Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giải Phá Chấp Ngã 1

2026-03-03 00:54:32
GIẢI PHÁP CHẤP NGÃ 1

Thích Minh Thành

Nét đẹp người tu

Minh Thành rất vui khi các sư cô mới về đây tu chỉ vài ngày nhưng biết nhìn nhận lại thân tâm và thấy được sanh khởi của bản ngã, chấp ngã; thấy được những cảm giác khó chịu, bực bội của sân; thấy được sự vận hành của chấp ngã, cao thấp. Các vị có những lời sám hối chân thành giữa đại chúng, Minh Thành rất là hoan hỉ, đó là bước đầu sự phát giác, phát hiện, nhìn thấy được chính mình. Đây là tin vui, nửa tháng sau mới bước vào ngày sám hối nhưng sám hối bằng nghi thức chưa phải nhìn thấy được rác bẩn, cấu uế, dục tham ái, sân hận, bực tức, si mê, vô minh, những chấp ngã tôi ta, mình người. Chỉ khi thấy được những điều đó, mình không chấp nhận nó mình muốn đào thải, tẩy sạch, chấm dứt ở trước đại chúng mình muốn bày tỏ bằng sự chân thành thì đó là nét đẹp của người tu, mới là sám hối chân thật.

Đúng ra là tối nay Minh Thành mệt không có lên tu cùng đại chúng, nhưng nghe thấy các cô sám hối nên ráng tham dự, vì đó là tin vui, tin mừng. Chúc mừng các sư cô, hãy tu sao cho sau này ở trước bất cứ ai mình đều có thể gập đầu lạy được. Thậm chí mình có thể lạy người phạm lỗi, dù họ vu khống mình nhưng trong lòng mình bình an, không có sân hận, tu sẽ đi đến chỗ nhiếp phục, diệt tận chấp ngã. Vì thế hãy mừng lên, vui lên sau khi mình lạy, xin lỗi, nhận lỗi thì phải thấy vui, hân hoan, hỷ lạc. Hãy cảm nhận sâu sắc đó là nét đẹp người tu.

Nét đẹp của người tu không phải đứng tạo dáng ở bên vườn hoa, không phải là một ngồi chùa lộng lẫy, nguy nga. Không phải những y mới đắc tiền. Mà nét đẹp người tu là sự quay về nhìn lại thân tâm và thấy được nhiều lỗi lầm, những cấu uế, sau đó quyết tâm tẩy sạch những rác bẩn. Càng nhìn thấy được nhiều những lỗi lầm của mình chừng nào, thấy được nhiều những tập khí, những cấu nhiễm, xấu xa trong thân tâm rõ chừng nào thì khả năng nhiếp phục đi tới chỗ trong sạch, thanh tịnh càng lớn.

Minh Thành sẽ chia sẻ với đại chúng về “nhận diện chấp ngã”. Chúng ta học Phật sẽ nghe rất nhiều lần danh từ “chấp ngã”, “cái ta”, “cái tôi”, “bản ngã” nhưng để hiểu một cách chính xác, rõ ràng, tường tận thì không phải chuyện dễ. “Nhận diện” là nhìn thấy được bộ mặt của bản ngã, “nhận” là nhận ra, “diện” là gương mặt, bộ mặt của chấp ngã sâu sắc trong thân tâm mình.

Thế nào là chấp ngã? “Chấp” là nắm chặt, bám chặt, níu chặt, ghì chắc không buông ra, “ngã” là một cái tôi. Vậy, nắm vào cái gì để có “cái tôi”? Chỉ có Kinh tạng Nikāya mới nói một cách đầy đủ. Từ “chấp ngã” rất chung chung, nếu chỉ nói bằng miệng mà không hiểu thật sự thì mình không có thấy cái ngã. Nói đây đủ phải là “chấp ngũ uẩn làm bản ngã”, tức là sâu thẳm bên trong tâm là sự bấu víu, bám vào cục thịt mấy chục ký lô hết sức khủng khiếp. Chẳng hạn, khi chào người ta nhưng họ không thèm dòm là khó chịu, bực mình. Người khác thấy mình là người xuất gia nhưng không thèm xá chào là trong lòng buồn buồn buồn, không thích.

Thậm chí, chỉ là bóng hình trong ảnh thôi còn gỡ không nổi, đừng nói chi tới cục thịt mấy chục ký lô này. Hình mình chụp mà người ta làm cho xấu xí thì mình đã khó chịu, trong khi đó chỉ là cái bóng, là tấm hình. Chính vì sự bám chặt, bấu víu vào sắc uẩn, đống thịt, bị thịt, bao thịt, túi thịt, khúc thịt này, nó bám chặt vô nó là thâm căn cố đế, vô lượng, vô biên, vô số, vô ức, vô hạn, vô tỷ kiếp. Và sao cái tâm mê đó, cái tâm không nhìn thấy được năm uẩn, nó không biết là sắc uẩn. Nó làm ổ, nó làm tổ, nó làm hang, nó làm sào huyệt ở trong đống sắc này, nó làm tổ trong đây rồi đi ra không được, tối ngày cảm giác và nghĩ tưởng của nó là lòng vòng ở cái đống sắc uẩn này.

