hồi nào không hay, tức lậu hoặc, nó ngấm vào, thấm vào.
“Ta không thấy một hương...một vị...một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương...vị.. xúc người đàn bà”
Phải quán chiếu rất nhiều, trí tuệ của Đức Phật thật khủng khiếp, siêu khủng, Ngài nhìn không còn sót chỗ nào, như vậy mới gọi là Toàn Giác, Chánh Biến Tri – là sự thấy biết chân chánh, phổ quát, cùng khắp, không sót chỗ nào. Ở trong tiếng nói, mùi hương đó, mà nhiều khi nói hôi rình mà cũng chết, mùi lạ, mùi của mấy người hôi nách, nghe thôi cũng thấy ớn, nhưng rồi cũng chết. “Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi” (ca dao), thiếu mùi hôi đó chịu không nổi, nó ghê gớm như vậy đó. Cái mùi độc địa đó xâm chiếm và ngự trị trái tim, khủng khiếp không?
Mà bây giờ cái dục đó càng mạnh hơn, không phải chỉ nam nữ, mà còn nam nam, nữ nữ, già, trẻ, bé, lớn gì cũng bất kể. Cái dục càng mạnh hơn, đi tới chỗ mạnh mẽ, mãnh liệt, chúng sanh càng đau khổ nhiều chừng đó, nước mắt càng chảy nhiều, máu chảy nhiều, sự thống khổ, khốc liệt mà chúng sanh càng phải chịu đựng nhiều chừng đó, vì cái dục càng ngày càng mãnh liệt.
Chúng ta thấy không, nam nữ thôi còn muốn chết, mà bây giờ còn rộng ra thêm những tình cảm khác. Lại phải dùng những chất trợ giúp, tăng lực, thuốc này thuốc kia, bóng cười, thuốc lắc, xì ke, ma túy… vô số những chất làm con người hưng phấn, dục vọng tăng thêm. Thời Đức Phật mà Ngài nói còn khó tu mà bây giờ tùm lum hơn nữa làm chúng sanh đắm chìm trong lạc thọ, cảm giác vui sướng, êm ái, chúng ta thấy khủng khiếp không?
Mình đã học kinh thì không được xem thường, nhiều khi chưa tu tới đâu nhưng phải thành tựu trí, mình biết còn con đường phía trước. Nếu mình nghĩ miếng ăn có chút xíu chứ đâu có gì quan trọng, ăn thì cứ bưng lên ăn, xuống quán thọ thực chứ làm sao phải khổ. Mình nghĩ theo kiểu phàm phu, nói thì cứ nói thôi chứ làm gì phải nói nhỏ, đi cứ việc đi thôi, cần gì phải nhìn xuống? Tất cả những điều đó là tâm buông lung, buông thả, buông lơi, buông trôi, phóng dật. Đó là kiết sử mà mình không biết, nó cũng là thọ, cái thọ nó muốn bung ra, thúc giục. Tất cả do thọ điều khiển, tưởng, hành đi theo, rồi xác này chỉ là công cụ, con rối của nó.
“Ta không thấy một hương...một vị...một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương...vị.. xúc người đàn bà”. Đọc một chút xíu cho chúng ta quán chiếu, đó mới chỉ là chương mở đầu trong Tăng Chi Bộ Kinh. Chữ tình này rất ghê gớm, khủng khiếp. Ở trong kinh không dùng chữ tình mà là chữ thọ, lạc thọ bao gồm tình cảm bên trong. Chữ tình chỉ thế gian dùng, vì nó không bao trùm được hết tất cả, nhưng chúng ta sẽ dùng những chữ dễ hiểu để quy kết trở về trí huệ của Đức Phật rất siêu khủng, siêu việt.
II. Ái - tình
Đức Phật nói dục và ái, chữ ái đó là tình, thế gian gọi tình ái, ái tình, tình cảm, tình yêu, tình nghĩa, tình thương… Tất cả những chữ tình đều có chữ ái ở trong kinh Nikāya. Chữ tình có tình trong và tình đục, tình ác bất thiện pháp và tình thiện pháp, đó đều là thọ, cảm xúc. Bây giờ mình thấy một chữ tình này làm cho chúng sanh…
Ngày xưa còn nhỏ xem phim kiếm hiệp, Lý Mạc Sầu có bài thơ nổi tiếng mà Minh Thành không nhớ từng chữ, chỉ nhớ ý, “Hỏi thế gian tình là chi”. Hỏi thế gian tình là cái gì mà khiến cho người ta sống chết có nhau, chết cũng chết chung, người này có thể hi sinh mạng sống cho người kia. Vậy chữ tình đó là gì? Nó là gì mà làm cho người ta ăn không được, ngủ không được, nhớ thương ngày đêm, tiều tụy, đau đớn, khổ sở, giày vò, hành hạ, đay nghiến, làm cho người ta sống không được chết không xong.
Chúng ta có nhớ chuyện “Kỳ duyên tái thế” cô thiên kim tiểu thơ đi chùa gặp thầy Ngọc Lâm làm hương đăng trên chánh điện, nhìn thấy viết chữ đẹp nên về bệnh tương tư. Như vậy tình này làm cho cô thiên kim tiểu thư này đau khổ đến bệnh. Ở ngoài đời người ta dùng từ cảm xúc hay xúc cảm, từ này ở trong kinh Nikāya, thế nào là cảm xúc, xúc cảm? Tiếp xúc tạo ra cảm giác, xúc thọ. Cảm xúc là cảm giác có được sau khi mình tiếp xúc, tức xúc sanh thọ, vì từ dùng khác nên mình thấy nó lạ.
