Ái Dục 6 - Bệnh Cùi Với Hố Than Hừng 2 - Kinh MAGANDIYA - Trung Bộ 2
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
ÁI DỤC 6
BỆNH CÙI VỚI HỐ THAN HỪNG 2
KINH MAGANDIYA - TRUNG BỘ 2
–Thích Minh Thành–
Hôm trước Đức Phật ví dụ người bị bệnh cùi lở loét, da thịt bị nứt nẻ, rỉ chảy máu mủ, nước vàng, toàn thân bị ghẻ lở, chảy máu, chảy mủ. Người này rất khó chịu vì cơn ngứa, bứt rứt vì cảm thọ đau nhức, người này phải cảm thọ cảm giác bức xúc khắp cơ thể. Trong một cơ thể đầy sự lở lói, rỉ chảy và có những con giòi trong vết thương sanh ra, đục khoét trên cơ thể, người này dùng móng tay cào cấu, gãi mạnh chừng nào thì càng đỡ ngứa chừng đó, nhưng đồng thời máu mủ, nước vàng lại càng chảy ra, càng thấy ngứa hơn nữa, thế là lại càng gãi mạnh hơn nữa, vết thương lại càng lở loét, vết thương lại hôi thối thêm trong sự đau đớn, nhức nhối, ngứa ngáy. Vì bị đau khổ như vậy nên họ cứ hơ vết thương vào đống lửa than, càng nóng chừng nào thì càng đỡ ngứa chừng đó, càng làm cho vết thương cháy, da thịt cháy, nước mủ vàng bốc lên mùi tanh tưởi, hôi thối, người này có cảm giác vừa khó chịu vừa sung sướng, khó chịu vì vết thương đau đớn, nhức nhối, sung sướng vì đỡ cơn ngứa rồi phản tưởng cho rằng vậy là sướng nhưng thật ra chỉ đỡ ngứa ngáy, đỡ đau nhức, và cứ như vậy, càng gãi chừng nào, càng hơ vết thương trên hố than hừng chừng nào thì miệng vết thương càng lở ra thêm, càng loét ra thêm, nứt ra thêm, chảy ra thêm, bất tịnh thêm rồi lại đau khổ thêm.
Đây là một hình ảnh mà Thế Tôn dạy để chúng ta thiền tập, tư duy, quán chiếu, chúng ta phải hiểu những tư tưởng tham dục, ái dục, dâm dục, ham muốn là bệnh cùi, đối tượng của tham muốn đó là hố than hừng, là đống lửa, những sắc dục, thanh dục, mùi vị, những sự xúc chạm là đống lửa, là hố than hừng, những tư duy, suy nghĩ ham muốn, yêu thích là bệnh cùi. Bệnh cùi là tự thân ở bên trong của người bệnh đó, còn đống lửa, hố than hừng là ở bên ngoài, người này đi tìm đống lửa, hố than hừng đó thì đống lửa, hố than hừng đó là đối tượng của tham muốn, chính là năm dục trưởng dưỡng.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
"Các dục được Thế Tôn ví dụ như một hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn". (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (VI). Người Chiến Sĩ (2))
Những lời ngon tiếng ngọt, những lời du dương trầm bổng, êm ái ngọt ngào, những lời làm mình nhớ nhung, xiêu lòng, làm tâm say đắm là hố than hừng, là đống lửa, những hương thơm, những vị ngon là hố than hừng, là đống lửa, những sự xúc chạm, đụng chạm xác thịt là hố than hừng, là đống lửa đang ngày đêm thiêu đốt kẻ hủi cùi, đang thiêu đốt hữu tình chúng sanh và cả chúng ta. Năm dục trưởng dưỡng là hố than hừng, thân xác của người mình cho là đẹp là hố than hừng, những món đồ mình cho là quý là hố than hừng, những cảnh vật tươi đẹp, hấp dẫn là hố than hừng, đất đai là hố than hừng, chiếc xe, căn nhà là ngọn lửa giết chết con người.
Mình phải có cái nhìn như vậy về năm dục trưởng dưỡng mới có thể ở núi rừng một mình, mới có thể thoát ra, rời xa được những tư duy, suy nghĩ, những cảm thọ, hình bóng thúc giục bên trong, nó cũng là bệnh cùi, là những vết thương nứt nẻ, chảy máu, mỗi lần những cảm giác, nghĩ tưởng đó sanh khởi lên thì phải tác ý "đây là bệnh, đang bị cùi hủi", "mày muốn chạy đi tìm hố hang hừng hay sao? Muốn chạy đi tìm đống lửa hay sao? Mình muốn làm con thiêu thân lao vào đó để bị đốt hay sao? Vui gì trong đó, sướng gì trong đó hỡi này tâm ngu si, u mê? Ngươi đã tỉnh ra chưa? Ngươi đi tìm cái gì trong đống lửa đó? Ngươi đi tìm cái gì trong căn nhà hỏa hoạn đó, trong thân xác vô thường, bất tịnh đó, trong cái ung nhọt chín lỗ đó? Hỡi này tâm si ám, ngu muội hãy tỉnh ra mau! Ngươi đã đi tìm cái hố than hừng này trong trăm ngàn vạn kiếp rồi, ngươi đã bị đốt cháy trong ngàn vạn năm qua, ngươi muốn làm kẻ cùi hủi mãi mãi chứ không muốn lành lặn hay sao?".
Mình thiền quán chủ đề này suốt cả tuần lễ, như vậy người bị cùi hơ vết thương vào đống lửa trong sự đau nhức, ngứa ngáy mà người này lại phản tưởng cho rằng như vậy là sướng, càng làm như vậy thì vết thương lại càng bị cháy, càng chảy ra nước vàng, máu mủ. Nếu càng chạy theo dục chừng nào thì dục ái càng tăng trưởng chừng đó, mình tưởng rằng mình tìm để thỏa mãn, để mình có rồi sẽ không muốn nữa nhưng không ngờ chỉ muốn thêm nữa, muốn hơn nữa vì thế chạy theo tham dục, tham ái nhiều chừng nào thì càng tăng trưởng dục thêm, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, càng bị tham muốn nóng bức đốt cháy nhưng vẫn không thỏa mãn, vẫn muốn đi tìm thêm cái mới. Vua chúa có hàng trăm cung tần mỹ nữ cũng không thỏa mãn, vẫn đi tìm thêm, rượu chè uống bao nhiêu cũng không thỏa mãn.
"- Này các Tỳ-kheo, hưởng thọ ba sự ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba?
Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, này các Tỷ kheo, không bao giờ thỏa mãn". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, Không Thỏa Mãn)
Càng chạy theo nó thì lại càng thấy thiếu thốn, càng khát khao, càng đòi hỏi nhiều thêm. Họ chỉ hài lòng khi có được món đồ đẹp đó, được thấy cảnh đẹp đó, có được con người đó, nghe được âm thanh ngọt ngào đó.
"Càng chạy theo dục chừng nào, thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, và họ chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do duyên năm dục trưởng dưỡng". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Họ chỉ thỏa mãn khi có được năm dục trưởng dưỡng, ngoài cái này ra họ không biết niềm vui nào khác cho nên tại sao chúng ta thường khuyến khích pháp hỷ, phải có niềm vui trong pháp, phải có niềm vui trong thiền định, phải có sự hoan hỉ trong tu học, công quả, phụng sự tam bảo đại chúng, niềm vui trong học pháp và thực hành pháp, nếu không chúng ta sẽ bị niềm vui của dục hấp dẫn, thu hút, lôi kéo nếu mình không có niềm vui trong pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt.
Một người bị cùi hủi gặp được bác sĩ trị cho hết bệnh, một ngày kia người này gặp một người khác cũng bị cùi, đang hơ vết thương đang đống lửa như họ lúc trước thì họ có mong trở lại như lúc trước khi được trị hết bệnh không? Đương nhiên là họ không mong muốn trở lại bệnh cùi như lúc trước, họ thấy sợ hãi, gớm ghê, không ham thích, người này chỉ muốn được hết bệnh, người này thấy mình không bị bệnh nữa, không phải hơ lửa nữa giống như được giải thoát, đi ra khỏi sự đau đớn, nhức nhối đó, không bao giờ người này muốn bị bệnh trở lại để hơ vết thương trên đống lửa nóng đỏ nữa, điều này chỉ cho các bậc đã ly dục, ly tham đối với các dục. Ví dụ thứ hai là người này đã hết bệnh rồi nhưng có hai người lực sĩ lôi kéo người này đến hố than hừng để hơ thì người này vật vã chống cự, không đồng ý vì đã hết bệnh, đối với những bậc đã ly dục, diệt tận tham ái mà gặp ngũ dục cũng như một người hết cùi nhìn lại người bị cùi đang hơ lửa.