Trong kinh “Dây thằng”, Đức Phật ví dụ hình ảnh con chó bị buộc vô cái cột, nó có đi có đứng có ngồi, nó có nằm, nó đi nó cũng đi đến ngũ uẩn, nó đứng nó có đừng gần ngũ uẩn, nó có nằm nó cũng nằm gần ngũ uẩn. Giờ mình nói sắc uẩn riêng thôi thì nó đi nó cũng đi đến gần đống sắc uẩn này, nó có ngồi nó cũng ngồi gần cái đống sắc uẩn này, nó có nằm nó cũng nằm gần đống sắc uẩn này, nó đứng cũng gần cái đống sắc uẩn này, làm tổ trong này rồi. Khủng khiếp cái tổ, chín ngàn chín trăm chín mươi chín tỷ năm. Nên nếu mà tu phá được cái thân kiến là bậc dự lưu thánh quả thứ nhất (16:51), nên khóa tu của các cô đây là chú trọng vô thành tựu chánh tri kiến. Mình sẽ nghe học nhiều hơn, mình phải biết rằng là một thân kiến là kiến chất về thân xác này, thân kiến này là một cái ghê ghớm, khủng khiếp. Chính vì nó bám chặt, bấu chặt, dính chặt, ghì chặt, nắm chặt vô những cục thịt này cho nên nó vừa chết thôi là nó nhào vô cục thịt khác. Như thế thì như bộ kinh nói làm liên tục hiện hữu sắc nên gọi là chúng sanh, nó liên tục làm cho sắc hiện hữu. Chúng sanh là gì? Chúng là chỉ cho sắc, (…) (17:52) chúng nó sanh khởi liên tục, cho nên chỗ này là chỗ ta cần phải quán chiếu sâu sắc còn bằng không mình tưởng tu ngon lắm chưa có ngon. Mình ở trong tri kiến của phàm phu chứ không phải là thể nhập được tri kiến của bậc thánh. Cho nên là một cái ổ trong này, cái hang ổ trong này, cái tổ trong này, một cái xào huyệt trong cái sắc thủ uẩn này, thất sắc thủ uẩn. Chữ “thủ” đó là mấu chốt của vấn đề, cái “thủ” đó đồng nghĩa với chữ “chấp” và gọi chung là chấp thủ. Nắm và giữ, nắm chặt không buông ra, trời gầm không nhả, tới khi mà hơi thở gần tắt đi mà nó còn chưa thấy được cái đây là một đống sắc uẩn vô thường. Nó vẫn nghĩ rằng mình sắp sửa chết, mình sắp sửa bị mất hết, khủng khiếp không? Đó là “trời gầm không nhả”, tới chết cũng không tỉnh ngộ. Đó là cái mê khủng khiếp của cái tâm này. Biển cả khô rồi còn thấy đáy, người đời cho đến chết cũng không biết được cái mê của mình. Nếu mà không phải là đa văn thánh đệ tử, nếu mà không nghe thánh trí năm uẩn này thì vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày sức ly khỏi cái sắc thủ uẩn này. Cho nên hôm vày con cho các cô ngồi thiền quán, mảng tứ đời, (…) (19:52) mục đích của nó phá chấp sắc thủ uẩn.

Con thưa thiệt với đại chúng tuy quán nghe vậy nhưng thật là mối của nó là mới hở hở chút xíu thôi, sợi dây mà nó quấn vô nó buộc là hàng trăm hàng ngàn cái lớp. Khi mình nghe thì cái lớp ở bên ngoài nhất nó hở hở ra một chút, nới nới một chút, thì ra khỏi thiền đường, vừa bước ra khỏi thiền đường thôi là nó siết vô trở lại. Mình thấy tâm mê có khủng khiếp không? Mình mới nhìn lại coi, mình muốn ăn cho ngon thì cái gì nó ăn? cho cái gì ăn? Cho nó đẹp, ăn cái gì cho đẹp da? Ăn cái gì là bổ phổi? Ăn gì để cho bớt nổi mụn? bao nhiêu những thức ăn là nhằm chăm sóc bảo dưỡng, nghĩa là tưới tẩm o bế đủ thứ hết trơn. Rồi chạy chiếc xe cho ngon lành để ngồi cho nó êm, cái cảm giác nó sướng sướng, nó qua bên thọ đó. Căn nhà cũng vậy, tất cả những cái mà mình phải chạy đuổi mình đi tìm nó, để mình phục vụ nó là sắc uẩn, cảm giác thọ uẩn. Nó chạy lòng vòng, thọ tưởng hành nó chạy lòng vòng, thức đối với sắc uẩn này. Suốt cuộc đời mình chỉ có vậy, rồi đi tìm những cái mình muốn tức là dục, tham và ái. Nó sai khiến mình cứ chạy hoài đi tìm, không có tự do, mình là kẻ nô nệ, thân này là nô nệ cho tham ái, thân này là tay sai cho những ham muốn, thân này là khao khát, là thiếu thốn, là đòi hỏi, là ước ao, là hy vọng, là mong đợi, mong chờ, mong muốn, mong ngóng. Luôn luôn khổ ở trong cái dục đó, dù cho có thật nhiều nó cũng khổ, không có nó khổ đã đành rồi, có nó khổ theo kiểu của có. Mà có nhiều nó khổ thêm nhiều, mà mất nó càng khổ thêm nữa. Tại bản chất của cái dục nó vô thường, vô ngã, trống rỗng. Do cái tâm mê, cái tâm si ái, cái tâm không có từng được mở con mắt trí tuệ cho nên nó bám chặt vô cái sắc thủ uẩn. Chữ “thủ” đó chánh đặng chánh giáp của Thế Tôn, nhìn đã thấy được chữ “thủ” đó. Chính vì nó bám chặt vô trong cái bộ xương này, nó bám chặt vô túi da này, của gan, phèo, phổi, bao tử, dạ dày này nó bám chặt vô những thứ này đó, cho nên những cái mà thuộc về nó là nó bám chặt theo luôn. “Tôi” ở đây là của tôi, những thứ này của tôi. Đó là một cú lừa ngoạn mục, cái tâm mê nó bị lừa, nó bị một vố khủng, do nó lầm tưởng, nó ngộ nhận. Nó cho rằng, nó cho là, đây là “tôi”, đây là của tôi. Nhưng nó không biết rằng những cái này mà nó cho là “tôi” này là những thứ bại hoại, tan nát, hoại diệt, hủy hoại, bệnh hoạn, ác nạn, khổ nạn, nguy nan, hoạn nạn, hiểm nạn. Nó không biết, cho nên tới khi mà đổ ra những cái biến động đó, những cái vô thường đó, những cái tai nạn đó, lúc đó nó sầu bi khổ não. Nước mắt đầy mặt, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu, không chấp nhận được những cú sốc, và thậm chí là nhảy cầu tự vẫn. Tất cả là điều, từ chỗ mà cái tâm mê không nhìn ra được, lầm chấp, ngộ nhận, đây là “tôi”, đây là những cái “của tôi”. Mà không biết đây chỉ là sắc phạm của tứ đại, cho nên chúng ta phải học thiệt là kĩ trí tuệ và năm uẩn.

Thầy nói: Mời vị nào xung phong đọc về trí tuệ sắc uẩn, hỷ trí và sắc

Phật tử nói: “Nam mô bổn sư Thích ca mô ni phật, con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô, cùng quý phật tử. Con phật tử “Liên Phúc” con xin đọc về thiện chí về sắc. Sắc bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành Kinh thủ chuyển bị thay đổi nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì bị thay đổi bởi cái lạnh, nóng, đói, khát. Sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn, kiến gián được ăn (26:37). Sắc sanh do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, sắc diệt do các thức ăn đọan diệt nên sắc đọan diệt. Sắc diệt đạo phương pháp tu tập đưa đến sắc điệt đạo là phương pháp tám đúng. Vị ngọt của sắc do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì? Lạc hỷ này là vị ngọt của sắc, sự nguy hại của sắc, sự vô thường cực khổ chịu sự biến hoại đây là sự nguy hại của sắc, sự xuất ly của sắc, sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn dục của tham đối với sắc. Đây là sự xuất ly của sắc. Nam mô bổn sư Thích ca mô ni Phật”.