Xúc cảm là mình sanh ra cảm giác, cảm thọ, cảm tình, xúc cảm là cảm xúc. Tình cảm là do mình tiếp xúc, cảm xúc, cảm thọ; từ cảm thọ đó tạo ra thương hay ghét, tình đó là sự thương ghét. Cho nên người ta hay gọi có cảm tình, do mình tiếp xúc với món đồ đó, người đó, mình thấy người này dễ thương, hiền lành, có cảm tình. Một lần, hai lần, năm lần, bảy lần, mười lần… mình cảm thọ, nhận cảm giác đó, nó đi vô, chất chứa bên trong, cho đến lúc sung mãn, xâm chiếm hết.
Trong kinh dùng từ “xâm chiếm và chế ngự”, nó chiếm trọn trong thọ, tưởng, hành, thức. Ngoài đời gọi là sa lưới tình, hoặc trúng mũi tên, tức sự tiếp xúc sanh ra cảm giác, mà cảm giác dễ chịu, phù hợp với những cái mình ưa thích, cứ vô hoài như vậy, riết rồi nó đầy trong này. Bên trong là thọ, tưởng, hành về đối tượng đó, món đồ đó, con người đó. Hận cũng giống như vậy, nó là hai mặt, bên kia lạc thọ, bên này khổ thọ. Lát nữa chúng ta quán chiếu khổ thọ, giờ mình đang nói về lạc thọ.
Yêu và hận là một, hai mặt của một bàn tay, lật qua lật lại, vì nó cũng đều là cảm thọ. Thương ghét, thân sơ, gần xa cũng y như thế.
“Tâm không còn dao động
Hai mặt của cuộc đời”
Mình quán cảm thọ rồi mới thấy thế gian này chỉ toàn hai mặt, vì bản chất ngũ uẩn như vậy, tính chất của thọ là vậy, làm sao bắt nó một mặt? Trừ những bậc thành tựu Chánh Kiến cho đến tẩy sạch các lậu hoặc, là không nói hai lời, thấy được tâm mình, sự thật. Cho nên chúng ta thấy xúc cảm, cảm xúc, cảm tình, tình ái, tình nghĩa, tình thương, tình thân… rất ghê. Phải nhìn ra được các trạng thái vận hành của các dòng cảm thọ, cảm xúc trong thân tâm mình, trong tùy hoàn cảnh, đối tượng, con người, sự việc, trạng huống của nó phải nhìn và thành tựu trí tuệ, nhìn sâu vào bên trong và quán chiếu. Nếu không chúng ta đều sẽ bị cảm thọ lừa.
Đó là chúng ta nói về tình cảm, tình dục, đi sâu vào trong thọ. Vì dục có bao nhiêu thọ? Có thọ do nhãn xúc sanh không? Có thọ do nhĩ xúc sanh không? Có thọ do tỷ xúc sanh không? Mũi ngửi mùi. Có thọ do thiệt xúc sanh không? Lưỡi! Có thọ do thân xúc sanh không? Có thọ do ý xúc sanh không? Nó đều dính hết, nên đó là điều khủng khiếp nhất. Cho nên Đức Thế Tôn mới nói trong việc tu không được như vậy, vì nó có sáu xúc. Một xúc làm mình muốn chết rồi, mà dính vào cái đó nó bao trùm hết: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Mình dãy dụa vô trong đó làm sao đi ra khỏi, nên chúng sanh dính vô lưới tình, càng dẫy dụa càng xiết chặt, vì toàn thân mình đã nằm trong rọ rồi.
III. Cá thoát khỏi lưới
Chúng ta có nhớ câu chuyện hai vị thầy đi đàm đạo với nhau, đi ngang có người đang chài lưới, bỗng nhiên có một con cá bị mắc vào lưới nhưng nó giẫy tung ra khỏi lưới. Một thầy nói: “Ồ, hay quá, giống người tu”. Vị kia nói: “Không, ở ngoài lưới mới hay!”, vị này trả lời lại: “Huynh chưa tu nên chưa hiểu”. Đi một chặng đường dài, vị này suy nghĩ ra, nói: “À, đệ hiểu rồi, cá nhảy khỏi lưới”. Người tu mình phải vùng vẫy ra, chúng ta có bài “Vùng vẫy thoát lưới ma” ở bên Ly Trần đảo hãy nghe lại bài đó.
Điều giỏi của con cá là ở trong lưới mà nó nhảy ra được. Trong thiền đường này cũng có người trong lưới nhảy ra, nhớ nhảy ra rồi hãy ra luôn, đừng quay trở lại. Tất cả những người xuất gia ở đây toàn là cá nhảy khỏi lưới hết, mình bị lưới tình, chữ tình này rộng lớn, bao trùm hết tất cả, tình yêu, tình cảm, tình thân, tình thương, tình nghĩa… Mà tất cả chữ tình này là thọ, mà thọ nhiều nhất là lạc thọ, những cảm giác dễ chịu.
Sa vô lưới tình thật ghê gớm, vô rồi ra không được, có giẫy giụa cũng nằm trong đó, trừ những người thấy biết được mới nhảy ra, nếu không sẽ nằm mãi bên trong lưới đó hết. Chúng ta thấy nó biến dạng của tình, của lạc thọ, tức ở ngoài là chữ tình, vợ chồng, cha con, anh em, bà cháu. Tại sao mình cứ nhớ, thương người đó? Mình nhớ những lúc tiếp xúc với người đó có những cảm giác dễ chịu. Ngoại thương, ngoại lo cho mình nên nhớ ngoại. Nếu không sống với cha mẹ mà sống với cô dì thì nhớ cô dì, vì mình được tiếp xúc nhiều, nhận được tình nghĩa, tình thương, tình thân. Đó là lạc thọ, chúng ta thấy dễ sợ không?