Trong kinh ghi lại những ác ma biến thành các ma nữ đẹp đẽ trước mặt Thế Tôn và các vị Tỳ-kheo, còn đối với các vị Tỳ-kheo Ni thì biến thành những người nam cường tráng nhằm dụ dỗ các vị hoàn tục, còn trẻ mà đi tu rất uổng phí, nhưng đều thất bại vì các vị đã từ bỏ, không yêu thích cái thứ bất tịnh, hôi dơ này nữa.
"Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc, và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
-- Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta biến hình thành một trăm thiếu nữ.
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, sau khi biến hình thành một trăm thiếu nữ, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
-- Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), V. Những Người Con Gái)
"Ác ma muốn làm Tỳ-kheo Ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỳ-kheo Ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.
Tỳ-kheo Ni Alavikà suy nghĩ: 'Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo Ni Alavikà suy nghĩ: 'Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó'.
Tỳ-kheo Ni Alavikà biết được: 'Ðấy là Ác ma', liền nói lên bài kệ:
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo Ni Alavikà đã biết ta', nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni, I. Alavikhà)
Các vị đã thành tựu thấy năm dục trưởng dưỡng là hố than hừng, là đống lửa, người ta thấy tâm tham đắm, say mê, tham ái trong đó là bệnh cùi, bây giờ mình phải thực tập quán chiếu, suy tư thường xuyên giống như vậy vì các dục này rất khủng khiếp, phải đầu tư rất nhiều thiền quán để trị bệnh cùi trở thành người lành lặn, khỏe mạnh, an lạc. Chẳng lẽ cứ muốn làm người cùi đau khổ, nhức nhối lâu dài trong khi mình đã có vô thượng y vương, tức là Đức Thế Tôn và giáo pháp của ngài là bác sĩ và phương thuốc tuyệt diệu, đó là thần dược, thánh dược, pháp dược. Toa thuốc chính là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ, những pháp quán, cứ trị theo toa sẽ hết bệnh, mình có một vị sư phụ là vô thượng y vương, mình có toa thuốc thần diệu tối thượng trên thế giới mà mình không cố gắng để điều trị, để bệnh tật cùi hủi thì thật đáng thương cho nên cần cố gắng trị liệu, mỗi giờ ngồi thiền là giờ trị bệnh, mỗi giờ tư duy tác ý là giờ uống thuốc, cho đến lúc nào lành lặn hoàn toàn rồi nhìn lại quá khứ của mình và nhìn mọi người xung quanh sẽ thấy thương họ. Đó là chúng ta giải thích sơ lược hình ảnh người bệnh cùi với hố than hừng.
Thế Tôn hỏi Magandiya này có thấy ai chưa dứt tham dục mà được nội tâm an lạc, an tịnh hoàn toàn không? Các vị vua, các vị đại thần có đầy đủ ngũ dục thì tâm các vị ấy có được an tịnh không? Vị du sĩ này nói chưa thấy ai như vậy, Thế Tôn nói ngài cũng vậy, ngài chưa thấy một vị vua chúa, quan quyền nào có đầy đủ các dục lạc, sắc đẹp, tiền của, món ngon vật lạ mà những vị đó có nội tâm hoàn toàn lắng dịu, an tịnh, không tìm kiếm, khao khát nữa, ngược lại những người đó vẫn thấy thiếu thốn, vẫn tìm kiếm, vẫn thèm thuồng, khao khát. Đức Phật nói như vậy để mình thấy rằng người có đầy đủ các phương tiện về dục mà họ còn khao khát, thiếu thốn, thèm muốn thì huống hồ gì người thiếu thốn, nghèo khổ, đói khát, không có cái dục đó thì họ thèm muốn, khát ái biết bao nhiêu.
Chỉ có những vị nào thật sự biết được sự tập khởi của dục, sự đoạn diệt của dục, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của dục, vị đó sống với khát ái được đoạn trừ, nội tâm an tịnh thì những vị đó mới đoạn tận dục ái, diệt trừ sự nóng bức của dục, an trú với nội tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, không còn sự thúc giục, tham dục, tham đắm, say mê, thiếu thốn, đòi hỏi nữa, không còn sự thúc giục tức là một người lành lặn hoàn toàn hết bệnh.
"Rồi Thế Tôn, thời ấy nói lên cảm hứng ngữ như sau:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng,
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Không bệnh là lợi hơn hết, Niết-bàn là vui hơn hết, tám đúng là con đường duy nhất đưa đến an ổn và không chết.
"Khi được nghe vậy, du sĩ Magandiya bạch Thế Tôn:
-- Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Lời này được Tôn giả Gotama khéo nói:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Con cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, con cũng đã được nghe lời này, do các vị Tôn sư, đại Tôn sư các du sĩ đã nói:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, lời nói này lời nói kia phù hợp nhau.
-- Nhưng này Magandiya, điều mà Ông đã được nghe do các vị Tôn sư, đại Tôn sư các du sĩ đã nói:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Thế nào là không bệnh? Thế nào là Niết-bàn?
Khi được nói vậy, du sĩ Magandiya, tự lấy tay xoa bóp chân tay của mình và nói:
-- Thế nào là không bệnh, thưa Tôn giả Gotama? Thế nào là Niết-bàn, thưa Tôn giả Gotama? Tôi nay không bệnh, an lạc, không có bệnh tật gì ở tôi.
-- Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Người ấy nghe một người có mắt nói như sau: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh'. Và người ấy tìm tấm vải trắng. Rồi có một người khác đánh lừa người ấy với một tấm y thô, dính dầu và đất và nói: 'Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn'. Người ấy lấy tấm y ấy, sau khi lấy, đắp trên mình. Sau khi đắp trên mình, người ấy hoan hỉ thốt lên lời nói tự mãn: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh'. Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào? Kẻ sanh ra đã mù kia, do biết, do thấy, lấy tấm y thô, dính dầu và đất ấy để rồi sau khi lấy người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình; người ấy hoan hỉ thốt lên lời nói tự mãn: 'Thật tốt đẹp thay, tấm vải trắng xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh, hay là do lòng tin người có mắt?" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Ý đoạn kinh này là một người mù đắp lên tấm vải trắng trẻo, đẹp đẽ là do người này thấy được đây là tấm vải trắng đẹp hay do tin một người khác nói? Chắc chắn chỉ do tin thôi vì do bị mù, thế là bị gạt, người ta đưa tấm vải dơ cho đắp lên mà không biết, cứ nghĩ rằng đang đắp tấm vải trắng trẻo, sạch sẽ. Thế Tôn hỏi vị du sĩ do người mù này thấy biết do hay lòng tin vào người khác nói?
"-- Thưa Tôn giả Gotama, do không biết, không thấy, kẻ sanh ra đã mù kia lấy tấm y thô, dính dầu và đất ấy để rồi sau khi lấy, người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình, người ấy hoan hỉ thốt lên lời nói tự mãn: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh' là do lòng tin người có mắt.
-- Cũng vậy, này Magandiya, các du sĩ mù lòa, không có mắt, không biết không bệnh, không thấy Niết-bàn nhưng nói lên câu kệ này:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Vị Bà-la-môn Magandiya nghe câu kệ này từ những du sĩ khác cũng là những người mù lòa, không thấy, không biết, không có mắt. Họ không biết được thế nào là không bệnh, họ không thấy Niết-bàn như thế nào nhưng họ nói là do họ nghe rồi nói theo thôi, cũng như người bị mù nghe nói đây là tấm vải sạch đẹp, trắng trẻo thì biết vậy thôi chứ thật tế không thể thấy được tấm vải đó ra sao. Các du sĩ đó chỉ nghe nói rồi nói theo chứ họ không biết, không thấy thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn.
"Này Magandiya, câu kệ này trong thời quá khứ đã được các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử.
Và câu kệ ấy này được dần dần lan tràn đến dân chúng phàm phu. Nhưng này Magandiya, thân này trở thành bệnh khổ, trở thành cục bướu, trở thành mũi tên, trở thành bất hạnh, trở thành bệnh chướng và với thân trở thành bệnh khổ, trở thành cục bướu, trở thành mũi tên, trở thành bất hạnh, trở thành bệnh chướng này, Ông nói: 'Thưa Tôn giả Gotama, cái này là không bệnh ấy, cái này là Niết-bàn ấy'. Như vậy, này Magandiya, Ông không có Thánh nhãn ấy, với Thánh nhãn ấy Ông có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Đây là bài kệ đã được các Đức Phật trong thời quá khứ đã từng nói và được lan truyền trong nhân gian rồi mọi người tin và nói theo.
"-- Con có lòng tin Tôn giả Gotama như sau: 'Tôn giả Gotama có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Ở đây Đức Phật lập lại lời vị du sĩ kia nói bản thân ông khỏe, không có bệnh gì cả rồi ngài nói thân này là thứ sẽ trở thành bệnh khổ, là cục bướu, là mũi tên, cái thân đó là bất hạnh, là bệnh chướng vậy mà lại cho rằng thân đó không có bệnh, đó là vì ông du sĩ đó không có mắt Thánh, ông là kẻ mù lòa, chỉ khi nào có mắt Thánh mới biết thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn. Sau đó vị du sĩ này nói ông có lòng tin với Thế Tôn, xin Thế Tôn thuyết pháp để ông biết được thế nào là không bệnh thật sự, để ông thấy được Niết-bàn thật sự là gì.
"- Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Các bạn bè thân hữu, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ khoa mổ xẻ. Vị y sĩ khoa mổ xẻ này cho người ấy thuốc. Người ấy sau khi dùng thuốc, mắt không khởi lên, mắt không được sáng tỏ. Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào? Có phải vị thầy thuốc ấy cảm thấy mệt mỏi, phiền não không?
-- Thưa vâng, Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Magandiya, nếu Ta thuyết pháp cho Ông: 'Ðây là không bệnh ấy, đây là Niết-bàn ấy', và Ông không biết không bệnh, không biết Niết-bàn thời như vậy làm Ta mệt mỏi, làm Ta phiền não". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Nếu một người bị mù mời thầy thuốc đến trị bệnh nhưng do người này bị mù bẩm sinh không thể sáng mắt được, như vậy là làm cho thầy thuốc mệt mỏi, đem hết công sức, thuốc men trị nhưng bệnh quá nặng không thể trị được. Cũng vậy, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho vị du sĩ đây là không bệnh, đây là Niết-bàn mà vị ấy không biết không bệnh, không biết Niết-bàn sẽ làm Thế Tôn mệt mỏi, phiền não nên ngài không nói.
"-- Con có lòng tin Tôn giả Gotama như sau: 'Tôn giả Gotama có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Đây là chỗ rất khéo léo của Thế Tôn vì ngài thấy biết được tâm của người nghe, lòng tin phải chín muồi rồi ngài giảng giải ra là người này sẽ đắc pháp nhãn tịnh, thấy ngay chân lý, nhập Thánh quả, còn nếu lòng tin chưa đủ thì dù có nói đến đâu cũng không có tác dụng, không thể giúp cho họ bừng sáng Thánh nhãn được. Vị du sĩ này có năn nỉ cỡ nào cũng không được vì giống như người mù quá nặng, đến thầy thuốc giỏi cũng không thể trị được.
"-- Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Người ấy nghe một người có mắt nói như sau: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh', và người ấy đi tìm tấm vải trắng. Rồi có một người khác đánh lừa người ấy với một tấm y thô, dính dầu và đất và nói: 'Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn'. Người ấy lấy tấm y ấy. Sau khi lấy, người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình người ấy, các bạn bè thân hữu, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ khoa mổ xẻ. Vị y sĩ khao mổ xẻ này cho người ấy thuốc bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, cho thuốc qua lỗ mũi. Người ấy sau khi dùng thuốc, mắt được khởi lên, mắt được sáng tỏ. Với mắt được khởi lên, người ấy đoạn trừ tham dục đối với tấm y thô, dính dầu và dính đất kia, và người ấy có thể xem người kia là không phải bạn, có thể xem người kia là thù địch và nghĩ đến sát hại sinh mạng (của người kia): 'Thật sự trong một thời gian dài, Ta bị người này lường gạt, lừa dối, phỉnh gạt với tấm y thô, dính dầu và đất: 'Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Người mù này được bác sĩ điều trị bằng cách dùng "thuốc bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, cho thuốc qua lỗ mũi", sau khi được điều trị thì người này sáng mắt nên nhìn thấy tấm vải đó dơ bẩn, xấu xí chứ không phải tấm vải thanh tịnh, mịn màng như người kia nói, người mù sáng mắt này không còn xem người lừa gạt mình là bạn nữa, đó là kẻ lừa dối, kẻ dối trá. Trong một thời gian dài người mù này đã bị người kia lừa gạt cho khoác tấm vải thô, dơ, dính dầu.
"Cũng vậy, này Magandiya, nếu Ta thuyết pháp cho Ông: 'Ðây là không bệnh ấy, đây là Niết-bàn ấy', Ông có thể biết không bệnh, Ông có thể thấy Niết-bàn. Và với mắt được khởi lên cho Ông, lòng tham dục đối với năm thủ uẩn được đoạn trừ; và Ông có thể nghĩ như sau: 'Thật sự trong một thời gian dài, ta bị tâm này lường gạt, lừa dối, phỉnh gạt, chấp thủ sắc, ta đã chấp thủ, chấp thủ thọ, ta đã chấp thủ, chấp thủ tưởng, ta đã chấp thủ, chấp thủ các hành, ta đã chấp thủ, chấp thủ thức, ta đã chấp thủ. Do duyên chấp thủ ấy nơi ta, nên có hữu; do duyên hữu, có sanh; do duyên sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ Khổ uẩn'.
-- Con có lòng tin Tôn giả Gotama như sau: 'Tôn giả Gotama có thể thuyết pháp cho ta khiến ta có thể từ chỗ ngồi này đứng dậy, không còn mù nữa'.
-- Vậy này Magandiya, hãy thân cận các vị chân nhân. Này Magandiya, do Ông thân cận các vị chân nhân, thời này Magandiya, Ông sẽ được nghe diệu pháp. Này Magandiya, do Ông được nghe diệu pháp, thời này Magandiya, Ông sẽ sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp. Này Magandiya, do Ông sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp, thời này Magandiya, Ông sẽ tự mình biết, tự mình thấy: 'Ðây là những bệnh chướng, những cục bướu, những mũi tên. Ở đây, những bệnh chướng, những cục bướu, những mũi tên được trừ diệt, không có dư tàn. Do chấp thủ được diệt ở ta, nên hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được diệt trừ. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Khi con mắt pháp của vị du sĩ này được mở thì sự tham muốn của ông ấy với năm thủ uẩn được đoạn trừ, do sự nắm chặt vào năm uẩn không còn nữa nên sự yêu thích hiện hữu cũng chấm dứt, vì sự yêu thích hiện hữu chấm dứt nên không còn tái sanh nữa, vì không còn tái sanh nên không có già, chết, không có lo lắng, sầu đau, khổ não, tất cả đều được chấm dứt, đó là sự đoạn diệt toàn bộ đống khổ này. Thế Tôn nói hãy thân cận bậc chân nhân sẽ được nghe diệu pháp, do được nghe diệu pháp nên sẽ sống đúng chánh pháp và tùy thuận theo pháp, do sống đúng chánh pháp và tùy thuận theo pháp nên sẽ tự mình biết, tự mình thấy ngũ uẩn này là bệnh chướng, là cục bướu, mũi tên và những thứ này sẽ được trừ diệt hoàn toàn.
"Khi được nghe nói vậy, du sĩ Magandiya bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được các Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Con xin xuất gia với Tôn giả Gotama, con xin thọ đại giới" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Lúc đầu tiên du sĩ Magandiya nói Thế Tôn là người hủy diệt sự sống nhưng giờ lại xin xuất gia theo Thế Tôn chỉ sau một buổi đối thoại, hoàn toàn xoay chuyển nhận thức, nhận định của vị này.
"-- Này Magandiya, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các Tỳ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỳ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy các tánh con người sai biệt nhau". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Biệt trú nghĩa là ở riêng, phải ở riêng bốn tháng mới được thọ đại giới. Thế Tôn nói những người ở đạo khác muốn xuất gia phải ở riêng bốn tháng để các chư Tăng kiểm tra xem có thật sự muốn tu không, kiểm tra tư tưởng, nết hạnh. Ngoài ra Thế Tôn còn nói thêm ngài thấy tánh tình mỗi người là khác nhau.
"-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu những người xưa kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú, các Tỳ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới; thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các Tỳ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, hãy cho con thọ đại giới để thành Tỳ-kheo.
Và du sĩ Magandiya được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Magandiya ở một mình an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là mục đích của vô thượng Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa'. Tôn giả Magandiya hiểu biết như vậy.
