Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Thiền Quán - Nhìn Ra Rác Bẩn - Linh Quy Pháp Môn

2026-03-03 00:54:31
Kinh Nikāya Thiền Quán

Nhìn Ra Rác Bẩn

Linh Quy Pháp Môn

Thích Minh Thành

Ngày 21 tháng 08 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán PAGEREF _Toc113517228 \h 1

II. Pháp tu con rùa PAGEREF _Toc113517229 \h 5

III. Pháp tu con bò PAGEREF _Toc113517230 \h 11

I. Thiền quán

Hít vào nhẹ nhàng ơi, nhẹ nhàng ơi!

Yên lặng ơi, yên lặng ơi!

Buông xả ơi, buông xả ơi!

Trầm lặng ơi, trầm lặng ơi!

Ta khơi dậy trong ta,

Tâm bình lặng, lặng yên.

Ta khơi dậy trong ta,

Tâm trầm lặng, lặng yên.

Trầm lặng sống trong ta,

Bình lặng sống trong ta.

Trầm lặng có trong ta,

Bình lặng có trong ta.

Bằng nội tâm trầm lặng,

Bằng nội tâm yên bình,

Ta dừng mọi suy nghĩ,

Để nhìn kỹ cuộc đời.

Sao ta không tự hỏi,

Không tự xét lại mình?

Xét soi thật công chính,

Xem mình sống ra sao.

Trôi lăn trong sanh tử,

Chẳng biết tự lúc nào,

Bao người được giải thoát,

Mà ta còn ở đây.

Hay là ta đã sống,

Chẳng biết suy xét gì,

Nên tới giờ ta vẫn,

Nhọc nhằn trong khổ đau.

Nay ta thử suy xét,

Thử xét kỹ lại mình,

Để xem ta đã sống,

Là một người ra sao.

Trải qua bao sống chết,

Giờ ta lại ở đây,

Chắc tâm đầy si ám,

Nên chẳng nhớ được chi.

Chỉ nhìn được kiếp này,

Những tháng ngày vừa qua,

Ta thấy ta đã sống,

Với rất nhiều tham, sân.

Ta tham lam, ích kỷ,

Ta cố chấp, hẹp hòi,

Ta kiêu căng, nông nổi,

Ta tự đại, tự cao,

Ta vươn cao bản ngã,

Ta phụng dưỡng bản thân,

Ta sống trong ích kỷ,

Ta bỏ mặc người thân,

Ta bất cần phải quấy,

Ta hành động theo mình,

Hành động theo cảm tính,

Theo lòng tham, sân, si.

Ta nghi ngờ việc thiện,

Ta hà tiện việc lành,

Ta nhanh tay việc ác,

Nhiệt tình việc tà gian.

Ta che đậy cái xấu,

Ta giấu lỗi của mình,

Ta biện minh, xảo luận,

Ta tập thói quanh co.

Ta đã làm cho mình phải khổ đau, nhọc nhằn, bực dọc. Tự ta phừng bóc lên cảm xúc tức giận và tự ta thiêu đốt chính ta. Tự ta phát khởi lên những cảm xúc ghanh ghét, hơn thua, tự làm cho ta nhiệt não, mệt nhoài, căng thẳng, khổ sầu, khổ đau. Thấy điều thiện, điều lành, điều tốt ta nghi ngờ, từ thiện thì ta hà tiện. Ta che đậy, giấu giếm, khỏa lắp những cái xấu xa, xấu ác của ta. Còn cái lỗi, cái xấu của người ta phanh phui, chỉ trích, phán xét, phân xử, để rồi ta chuốc lấy sự thị phi, đổi chối, đúng sai. Còn lỗi của mình ta biện minh, xảo luận, lý luận rất khéo léo, biện luận lưu loát. Ta nhiều lý lẽ, lý do, tập thói quanh co. Khi được người khác chỉ lỗi, dù đó là cha mẹ, là những bậc trưởng thượng, ta biện minh, xảo luận, luồn lách, quanh co.

Ta hời hợt phán xét,

Ta khen mình, chê người,

Ta buồn vui liên tục,

Ta thương, giận lung tung.

Ta lăn xăn, dao động,

Ta phục tùng tham, sân,

Ta vì tấm thân này,

Làm khổ chúng sanh khác.