Nhiều khi mình phớt qua, nghĩ quán lạc thọ, quán khổ thọ, quán bất khổ bất lạc thọ, quán vô thường là xong. Không phải! Đức Phật nói khẩu quyết, nhưng chúng ta phải từ chỗ đó mà nghiền ngẫm ra đương sự, đương nhân, những trạng huống, hoàn cảnh nào đó của chính mình, mình phải dùng Thánh trí huệ này soi vô mới ra pháp, pháp đó mới hiển lộ. Nếu không, điều mình học chỉ là học chữ nghĩa, không thấy sự thật.
Ví như bây giờ thấy nhớ ngoại, thương ngoại quá, không tu được thì mình bị điều gì? Nói theo thế gian là tình cảm, tình thân, nói theo trong đạo là hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, cảm giác. Nói sâu xa hơn là lạc thọ, những cảm giác ấm áp, dễ chịu mà ngoại đã cho mình. Mình bị cảm giác đó trói cột, nên không tu được. Mình tu mà cứ nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ dì, cô, nhớ con, vợ chồng, bạn, huynh đệ… đều là thọ. Nói theo thế gian là tình thân, tình thương, tình cảm, tình nghĩa nhưng nói theo kinh Nikāya là phơi bày những gì bị che kín, lạc thọ, đi ra không được.
Mới chỉ phơi bày lạc thọ có một chút mà chúng ta thấy ghê không? Thủ phạm của tất cả mọi vấn đề, “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, nên có mấy Phật tử bình luận rằng ông thọ này rất ghê gớm. Ông rất già, ngàn vạn tuổi, vô lượng tuổi, vô thỉ luân hồi, tức mình luân hồi với ông thọ. Vô minh, tham ái là ông thọ, ông là ông cố tổ, tức là lạc thọ này. Bị dính mắc điều này mình không tu, không tiến được, không cắt được, không thoát được, không viễn ly, ly tham được.
Mình nhớ hình bóng, những cảm thọ đó, suy nghĩ lòng vòng, cứ ám ảnh hình bóng, cảm giác đó. Tình dục, tình ái, tình cảm, tình thương, tình thân, tình nghĩa đều là thọ. Người ta nói con người là loài hữu tình, phải có tình, chính vì chữ tình đó, chữ tình trong kinh Nikāya, những từ ở thế gian đều từ trong này ra hết. Hữu tình là có tình thương, tình thức, chữ tình là thọ, tưởng, hành, thức. Chữ tình này mình đào sâu xuống, nói gọn lại là thọ, cảm xúc.
Giờ đây chúng ta đã thành khúc cây rồi, không có cảm giác gì nữa, nhưng chỗ đặc biệt của người tu giỏi, tu khá, khéo quán chiếu, nhiếp phục cảm thọ là không phải khúc cây. Vì khúc cây là vô tri, nhưng cũng không phải thường tình của hữu tình chúng sanh, đây mới là chỗ bậc Đa văn Thánh đệ tử thành tựu. Có hai thái cực, một thái cực vô tình vô nghĩa, không biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, không tri ơn, không có gì cả, vong ơn bội nghĩa. Hay tu thành tảng đá, khúc cây?
Không phải! Một trạng thái tối ngày cứ tình nghĩa, thương nhớ hoài như phàm phu. Chúng ta thấy không? Có hai thái cực. Còn người tu Đa văn Thánh đệ tử là vuốt lên trên, không bị các tình đó trói cột, nhìn thấu bản chất của nó vô thường, khổ đau, bản ngã. Cho nên chúng ta có năm phép quán, mà hôm qua học, thứ nhất là quán gì? Quán vô thường, tiêu vong, ly tham, đoạn diệt, năm khía cạnh của cảm thọ trong bài kinh mà Đức Phật dạy mình. Năm góc độ của cảm thọ đó, nó là thứ vô thường, tan hoại, thứ không đáng để tham muốn, thứ biến diệt, thứ đáng phải biết bỏ. Mình cứ đeo điều đó hoài, khổ đau hoài làm sao giúp người khác hết khổ, làm sao mình hết khổ? Mà đó là thứ làm ra đau khổ, bây giờ mình ôm chặt vô trong đó làm sao hết khổ. Mình không hết khổ làm sao giúp người ta hết khổ?
Cho nên, người tu mình phải nhiếp phục từ ăn, mặc, ngủ, những thứ trong đời sống cho đến cái dục, tình thân, tình thương, tình cảm, tình nghĩa đều phải có sự nhiếp phục. Phải nhìn sâu vào bản chất của nó, là vô thường. Bây giờ nhớ sư phụ hoài, khóc hoài, làm sao tu? Ở đây mà cứ nhớ sư phụ giờ già, gần chết rồi, bệnh không ai lo, cứ ngồi nhớ hoài như vậy rồi quán được không? Định được không?
Bây giờ cứ yên định đi, tu đi, thoát khỏi những điều đó mình mới giúp được sư phụ, huynh đệ. Còn nếu cứ nhớ hoài, điện thoại hỏi thăm, nhắn tin, viết thư gửi, làm sao mình tu tiến? Chúng ta thấy không? Cho nên tất cả những điều đó là hữu tình, những tình dục, tình cảm, tình ái, tình thân, tình thương, tình nghĩa, tình yêu, bao nhiêu thứ tình là lạc thọ. Ngay cả hận thù cũng là tình, mà tình của sân, thọ của sân. Một lát nữa, tùy theo thời gian chúng ta đi phần quán cảm thọ, khổ thọ.