Và Tôn giả Magandiya trở thành một vị A-la-hán nữa". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Sau khi vị du sĩ sống riêng bốn năm đã được thọ đại giới, tu hành tinh cần đã chứng đắc A-la-hán. Ở đây chúng ta thấy rằng người ta cũng nói đến không bệnh, cũng nói đến Niết-bàn nhưng chỉ là nghe rồi nói theo chứ không thực thấy, không thực biết, không thực chứng cho nên khi hỏi lại thì mập mờ, phải xin Đức Phật giải thích không bệnh và Niết-bàn có nghĩa là gì. Đức Phật ví dụ một người sanh ra đã mù, bị một người sáng mắt lừa gạt nói rằng đây là tấm vải trắng đẹp nên người mù cũng tưởng vậy rồi khoác tấm vải thô, dơ, dính dầu đó lên người rồi tự mãn, thích thú. Sau một thời gian người này được gia đình mới bác sĩ giỏi đến trị liệu cho sáng mắt, khi sáng mắt mới biết mình bị người kia lừa gạt trong một thời gian dài nên không xem người kia là bạn mà nhìn người kia thành kẻ thù, thậm chí muốn sát hại người kia. Đức Phật nói rằng trong một thời gian dài ta bị tâm này lừa dối, phỉnh gạt, ta chấp thủ vào năm uẩn, yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn cho nên ta bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Đầu tiên mù là ví dụ cho vô minh, tấm vải thô xấu mà nghĩ rằng sạch sẽ, mịn màng là ví dụ cho năm thủ uẩn, người mù yêu thích, tự mãn với tấm vải là tham ái, trong một thời gian dài bị tâm lừa gạt thì người này nghĩ rằng tâm này là bạn nhưng khi sáng mắt ra lại thấy tâm này là kẻ thù nên muốn giết tâm lừa lọc, dối trá này. Như vậy sanh ra đã mù là vô minh, có người sáng mắt nói rằng tấm vải này trắng lắm, đẹp lắm, sạch sẽ lắm nhưng đó lại là tấm vải dơ, dính dầu nhưng người mù này tưởng đây là tấm vải sạch đẹp cho nên khoác tấm vải lên người và tự mãn, thích thú, yêu thích trong đó thì đó là tham ái, vô minh, chấp thủ trong năm uẩn. Một thời gian dài đi đâu họ cũng mang tấm vải đó rồi khoan khoái, thích thú và chấp thủ trong đó, khi họ sáng mắt ra tức là họ có chánh kiến, trong kinh dùng từ Thánh nhãn, con mắt Thánh được mở ra. Trước khi sáng mắt thì người này cho kẻ kia là bạn nhưng khi sáng mắt thì kẻ lừa gạt đó là thù, kẻ đó chính là cái tâm thọ; tưởng; hành, đó là tâm điên đảo, cái tâm ở trong si mê, mù lòa, cái tâm ở trong bóng đêm, đến khi sáng mắt mới thấy bị gạt, lúc trước là yêu thích trong năm thủ uẩn.
Thân cận bậc chân nhân.
Nghe diệu pháp.
Sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp.
Tự mình thấy, tự mình biết năm uẩn là bệnh chướng, cục bướu, mũi tên.
Diệt trừ hoàn toàn sự chấp thủ.
Hữu diệt, sanh diệt.
Già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt thì toàn bộ khổ uẩn diệt.
Đây chính là trình tự của pháp vận hành, là con đường cầu đạo, học đạo và chứng đạo. Đầu tiên phải thân cận được với bậc chân nhân, gặp được chân nhân là nghe được diệu pháp vì đó là những người nắm giữ diệu pháp, khi nghe được diệu pháp thì phải sống theo pháp và thực hành theo pháp. Khi đã sống theo pháp, thực hành theo pháp thì tự mình sẽ thấy, tự mình sẽ biết năm uẩn này là bệnh chướng, là cục bướu, là mũi tên, không cần phải nghe ai nói nữa mà chính mình thấy biết. Khi mình đã thấy biết như vậy thì mình sẽ có một sự đoạn trừ nắm chặt vào trong năm uẩn, khi đoạn trừ sự chấp thủ thì yêu thích hiện hữu trong năm uẩn sẽ được chấm dứt, hữu ở đây chính là hữu ái, nghĩa là yêu thích sự hiện hữu trong hình thể (sắc) hay không có hình thể (vô sắc) trong tam giới. Có ba hình thức hiện hữu là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
"Này các Tỳ-kheo, có ba hữu này cần phải đoạn tận, cần phải được học tập trong học tập trong ba học pháp. Thế nào là ba hữu cần phải đoạn tận?
Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Ba hữu này cần phải đoạn tận.
Trong ba học pháp nào, cần phải học tập?
Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Trong ba học pháp này, cần phải học tập.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo đã đoạn tận ba hữu này, đã học tập trong ba học pháp này, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử do chơn chánh thực hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (X). Hữu)
Dục hữu là hình thức của dục giới, đó là thế giới của chúng ta và một số cõi trời, cõi dục. Sắc hữu là các cõi trời sắc. Vô sắc hữu là những cõi trời sống bằng tâm hữu, chẳng hạn như không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đó là hình thức hiện hữu mà không có sắc, gọi là vô sắc hữu, đó chính là tam giới, dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Như vậy sự hiện hữu này gồm ba thế giới nhưng mình đều yêu thích trong sự hiện hữu đó cho nên hữu đó chính là hữu ái, vì mình còn yêu thích trong sự hiện hữu đó cho nên mình mới sanh ra trong thế giới đó, mình yêu thích sự hiện hữu nào và tương ứng với nghiệp của mình thì sanh ra trong thế giới tương đồng đó nhưng nếu không còn yêu thích trong thế giới nào nữa thì điều kiện để làm mình sanh ra trong thế giới đó không có nữa cho nên sanh diệt, già, chết, khổ, ưu, não diệt.
Nếu thích trầm hương thì trầm hương đó sẽ có ở chỗ mình ở nếu mình có tiền, mình thích xe thì xe đó sẽ có nếu mình có điều kiện, mình thích bonsai thì chắc chắn những cây bonsai sẽ hiện hữu trong miếng đất, mảnh vườn, ngôi nhà của mình, khi thích cái gì mà cái nghiệp tương xứng thì cái đó sẽ biểu hiện ra cho nên chữ hữu này cực kì thâm sâu, rộng lớn và bao trùm cả tam giới, tam hữu. Đức Phật nói hễ có ái là có khổ, tức là yêu thích trong hình thức nào đó của ba cõi thì sẽ hiện hữu trong đó, còn các vị Đa văn Thánh đệ tử là thấy được những hình thức hiện hữu đó là bệnh chướng, là cục bướu, là mũi tên, chỉ có sự thoát ra, từ bỏ, ra khỏi những hình thức vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ đau đó mới đạt được hoàn toàn tịch tịnh, an lạc tối thượng của Niết-bàn cho nên Niết-bàn mới là tối thắng lạc, các ngài không còn yêu thích trong sự hiện hữu nên hữu diệt. Khi đã không còn yêu thích trong mọi hình thái hiện hữu thì các ngài không còn sanh ra trong hình thái đó nữa cho nên sanh diệt, không có sanh thì đương nhiên già, chết đoạn diệt.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ít phân có mùi hôi thối. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVIII. Phẩm Makkhali, Một Pháp)
Vì mọi sự hiện hữu đều là khổ đau nên các ngài không ưa thích tất cả những hình thái hiện hữu đó mà yêu thích sự tịch tịnh, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không dính mắc vào năm uẩn, như vậy gọi là hữu diệt nên sanh diệt, vì sanh diệt nên sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Chữ hữu này vô cùng thâm sâu và rộng lớn, ngày xưa Minh Thành học trong trường mười năm nhưng vẫn không hiểu chữ hữu này, thêm hữu ái vào nữa thì nghĩa lý sáng rực lên, nghĩa là yêu thích trong những hình thái hiện hữu, nếu thích ở núi thì mình có mặt trên núi, thích ở phố thì mình sẽ ở phố, nếu thích ở biển thì mình sẽ đi tìm chỗ ở gần biển, như vậy gọi là sự hiện hữu, muốn ăn bún riêu thì nấu bún riêu liên tục, muốn ăn chay thì đồ chay phải có trong nhà, khi duyên, phước và nghiệp tương thích thì nó sẽ hiện hữu, còn giờ không muốn những thứ đó nữa mà chỉ thích ngồi thiền cho nhẹ nhàng, an tịnh, không thích ăn đồ hải sản vì gây sát sanh thì những thứ đó không hiện hữu trong nhà, đó là hữu diệt, nghĩa là tôm, cua, cá, ghẹ không có mặt, thay vào đó là rau, củ, quả, đó cũng là sự hiện hữu nhưng là hiện hữu thanh tịnh. Các bậc Đa văn Thánh đệ tử là không ưa thích tất cả mọi hình thái của hiện hữu, tịch tịnh hoàn toàn. Do vì mình mù, không có trí tuệ nên mới bị năm thủ uẩn lừa gạt, mình lầm tưởng nó là sạch đẹp, thơm tho nên mình tham ái trong đó, một khi gặp được bậc chân nhân, bậc Thánh nhân giúp mở cho mình chánh kiến, Thánh nhãn làm sáng mắt ra thì mình biết rằng ngũ uẩn này là kẻ thù, là thứ làm mình phải sanh tử cho nên mình muốn giết nó, tức là mình chấm dứt sự sanh tử, đạt đến cảnh giới vô sanh của bậc A-la-hán. Từ lâu mình bị thọ; tưởng; hành lừa gạt nhưng bây giờ trí đã sáng lên không bị gạt nữa nên toàn bộ khổ uẩn này chấm dứt.
./.