Đó là bảy trí tuệ và sắc, phải học thuộc lòng, nghiền ngẫm nó mỗi ngày mỗi giờ, tháo gỡ cái chấp thủ ở trong đống sắc uẩn này. Phá cái ổ đó, phá cái tổ của nó, phá cái xào huyệt của cái tâm mê nó bám chắc vào trong đó, phá từ từ, gỡ từ từ, mình càng gỡ chừng nào thì mình càng nhẹ đối với nó chừng đó. Cái tổ thứ hai, cái ổ thứ hai là thọ thủ uẩn, cảm giác nó bấu chặt, bám chặt, nó víu chặt, nó ghì chặt, nó nắm chặt những cái cảm giác nó cho rằng đó là nó, là “tôi”, là “của tôi”. Lấy ví dụ khi mình ngồi thiền mình có ngứa một chút và mình nhận ra đây chỉ là cảm giác thôi, đây là cái cảm giác hiện tại, mình đang có một cảm giác ngứa, cảm giác khó chịu. Mình nhận diện cảm giác đó, không có chạy theo cảm giác đó, còn nếu mình không có nhận diện, không có nhìn thấy thì nó vừa ngứa cái thì gãi liền, gãi sột sột liền. Ví dụ bây giờ mình nghe người kia nói một câu phê phán chỉ trích thì trong này có một cảm giác bừng bừng khó chịu khởi lên, thì mình không có nhận diện đây là một cảm giác khó chịu, cảm giác sanh, cảm giác này là do duyên sanh, do tiếp xúc với những tiếng nói đó, hình ảnh đó cho nên có sanh ra cái cảm giác này. Đây chỉ là cảm giác thôi, một cái cảm giác khó chịu, cảm giác sanh, mà khi mình nhận diện nó đó là cái cảm giác thì lúc đó mình đã bắt đầu có cái sự tách ra đối với cái cảm giác. Còn cái này mình nghe bật nên là mình bừng bừng, phừng phực lên, tại vì mình nhập cái cảm giác đó làm một, cho cái cảm giác đó là mình, là “tôi”, tôi đang giận, tôi giận lắm rồi, thì lúc đó là do cái thọ thủ uẩn, cái “thủ” này đang bám sâu, bám chắc, bám chặt và nó nhận cái thọ đó làm nó. Cho nên không thấy đó là một cảm thọ, cảm giác, chỉ cần khen cái là hỉnh hỉnh lỗ mũi, phơi phới, chê cái là sân hận, khó chịu, buồn bã, ngủ không được, ăn không được. Cái hang ổ thứ hai đó là: thọ thủ uẩn, của cái tâm mê nó bám vào đó, nó bấu chặt vô đó, nó nhận cái “thọ” đó là nó, mà nó không biết cái cảm thọ đó là cảm thọ thôi, là cảm giác thôi chứ không phải là mình. Cho nên con hay chia sẻ với đại chúng khi mà có cảm giác vui hay là không vui mình nhớ mình niệm cái câu lên, cái thọ này chỉ là cảm thọ, đây chỉ là cảm giác không phải là “tôi”, không phải “của tôi”, niệm cái câu đó lên, niệm nhiều lên để mình có khả năng tách nó ra từ từ. Thí dụ mình có cảm giác hơi khó chịu mình niệm liền: “đây chỉ là một cảm giác thôi, đây là cảm giác khó chịu, cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi, cảm giác này là cảm giác vô thường, biến đổi một chút là nó diệt à, cảm giác này là thứ mà làm đưa mình tới chỗ khổ, mình đừng có bám vô đây, bám vô đây mình sẽ làm khổ mình, làm khổ người, làm khổ cả hai. Cảm giác này là duyên sanh do nghe cái tiếng đó mới bắt đầu phát sinh ra cảm giác, trước kia mình đâu có nghe thì mình đâu có cảm giác này”. Xúc cho lên nó mới sinh thọ, do tiếp xúc cho lên nó sanh ra cái cảm thọ, cảm giác, nó là duyên sanh, là thứ vô thường, cái thứ sinh diệt, tại sao mình lại bám vô thứ này để mình cho rằng “tôi”, và “của tôi”, để rồi mình đau khổ, mình không cười, mình giận hờn, bực tức, thù hận. Đó là phương pháp để mình tháo gỡ, Đức Phật dạy trong bộ kinh. Cảm thọ này là vô thường, cảm thọ này là duyên sanh, cảm thọ này là trống rỗng, cảm thọ này không phải cái đáng để cho mình ưa thích. Mình tập tách mình ra khỏi cảm thọ, không có chấp thủ bám chặt vô cái cảm thọ cho rằng là mình. Từ đó mình từ từ, lần lần mình tách ra, thoát ra, đi đến cái chỗ xuất ly ra các cảm thọ, mình phải tập một cái cảm thọ an tĩnh, lắng dịu, dễ chịu. Mấy cô phật tử có sâu chuỗi, tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, mỗi khi mình nói ra tức là pháp lệnh, mình phải theo cái pháp lệnh đó và mình thấy rõ ràng cái cảm giác của mình nó lắng lắng xuống, nó dịu dịu xuống. Mà ta thấy được cái cảm giác chứ không phải nói miệng không, thấy cảm giác của mình rõ ràng nó có lắng xuống, nó có dịu xuống, cho nó chậm chậm từ từ chứ không cần nhanh, rồi xong mình đọc cái cảm giác dễ chịu, mình thấy có một sự dễ chịu. Mình tập như vậy quen rồi khi mình bực mình lên thì mình niệm lên liền: “lắng dịu đi, dễ chịu đi”, nó sẽ từ từ ngoan, cái cảm giác đó là một cảm giác có tu tập, cảm giác có huấn luyện, cảm giác có giáo dục, cảm giác có dạy dỗ. Mà người đã huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ được cảm giác của mình ta gọi là người làm chủ được cảm xúc, mà người làm chủ được cảm xúc là người này có bình an, dầu trong chỗ bất an người này vẫn có được bình an. Đó là nghệ thuật cảm xúc, nghệ thuật cảm thọ, trí tuệ , sự tu tập cảm giác, bằng không là nó nổi lên cái gì là mình chụp cái đấy, nó nổi lên cái gì là mình chạy theo cái đó, một ngày mình chìm nổi không biết bao nhiêu lần, thấy hình dáng này khó chịu bực rồi. Nghe tiếng là thấy sân, nghe cái điện thoại thôi nghe xong muốn đập cái điện thoại, quăng cái điện thoại. Như vậy thì mình là nô lệ cho cảm giác, mình bị cảm giác sai khiến, mình bị cảm giác nhận chuyển, bị cảm giác nó hành hạ, bị cảm giác nó thiêu đốt. Mình nô lệ cho cảm giác, suốt cuộc đời mình chạy đi tìm cái cảm giác cho nó đã, chạy đi hoài đi tìm cái cảm giác, ăn cho ngon rồi có phải cảm giác của cái lưỡi không? Cái gì đẹp đẹp là cảm giác của con mắt phải không? Nghe cái gì êm êm là cảm giác của lỗ tai, rồi mùi thơm là cảm giác của mũi, cái thân ngồi ghế sa lông quen rồi bữa nay ngồi ghế tre một hồi trở qua trở lại, cảm giác cái thân, sau ngồi một hồi “phải đây là ghế sa lông thì đỡ rồi”. Cho nên là cả cuộc đời mình là chạy theo cảm giác, rồi phục vụ cho cảm giác, đừng có nói tu mà không chạy, tu có khi chạy còn hơn nữa, người tu nếu mà không có chánh trí kiến, không có thực hành pháp hạnh, không có nhìn thấy năm uẩn, không có nhiếp phục cảm thọ thì coi chừng người tu còn chạy hơn người ta, đó là chấp thủ thứ hai. Thọ thủ uẩn, hang ổ thứ hai, xào huyệt thứ hai, mà cái này nó chắc lắm, nó cứng lắm, tất cả cái cảm thọ này nó sanh khởi lên mình chụp lấy mình nói đây là “tôi” hết. Tự nhiên mình đang ngồi trong chùa, đang đọc kinh sách, đang ngồi yên tĩnh, thanh tịnh, tự nhiên nó khởi lên buồn, tủi thân, hẩm hiu, mấy người kia sư phụ lo, mình không ai dòm tới. Mấy người kia có phật tử hỗ trợ sao mình không ai? buồn, tự nhiên ngồi buồn, rồi cái buồn nó sanh khởi cái cảm giác đắm chìm trong đó, hình bóng đó hiện ra, tưởng uẩn nó hiện ra, xong rồi hành uẩn suy nghĩ, hình bóng đó khởi lên trong tâm, rồi mình nghĩ cuộc đời mình năm bảy tuổi, mười mấy hai chục tuổi, rồi hai mươi mấy tuổi, nó hiện ra những hình bóng đó, quay lại cái phiên diện. Những cái gì hiện lên là nghĩ nói là mình, nhận hình bóng đó là của tôi. Rồi bắt đầu suy nghĩ nó lòng thòng, hành uẩn nó lòng thòng, nó nói nãy giờ nói này nói kia, rồi xong chìm hết vào trong cái cảm thọ đó, trong cái tưởng đó, trong cái hành suy nghĩ đó, không thoát ra được, không nhìn thấy đây là một cảm giác, đây là một hình bóng tưởng, đây là một cái ý hành suy nghĩ, không thoát ra được. Chìm xuống, nhấn chìm xuống, mà tư tưởng đó nhiều thì dần dần người này bị trầm cảm đó, trầm là chìm, cảm là thọ đó. Bệnh này giờ nhiều lắm, chỉ trong cảm giác vậy thôi, ở những hình bóng, ở những suy nghĩ rồi cứ luẩn quẩn trong đó hoài, không đi ra được rồi là trầm cảm, chìm trong những cảm thọ đó, cảm giác đó, những hình bóng đó, những suy nghĩ đó, nó lòng vòng hoài. Đó là những cái chấp thủ trong đó, sự bám víu chặt ở trong đó, cái này nó sâu sắc lắm, mà nó hay lắm, mình phải tu cái này không tu cái này thì tu cái gì? Con nói mấy cô lớn tuổi, ngồi một mình cứ nhớ lại mấy cái người mà làm cho mình khổ, người này họ làm cái gì? Người kia họ làm cái gì? Mình đối xử với họ vậy mà họ hành xử với mình như vậy. Buồn, buồn rồi có khi là nước mắt chảy một mình, nếu có người nào cứ ngồi xuống mình tâm sự tiếp, kể lể hết những chuyện đó rồi nó chìm vô trong đó. Mà cứ vậy giống như bức tranh hay là trên tờ giấy cứ tô màu, tô hoài, càng tô thì nó càng đậm. Những cảm giác nghĩ tưởng nó cứ được đắp lên, được tô lên, được vẽ lên, được bôi lên, càng cho nhiều vô, như vậy liên tục làm cho liên tục hiện hữu sự kho tưởng hình thức, những sắc tưởng bên trong, những hình bóng ở trong, cái cảm giác, cái suy nghĩ bên trong cứ làm cho liên tục sinh khởi hoài, sầu bi khổ não tiếp diễn hoài. Ngồi cười một mình, mấy người trẻ trẻ mới biết tình cảm, biết yêu, khi ngồi cười một mình hoài, tưởng sống với những hình bóng đó, những cảm giác ảo đó, những suy nghĩ ảo đó. Rồi những người mà chịu hết nổi nó bung ra, tức là nó không còn những hình ảnh cảm giác, mà ý hành trong đó nó bung ra khẩu hành, thì người này gọi là người gì? Bung ra khẩu hành là bung ra thân hành luôn, bị thần kinh. Tức là thọ tưởng hình thức nó vận hành quá khủng khiếp, nó quá liên tục đi, nó quá tải, nó bứt, nó xúc bảng lề ra, người này trở thành người điên rồi. Cho nên mình tu hồi nãy nói đó, phải tập tâm lắng dịu, tập dễ chịu nó làm cho yên tịnh thọ tưởng hành. Cảm giác của mình phải được lắng dịu, những hình bóng đó phải được lắng dịu, những suy nghĩ đó phải được yên tĩnh lắng dịu, thì khi mà những thứ đó lắng dịu, thức của mình mới tinh mình, nó sáng tỏ, khi đó nó nhìn, nghe, tiếp xúc một cách hiện thực sâu sắc đúng chính xác. Còn thấy một người cứ buồn cái gì đó, giận ai đó hay là cứ lo vu vơ cái gì đó mà nói chuyện hồi, mà nói đã mà nãy giờ không có nghe thấy gì hết. Tại vì cái tâm nó đi đâu, tâm không hình không tướng, nhưng mà nó đi rất xa, đi lang thang, cho lên là sự tu học của mình là nó không ra ngoài ngũ uẩn, phải nhận diện thường xuyên thường trực, coi coi cái thân thể nó đang như thế nào vậy? nó ngồi có đàng hoàng không? cảm giác nó đang như thế nào? nó có khó chịu dễ chịu hay là không khó chịu không dễ chịu, nó có tham sân gì trong này không? nó có si không? có đơ đơ ngơ ngơ không? đờ đờ đẫn đẫn không? nếu có thì đánh đuổi nó ra, rồi những hình bóng thân tâm là gì? những hình bóng tưởng đó là cái gì? nó đang có hình bóng gì trong này? những hình bóng đó là áp bức thiện pháp thì mình phải như lý tác ý mình tác ý mình đánh đuổi hình bóng đó ra không có chấp nhận, những suy nghĩ cũng vậy, nó đang suy nghĩ cái gì suy nghĩ là thiện hay là bất thiện, đó là một sự kiểm soát thường xuyên thân tâm của mình. Và luôn luôn lúc nào cũng phải niệm câu “thọ này, cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi”. Những hình bóng này là những hình bóng nó làm cho mình khổ, mình nhớ người đó làm cho mình khổ không, rồi mình buồn nước mắt mình chảy. Những hình bóng này là tưởng uẩn , không phải là tôi, không phải là của tôi, những hình bóng này là vô thường, là quá khứ, là duyên sanh, là trống rỗng, không có gì ở đây hết, cứ đi theo những hình bóng này làm mình sầu, bi, khổ, u, não, buồn, giận thương, ghét. Mình phá chấp thủ trong sắc thọ hành thức, những suy nghĩ cũng vậy, ngồi rồi suy nghĩ bậy bạ, suy nghĩ lung tung, suy nghĩ lang thang. Như vậy điểm đầu tiên mình phải nhìn thấy được cái sự chấp thủ vào trong năm uẩn, cho là bản ngã, đó gọi là chấp ngã. Mình mới thấy được ý nghĩa của chữ “chấp ngã”, cũng như mình nhận diện được chấp ngã là gì? Ở bên trong mình luôn bám chặt vào sắc, bám chặt vào cảm giác, bám chặt vào những hình bóng suy nghĩ, cái rỏ biết nhận thức bám chặt ở đó là chấp ngã. Mình phải tập, tập niêm câu: “Sắc không phải là tôi, không phải là của tôi. Thọ không phải là tôi, không phải là của tôi. Tưởng không phải là tôi, không phải là của tôi. Hành không phải là tôi, không phải là của tôi. Thức không phải là tôi, không phải là của tôi”, duyên sanh thôi, tập luyện cái câu đó, tập luyện quán chiếu, tập kiêm nghiệm, tập tháo gỡ, tập gỡ ra mình sẽ mở ra cái sự chấp ngã ở trong năm uẩn. Phương pháp đó là nói trong suy nghĩ thôi, để nhìn nhận đầu tiên, còn bây giờ phương pháp mình để mình hạ gục bản ngã, để mình hạ thấp cái bản ngã, để mình khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Năm khiêm, trong nghi thức tu học của chúng ta, làm sao để mình thực tập? Xin thưa với đại chúng cái bản ngã này là một cái hết sức là khủng khiếp, khủng khiếp vô cùng, nguy hiểm vô cùng, và tai hại vô cùng cái bản ngã này. Không có ai hại mình được hết, bản ngã nó hại, không có bất cứ một người nào một cái gì bên ngoài mà hại được mình hết, mà cái “tôi” bên trong nó hại mình. Giờ con mới nói vị ngọt của bản ngã, nói gọn ba trí thôi: vị ngọt của bản ngã, sự nguy hại của bản ngã, sự xuất ly của bản ngã.