Cho nên, người tu của chúng ta vượt thường tình là chỗ đó, thường tình là những điều nãy giờ nói. Chúng ta sống có tình có nghĩa, có hiếu, có ân, có đức nhưng không bị điều đó trói cột. Đó là chỗ sâu sắc của người tu, biết bằng trí tuệ, tuệ tri đối với các cảm thọ. Chúng ta nhìn xem, cái thọ này gây cho thế gian nhiều điều khủng khiếp, đắm chìm, đau đớn, khổ sở, tan nát hết. Một người leo lên nhảy cầu tự vận chết hay thắt cổ chết, vì lạc thọ. Họ nhớ lại những cảm xúc đó, giờ họ mất rồi, cha mẹ không đồng ý cho cưới, không cho thương nhau nữa, bắt tách đôi không cho gặp mặt nữa. Họ nhớ lạc thọ của quá khứ, bây giờ không chịu được, làm nó day dứt, giày xéo, đau khổ trong lòng, rồi nhảy cầu tự tử, không thì buộc dây thắt cổ, nhảy sông, nhảy lầu, đó là lạc thọ, bây giờ không được lạc thọ đó là khổ thọ.
Cho nên chúng ta thấy khổ thọ này thật vô thường, gian dối, hư ảo vô cùng. Trước khi gặp vẫn sống bình thường, nhưng sau đó không gặp được lại muốn chết, thọ này có phải rất ác độc không? Trước đó sống nhởn nhơ, vô tư, vui vẻ, không có gì hết, tự nhiên gặp một người để rồi sau đó không gặp nữa lại đòi chết? Xem thọ có phải khốn nạn không? Nó gây khốn đốn, hoạn nạn, làm cho người ta đau khổ, sầu não, bệnh tật, chết chóc, đó là ái, dục. Cho nên Đức Thế Tôn mới nói: “Này, các Tỳ-kheo, dục này vui ít khổ nhiều, là lời dối gạt, lời chào sáo rỗng của kẻ ngu, dục là vô thường, là khổ, vô ngã, biến hoại, trống không”, những ưu não bên trong càng nhiều hơn. Biết bao nhiêu những bài kinh trong Nikāya Đức Phật dạy dục làm cho tàn sát, lụn bại, làm chúng sanh khổ nên mình tu là ly dục.
Mà dục là gì? Dục là lạc thọ. Chúng ta thấy các pháp liên kết với nhau không trong khi mình tưởng thọ khác, dục khác. Lạc thọ này làm cho chúng sanh cả ba cõi điêu đứng, đau khổ không thể nói nổi, nhận chìm tất cả. Rồi từ từ chúng ta sẽ học hết chín mươi mấy kiến chấp của ngoại đạo trong kinh Phạm Bổng, thật khủng khiếp. Tu mà không thành tựu Chánh Kiến, không giải thoát sanh tử đều là thọ, ta ưa thích cảm giá đó, yên yên, lặng lặng, tịnh tịnh, thanh thanh, nghĩ rằng mình đã tới chỗ cứu cánh. Thọ thật khủng khiếp, vi tế, ngũ uẩn, ma trận này thật ghê gớm.
IV. Ràng buộc
Trở lại vấn đề, thọ làm cho người ta đau khổ, giày xéo, khi lớn lên mình sống vô tư, thoải mái, hồn nhiên, trong sáng, tự nhiên gặp một người nào đó mình lại đau khổ. Vì hình bóng người đó, những suy nghĩ của mình hoàn toàn xâm chiếm, chế ngự. Nhưng thế gian lại ca tụng điều đó, càng đau khổ nhiều chừng nào càng được ca tụng chừng đó, tình sử. Chúng ta thấy đó là vô minh, gây ra đau khổ, nó trói buộc con người một cách ghê gớm, trói tất cả ngũ uẩn. Nó trói buộc thân này, không được rời xa, dù làm nô lệ, nô tỳ cũng phải ở kế bên.
Có nhiều cảnh trong lịch sử hay trong truyện, người này thương cô quận chúa, bạn thời thanh mai trúc mã nhưng thân phận thấp kém, chơi chung mấy chục năm như vậy. Đúng ra sẽ làm nên sự nghiệp nhưng không, lại làm nô tỳ, người hầu hạ cho cô này suốt cuộc đời, tới lúc hy sinh, đem thân mạng này chết đi, nhưng vẫn cam lòng, cam tâm tình nguyện.
“Hỏi thế gian tình là gì” mà khiến đôi lứa sống chết có nhau hoặc chết vì người kia, đó là thọ. Vì sao? Từ nhỏ đến lớn chơi với nhau, thương thầm trong lòng, nhưng thân phận thấp hèn, trong khi người kia là quận chúa, công chúa hay thái tử gì đó, vương tử, hoàng tộc… đại khái như vậy. Còn mình thân thấp hèn, đi theo làm nô tỳ, tùy tùng. Những điều này nói ra có vô số kể, bút mực không chép nổi một chữ “tình”, còn biết bao nhiêu tình như yêu đơn phương, thầm thương trộm nhớ, khổ đau day dứt nhưng nói không được.