ÁI DỤC 6
BỆNH CÙI VỚI HỐ THAN HỪNG 2
KINH MAGANDIYA - TRUNG BỘ 2
–Thích Minh Thành–
Hôm trước Đức Phật ví dụ người bị bệnh cùi lở loét, da thịt bị nứt nẻ, rỉ chảy máu mủ, nước vàng, toàn thân bị ghẻ lở, chảy máu, chảy mủ. Người này rất khó chịu vì cơn ngứa, bứt rứt vì cảm thọ đau nhức, người này phải cảm thọ cảm giác bức xúc khắp cơ thể. Trong một cơ thể đầy sự lở lói, rỉ chảy và có những con giòi trong vết thương sanh ra, đục khoét trên cơ thể, người này dùng móng tay cào cấu, gãi mạnh chừng nào thì càng đỡ ngứa chừng đó, nhưng đồng thời máu mủ, nước vàng lại càng chảy ra, càng thấy ngứa hơn nữa, thế là lại càng gãi mạnh hơn nữa, vết thương lại càng lở loét, vết thương lại hôi thối thêm trong sự đau đớn, nhức nhối, ngứa ngáy. Vì bị đau khổ như vậy nên họ cứ hơ vết thương vào đống lửa than, càng nóng chừng nào thì càng đỡ ngứa chừng đó, càng làm cho vết thương cháy, da thịt cháy, nước mủ vàng bốc lên mùi tanh tưởi, hôi thối, người này có cảm giác vừa khó chịu vừa sung sướng, khó chịu vì vết thương đau đớn, nhức nhối, sung sướng vì đỡ cơn ngứa rồi phản tưởng cho rằng vậy là sướng nhưng thật ra chỉ đỡ ngứa ngáy, đỡ đau nhức, và cứ như vậy, càng gãi chừng nào, càng hơ vết thương trên hố than hừng chừng nào thì miệng vết thương càng lở ra thêm, càng loét ra thêm, nứt ra thêm, chảy ra thêm, bất tịnh thêm rồi lại đau khổ thêm.
Đây là một hình ảnh mà Thế Tôn dạy để chúng ta thiền tập, tư duy, quán chiếu, chúng ta phải hiểu những tư tưởng tham dục, ái dục, dâm dục, ham muốn là bệnh cùi, đối tượng của tham muốn đó là hố than hừng, là đống lửa, những sắc dục, thanh dục, mùi vị, những sự xúc chạm là đống lửa, là hố than hừng, những tư duy, suy nghĩ ham muốn, yêu thích là bệnh cùi. Bệnh cùi là tự thân ở bên trong của người bệnh đó, còn đống lửa, hố than hừng là ở bên ngoài, người này đi tìm đống lửa, hố than hừng đó thì đống lửa, hố than hừng đó là đối tượng của tham muốn, chính là năm dục trưởng dưỡng.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
"Các dục được Thế Tôn ví dụ như một hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn". (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (VI). Người Chiến Sĩ (2))
Những lời ngon tiếng ngọt, những lời du dương trầm bổng, êm ái ngọt ngào, những lời làm mình nhớ nhung, xiêu lòng, làm tâm say đắm là hố than hừng, là đống lửa, những hương thơm, những vị ngon là hố than hừng, là đống lửa, những sự xúc chạm, đụng chạm xác thịt là hố than hừng, là đống lửa đang ngày đêm thiêu đốt kẻ hủi cùi, đang thiêu đốt hữu tình chúng sanh và cả chúng ta. Năm dục trưởng dưỡng là hố than hừng, thân xác của người mình cho là đẹp là hố than hừng, những món đồ mình cho là quý là hố than hừng, những cảnh vật tươi đẹp, hấp dẫn là hố than hừng, đất đai là hố than hừng, chiếc xe, căn nhà là ngọn lửa giết chết con người.
Mình phải có cái nhìn như vậy về năm dục trưởng dưỡng mới có thể ở núi rừng một mình, mới có thể thoát ra, rời xa được những tư duy, suy nghĩ, những cảm thọ, hình bóng thúc giục bên trong, nó cũng là bệnh cùi, là những vết thương nứt nẻ, chảy máu, mỗi lần những cảm giác, nghĩ tưởng đó sanh khởi lên thì phải tác ý "đây là bệnh, đang bị cùi hủi", "mày muốn chạy đi tìm hố hang hừng hay sao? Muốn chạy đi tìm đống lửa hay sao? Mình muốn làm con thiêu thân lao vào đó để bị đốt hay sao? Vui gì trong đó, sướng gì trong đó hỡi này tâm ngu si, u mê? Ngươi đã tỉnh ra chưa? Ngươi đi tìm cái gì trong đống lửa đó? Ngươi đi tìm cái gì trong căn nhà hỏa hoạn đó, trong thân xác vô thường, bất tịnh đó, trong cái ung nhọt chín lỗ đó? Hỡi này tâm si ám, ngu muội hãy tỉnh ra mau! Ngươi đã đi tìm cái hố than hừng này trong trăm ngàn vạn kiếp rồi, ngươi đã bị đốt cháy trong ngàn vạn năm qua, ngươi muốn làm kẻ cùi hủi mãi mãi chứ không muốn lành lặn hay sao?".
Mình thiền quán chủ đề này suốt cả tuần lễ, như vậy người bị cùi hơ vết thương vào đống lửa trong sự đau nhức, ngứa ngáy mà người này lại phản tưởng cho rằng như vậy là sướng, càng làm như vậy thì vết thương lại càng bị cháy, càng chảy ra nước vàng, máu mủ. Nếu càng chạy theo dục chừng nào thì dục ái càng tăng trưởng chừng đó, mình tưởng rằng mình tìm để thỏa mãn, để mình có rồi sẽ không muốn nữa nhưng không ngờ chỉ muốn thêm nữa, muốn hơn nữa vì thế chạy theo tham dục, tham ái nhiều chừng nào thì càng tăng trưởng dục thêm, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, càng bị tham muốn nóng bức đốt cháy nhưng vẫn không thỏa mãn, vẫn muốn đi tìm thêm cái mới. Vua chúa có hàng trăm cung tần mỹ nữ cũng không thỏa mãn, vẫn đi tìm thêm, rượu chè uống bao nhiêu cũng không thỏa mãn.
"- Này các Tỳ-kheo, hưởng thọ ba sự ở đời, không bao giờ thỏa mãn. Thế nào là ba?
Hưởng thọ ngủ nghỉ, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ rượu men rượu nấu, này các Tỳ-kheo, không bao giờ thỏa mãn. Hưởng thọ sự dâm dục giao hợp, này các Tỷ kheo, không bao giờ thỏa mãn". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, Không Thỏa Mãn)
Càng chạy theo nó thì lại càng thấy thiếu thốn, càng khát khao, càng đòi hỏi nhiều thêm. Họ chỉ hài lòng khi có được món đồ đẹp đó, được thấy cảnh đẹp đó, có được con người đó, nghe được âm thanh ngọt ngào đó.
"Càng chạy theo dục chừng nào, thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, và họ chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do duyên năm dục trưởng dưỡng". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Họ chỉ thỏa mãn khi có được năm dục trưởng dưỡng, ngoài cái này ra họ không biết niềm vui nào khác cho nên tại sao chúng ta thường khuyến khích pháp hỷ, phải có niềm vui trong pháp, phải có niềm vui trong thiền định, phải có sự hoan hỉ trong tu học, công quả, phụng sự tam bảo đại chúng, niềm vui trong học pháp và thực hành pháp, nếu không chúng ta sẽ bị niềm vui của dục hấp dẫn, thu hút, lôi kéo nếu mình không có niềm vui trong pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt.
Một người bị cùi hủi gặp được bác sĩ trị cho hết bệnh, một ngày kia người này gặp một người khác cũng bị cùi, đang hơ vết thương đang đống lửa như họ lúc trước thì họ có mong trở lại như lúc trước khi được trị hết bệnh không? Đương nhiên là họ không mong muốn trở lại bệnh cùi như lúc trước, họ thấy sợ hãi, gớm ghê, không ham thích, người này chỉ muốn được hết bệnh, người này thấy mình không bị bệnh nữa, không phải hơ lửa nữa giống như được giải thoát, đi ra khỏi sự đau đớn, nhức nhối đó, không bao giờ người này muốn bị bệnh trở lại để hơ vết thương trên đống lửa nóng đỏ nữa, điều này chỉ cho các bậc đã ly dục, ly tham đối với các dục. Ví dụ thứ hai là người này đã hết bệnh rồi nhưng có hai người lực sĩ lôi kéo người này đến hố than hừng để hơ thì người này vật vã chống cự, không đồng ý vì đã hết bệnh, đối với những bậc đã ly dục, diệt tận tham ái mà gặp ngũ dục cũng như một người hết cùi nhìn lại người bị cùi đang hơ lửa.
Trong kinh ghi lại những ác ma biến thành các ma nữ đẹp đẽ trước mặt Thế Tôn và các vị Tỳ-kheo, còn đối với các vị Tỳ-kheo Ni thì biến thành những người nam cường tráng nhằm dụ dỗ các vị hoàn tục, còn trẻ mà đi tu rất uổng phí, nhưng đều thất bại vì các vị đã từ bỏ, không yêu thích cái thứ bất tịnh, hôi dơ này nữa.
"Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc, và Tham dục đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
-- Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía một bên và suy nghĩ như sau: Sở thích của con người cao thấp khác nhau. Vậy chúng ta biến hình thành một trăm thiếu nữ.
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, sau khi biến hình thành một trăm thiếu nữ, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
-- Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), V. Những Người Con Gái)
"Ác ma muốn làm Tỳ-kheo Ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỳ-kheo Ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.
Tỳ-kheo Ni Alavikà suy nghĩ: 'Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo Ni Alavikà suy nghĩ: 'Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó'.
Tỳ-kheo Ni Alavikà biết được: 'Ðấy là Ác ma', liền nói lên bài kệ:
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo Ni Alavikà đã biết ta', nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo Ni, I. Alavikhà)
Các vị đã thành tựu thấy năm dục trưởng dưỡng là hố than hừng, là đống lửa, người ta thấy tâm tham đắm, say mê, tham ái trong đó là bệnh cùi, bây giờ mình phải thực tập quán chiếu, suy tư thường xuyên giống như vậy vì các dục này rất khủng khiếp, phải đầu tư rất nhiều thiền quán để trị bệnh cùi trở thành người lành lặn, khỏe mạnh, an lạc. Chẳng lẽ cứ muốn làm người cùi đau khổ, nhức nhối lâu dài trong khi mình đã có vô thượng y vương, tức là Đức Thế Tôn và giáo pháp của ngài là bác sĩ và phương thuốc tuyệt diệu, đó là thần dược, thánh dược, pháp dược. Toa thuốc chính là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ, những pháp quán, cứ trị theo toa sẽ hết bệnh, mình có một vị sư phụ là vô thượng y vương, mình có toa thuốc thần diệu tối thượng trên thế giới mà mình không cố gắng để điều trị, để bệnh tật cùi hủi thì thật đáng thương cho nên cần cố gắng trị liệu, mỗi giờ ngồi thiền là giờ trị bệnh, mỗi giờ tư duy tác ý là giờ uống thuốc, cho đến lúc nào lành lặn hoàn toàn rồi nhìn lại quá khứ của mình và nhìn mọi người xung quanh sẽ thấy thương họ. Đó là chúng ta giải thích sơ lược hình ảnh người bệnh cùi với hố than hừng.
Thế Tôn hỏi Magandiya này có thấy ai chưa dứt tham dục mà được nội tâm an lạc, an tịnh hoàn toàn không? Các vị vua, các vị đại thần có đầy đủ ngũ dục thì tâm các vị ấy có được an tịnh không? Vị du sĩ này nói chưa thấy ai như vậy, Thế Tôn nói ngài cũng vậy, ngài chưa thấy một vị vua chúa, quan quyền nào có đầy đủ các dục lạc, sắc đẹp, tiền của, món ngon vật lạ mà những vị đó có nội tâm hoàn toàn lắng dịu, an tịnh, không tìm kiếm, khao khát nữa, ngược lại những người đó vẫn thấy thiếu thốn, vẫn tìm kiếm, vẫn thèm thuồng, khao khát. Đức Phật nói như vậy để mình thấy rằng người có đầy đủ các phương tiện về dục mà họ còn khao khát, thiếu thốn, thèm muốn thì huống hồ gì người thiếu thốn, nghèo khổ, đói khát, không có cái dục đó thì họ thèm muốn, khát ái biết bao nhiêu.
Chỉ có những vị nào thật sự biết được sự tập khởi của dục, sự đoạn diệt của dục, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của dục, vị đó sống với khát ái được đoạn trừ, nội tâm an tịnh thì những vị đó mới đoạn tận dục ái, diệt trừ sự nóng bức của dục, an trú với nội tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, không còn sự thúc giục, tham dục, tham đắm, say mê, thiếu thốn, đòi hỏi nữa, không còn sự thúc giục tức là một người lành lặn hoàn toàn hết bệnh.
"Rồi Thế Tôn, thời ấy nói lên cảm hứng ngữ như sau:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng,
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Không bệnh là lợi hơn hết, Niết-bàn là vui hơn hết, tám đúng là con đường duy nhất đưa đến an ổn và không chết.
"Khi được nghe vậy, du sĩ Magandiya bạch Thế Tôn:
-- Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Lời này được Tôn giả Gotama khéo nói:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Con cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, con cũng đã được nghe lời này, do các vị Tôn sư, đại Tôn sư các du sĩ đã nói:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, lời nói này lời nói kia phù hợp nhau.
-- Nhưng này Magandiya, điều mà Ông đã được nghe do các vị Tôn sư, đại Tôn sư các du sĩ đã nói:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Thế nào là không bệnh? Thế nào là Niết-bàn?
Khi được nói vậy, du sĩ Magandiya, tự lấy tay xoa bóp chân tay của mình và nói:
-- Thế nào là không bệnh, thưa Tôn giả Gotama? Thế nào là Niết-bàn, thưa Tôn giả Gotama? Tôi nay không bệnh, an lạc, không có bệnh tật gì ở tôi.
-- Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Người ấy nghe một người có mắt nói như sau: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh'. Và người ấy tìm tấm vải trắng. Rồi có một người khác đánh lừa người ấy với một tấm y thô, dính dầu và đất và nói: 'Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn'. Người ấy lấy tấm y ấy, sau khi lấy, đắp trên mình. Sau khi đắp trên mình, người ấy hoan hỉ thốt lên lời nói tự mãn: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh'. Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào? Kẻ sanh ra đã mù kia, do biết, do thấy, lấy tấm y thô, dính dầu và đất ấy để rồi sau khi lấy người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình; người ấy hoan hỉ thốt lên lời nói tự mãn: 'Thật tốt đẹp thay, tấm vải trắng xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh, hay là do lòng tin người có mắt?" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Ý đoạn kinh này là một người mù đắp lên tấm vải trắng trẻo, đẹp đẽ là do người này thấy được đây là tấm vải trắng đẹp hay do tin một người khác nói? Chắc chắn chỉ do tin thôi vì do bị mù, thế là bị gạt, người ta đưa tấm vải dơ cho đắp lên mà không biết, cứ nghĩ rằng đang đắp tấm vải trắng trẻo, sạch sẽ. Thế Tôn hỏi vị du sĩ do người mù này thấy biết do hay lòng tin vào người khác nói?
"-- Thưa Tôn giả Gotama, do không biết, không thấy, kẻ sanh ra đã mù kia lấy tấm y thô, dính dầu và đất ấy để rồi sau khi lấy, người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình, người ấy hoan hỉ thốt lên lời nói tự mãn: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh' là do lòng tin người có mắt.
-- Cũng vậy, này Magandiya, các du sĩ mù lòa, không có mắt, không biết không bệnh, không thấy Niết-bàn nhưng nói lên câu kệ này:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Vị Bà-la-môn Magandiya nghe câu kệ này từ những du sĩ khác cũng là những người mù lòa, không thấy, không biết, không có mắt. Họ không biết được thế nào là không bệnh, họ không thấy Niết-bàn như thế nào nhưng họ nói là do họ nghe rồi nói theo thôi, cũng như người bị mù nghe nói đây là tấm vải sạch đẹp, trắng trẻo thì biết vậy thôi chứ thật tế không thể thấy được tấm vải đó ra sao. Các du sĩ đó chỉ nghe nói rồi nói theo chứ họ không biết, không thấy thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn.
"Này Magandiya, câu kệ này trong thời quá khứ đã được các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên:
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng.
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử.
Và câu kệ ấy này được dần dần lan tràn đến dân chúng phàm phu. Nhưng này Magandiya, thân này trở thành bệnh khổ, trở thành cục bướu, trở thành mũi tên, trở thành bất hạnh, trở thành bệnh chướng và với thân trở thành bệnh khổ, trở thành cục bướu, trở thành mũi tên, trở thành bất hạnh, trở thành bệnh chướng này, Ông nói: 'Thưa Tôn giả Gotama, cái này là không bệnh ấy, cái này là Niết-bàn ấy'. Như vậy, này Magandiya, Ông không có Thánh nhãn ấy, với Thánh nhãn ấy Ông có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Đây là bài kệ đã được các Đức Phật trong thời quá khứ đã từng nói và được lan truyền trong nhân gian rồi mọi người tin và nói theo.
"-- Con có lòng tin Tôn giả Gotama như sau: 'Tôn giả Gotama có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Ở đây Đức Phật lập lại lời vị du sĩ kia nói bản thân ông khỏe, không có bệnh gì cả rồi ngài nói thân này là thứ sẽ trở thành bệnh khổ, là cục bướu, là mũi tên, cái thân đó là bất hạnh, là bệnh chướng vậy mà lại cho rằng thân đó không có bệnh, đó là vì ông du sĩ đó không có mắt Thánh, ông là kẻ mù lòa, chỉ khi nào có mắt Thánh mới biết thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn. Sau đó vị du sĩ này nói ông có lòng tin với Thế Tôn, xin Thế Tôn thuyết pháp để ông biết được thế nào là không bệnh thật sự, để ông thấy được Niết-bàn thật sự là gì.
"- Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Các bạn bè thân hữu, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ khoa mổ xẻ. Vị y sĩ khoa mổ xẻ này cho người ấy thuốc. Người ấy sau khi dùng thuốc, mắt không khởi lên, mắt không được sáng tỏ. Này Magandiya, Ông nghĩ thế nào? Có phải vị thầy thuốc ấy cảm thấy mệt mỏi, phiền não không?
-- Thưa vâng, Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Magandiya, nếu Ta thuyết pháp cho Ông: 'Ðây là không bệnh ấy, đây là Niết-bàn ấy', và Ông không biết không bệnh, không biết Niết-bàn thời như vậy làm Ta mệt mỏi, làm Ta phiền não". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Nếu một người bị mù mời thầy thuốc đến trị bệnh nhưng do người này bị mù bẩm sinh không thể sáng mắt được, như vậy là làm cho thầy thuốc mệt mỏi, đem hết công sức, thuốc men trị nhưng bệnh quá nặng không thể trị được. Cũng vậy, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho vị du sĩ đây là không bệnh, đây là Niết-bàn mà vị ấy không biết không bệnh, không biết Niết-bàn sẽ làm Thế Tôn mệt mỏi, phiền não nên ngài không nói.
"-- Con có lòng tin Tôn giả Gotama như sau: 'Tôn giả Gotama có thể thuyết pháp cho ta để ta có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Đây là chỗ rất khéo léo của Thế Tôn vì ngài thấy biết được tâm của người nghe, lòng tin phải chín muồi rồi ngài giảng giải ra là người này sẽ đắc pháp nhãn tịnh, thấy ngay chân lý, nhập Thánh quả, còn nếu lòng tin chưa đủ thì dù có nói đến đâu cũng không có tác dụng, không thể giúp cho họ bừng sáng Thánh nhãn được. Vị du sĩ này có năn nỉ cỡ nào cũng không được vì giống như người mù quá nặng, đến thầy thuốc giỏi cũng không thể trị được.
"-- Này Magandiya, ví như người sanh ra đã mù, không thấy sắc đen hay sắc trắng, không thấy sắc xanh, không thấy sắc vàng, không thấy sắc đỏ, không thấy sắc đỏ tía, không thấy cái gì thăng bằng, không thăng bằng, không thấy các vì sao, không thấy mặt trăng, mặt trời. Người ấy nghe một người có mắt nói như sau: 'Thật tốt đẹp thay tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh', và người ấy đi tìm tấm vải trắng. Rồi có một người khác đánh lừa người ấy với một tấm y thô, dính dầu và đất và nói: 'Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn'. Người ấy lấy tấm y ấy. Sau khi lấy, người ấy đắp trên mình, sau khi đắp trên mình người ấy, các bạn bè thân hữu, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ khoa mổ xẻ. Vị y sĩ khao mổ xẻ này cho người ấy thuốc bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, cho thuốc qua lỗ mũi. Người ấy sau khi dùng thuốc, mắt được khởi lên, mắt được sáng tỏ. Với mắt được khởi lên, người ấy đoạn trừ tham dục đối với tấm y thô, dính dầu và dính đất kia, và người ấy có thể xem người kia là không phải bạn, có thể xem người kia là thù địch và nghĩ đến sát hại sinh mạng (của người kia): 'Thật sự trong một thời gian dài, Ta bị người này lường gạt, lừa dối, phỉnh gạt với tấm y thô, dính dầu và đất: 'Này bạn, đây là tấm vải trắng, xinh đẹp, không cấu uế, thanh tịnh cho bạn'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Người mù này được bác sĩ điều trị bằng cách dùng "thuốc bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, cho thuốc qua lỗ mũi", sau khi được điều trị thì người này sáng mắt nên nhìn thấy tấm vải đó dơ bẩn, xấu xí chứ không phải tấm vải thanh tịnh, mịn màng như người kia nói, người mù sáng mắt này không còn xem người lừa gạt mình là bạn nữa, đó là kẻ lừa dối, kẻ dối trá. Trong một thời gian dài người mù này đã bị người kia lừa gạt cho khoác tấm vải thô, dơ, dính dầu.
"Cũng vậy, này Magandiya, nếu Ta thuyết pháp cho Ông: 'Ðây là không bệnh ấy, đây là Niết-bàn ấy', Ông có thể biết không bệnh, Ông có thể thấy Niết-bàn. Và với mắt được khởi lên cho Ông, lòng tham dục đối với năm thủ uẩn được đoạn trừ; và Ông có thể nghĩ như sau: 'Thật sự trong một thời gian dài, ta bị tâm này lường gạt, lừa dối, phỉnh gạt, chấp thủ sắc, ta đã chấp thủ, chấp thủ thọ, ta đã chấp thủ, chấp thủ tưởng, ta đã chấp thủ, chấp thủ các hành, ta đã chấp thủ, chấp thủ thức, ta đã chấp thủ. Do duyên chấp thủ ấy nơi ta, nên có hữu; do duyên hữu, có sanh; do duyên sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ Khổ uẩn'.
-- Con có lòng tin Tôn giả Gotama như sau: 'Tôn giả Gotama có thể thuyết pháp cho ta khiến ta có thể từ chỗ ngồi này đứng dậy, không còn mù nữa'.
-- Vậy này Magandiya, hãy thân cận các vị chân nhân. Này Magandiya, do Ông thân cận các vị chân nhân, thời này Magandiya, Ông sẽ được nghe diệu pháp. Này Magandiya, do Ông được nghe diệu pháp, thời này Magandiya, Ông sẽ sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp. Này Magandiya, do Ông sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp, thời này Magandiya, Ông sẽ tự mình biết, tự mình thấy: 'Ðây là những bệnh chướng, những cục bướu, những mũi tên. Ở đây, những bệnh chướng, những cục bướu, những mũi tên được trừ diệt, không có dư tàn. Do chấp thủ được diệt ở ta, nên hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được diệt trừ. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này'". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Khi con mắt pháp của vị du sĩ này được mở thì sự tham muốn của ông ấy với năm thủ uẩn được đoạn trừ, do sự nắm chặt vào năm uẩn không còn nữa nên sự yêu thích hiện hữu cũng chấm dứt, vì sự yêu thích hiện hữu chấm dứt nên không còn tái sanh nữa, vì không còn tái sanh nên không có già, chết, không có lo lắng, sầu đau, khổ não, tất cả đều được chấm dứt, đó là sự đoạn diệt toàn bộ đống khổ này. Thế Tôn nói hãy thân cận bậc chân nhân sẽ được nghe diệu pháp, do được nghe diệu pháp nên sẽ sống đúng chánh pháp và tùy thuận theo pháp, do sống đúng chánh pháp và tùy thuận theo pháp nên sẽ tự mình biết, tự mình thấy ngũ uẩn này là bệnh chướng, là cục bướu, mũi tên và những thứ này sẽ được trừ diệt hoàn toàn.
"Khi được nghe nói vậy, du sĩ Magandiya bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được các Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Con xin xuất gia với Tôn giả Gotama, con xin thọ đại giới" (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Lúc đầu tiên du sĩ Magandiya nói Thế Tôn là người hủy diệt sự sống nhưng giờ lại xin xuất gia theo Thế Tôn chỉ sau một buổi đối thoại, hoàn toàn xoay chuyển nhận thức, nhận định của vị này.
"-- Này Magandiya, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các Tỳ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỳ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy các tánh con người sai biệt nhau". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Biệt trú nghĩa là ở riêng, phải ở riêng bốn tháng mới được thọ đại giới. Thế Tôn nói những người ở đạo khác muốn xuất gia phải ở riêng bốn tháng để các chư Tăng kiểm tra xem có thật sự muốn tu không, kiểm tra tư tưởng, nết hạnh. Ngoài ra Thế Tôn còn nói thêm ngài thấy tánh tình mỗi người là khác nhau.
"-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu những người xưa kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú, các Tỳ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới; thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các Tỳ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, hãy cho con thọ đại giới để thành Tỳ-kheo.
Và du sĩ Magandiya được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Magandiya ở một mình an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là mục đích của vô thượng Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa'. Tôn giả Magandiya hiểu biết như vậy.