Vị ngọt của bảng ngã là như thế nào? Do bản ngã nó có cái vị ngọt, cho lên người ta mới ưa thích. Cái vị ngọt của bản ngã nó có vị ngọt, sự chấp ngã, dùng từ chuẩn hơn nó là chấp ngã có vị ngọt. Cái bản ngã thực ra nó không có, nhưng do mình chấp riết nó thành ra một cái giống như là có và nói đầy đủ sự chấp ngã đó nó có vị ngọt. Nhìn vô gương mình thấy hình bóng mình thấy đẹp không? Đẹp. Đó là vị ngọt đó, mình ăn mình thấy ngon khi mình được thưởng thức món ngon mình thấy có vui không? vị ngọt đó. Tất cả những cái gì mình tiếp xúc mà mình khoan khoái thích thú, cái đó gọi là vị ngọt, sung sướng đó là vị ngọt. Ví dụ, ta lại ta khen sư cô tu hành tướng ngạo quá, tướng sư cô chắc phải tu mười kiếp rồi, nghe câu đó xong cảm thấy cảm giác khoan khoái, thích thú, phơi phới, đó là vị ngọt. Bây giờ nói ngược lại, chê trách chỉ trích mình, mà khi mình giận lên như vậy mình đừng tưởng cái sân đó nó không có cái ái ở trong đó, vị ngọt ở trong cái sân đó, cái này là cái hết sức thâm sâu. Tại sao mình không bỏ cơn giận được? tôi không thể nào tha thứ cho người đó được, tại vì cảm giác sân đó mình thấy thích, khoái khoái cảm giác sân đó, mình cho là cảm giác sân đó là đúng. Người đó làm như vậy thì không thể không giận được, cái giận này của tôi là đúng, và mỗi khi giận lên tuy là nó khó chịu nhưng mà nó có một cái là muốn có, nó thích cái giận đó, bữa nay có mấy cô phật tử Minh Thành mới hạ thấp xuống đó, thì như vậy trong cái sân đó nó có vị ngọt ở trong đó cho lên chúng sanh mới đam mê, thích cái sân đó, và không bỏ được cái sân đó. Nó ghê gớm như vậy đó, chính vì nó có vị ngọt cho lên người ta mới giận mười năm được, trong đó có khổ không thì không ai giận được hết, không ai muốn giận hết. Mà giận mười năm năm, giận suốt đời, họ ôm cái giận đó, khoái cái giận đó, thích cái giận đó, muốn giữ cái giận đó, muốn chứa cái giận đó, đó là chất chứa cái khổ. Cho nên vị ngọt của bản ngã, cái này mình không phải nói nhiều, nó đầy rẫy hết, nó bám vô hết tất cả, nào là sáu căn, sáu trần, sáu thức ngũ uẩn nó bám hết vô, nó nhận làm nó. Lấy ví dụ bây giờ con đi lòng vòng cái núi con ngắm mây, bình mình mặt trời lên, đứng ở trên cổng trời con nhìn thấy đẹp, cũng được quá phải không, cái cảnh mình tạo ra vậy cũng được. Đó, dục ở trong đó, ái ở trong đó, bản ngã ở trong đó, khoái khoái trong đó, thích thích trong đó. Rồi mấy sư cô ngồi thiền, khi ngồi ở mấy chỗ cửa kính thấy bóng mình soi trong đó nhìn thấy tướng mình nay coi cũng được quá ta, đó, nó nhỏ từng chút từng chút vậy. Mình tu mình phải là cái bóng thôi mà nó cũng chấp ngã, chứ đừng có nói đó là mình phải như lý tác ý mình phá những tư tưởng mà ưa thích khoan khoái đó. Cái nguy hại của bản ngã là khủng khiếp lắm, phải quán diệt cái tính nguy hiểm và tác hại của bản ngã, cái chấp ngã này hết sức là hiểm họa không lường, những chuyện mà xảy ra hàng ngày mình không thể tưởng tượng được. Đứa con mà xin tiền mẹ, mẹ không cho mà còn la mắng, chửi nó, lúc mẹ đang đội cái nón lá nó lấy cái quai nón lá siết cổ mẹ nó chết tại chỗ, nó bỏ vô cái bao, cái bao mà đựng gạo đó đẩy vô trong cái lùm cây. Mình run sợ cái chấp ngã này không? Mình khiếp sợ với cái sự chấp ngã này không? Phải hoảng sợ với cái chấp ngã này không? Thấy lo sợ với cái chấp ngã này không ? Một khi mà nó đã sanh khởi lên bản ngã đó rồi nó không kể cha mẹ, ông bà gì hết, cha con gì nữa hết, anh em gì hết. Nó sẵn sàng sát phạt, nó giết, mà chúng ta có thấy không? Vài bữa nghe một vụ toàn là con giết cha mẹ, vợ chồng, bà cháu. Khủng khiếp, tất cả những cái đó là gì? Là bản ngã sinh hận, đó là sự nguy hại, nguy hiểm, tai họa của sự chấp ngã đó. Mà nó đưa đến cho cuộc đời này, thế giới này đổ nát, tan nát hết. Hai người bạn quen biết với nhau mấy chục năm, nhưng có thể một lời nói, một hành động gì đó thì có thể trở thành, thân trở thành sơ, thậm chí trở thành kẻ thù. Tại sao? tại vì bản ngã, mẹ con có thể không nhìn mặt nhau tại vì bản ngã, anh em không đội trời chung vì bản ngã, thầy trò mà đi nói xấu nhau mà thậm chí còn thưa ra tòa nữa, vợ chồng thưa kiện ra tòa đó thì trong đó là bản ngã tham, sân, si. Nó làm cho cuộc đời này không còn tình nghĩa không còn, sự hòa hợp, không còn sự an ổn, nó bất an, nó đổ vỡ, nó tan nát hết tất cả thế giới này, đó là sự nguy hại của bản ngã, khủng khiếp lắm, bây giờ nói mười năm chưa hết. Cái mà tác hại này nó nguy hiểm của thứ này nó làm trên cuộc đời. Cho nên mình tu mình phải tập, cảm giác bản ngã sanh khởi lên mình thấy rung mình, thấy mình sợ hãi, mình thấy mình kinh khiếp cảm giác này, cảm giác “ta đây” này. Thứ này là thứ ác độc, thứ này là thứ nọc độc, rắn độc, hiểm độc, độc nhất ở trên thế gian này là cái bản ngã, cái sự chấp ngã đó. Nó sanh khởi lên một cái mình thấy mình quá sợ, ta khiếp sợ mi, ta hoảng sợ mi, ta kinh sợ mi, mi hãy tan biến trong tâm ta đi, mi đừng ở đây, ngươi hãy tan biến đi, tan biến khỏi ta, tan biến khỏi đời ta, ngươi đi xa đi, ngươi hãy tan thành mây thành khói thành hư không đi. Không có cho phép cái cảm giác bản ngã sanh khởi lên mà cho nó lưu trú ở trong thân tâm của mình, không cho phép, nó sanh khởi lên mình phải tác ý cho tới lúc nào mà cảm giác bản ngã đó nó tan hết ra, hoàn toàn không còn sự bực dọc, sân hận, khó chịu đó nữa, cho nó tan hết ra, trở về cảm giác an tĩnh, không cho nó cư trú, không cho nó tạm trú, không cho nó lưu trú, và tuyệt đối là không cho nó thường trú. Khi cái tôi nó sanh khởi lên nó bất kể trên dưới, trên trước tình nghĩa, ân nghĩa, đạo đức vì nó bất kể, nó sẵn sàng đốt cháy hết, nó phá nát hết, đập hết, tan hết.