Chúng ta thấy thọ này có dễ sợ, ác độc không? Mà nói không được rất đau khổ, thậm chí nói được còn khổ, về ở chung còn khổ huống chi nói không được thì làm sao? Tất cả những điều đó đều là lạc thọ, ái và dục chế ngự và thống trị hết thế giới này, nên gọi là dục giới - thế giới của ái dục. Những người không nặng về ái dục lên cõi sắc giới ở, tâm thức họ không làm chuyện tào lao, thấp hèn đó. Họ không ưa thích tình ái, muốn đời sống thanh cao, cao thượng, họ không ở thế giới dục này mà ở trên cõi sắc, sắc giới.
Như vậy, không muốn điều này lại muốn điều khác, lại vẫn là thọ, nhưng thọ thanh, sạch còn đây là thọ trượt, thọ đục, dơ, dù vậy họ vẫn khổ. Thế giới của sắc giới, hình sắc vi tế giống như giấc chiêm bao của mình – sắc giới, chỉ có hình bóng, không có thân, thịt, máu, mủ, không tiểu tiện hôi dơ như mình, hóa sanh. Do phước đức tu tập, tâm từ hóa sanh lên thiên giới, các cõi trời sắc, tâm nhẹ nhàng không nặng về dục giống như thế giới này nhưng ưa thích hình sắc đẹp, ánh sáng. Họ phất tay áo, hiện lâu đài, bay đi tự tại, ý sanh thân, ví dụ chỉ ngọn núi, liền hóa núi vàng.
Họ thích thú với điều đó, do phước báu, công đức của họ mà có được, vì đã làm công đức, phước báu quá nhiều nên hưởng những điều đó, họ thích thú, khoan khoái trong phước đức họ tạo ra, lại dính mắc vào thọ. Chúng ta thấy không, thọ lạc đối với phước báu công đức mà người ta đã làm trong quá khứ. Bây giờ không thích thành sắc nữa, sắc giới đôi khi cũng mệt mỏi, thỉnh thoảng chư thiên và A-tu-la đánh nhau, có khi giành giật sắc, nhưng là cái sắc vi tế, không nặng về ái dục bên trong. Họ đánh nhau, giành quyền thống trị các cõi nên họ chán, mệt mỏi, chư thiên cũng có ngũ suy tướng hiện, có sanh tử, già chết. Rồi lại chán, muốn tu không còn sắc tướng nữa, tâm yên lặng, rộng lớn, không dao động, im hoài ở chỗ không có hình tướng.
Như vậy, sau tứ thiền có bát định: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ. Bốn từ này là vô sắc giới, không có hình tướng, không tưởng, không vô biên xứ nên tâm trống rỗng, vô cùng, vô tận, vô lượng, vô biên. Bây giờ cũng có những người tu thiền như vậy, ngồi thiền, tâm trùm khắp, im ru, không dao động, thích thú trong tâm đó, ở trong tâm đó – không vô biên xứ. Thức vô biên xứ là biết cùng khắp, rộng lớn, vô bờ cõi, cứ thiền quán về tâm thức như vậy hoài, trú bên trong, không ưa thích hình sắc, thế gian dục. Cứ trú bên trong, thích thú, khoan khoái, lạc thọ với nó. Vô sở hữu xứ là không có gì, trống không. Phi tưởng phi phi tưởng xứ là tưởng mà không phải là tưởng, tức tưởng đó cực kỳ vi tế, nhỏ nhiệm, cũng ở trong tâm tưởng đó.
Những người này không có sắc tướng, hình dáng, nhưng tuổi thọ khủng khiếp. Càng tế chừng nào càng sống lâu chừng đó, tuổi thọ dài, phước của người ta như vậy. Trong kinh Nikāya dùng từ bất định bất động nghiệp – nghiệp bất động của thiền định. Một số người không thích dục cũng không ưa thích sắc mà thích tâm bất động. Tại sao bên kia là bất động tâm giải thoát, bên này cũng tâm bất động lại ở vô sắc giới?
Bất động tâm giải thoát là thấy ngũ uẩn nhàm chán, ly tham ngũ uẩn, giải thích như vậy chúng ta mới hiểu được, giải mã được chỗ này. Bên này tu đến chỗ tâm định, bất động, vẫn còn sanh tử luân hồi. Tại sao? Vì không thấy ngũ uẩn, không biết sự tập khởi, đoạn diệt của ngũ uẩn, không biết bản chất của ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, không nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ đối với ngũ uẩn nên yêu thích, khoan khoái tâm thanh tịnh, tâm im ru, trống rỗng, thênh thang, cái biết trùm khắp, vô chỗ này biết là bản lai diện mục, là chân tâm, tự tánh. Về trong đó, trú trong đó hoài, vậy nếu chứng sẽ sanh lên cõi vô sắc giới. Người này an trú, thích thú, an lạc trong đó, rồi lại dính trong lạc thọ, dễ sợ không?
Sắc uẩn không dính nên lìa sắc nhưng lại sống trong tâm tưởng, thọ, thức, hành an tịnh, tưởng an tịnh, thọ an tịnh làm người ta tưởng đâu chứng đắc như mình học trong “Cửa vào bất tử”. Thật sự đó là sự lắng dịu, an tịnh của thọ, tưởng, hành, vô sắc. người này ưa cảm giác vui, thích thú, nhẹ nhàng, dễ chịu, an tịnh trong cõi vô sắc thì người này lại sanh vào cõi vô sắc giới, lạc thọ. Họ không nhìn thấy được ngũ uẩn, không biết và không thấy được bản chất của ngũ uẩn, cho đó là tâm mình, chân thật, cái tôi của mình, tự ngã, đại ngã, chân ngã, trong khi Đức Thế Tôn nói là vô ngã. Nhưng họ không chịu, họ không được nghe hoặc nghe mà không chấp nhận, nghĩ mình đã tu tới vô ngã rồi còn tu làm gì, tu phải có tôi, đặng tôi hưởng.