Ta ghanh ghét, tật đố,

Ta tranh giành hơn thua,’

Ta gây thù, trả oán,

Ta hại mạng bao loài.

Ta vì không hiểu biết,

Ta vì bởi ám si,

Ta tạo thêm đau khổ,

Cho hữu tình, chúng sanh.

Ta phát xét rất là hời hợt, nhìn nhận vấn đề rất là thiển cận, cạn cợt. Ta nhìn theo bản ngã, tham ái, thói quen, thương ghét, phàm tình, vô minh, tham, sân, si của ta. Một là lăn xăn, vội vàng, hấp tấp, rộn ràng. Hai là ngồi lại là ngủ, gục lên, gục xuống, vật vờ, vật vưởng trong vô minh, phóng dật. Chúng ta vì tấm thân này, làm khổ những người thân thương của chúng ta, làm khổ không biết bao nhiêu những người khác, những con vật khác. Ta không rõ vô thường, nhân quả mà làm khổ cho mình và hữu tình chúng sanh.

II. Pháp tu con rùa

(Phần Phật tử trình pháp)

Hôm nay con giới thiệu cho đại chúng một cách học tu cho quý vị dễ nhớ pháp tu “rùa, bò”, cho quý vị nhớ hoài không có quên. Ở đây chúng ta là núi Linh Quy là con rùa, còn con Bò thì sao một lát mình sẽ nghe. Trước tiên Đức Phật dạy trong Tương Ưng Sáu Xứ, bài kinh “Con Rùa” 

“Thuở xưa, này các Tỳ kheo, có một con rùa vào buổi chiều đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giã can, này các Tỳ kheo, vào buổi chiều cũng đi tìm mồi dọc theo bờ sông.

Này các Tỳ kheo, con rùa từ đằng xa thấy con giã can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng.

Này các Tỳ kheo, con giã can từ đằng xa thấy con rùa, đi đến con rùa, sau khi đến, đứng một bên nghĩ rằng: khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay tại chỗ ấy, ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn.

Nhưng này các Tỳ kheo, vì rằng con rùa không thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, nên con giã can nhàm chán con rùa và bỏ đi, không nắm được cơ hội.

Cũng vậy, này các Tỳ kheo, Ác ma thường xuyên không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các ngươi với ý nghĩ: Rất có thể ta nắm được cơ hội để bắt gặp từ con mắt ... từ cái lưỡi ... hay từ ý. Do vậy, này các Tỳ kheo, hãy sống hộ trì các căn.

Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thiệt hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi mùi ... lưỡi nếm vị ... thân cảm xúc ... Ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thiệt hành hộ trì ý căn. Này các Tỳ kheo, khi nào các ngươi sống hộ trì các căn, thời ác ma nhàm chán các ngươi và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội như con giã can đối với con rùa.”

(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Con Rùa)

Thật sự Đức Phật dạy mình trong Tương Ưng Sáu Xứ rất kỹ. Con mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, hay là ý nhận thức các pháp tức là thọ, tưởng, hành (cảm giác, nghĩ tưởng) bên trong. Khi mà mình nhìn thấy cái sắc đó đẹp, tiếng đó hay, sắc, thanh, hương, vị, xúc nó vừa lòng, thích ý, đáng yêu, chớ để dục chi phối. Đừng để ham muốn sanh khởi, xâm chiếm, rồi nó áp đảo. Nếm xong vị ngon ngọt hay vị không ngon, chớ có sanh tham luyến khi hưởng nếu vị ngon, chớ có nói lời chống đối khi nếm vị không ngon. Khi cảm thọ lạc xúc chớ đắm say, tham luyến. Khi cảm thọ khổ xúc, chớ bị xúc động mạnh. Đối với cả hai xúc lạc khổ đều niệm xả, không thích, không chống đối, bất cứ loại xúc nào. Đó là này lấy hình ảnh con rùa để chúng ta dễ tu.

Trước khi phân tích về bài kinh trên mình nhớ lại bài kinh chúng ta đã nghe rất nhiều lần, nhưng mà mình hay quên, đó là bài kinh “Thâu Nhiếp”, phẩm từ bỏ, Tương Ưng Sáu Xứ

“Này các Tỳ-kheo

- Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ

... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc

... Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.”