“Bản ngã này thật là ngang tàn,

Ngu si ương ngạnh chẳng biết điều.

Cống cao ngạo mạn ta đây lớn,

Đổ nát tan vỡ người tin yêu.

Bản ngã này là kẻ đáng khinh,

Hoen ố chiếc áo vải nâu sòng.

Uổng công sớm chiều chuông với mõ,

Cả đời dưa muối cùng tương rau.

Bản ngã này là thứ thối tha

Áo vuông đầu tròn chẳng nhận ra.

Hãy xem kĩ lại, xem kĩ lại.

Mình kẻ tu hành người xuất gia.

Bản ngã này là một đống phân

Bốc mùi hôi tanh bay rất xa.

Ngày đêm phản tỉnh lo tẩy rửa.

Vệ sinh quét dọn cho sạch tinh”.

Cho nên người tu mà không có nhiếp phục cái bản ngã, không quán chiếu, không tu tập thì cái bản ngã này nó làm cho hoen ố cái chiếc áo nâu, nó làm cấu uế cái lớp cà sa, người ta nhìn ta không nhận ra đó là người tu. Người tu mà vênh váo, ta đây, người tu mà dương dương tự đắc, cho mình là hay, thì đây là nó bốc mùi, giống như mình lại gần nhà xí, cầu tiêu mà nó hôi, người tu mà không quay lại để nhìn, để nhiếp phục, để chế ngự, để đánh gục cái bản ngã thì đời tu của mình nó âm chứ không phải là con số không. Đó là vết nhục của người xuất gia, rất là xấu hổ và nhục nhã, người tu phải là một người hiền từ, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, đức hạnh, dễ thương, dễ dãi, dễ nghe, dễ nói, dễ gần, dễ tha thứ, dễ cảm thông, sống hòa đồng, quý trọng. Tại vì sao? tại mình không quay lại nhìn mình quán chiếu, nhiếp phục tu tập, nên ở chùa càng ngày càng lâu nó phát huy, nó tăng trưởng, nó phát triển mà mình không hay không biết. Cho nên có khi lại gần mình thấy bốc cái mùi lên, thật sự là không dám lại gần. Động là quát, là la, tu để cuối cùng rồi cái bản ngã nó khổng lồ, tu để cuối cùng rồi một cái bản ngã ngất ngưởng, tu để cuối cùng được cái bản ngã siêu to, tu để cuối cùng được một bản ngã như núi tu vi, nguy hiểm, thật sự hết sức là nguy hiểm. Một người chân tu, càng tu lâu chừng nào thì càng có một sự khiêm cung, nhún nhường, luôn hạ thấp mình xuống. Mà cái bản ngã càng hạ thấp chừng nào thì đức độ người đó càng cao thượng chừng đó. Chứ không phải tu riết là không ai dám lại gần nữa, mấy mươi năm con ở trong chùa nhìn lại, trước khi con đi vào trận pháp này, mình tưởng đâu mình cũng tu khá, cũng tu đỡ lắm nhưng khi mình vào trong đây rồi mình nhìn lại mình thấy nhục, mình không ngờ mình chỉ lo cái này lo cái kia, cái chuyện ở ngoài, và khi mình đối diện lại, mình vào trong thất mình nhận diện năm uẩn một cách sâu sắc, thì mình thấy mình sốc. Tại sao bây giờ mình lại ta đây hơn lúc còn làm chú tiểu mới vô chùa? Mình tu ba chục năm để được bản ngã khổng lồ, để được một bản ngã to tướng, để được một bản ngã to lớn, to đùng. Đúng là đắng cay, ác độc, tu như vậy là tai nạn, là hoạn nạn, là ách nạn, là khổ nạn, là hiểm nạn. Tu thì được ăn trên ngồi trước à? Tu là được người ta cung ta kính hả? Tu là được danh được lợi hả? Tu để được người ta quỳ, người ta lạy hả? Tu để được một cái chùa thật to, tu để lên được một chức lớn cao, để mọi người lạy lục. Sai đường, đi sai đường rồi, cho nên cái sự nhiếp phục bản ngã thực hành của chúng ta. Cái thứ nhất, cái dễ nhất để cho mình thực hành là cái hạnh quỳ lạy, sám hối, xin lỗi là bước đầu tiên của sự nhiếp phục bản ngã, mình thấy mình có lỗi là mình xin lỗi liền bất cứ người đó là lớn hay nhỏ, mình sẵn sàng quỳ xuống lạy, sám hối, bày tỏ và xin lỗi. Nói một cái lời thấy cái đó không phải chánh ngữ, mình sám hối, mình xin lỗi, hành động mình thấy cái đó lố, thô bỉ, không phải hành động của người tu mình sẵn sàng quỳ xuống lạy xin lỗi, sư tỉ của mình, thầy của mình, những bậc trưởng thượng, thậm chí là huynh đệ ngang hàng, đắp y quỳ lạy xuống xin lỗi. Đó là sự nhiếp phục cái chấp ngã ở buổi ban đầu, một khi mình làm được cái này rồi tự động mình sẽ thấy cái tôi của mình nó sẽ hạ xuống một cách rõ rệt. Tập quỳ lạy, tập xin lỗi, tập nhận lỗi. Cái thứ hai là mình tập cái hạnh, quán chiếu cái lùi giả (1:06:58) của Tôn Giả Xá Lại Phất, khi mà có một cái thầy tỳ kheo vu khống cho ngài để mách với Đức Phật, ngài Xá Lại Phất, không có tốt, có những hành vi cử chỉ xúc phạm đối với thầy đó, mách với Phật, Phật mới cho mời ngài ra. Đức Thế Tôn hỏi có chuyện gì xảy ra? ngài Xá Lại Phất mới trình bày là con từ lâu đã tu tập cái tâm giống như đất, giống như nước, giống như gió, giống như lửa, ai quăng cái gì lên, quăng cái gì vô, đất không có hiềm hận, không có chê