Có một vị cũng tu rất lâu rồi, vị này lên núi, khi đi bộ cùng nhau, vị này khen cảnh núi non, kiến trúc đẹp. Minh Thành thấy vị này tu lâu năm nên cũng chia sẻ pháp, nói “Nếu như con, con nhìn cảnh này, núi này, kiến trúc này, con ưa thích, tán thưởng hoài, vậy con bị dính mắc trong lạc thọ, mình phải quán cái này là vô thường, vô ngã, trống rỗng, không có gì là tôi, của tôi, không có gì hết”. Vị này nói: “Người ta tu cực khổ mấy chục năm, rồi dựng lên chùa, bây giờ có một chút cảm thọ vui này mà cũng không cho thì còn gì nữa thầy”
Minh Thành cười nhẹ nhàng, thấy rằng đó là chỗ vượt qua không được. Linh Quy Pháp Ấn này chính từ mồ hôi, nước mắt, công sức, thời gian, tâm lực, trí lực, sức lực mình dựng lên mà không cho mình thành tựu, cho mình hưởng, thấy cảm giác ngọt ngào, thích thú? Ái, lạc thọ, mà điều đó sẽ làm mình khổ. Như vị này nói, mình cực khổ bao nhiêu năm, gầy dựng nên Tam Bảo cũng nên cho mình một chút cảm giác vui thích, hưởng thụ trong nội tâm, cảm thọ của mình.
Cho nên chúng ta thấy sự tu theo đúng tinh thần Đức Phật dạy rất sâu sắc, như vậy mình mới diệt khổ được. Theo đúng lẽ thường tình, như vậy cũng bình thường thôi, mình làm nên thấy tự hào, vui với điều mình làm thành công. Nhưng không phải, bản ngã, lạc thọ. Đức Thế Tôn nói: “Đối với kẻ vô văn phàm phu, cảm giác vui giống như người đang bị trói buộc. Tới cảm giác khổ, không vui không khổ cũng đều giống như người đang bị trói buộc”
V. Quán từ bỏ - thoát ra
Nếu mình không khéo thoát ra, mình phải thoát ra từ trong suy nghĩ, không cho suy nghĩ đó tồn tại mình mới đuổi ra từ từ được. Mình nói không cho suy nghĩ nhưng nó vẫn khởi, mình phải đuổi từ từ nó mới hết. Còn mình chấp nhận nó, nó tăng trưởng, phát triển, do nó có gốc rễ, nó sẽ nảy mầm, hằng ngày sẽ càng lớn sự chấp thủ:
“Con tôi, tài sản tôi
Người ngu nghĩ như vậy,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?”
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Ở ngoài đời là nhà cửa, con cái, vợ chồng, trong đạo là chùa, đệ tử, huynh đệ, sư phụ. Nếu mình không thoát ra khỏi lạc thọ, tình cảm, tình nghĩa, tình ái này làm sao mình giải thoát cho nên phải quán từ bỏ, điều này thật tuyệt diệu, ngày nào cũng nhắc mà không nhớ để mà thực hành:
“Mẹ ơi niệm thầm trong tự tâm
Niệm bỏ hết đi cảnh vô thường
Niệm tâm lặng yên tâm dễ chịu
Niệm ngũ uẩn này không phải ta”
Đem câu đó đọc cho má nghe, gửi về bắt má học thuộc lòng, mà phải thực tập theo, tự thân mình cũng phải thực tập. Phải niệm, phải tự nhắc hoài, chùa này không phải của mình, thân này không phải của mình, cảnh này cũng không phải của mình, dù cho mình có làm ra nó, không phải tôi, không phải của tôi. Sắc uẩn này không phải tôi, không phải của tôi, chùa cũng là sắc uẩn, mà sắc là do tứ đại.
Tại sao mình dán chữ Linh Quy Pháp Ấn lên rồi đi đâu mình cũng nói lên Linh Quy, “ách giữa đàng mang vào cổ” làm gì? Nó trói cột trong tâm tưởng, cảm thọ của mình, thở ra, quán từ bỏ. Nhiều khi đi kinh hành, hãy niệm sắc tướng này từ bỏ, niệm tới đâu thọ phải sanh ra tới đó, sắc thân này từ bỏ. Có những cảm giác bên trong như tham, sân, dục, ái, bản ngã, cảm thọ này con nguyện từ bỏ.
Từ những hình bóng trong tâm sanh khởi người này, người nọ, người kia lên thì mình niệm những hình bóng, tưởng uẩn này, con nguyện từ bỏ, buông bỏ. Suy nghĩ lung tung lang tang bên trong, những suy nghĩ này, hành uẩn này con xin từ bỏ, buông bỏ, buông xả, quăng bỏ. Do nhận thức, thấy biết của mình, nhận thức này con xin từ bỏ, xả bỏ, buông bỏ. Đây không phải là tôi, là tự ngã của tôi, xin từ bỏ, cả ngũ uẩn này con xin từ bỏ, buông bỏ, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Chúng nó là vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, là đoạn diệt, là thứ không đáng để tham. Tham muốn, dính mắc trong đây là đau khổ, là thứ đáng từ bỏ, buông bỏ, xả bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ.