(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Thâu Nhiếp)

Vậy ở đây mình thấy điều gì? Đầu tiên là pháp môn con rùa. Con rùa khi nó thấy con giã can (chó rừng), nó thu tứ chi, rụt cổ vô, nằm im, bất động, cho nên con chó rừng không có cơ hội tấn công nó. Hôm qua có quý Phật tử hỏi con về hộ trì ý căn, thì bài kinh “Con Rùa” này đây là hộ trì sáu căn, đây là cái pháp Đức Phật dạy. Cái đầu tiên là “thâu nhiếp”, tức là thâu vô, chớ không bung ra. Khi mình thấy nguy hiểm mình phải thâu vô, nhớ kỹ không? Lúc nào là lúc nguy hiểm? Lúc thấy cái gì đẹp, mình sanh khởi, thúc giục ham muốn, lúc đó là lúc nguy hiểm. Mà cái nguy hiểm này nó ngọt lắm, thành ra nhiều khi mình không biết nguy hiểm. Khi mình có nhận diện ngũ uẩn, thì mình biết lúc đó có dục, tham, ái sanh khởi. Khi mình thấy cái gì nó nguy hiểm, giống như con rùa thấy con chó rừng sắp làm hại đến mình, hay giống như mình thấy một con người nào đó tới sân hận, chỉ trích, muốn kiếm chuyện, gây hấn với mình, thì lúc đó mình xấn tới hay là mình thâu vô? Lúc đó là mình phải thu vô, mình thu mắt, thu tay, thu miệng, thu thân, thâu ý của mình lại. Lúc đó mình bung ra là mình chết đó, là con chó rừng nó đớp liền, nó cắn cụt tay, cụt chân, đứt đầu mình ra. Mình thấy nguy hiểm đến với mình, thì lúc đó mình phải thâu vô, đó là “Linh Quy pháp môn” đó, nhớ không ạ?

Ngoài đời thường người ta chê người nào thì người ta nói là “rùa rụt đầu” phải không? Nhưng mà có khi rụt đầu là tốt, không phải lúc nào cũng vươn ra là hay đâu. Hàng ngày bao nhiêu tai nạn, vươn ra là bao nhiêu cãi lộn, đánh lộn, chém lộn, giết nhau đó. Cái đó hay không? Người ta nói 1 câu mình nói lại 3 câu, cái đó hay không ạ? Cái đó là đồ ngu, ngu si, thành ra chữ “thâu nhiếp” là hết sức quan trọng. Mình đừng có nghĩ chỉ thu nhiếp với người sân hận với mình, phải thu nhiếp ngay trong gia đình, với chồng, con, huynh đệ, cha mẹ của mình. Khi những người ở chung mình họ có trạng thái mà mình thấy những cảm thọ bực bội, sân hận, ghim rút, phẫn nộ họ sanh khởi, thì mình nhớ thu nhiếp. Thu nhiếp thì mới là cứu khổ mình, và bớt khổ cho người khác, đó là pháp diệt khổ, chính là sự thu nhiếp. Chứ không phải gặp mình chặt lưỡi nói: “Tôi là tôi không sợ gì hết trơn, tôi cứ thấy tất cả là giả không à, nên tôi tiến tới đại” thì cái đó là mình hiểu sai lầm.

Giáo pháp của Đức Phật là nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ đại viên mãn. Bước đầu là phải thâu nhiếp, trong uống ngoài thoa, tại vì mình bị nội công ngoại kích, chứ không phải mình bị cái bên ngoài không. Bên ngoài là mình bị ngũ trận: Sắc, thanh, hương, vị, xúc nó đánh; còn bên trong là: Ý trần, pháp trần nó đánh nữa, thành ra không phải nó đánh bên ngoài không. Dù khi mình đóng mất hết ngũ căn đó lại, mình ngồi yên, nhưng lúc đó để yên chưa? Lúc đó nó vẫn ở trong dục sanh khởi, sân hận nghĩ về người đó. Như có một chuyện hết sức đau lòng, có cô bán hủ tiếu, ông này lại mua, thì cổ nói ông này: “Ăn xong nhớ trả lại cái tô”. Vậy mà ông về ông nhớ lại câu chuyện đó, ổng bực bội, sân hận, ổng cầm dao lại đâm chết bà bán hủ tiếu luôn. Vậy đó, người ta chỉ nói ăn xong rồi trả tô cho người ta, tại vì ông cứ quên không có trả, người ta nói như vậy mà ổng ngồi chỉ nhớ lại thôi, không phải là ngay lúc đó, mà ổng vẫn tức giận, đó là nội xúc, phàm trần, khủng khiếp như vậy.

Cho nên cái thứ hai sau thu nhiếp là “kham nhẫn”, nhẫn nhịn là cái hết sức quan trọng. Trong kinh Đức Phật nói là: “Nhẫn nhục, nhẫn sắc”, dù cái đó mình muốn lắm, nhưng mình kiềm lại, thì cái đó là thâu nhiếp, kiềm chế, nhiếp phục, chế ngự. Kham nhẫn là hết sức quan trọng, đầu tiên là thu nhiếp, thu lại, sau đó là kham nhẫn. Cái đó là mình muốn cự lắm đó, nhưng mà mình kham nhẫn, mình nói: “Nhịn đi, kiềm xuống, nhiếp phục, chế ngự nó” thì đó là bước thứ hai, sau cái thâu nhiếp chính là sự nhiếp phục, chế ngự, kham nhẫn. Cho nên Đức Thế Tôn đi thăm bệnh các vị Tỳ-kheo bị bệnh nặng sắp chết thì Ngài hỏi: “Nè Ông, Ông có kham nhẫn được không? Có chịu đựng được không?”, thì hai chữ “kham nhẫn” này nó sâu sắc lắm, nó không phải chỉ nhẫn nhịn ở ngoài, mà nó còn phải nhẫn nhịn, chịu đựng ở bên trong. Cái cơn đau, cơn bệnh đó, có nhiếp phục, chế ngự được cái cảm thọ đó không? Mình có chịu được không? Nếu mình không chịu được thì mình rên, mình la, còn không mình buồn, mình giận “không ai lo cho tôi hết trơn, sao tôi bệnh mà không ai hỏi thăm tôi tiếng nào hết trơn”.

Ví dụ ở nhà mình cũng giận, cũng buồn anh chị em, hay là con mình “mình bệnh mà không đứa nào nó thăm mình hết trơn”. Mình bệnh mà mình buồn, mình trách, mình hờn thì như vậy bệnh nặng thêm hay bệnh nhẹ lại? Bệnh nhẹ thành bệnh nặng phải không? Tại vì mình hờn trách, mình không có kham nhẫn với căn bệnh, mình không lấy căn bệnh làm đối tượng để tu, mình không nhiếp phục, chế ngự được cái cảm thọ đó, mà mình quay ngược trở lại bên ngoài, mình trách móc, sân hận. Thành ra cái chỗ “Ông có kham nhẫn được không?” Cái đó thâm sâu. Khi mình gần chết chính là tu cái kham nhẫn đó, mình có chịu đựng được cái cảm thọ đó không? Cái cảm thọ đó có làm cho tâm mình rối loạn không? Mình có mất Chánh niệm không? Mình có an trú được cảm giác toàn thân, mình có nhìn được cái đó là cảm thọ, đang có một thọ khổ không? Hay là mình bị cảm thọ đó đồng hóa? Mình đang đau là, hay chỉ có thọ khổ thôi “cái thọ đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi”. Cái thọ đó là vô thường, nên đi đến tận cùng của cảm thọ này rồi cũng tan biến, cũng là tịch tịnh, thì chỗ đó là chỗ kham nhẫn.

Mà không phải chỉ bên ngoài, mà còn kham nhẫn bên trong. Không những kham nhẫn cảm thọ thân, mà những cảm thọ của tâm nữa. Như cái thân đau bệnh khi gần chết, là cảm thọ của thân. Có khi mình tai nạn bất ngờ, mà mình để ý cái tâm mình mới thấy, nhiều khi mình đi, bắt thình lình cái gì đó rớt trúng đầu hoặc là chỗ cái cửa đó thấp, mà mình không để ý Chánh niệm, đụng vô đầu, khi mình bị vậy mình có sân lên không? Nhiều người đi vấp trúng cục đá, xong rồi đá cái cục đá đó, giận cá chém thớt. Mà trong khi mình không có Chánh niệm, mà mình đổ thừa cho những cái bên ngoài đó. Thành ra cái kham nhẫn này là nhẫn ngoại giới, nhẫn nội thân và nhẫn nội tâm luôn, cả ba cái thân, tâm, cảnh. Cái này rất sâu sắc trong công phu mình tu.