khen, đổ cái gì lên thì mặt đất vẫn vậy, đổ dơ, đổ thối, đổ hôi gì mặt đất cũng vậy. Con đã tu tập cái hạnh, giống như đại địa, ngày là bậc A La Hán, ngài Xá Lại Phất trình bày nhiều hình ảnh rất là hay, rất là tuyệt vời. Con giống như con bò mà bị cưa hai cái sừng rồi, làm sao con có thể xúc phạm tới người khác mà không có xin lỗi, con giống như cái lùi giả để cho mọi người dậm chân, chùi chân, lau chân. Cho nên ngài Xá Lại Phất rống lên tiếng rống của sư tử ở trước Đức Thế Tôn trước đại chúng. Nói nên cái hạnh và diệt ngã của ngài, một bậc thánh tăng A La Hán, sau khi nói xong thì tì kheo này sụp xuống lạy ngài, khóc và sám hối. Con vu khống cho ngài xá lạy Phật, thì ở đây chúng ta học một hình ảnh hết sức là ấn tượng để mà tập thái diệt cái bản ngã, cái chấp ngã là cái lùi giả. Mỗi khi mình chùi cái chân là mình cầm cái khăn, cái giẻ để mình lau cái bàn, lau cái nhà, mình phải quán chiếu rồi cái thân tứ đại ngũ uẩn này chẳng khác gì cái lùi giả, chẳng là cái gì hết, cái lùi giả này chẳng là cái gì hết. Ai có đổ cái gì dơ thì để cái lùi giả này chùi, ai muốn dậm đạp, dẫm lên, càng dẫm lên thì cái lùi giả này nó càng làm cái trách nhiệm bổn phận, cái công năng tác dụng của nó. Tại vì cái công năng, cái tác dụng của lùi giả là để người ta dậm lên mà, cứ việc dẫm lên đi, cái lùi giả này, cái lùi giả rách này cuối cùng nó cũng tan nát hết, nó tan nát như ba tấc đất, nó tan nát trong cái lò thiêu thôi. Đây là cái lùi giả, trong hình ảnh của mình quán tưởng hình ảnh một cái lùi giả, mình là hình ảnh của một cái lùi giả, là cái đồ dậm chân, là cái đồ chùi chân, là cái đồ lau chân để mặc mọi người dậm lên. Không sao hết, cái này có gì đâu, có cái tôi nào đâu, có cái ta nào ở đây đâu, trong cái ngũ uẩn vô thường này, bất tận hôi dơ này, tập chiêm nghiệm thật sâu sắc hình ảnh cái lùi giả, cái lùi giả rách. Mỗi khi mà ta nói cái gì, làm cái gì mà ta thấy bực mình, bản ngã nó hất hất, cảm giác đó nó phừng phừng lên, cái lùi giả mày phừng cái gì? Mày hất hất cái mặt cái gì? Cái lùi giả vô giá trị, cái đồ dơ bẩn, cái đồ xú uế, cái đồ tanh hôi này mày hất mặt lên cái gì? Mày vênh váo cái gì? Mày kiêu ngạo cái gì? Mày ta đây cái gì? Cái lùi giả, tác ý mạnh mẽ để mình đánh cái cảm giác phừng phừng, cảm giác phực phực, cảm giác kênh kiệu, vênh váo, hống hách, kiêu ngạo. Cho ta đây là hơn người, tài ba, cao siêu, lập tức cho cái hình ảnh cái lùi giả nó hiện ra. Mày là cái lùi giả đó đó, an trú trong cái tưởng lùi giả đó nhiều lần nhiều ngày, khi mình nghĩ tới mình là nó hiện ra cái lùi giả đó. Mày kênh kiệu đi, đồ thứ giẻ rách, đồ cái thứ dơ bẩn, đồ cái thứ hèn hạ. Nhớ mỗi lần bước vô mà gặp cái lùi giả phải quán cho thật sâu sắc, phải hạ thấp cái bản ngã, cái tôi xuống. Hình ảnh thứ hai, hình ảnh này là hình ảnh tác ý mạnh, mỗi lần cảm giác bản ngã sanh khởi lên, mình là người tu mà, nó sanh khởi lên cái bản ngã mình cho mình là cao, mình là thầy, mình là cô, nó phải cung kính mình chứ, tại sao nó vậy? Sao xem thường tôi vậy? Nó sanh khởi cái bản ngã lên, thì mình phải quán tưởng, mình phải đội quần, mày lột cái tấm y xuống mày đội cái quần lên. Nhục quá nhục đi, nhục ơi là nhục, nhục cho cái đầu trọc của mày, mày nhìn vô gương coi cái đầu trọc của mày đó, mày nhìn vô đi, mày có nhục không? Mày cạo cái đầu vô chùa này để mày kênh kiệu, cạo cái đầu này vô để mày ăn trên ngồi trước, mày cạo cái đầu này vô để mày muốn được người ta cung kính hả? Mày cạo cái đầu này vô để mày được ngạo mạn hả? Được ta đây hả? Cái bản ngã ác độc, mày đội cái quần lên, lột cái y ra, trăm ngàn cái quần chưa hết nhục. Tác ý mãnh liệt như vậy đó, thì lúc đó nó sẽ đánh tan cảm giác mà ta đây, cái cảm giác mà phình phình, trương trương, hất hất, vênh váo, nó tan cái cảm giác đó, mà cảm giác nhục nhã xấu hổ tàm quý sanh khởi trong nội tâm, mình cúi cái đầu thấp xuống. Mỗi lần mà sanh khởi bản ngã lên, sanh khởi cái ta đây lên mình lột cái y xuống đội cái quần lên đi, đội cái quần lên rồi mày có biết nhục không? Mày có biết nhục hay là không? Tác ý mãnh liệt như vậy đó, thì một thời gian con thưa với quý thầy cô, thời gian ngắn thôi là mình có khả năng phát giác phát hiện và nhiếp phục được bản ngã một phần nào, còn bằng không là con thưa cái bản ngã này là bất trị, mình chết mà mình vô hòm cũng không trị được nữa, phải quán mạnh, tác ý cho mạnh.