Như vậy là quán từ bỏ đối với ngũ uẩn, mỗi một quán mình lặp lại đối với ngũ uẩn. Có hai mươi lăm pháp quán, mỗi một pháp như vậy mình kết hợp với ngũ uẩn. Bây giờ quán vô thường, sẵn đây mình chia sẻ luôn để mình biết mà ứng dụng. Đầu tiên là quán vô thường, dù đi kinh hành hay ngồi thiền, hoặc lúc đang nằm, bất cứ lúc nào mình tác ý với xác thân này, hình dáng này, bao thịt, bị thịt, túi thịt này là thứ vô thường, biến đổi.
Hình hài này là thứ chắc chắn sẽ tiêu tan, tan ra, đó là quán tiêu vong. Hình hài này, thân xác này không đáng cho mình tham đắm, tham ái, tham muốn, tham dục. Đây là thứ không đáng để tham, tham chỉ có khổ, ưu não, mình tham đắm nó chỉ có buồn lo, bất an, sợ hãi. Đây là thứ không đáng để tham, đó là quán ly tham, nếu tham đắm vào nó mình sẽ đầy nước mắt, đau khổ, lo lắng, bất an và sợ hãi. Không có gì trong này để mà tham, đó là thứ nhơ nhớp, tanh hôi, bẩn thỉu này.
Không có gì đáng để cho mình tham, ái, quán ly tham, thân xác này, hình hài này sẽ chấm dứt, sẽ tiêu diệt, thân xác này sẽ đoạn diệt, chấm dứt trong một hơi thở bất cứ lúc nào, ở đâu. Bất cứ khi nào thân xác này sẽ chấm dứt mạng sống, sẽ đoạn diệt, chấm hết, chấm dứt, hoại diệt, rệu rã, tan nát, thành một thây chết, tử thi, sẽ thành những nấm mồ, nằm xuống huyệt, đưa vào nhà thiêu, lò thiêu, trở thành cát bụi, tro tàn, đó là quán đoạn diệt. Tiếp tục chúng ta quán từ bỏ về tính chất vô thường, tiêu tan của nó, về tính chất không đáng để tham muốn, rã nát, đoạn diệt của nó.
Cho nên, con nguyện xin từ bỏ, từ bỏ vóc dáng này, thể xác này, sắc uẩn này, đống da thịt, máu mủ này con nguyện từ bỏ, buông bỏ, xả bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ trong tâm con. Con từ bỏ ý nghĩ, xác thân này là con, của con, hình hài này là con, của con, vóc dáng này là tôi, của tôi. Nguyện xin từ bỏ suy nghĩ này, từ bỏ những cảm thọ vô thường này.
Nãy giờ chúng ta mới quán về phần sắc uẩn, năm pháp quán này ứng dụng cho cả năm uẩn. Thọ cũng vậy, mình an trú, quán cảm giác vui này, như khói mây, như bọt nước, dễ dàng tan biến vào hư không những cảm thọ vô thường, khói mây này. Những cảm thọ hư ảo này là vô thường, là tiêu tan, cảm thọ này sẽ tan, tan biến, tiêu vong, tiêu tan, tiêu diệt những cảm giác này là những thứ tiêu vong, tan biến, tan hoại, tan rã, những cảm thọ vui này không đáng cho mình tham. Mình tham nó nó sẽ trói cột mình, mình sẽ làm tôi đòi cho những cảm giác vui thích này.
Nó là thứ không đáng để tham, thích, muốn, nó chỉ là những hơi nước, bốc lên rồi sẽ tan, không có gì đáng tham muốn trong này, tìm cầu trong này. Những thứ này không đáng tham, nó sẽ chấm dứt, quán đoạn diệt cảm thọ này, cảm xúc, cảm giác này sẽ đoạn diệt, tan biến, chấm dứt. Cảm thọ này bản tính, bản chất của nó là đoạn diệt, chấm dứt, tiêu tan. Con nguyện từ bỏ cảm xúc, cảm giác, cảm thọ vui thích, thích thú này, lạc này, con nguyện từ bỏ, từ bỏ, từ bỏ, buông bỏ, xả bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ…
Đối với tưởng, hành, thức cũng vậy, mỗi một uẩn mình đều đưa năm pháp quán vào chiếu soi năm góc độ, năm tính chất. Tưởng cũng vậy, những hình bóng vô thường này, mình càng quán lâu, an trú lâu chừng nào càng tốt chừng đó, cho mình an trú trong những cảm giác đó. Những hình bóng trong tâm này là vô thường, ảo ảnh, tiêu tan, không đáng để dính mắc, tham đắm. Con nguyện từ bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ, buông bỏ những hình bóng này. Hãy tan biến khỏi tâm ta, cứ đuổi hoài, tác ý hoài như vậy, những thứ này từ từ sẽ giảm dần rồi tan biến, quét rác ra khỏi nhà mình.
Những suy nghĩ lầm thầm này là biến đổi, vô thường, hoại diệt, tính chất của nó là hư ảo, sẽ chấm dứt, không đáng cho mình ham thích, lưu luyến. Những suy nghĩ này đáng cho mình quăng bỏ, vứt bỏ, từ bỏ, xả bỏ, diệt tận, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta. Nhận thức này, những sự rõ biết này là vô thường, tan hoại, không phải thứ để ham thích, để nắm, để yêu, không phải ta, không phải của ta. Nó là pháp duyên sanh, pháp cấu tạo, lắp ráp, tan hoại, là thứ không đáng để tham, để thích, yêu, chấp thủ.