III. Pháp tu con bò

Mình muốn nhẫn như vậy, thì mình phải có trí tuệ thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của nó, thì cái nhẫn đó nó mới đi đến thấu đáo. Còn cái nhẫn mà chỉ kiềm còng, mà không thấy, không biết, thì cái nhẫn đó “nhất quá tam”, bất cứ lúc nào nó cũng sẽ bùng nổ lên. Còn cái nhẫn của mình bằng trí tuệ, cho nên cái nhẫn đó là “vô sanh pháp nhẫn”, “tuệ nhẫn”. Cho nên nó sẽ không bị kiềm chế, kiềm nén, nó sẽ không có bùng lên.  Mình muốn được như vậy, mình phải có pháp tu thêm nữa là pháp con bò, lúc nãy con rùa, bây giờ là con bò, chúng ta nghe Đức Phật dạy con bò thì phải làm sao nha.

“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: “Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta”. Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức... Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào đối với các vị do lưỡi nhận thức... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy với ý nghĩ: "Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta", hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các pháp do ý nhận thức.

Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.

Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.

Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...

Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.”

(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Đờn Tỳ Bà)

Hồi nãy là con rùa bây giờ là bò, cho nên con mới nói pháp môn đặc biệt là “rùa, bò”. Nắm chặt cái mũi, rị chắc cái trán, rồi dùng cây gậy đó mà quất nó tả tơi, tới tắp, đó là như lý tác ý, là quở tâm, trách tâm, mắng tâm, chửi tâm. Con bò đó là cái gì ạ? Là những cái thọ, tưởng, hành mà liên hệ đến dục, tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, nói theo trong đây ngắn gọn là dục đối với năm dục bên ngoài. Nói thí dụ cho dễ để quý vị ứng dụng tu, mình dọn lên bàn tiệc 10 món ăn, mắt nhìn thấy rồi phải không? Mũi hít hít có nghe mùi không? Trong cái lưỡi nó tươm tươm nước bọt ra chưa? Lúc đó mình nói: “Thôi tham ăn vừa vừa phải phải thôi, mày ăn mấy chục năm mày không chán sao? Mày cứ ăn, cứ thích, cứ mê, cứ đắm những thức ăn dơ bẩn này, một hồi nuốt qua khỏi cổ họng, qua khỏi đốc dọng thì nó thành cái gì biết không, mà tham hoài không biết chán, không biết ngán vậy?” Mình quở trách cái tâm mình, mình rầy, la, nhắc nó giống như con bò, mình nắm lỗ mũi đó, mình rị cái trán đó, mình quất cho nó mấy cái.

Rồi bây giờ già rồi mà cứ ham đi du lịch, già rồi mà cứ ham đi chơi, mình có nắm lỗ mũi, rị cái trán, rồi quất cho nó mấy roi không? “Bây giờ mày muốn đi vô lò thiêu, đi vô nghĩa địa phải không? Còn có một chỗ đó để đi à, tại sao không lo tu, già gần chết rồi mà tối ngày đòi đi chơi” vậy là mình quất rồi đó. Mình có quất không ạ? Đi lên núi tu thì được, nhất trí không? Đi tu thì được, đi chơi thì không. Khi mình hạ độc thủ nó, mình đánh mạnh nó, mình đánh một trận cho nó nên thân, cho nó ra hồn, thì sau này mỗi lần nó muốn cái đó, nó nhớ lại bị đánh như vậy là nó không dám nữa. Cứ đánh như vậy hoài, Đức Phật ví dụ cái này ba lần, là chỉ cho số nhiều, thường xuyên phải như lý tác ý, tác động tâm ý, la tâm, quở tâm, trách tâm, mắng tâm.