Và Tôn giả Magandiya trở thành một vị A-la-hán nữa". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)
Sau khi vị du sĩ sống riêng bốn năm đã được thọ đại giới, tu hành tinh cần đã chứng đắc A-la-hán. Ở đây chúng ta thấy rằng người ta cũng nói đến không bệnh, cũng nói đến Niết-bàn nhưng chỉ là nghe rồi nói theo chứ không thực thấy, không thực biết, không thực chứng cho nên khi hỏi lại thì mập mờ, phải xin Đức Phật giải thích không bệnh và Niết-bàn có nghĩa là gì. Đức Phật ví dụ một người sanh ra đã mù, bị một người sáng mắt lừa gạt nói rằng đây là tấm vải trắng đẹp nên người mù cũng tưởng vậy rồi khoác tấm vải thô, dơ, dính dầu đó lên người rồi tự mãn, thích thú. Sau một thời gian người này được gia đình mới bác sĩ giỏi đến trị liệu cho sáng mắt, khi sáng mắt mới biết mình bị người kia lừa gạt trong một thời gian dài nên không xem người kia là bạn mà nhìn người kia thành kẻ thù, thậm chí muốn sát hại người kia. Đức Phật nói rằng trong một thời gian dài ta bị tâm này lừa dối, phỉnh gạt, ta chấp thủ vào năm uẩn, yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn cho nên ta bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Đầu tiên mù là ví dụ cho vô minh, tấm vải thô xấu mà nghĩ rằng sạch sẽ, mịn màng là ví dụ cho năm thủ uẩn, người mù yêu thích, tự mãn với tấm vải là tham ái, trong một thời gian dài bị tâm lừa gạt thì người này nghĩ rằng tâm này là bạn nhưng khi sáng mắt ra lại thấy tâm này là kẻ thù nên muốn giết tâm lừa lọc, dối trá này. Như vậy sanh ra đã mù là vô minh, có người sáng mắt nói rằng tấm vải này trắng lắm, đẹp lắm, sạch sẽ lắm nhưng đó lại là tấm vải dơ, dính dầu nhưng người mù này tưởng đây là tấm vải sạch đẹp cho nên khoác tấm vải lên người và tự mãn, thích thú, yêu thích trong đó thì đó là tham ái, vô minh, chấp thủ trong năm uẩn. Một thời gian dài đi đâu họ cũng mang tấm vải đó rồi khoan khoái, thích thú và chấp thủ trong đó, khi họ sáng mắt ra tức là họ có chánh kiến, trong kinh dùng từ Thánh nhãn, con mắt Thánh được mở ra. Trước khi sáng mắt thì người này cho kẻ kia là bạn nhưng khi sáng mắt thì kẻ lừa gạt đó là thù, kẻ đó chính là cái tâm thọ; tưởng; hành, đó là tâm điên đảo, cái tâm ở trong si mê, mù lòa, cái tâm ở trong bóng đêm, đến khi sáng mắt mới thấy bị gạt, lúc trước là yêu thích trong năm thủ uẩn.
Thân cận bậc chân nhân.
Nghe diệu pháp.
Sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp.
Tự mình thấy, tự mình biết năm uẩn là bệnh chướng, cục bướu, mũi tên.
Diệt trừ hoàn toàn sự chấp thủ.
Hữu diệt, sanh diệt.
Già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt thì toàn bộ khổ uẩn diệt.
Đây chính là trình tự của pháp vận hành, là con đường cầu đạo, học đạo và chứng đạo. Đầu tiên phải thân cận được với bậc chân nhân, gặp được chân nhân là nghe được diệu pháp vì đó là những người nắm giữ diệu pháp, khi nghe được diệu pháp thì phải sống theo pháp và thực hành theo pháp. Khi đã sống theo pháp, thực hành theo pháp thì tự mình sẽ thấy, tự mình sẽ biết năm uẩn này là bệnh chướng, là cục bướu, là mũi tên, không cần phải nghe ai nói nữa mà chính mình thấy biết. Khi mình đã thấy biết như vậy thì mình sẽ có một sự đoạn trừ nắm chặt vào trong năm uẩn, khi đoạn trừ sự chấp thủ thì yêu thích hiện hữu trong năm uẩn sẽ được chấm dứt, hữu ở đây chính là hữu ái, nghĩa là yêu thích sự hiện hữu trong hình thể (sắc) hay không có hình thể (vô sắc) trong tam giới. Có ba hình thức hiện hữu là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
"Này các Tỳ-kheo, có ba hữu này cần phải đoạn tận, cần phải được học tập trong học tập trong ba học pháp. Thế nào là ba hữu cần phải đoạn tận?
Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Ba hữu này cần phải đoạn tận.
Trong ba học pháp nào, cần phải học tập?
Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Trong ba học pháp này, cần phải học tập.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo đã đoạn tận ba hữu này, đã học tập trong ba học pháp này, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử do chơn chánh thực hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (X). Hữu)
Dục hữu là hình thức của dục giới, đó là thế giới của chúng ta và một số cõi trời, cõi dục. Sắc hữu là các cõi trời sắc. Vô sắc hữu là những cõi trời sống bằng tâm hữu, chẳng hạn như không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đó là hình thức hiện hữu mà không có sắc, gọi là vô sắc hữu, đó chính là tam giới, dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Như vậy sự hiện hữu này gồm ba thế giới nhưng mình đều yêu thích trong sự hiện hữu đó cho nên hữu đó chính là hữu ái, vì mình còn yêu thích trong sự hiện hữu đó cho nên mình mới sanh ra trong thế giới đó, mình yêu thích sự hiện hữu nào và tương ứng với nghiệp của mình thì sanh ra trong thế giới tương đồng đó nhưng nếu không còn yêu thích trong thế giới nào nữa thì điều kiện để làm mình sanh ra trong thế giới đó không có nữa cho nên sanh diệt, già, chết, khổ, ưu, não diệt.
Nếu thích trầm hương thì trầm hương đó sẽ có ở chỗ mình ở nếu mình có tiền, mình thích xe thì xe đó sẽ có nếu mình có điều kiện, mình thích bonsai thì chắc chắn những cây bonsai sẽ hiện hữu trong miếng đất, mảnh vườn, ngôi nhà của mình, khi thích cái gì mà cái nghiệp tương xứng thì cái đó sẽ biểu hiện ra cho nên chữ hữu này cực kì thâm sâu, rộng lớn và bao trùm cả tam giới, tam hữu. Đức Phật nói hễ có ái là có khổ, tức là yêu thích trong hình thức nào đó của ba cõi thì sẽ hiện hữu trong đó, còn các vị Đa văn Thánh đệ tử là thấy được những hình thức hiện hữu đó là bệnh chướng, là cục bướu, là mũi tên, chỉ có sự thoát ra, từ bỏ, ra khỏi những hình thức vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ đau đó mới đạt được hoàn toàn tịch tịnh, an lạc tối thượng của Niết-bàn cho nên Niết-bàn mới là tối thắng lạc, các ngài không còn yêu thích trong sự hiện hữu nên hữu diệt. Khi đã không còn yêu thích trong mọi hình thái hiện hữu thì các ngài không còn sanh ra trong hình thái đó nữa cho nên sanh diệt, không có sanh thì đương nhiên già, chết đoạn diệt.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ít phân có mùi hôi thối. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVIII. Phẩm Makkhali, Một Pháp)
Vì mọi sự hiện hữu đều là khổ đau nên các ngài không ưa thích tất cả những hình thái hiện hữu đó mà yêu thích sự tịch tịnh, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không dính mắc vào năm uẩn, như vậy gọi là hữu diệt nên sanh diệt, vì sanh diệt nên sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Chữ hữu này vô cùng thâm sâu và rộng lớn, ngày xưa Minh Thành học trong trường mười năm nhưng vẫn không hiểu chữ hữu này, thêm hữu ái vào nữa thì nghĩa lý sáng rực lên, nghĩa là yêu thích trong những hình thái hiện hữu, nếu thích ở núi thì mình có mặt trên núi, thích ở phố thì mình sẽ ở phố, nếu thích ở biển thì mình sẽ đi tìm chỗ ở gần biển, như vậy gọi là sự hiện hữu, muốn ăn bún riêu thì nấu bún riêu liên tục, muốn ăn chay thì đồ chay phải có trong nhà, khi duyên, phước và nghiệp tương thích thì nó sẽ hiện hữu, còn giờ không muốn những thứ đó nữa mà chỉ thích ngồi thiền cho nhẹ nhàng, an tịnh, không thích ăn đồ hải sản vì gây sát sanh thì những thứ đó không hiện hữu trong nhà, đó là hữu diệt, nghĩa là tôm, cua, cá, ghẹ không có mặt, thay vào đó là rau, củ, quả, đó cũng là sự hiện hữu nhưng là hiện hữu thanh tịnh. Các bậc Đa văn Thánh đệ tử là không ưa thích tất cả mọi hình thái của hiện hữu, tịch tịnh hoàn toàn. Do vì mình mù, không có trí tuệ nên mới bị năm thủ uẩn lừa gạt, mình lầm tưởng nó là sạch đẹp, thơm tho nên mình tham ái trong đó, một khi gặp được bậc chân nhân, bậc Thánh nhân giúp mở cho mình chánh kiến, Thánh nhãn làm sáng mắt ra thì mình biết rằng ngũ uẩn này là kẻ thù, là thứ làm mình phải sanh tử cho nên mình muốn giết nó, tức là mình chấm dứt sự sanh tử, đạt đến cảnh giới vô sanh của bậc A-la-hán. Từ lâu mình bị thọ; tưởng; hành lừa gạt nhưng bây giờ trí đã sáng lên không bị gạt nữa nên toàn bộ khổ uẩn này chấm dứt.
./.