Con nguyện từ bỏ những sự rõ biết này, nhận thức này, sắc này, âm thanh này, mùi vị này, sự xúc chạm này, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức này. Không phải tôi, của tôi, không phải tự ngã của tôi. Nó là pháp duyên sanh vô thường, đau khổ, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, trống không, đó là trò ảo thuật, ảo ảnh. Con nguyện từ bỏ sự rõ biết thọ, tưởng, hành, ý thức này, duyên sanh, vô thường, khổ, vô ngã.
Con xin từ bỏ, xả bỏ, buông bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ ngũ uẩn vô thường, đầy đau khổ, bất an, bệnh tật đầy lo lắng và sợ hãi này. Con xin từ bỏ ý nghĩ sắc này là con, của con, thọ này là con, của con, tưởng này, ý nghĩ về tưởng này là con, của con. Con xin từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ ý nghĩ, những suy nghĩ, hành này là con, của con. Con xin từ bỏ ý nghĩ nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức này, sự rõ biết này là con, của con. Con xin từ bỏ ý niệm này, vứt bỏ, quăng bỏ ý niệm này, xả bỏ, vứt bỏ ngũ uẩn vô thường, đau khổ, đầy bất an, lo lắng và sợ hãi này. Con nguyện xả bỏ, từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ!
Vì nắm chặt ngũ uẩn này mà bao nhiêu nước mắt của con đã chảy xuống. Vì nắm chặt hình hài này mà bao nhiêu đau khổ con phải gánh chịu. Vì con đam mê trong thân xác này mà bao nhiêu những sầu bi, ưu não đầy ngập cuộc đời con. Vì tham đắm trong những cảm thọ này mà cuộc đời con trở thành nô lệ, tôi đòi, kẻ phục dịch cho dục, cho tham ái. Vì con bị ám ảnh trong những hình bóng này mà con giống như thiêu thân, chết trong ánh đèn.
Vì con bị ám ảnh trong những hình bóng của nội tâm này mà con giống như những con ruồi chết trong những chén mật, giống như những con tằm kéo kén, càng buộc càng mệt, như bướm lau đèn tự thiêu, tự đốt. Vì con bị ám ảnh trong những hình bóng này mà phải sống đời sống thấp hèn, thấp kém, hạ liệt, xấu hổ, xấu xa, tội lỗi, nhục nhã, tàm quý.
Vì chấp thủ vô những suy nghĩ này mà con bị dẫn dắt trong năm dục, trong mê hồn trận của ái, tham. Vì con ngu mê, cho rằng những suy nghĩ này là con, của con nên bị vay hãm trong ma trận – trận của ác ma. Vì những suy nghĩ vô minh, tham ái, ngu si, mê muội, chấp ngã, sân hận này. Con đau khổ đến đây là đủ rồi, cũng quá vừa rồi, tràn ngập hết rồi. Nay con xin từ bỏ, xả bỏ, buông bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ.
Vì con tham đắm, chấp thủ trong nhận thức, rõ biết này, cho đây là con, của con, tự ngã của con, đây là ta, của ta, tự ngã của ta. Cho nên, con sanh tử trong vô lượng, vô biên, vô số kiếp trong nhận thức rõ biết này, trong ngôi nhà đại ảo thuật, huyễn hóa, huyễn ảo, huyễn ảnh, huyễn thức này mà con khổ đau, chìm đắm, lăn lóc, trôi nổi.
Ngày hôm nay con thấy rồi, nghe rồi, hiểu rồi, biết được sự thật đau đớn, oan nghiệt của dòng luân hồi này. Con nguyện xả bỏ, từ bỏ, buông bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ sự chấp thủ về ngũ uẩn này. Con nguyện từ bỏ khổ đau, bản ngã ác độc này, tham ái ngu si này, vô minh hắc ám này, sự chấp thủ trong năm uẩn, vô thường này. Con nguyện từ bỏ khổ đau! Con nguyện xả bỏ bản tự ngã ngu này, ác này, độc hại này, mê muội hắc ám này. Con nguyện từ bỏ khổ đau! Con nguyện xả bỏ những cảm thọ dục ái, tham muốn, thúc giục, đòi hỏi, thèm thuồng, khao khát này. Con nguyện xả bỏ, từ bỏ, quăng bỏ, vứt bỏ khổ đau.
Đó là phương pháp để chúng ta thực tập năm pháp quán này, đối với lạc thọ, ngũ uẩn. Nhất là những vị đang bệnh, bất an trong đại dịch, bài quán này giúp ích cho chúng ta rất lớn. Đối với những người bình thường, tăng ni, Phật tử, tự thân chúng ta thực tập pháp này. Đây là những pháp quán sâu sắc, phải là những người có nhận diện năm uẩn, có trí tuệ căn bản về năm uẩn thực tập thiền quán mới thực tập được. Pháp này tương đối sâu sắc cho người có trí tuệ về năm uẩn.
Về nhân duyên trong bài này, sẵn chúng ta thực tập để làm bài mai mốt mở ra thiền quán, sẽ giúp cho tâm mình nhả ra, xả ra, quăng bỏ những tham đắm, chấp thủ. Ít nhất là trong khi mình thiền quán, mình nuôi lớn, tiếp tục quán như vậy sẽ giúp tâm mình buông, nhả, xả từ từ những tham ái, chấp thủ, thân kiến, tà kiến, vô minh, mê muội về tự thân, cảm thọ, về năm uẩn này.
Kính mong quý chư tăng ni Phật tử an trú và duy trì vào pháp quán này, lưu giữ nó trong cảm thọ càng dài càng tốt, xuyên suốt cho đến buổi học tiếp theo của ngày hôm sau.