Mỗi khi mà nó muốn chạy vô lúa vàng của người khác, nó muốn hưởng thụ những dục lạc, nó muốn mê, thích, say đắm những cái hư ảo, vô thường, của đời này, thì mình quở trách, la mắng bằng những trận đòn tơi tả, tới tấp, tan nát, như vậy sau này nó nhìn thấy nó rùng mình, nó nhớ lại “coi chừng bị quất à nha, đau lắm, thôi bỏ đi”. Nó nhớ lại cảm xúc của trận đòn đó, sau này thả nó ở đâu, dù lúa trước mắt nó cũng không thèm, nó cũng không dám xâm phạm “xông vô, phạm vô, là đau đớn lắm”. Đó là sự huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, canh chừng, kiểm soát, hộ trì tâm, đó là trả lời cho câu hỏi hộ trì hồi hôm qua đó. Chúng ta biết pháp tu “rùa bò” chưa ạ? Linh quy pháp môn đó. Mình về núi này mình mới thâu nhiếp được, mình về núi này mình mới tránh được những cái duyên tiếp xúc, tránh sự nguy hiểm.

Đi đêm có ngày gặp ma, bệnh yếu mà ra gió, như có trường hợp hết chỗ chơi rồi, đi ra đường lộ chơi đá banh, đi tập thể dục. Thiếu gì chỗ tập thể dục, công viên không vô, đi ra đường quốc lộ lúc 5 giờ sáng, xe tông chết ngay tại chỗ, mà nhiều lắm chứ không phải một người. Ý muốn là tập thể dục để cho nó khỏe, muốn sống khỏe, nhưng cuối cùng đi vô chỗ chết để tìm sự sống khỏe, điên đảo cái vô minh này không? Mình có giống vậy không? Thành ra, phải đánh con bò đó cho nó nhiều, bởi cái tâm này nó si mê, vô minh, mà mình nói từ ngữ nhân gian là “cái tâm này nó ngu như bò”. Cái tâm này là cái tâm ngu, tâm mê này mà mỗi lần nó cứ hơn thua, sân si, tham “mày ngu, mày ngu vừa vừa thôi, mày ngu như bò vậy đó, mày ngu hoài à, mày cứ hơn thua, cứ húc người ta hoài cho đổ máu vậy hả? Tao cưa hai cái sừng của mày à”. Nhớ không, nhớ con bò cưa sừng chưa?

Phải dạy cái tâm đó, rồi mình quất cây roi cho nó đau, đau điếng, đau đớn, đau nhức, để sau này nó không dám nữa. Mỗi lần mình chỉ nhìn sơ, thấy nó mới khởi lên là mình nhìn một cái là nó tan biến liền. Giống như mình đã chăn nó thuần thục, nó trở thành ngoan hiền, thì nó không có dám làm bậy, làm loạn, tác loạn nữa. Mà khi mình đã chăn cái tâm mình một cách thuần thục, hiền thiện, huấn luyện nó, một khi thành tựu rồi thì tuyệt vời lắm. Mà chúng ta phải từng bước, đầu tiên là “tiên hạ thủ vi cường”, hạ độc thủ nó, phải đánh thật mạnh vào cái cảm thọ đó, tác ý một cách mãnh liệt, càng mạnh càng tốt, sau này từ từ nó sẽ bớt độ hung hăng, bắt đầu quậy của nó, rồi nó lắng, nó dịu, rồi từ từ nhiếp phục, chế ngự, rồi mới đi đến chỗ thuần tịnh được. Có để ý con bò của mình không ạ? Mình thả cho nó chạy rông, để nó đi ăn lúa, giẫm đạp lúa của người ta quài.

Cho nên người tu là người hãy chăn con bò tâm cho thật là kỹ, đừng có lơ đễnh, lơ đễnh chính tức là phóng dật. Mình thấy cái tâm của mình nó dễ phóng dật, dễ buông lung, lơ đễnh không? Mình học như vậy, nhiều khi trình pháp khóc rần rần, đầy nước mắt, mà buông ra nhìn một cái rồi thì tham, sân, si, dục, ái, bản ngã khởi lên. Thành ra đừng có lơ đễnh với nó, chăm canh chừng nó, như vậy mình nhớ cái đầu tiên là thu nhiếp, thâu nó lại. Đừng có ham tiếp xúc nhiều, về đây là những giờ vàng trong vòng luân hồi sanh tử, trong vô lượng kiếp này, ít có dịp được về đây lắm, về đây là phải giữ thời gian của mình tuyệt đối trong sự học pháp và hành pháp thôi, không có đi vô cái thường tình mà hỏi thăm chị này, hỏi thăm cô kia, hỏi thăm người này, người nọ. Nói vài lời vậy thôi, rồi tập trung vô pháp học, pháp hành của mình. Thâu nhiếp, nhìn vào hoài thọ, tưởng, hành, ngũ uẩn của mình, để cho mình thấy được pháp, để cho mình thấy được sự thật của khổ, nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ.

Mình phải thấy được sự thật đó, thì sau khi mình về, mình mới cầm được Thánh trí huệ trong tay, mình mới biết đường mình tu. Chứ không phải lên đây để dạo cảnh, cũng không phải lên đây để tìm người thân, tìm thêm bạn mới. Mà lên đây là một lòng cầu pháp, tìm được phương pháp diệt khổ cho chính mình. Như vậy mình mới cầm được báu vật, sau khi xuống núi mới lợi mình lợi người được. Cho nên con kêu mấy vị trình pháp để biết đường chia sẻ cho quý vị đó, tại vì quý vị nghe ở nhà nhiều lắm rồi, suốt cả năm ngày nào mà không nghe, lên đây là cơ hội để mình trình bày sự tu học của mình, để mình nêu ra những thắc mắc, khó khăn của mình. Nội kết của mình chưa giải quyết được, thì quý thầy, quý cô sẽ giúp cho mình tháo gỡ, soi xét, giúp cho mình có các phương pháp chuyển hóa, xử lý, hóa giải, đó là cơ hội quý báu của mình khi lên đây. Ngoài việc tập trung tất cả thời gian tu học, là thời gian mình giải bày, trình bày, trình pháp.

Mình nhớ cái thâu nhiếp rồi, mình nhớ cái kham nhẫn, tập sự kham nhẫn, chịu đựng đối với những thiếu thốn, vật chất bên ngoài. Đối với những trái ý nghịch lòng, cái bất như ý, mình tập chịu đựng, đừng có một chút là mình bực bội, bực mình, bức xúc, đừng có như vậy, cái tâm đó là tâm nhỏ hẹp, phiền não, khổ đau, tập cái tâm kham nhẫn, chấp nhận mọi hoàn cảnh. Nhiều khi cái mà mình khó chịu, lại đem cái lợi ích cho mình, thì cái đó mới đặt biệt mà mình không có biết, mình cứ tìm cái dễ chịu không à, mà đôi lúc rằng có những cái khó chịu, nó tác thành cho mình. cho mình thành tựu. Mình cứ thích làm theo ý của mình, làm theo cái dục, cái ái, cái tham muốn, tự ngã của mình, như vậy không có cầu pháp được, có được thì được cái pháp của bản ngã, dục, ái, cái mình yêu thích, chứ không có được Chánh pháp, không có được Chánh pháp, Thánh pháp. Phải làm theo pháp, phải làm theo những gì mà những bậc đi trước hướng dẫn, chỉ dạy cho mình, căn cứ vào Thánh điển, Thánh trí huệ, chứ không phải làm theo cái ưa, cái thích, cái muốn của mình. Nếu ưa, thích, muốn của mình thì mình ở nhà cũng được, mình cần gì đi tu, cần gì lên đây cầu pháp. Mình thích cái gì mình cứ làm cái nấy, trong vô lượng, vô biên kiếp rồi đó.

Chúng ta phải nhớ cái đó rất là tế nhị trong sự tu học, mới có thể thành tựu được Chánh tri kiến viên mãn của Đức Phật truyền trao. Tập kham nhẫn, kham nhẫn với những cái dục, kham nhẫn với những cái sân, kham nhẫn với những cái bất như ý, nghịch ý. Kham nhẫn với hoàn cảnh bên ngoài, đất, nước, gió, lửa, thời tiết. Kham nhẫn với lời nói, hành động, cử chỉ, ánh mắt của mọi người. Kham nhẫn với những cảm thọ bên trong chúng ta. Kham nhẫn bằng trí tuệ, chứ không phải cái sự dồn nén bên trong để mà mình dằn xuống trong sự không thấy, không biết. Mà bằng trí tuệ, mình biết cái đó mình bung ra là càng phừng lên, càng bốc ra, thì càng khổ đau, bất an, rối loạn. Cho nên mình không muốn khổ, chính vì vậy mình không muốn để những thứ này nó bung ra, không mướn thả lỏng, lơ đễnh, phóng dật nó, mà mình muốn chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận nó bằng trí tuệ, đó gọi là kham nhẫn trong Thánh trí.

Như quý vị ngồi thiền, quý vị có kham nhẫn, có chịu đựng không ạ? Mình chịu đựng buồn ngủ, chịu đựng mỏi, chịu đựng tê, chịu đựng nhức, chịu đựng đau, thì tất cả cái đó là dùng kham nhẫn, cho nên dùng rất nhiều trong sự tu của mình. Khi mình làm việc, mình phải cũng phải kham nhẫn mình mới làm việc được, mình mới chịu khó được. Khi mình nói, thì đúng ra cái đó ra cho hả dạ của mình, nhưng mình kham nhẫn, mình nói “thôi, nói phân nửa thôi, chứ không nói hết lời, nói hết lời là đổ bể, tan nhà nát cửa, mất tình tình bạn, tình mẹ con, tình vợ chồng hết”, thành ra mình nhiếp phục, chế ngự cảm thọ đó. Kham nhẫn này đưa đến hạnh phúc, an lạc dài lâu cho chúng ta, nên bây giờ mình phải biết trị cái tâm của mình. Chúng ta thấy cái pháp của mình viên mãn, hay lắm, chứ không phải một góc độ, một khía cạnh. Nếu chỉ xem là một sở đắc, xem đây là số 1, thì người đó tu không có thành tựu đến chỗ rốt ráo được.

Lúc nãy chúng ta nói “nội công ngoại kích”, ngoại kích là sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài nó kích động mình. Nội công chính là pháp, trần, thọ, tưởng, hành bên trong nó công phá mình. Bên ngoài nó kích động, bên trong nó công phá, gọi là nội công ngoại kích. Nếu mình tu mà mình nói chỉ nói: “Tôi dẹp tâm thôi, cảnh không cần” là nó không có đủ. Hay “mình chỉ dẹp cảnh thôi, không cần dẹp tâm” đó cũng không được. Mình chỉ thu nhiếp ở ngoài thôi, mà bên trong mình cứ để nó nghỉ, cho nó thoải mái, để cho cái dục nó sân, si, bản ngã, thoải mái ở trong, thì nó có hết lậu hoặc không? Dù cho mình ở một mình, mình có đóng cửa lại luôn, nhưng mà mình chỉ tránh được cái cảnh, nhưng mà nội công bên trong nó công kích, mình không có nhìn rõ, thấy rõ được. Thì mình không có phương pháp thích hợp, đúng đắn, để mình xử lý nó được tận căn nguyên gốc rễ, thì nó cũng không giải quyết được.

Rồi bây giờ, mình nói là “tôi tu là tu cái tâm thôi à, cảnh sao cũng được, xuống chợ, xuống phố, tiếp xúc thoải mái” thì lúc đó mình tu được không? Ở một mình mà nó còn quậy mình như vậy đó, chứ đừng nói chi mình đi tiếp xúc với những tham, sân, si, dục, ái, ngũ dục ở bên ngoài. Cho nên mình thấy nó vừa có trong, vừa có ngoài, thì bên ngoài mình thu nhiếp, bên trong mình tuệ quán để mình thấy được bản chất của những thứ này là khổ đau, nước mắt, ác độc, tai hoạ. Nó là đầm lầy của tham, dục; là hố than hừng của những cảm thọ, sân, si; là bóng tối của vô minh; là sự đè nặng của bản ngã, mình không ưa thích nó, mình muốn rời xa, từ bỏ, diệt tận nó. Như vậy chúng ta “trong uống ngoài thoa”, tu đủ mọi phương diện bát Chánh, chứ không phải chỉ có một cái, mình nói “ờ, mình vô đóng cửa là xong” hoặc “tôi đi ra ngoài, tôi tiếp xúc không phải tôi, không phải của tôi”. Tu là trong tất cả mọi trường hợp, từ thu nhiếp sáu căn, rồi cho đến chúng ta dùng trí huệ tuệ quán ở bên trong để nhìn thấu cái bản chất, rồi dùng như lý tác ý bằng những đòn roi không nương tay đối với những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã này như chăn bò vậy. Chúng ta thấy sự tu của mình nó đầy đủ không ạ? Nó đầy đủ, cẩn thận, kỹ lưỡng đó là Linh Quy pháp môn.