“Nhục ơi là nhục người xuất gia. Trong lòng buồn đau thật xót xa. Cả đời bỏ hết mùi tục lụy. Tại sao cái ta chẳng thoát ra? Nhục ơi là nhục người xuất gia. Hãy ngắm đầu trọc chiếc áo nâu. Giới hạnh không lo sao xứng đáng. Lững lờ năm tháng phí đời tu. Nhục ơi là nhục người xuất gia. Bỏ cha bỏ mẹ bỏ ông bà. Bỏ anh bỏ chị bỏ cô chú. Bỏ nhà bỏ cửa bỏ gần xa. Bỏ tài bỏ sắc bỏ lợi danh. Bỏ chức bỏ quyền bỏ đua ghanh. Bỏ tóc bỏ luôn cả vóc hình. Bỏ lòng tham luyến với gia đình. Bỏ hết hồng trần và tục lụy. Sao không siết kỹ bỏ ta đi”.

Cho lên cái hình ảnh thứ hai quán mạnh, lột cái y xuống đội cái quần lên. Mỗi lần nó sanh khởi lên sân si bản ngã, dục ái theo thế gian, tác ý vô mình: “mày lột cái y xuống, đội cái quần lên đi”, nhục quá, nhục quá là nhục. Tác ý mãnh liệt như vậy đó, phải chắc chắn tác ý mạnh chỉ vài câu thôi là nó lắng xuống, cái cảm giác nó lắng xuống, nó dịu xuống, đó là phương pháp thứ hai.

Phương pháp thứ ba là mỗi lần người ta quỳ lạy mình, nhớ khi ngồi dự lễ trai tăng, là cái này là hết sức quan trọng, với một sự tu tập tham, sân, si, bản ngã. Mà thông thường mà nhận những lễ lạy cũng dường như hết sức nguy hiểm, cho nên khi mà lạy ta lạy ta cúng mình phải quán, phải quán thật là sâu sắc. Nhìn lại cái này là cái gì? Ngoài cái sự mà mình ở trong tâm của mình cái hình ảnh mình quỳ mọp xuống mình lạy cái đó là phải giữ thường trực, hình ảnh mà mình hiện ra là một hình bóng ở trong cái tưởng, là một cái tưởng mình quỳ lạy. Thường thường thực tập cái tưởng đó, rồi hình bóng đó lúc nào cũng hiện ra ở trong tâm là hình bóng quỳ xuống lạy người ta, cúi đầu xuống, khum xuống, gục đầu xuống, cúi xuống, khiêm cung xuống. Rồi kế đó là một hình bóng của cái lùi giả, mình thường thực tập, rồi kế đó là sự nhục nhã đội quần, thực tập những cái này thuần thục rồi mới bắt đầu bước tới một cái sâu sắc nhất, là mình phải quán chiếu, “ai đây, ai được cung kính đặng lễ ở đây? Có ai ở đây?” Đây là cái lớp vải, trong lớp vải này là da, trong lớp da này là máu mủ, phân, nước tiểu, đàm giải, ruột gan trống rỗng, bên trong trống rỗng, trống không, rỗng không, không cái gì là ta, không có gì là của ta đây. Trống rỗng, bất tỉnh, vô ngã, vô thường, trống rỗng, trống không. Mình nhiếp tâm mình quán chiếu cái tính trống rỗng của sắc uẩn, của thân tứ đại ngũ uẩn, khi mình thọ nhận cái người ta quỳ ta lạy ta cúng, phải quán thâm sâu như vậy. Rồi nếu không mà mình thọ cái quỳ lạy đó, cái cung kính đó, thọ thì trong đây mình sẽ có một cái làm cho mình tăng trưởng thêm bản ngã, mà người ta lạy nhiều riết rồi thì cái bản ngã ngút trời mây luôn, chính vì vậy mà người tu không có tu tập cái này. Cho nên tu thời gian ở chùa lâu cái bản ngã lớn là như vậy đấy. Còn chú tiểu dễ sai, dễ biểu, dễ kêu lắm, dễ dạy, dễ nói lắm. Mà thọ giới lớn cái giới tỳ kheo rồi, cô cũng tỳ kheo, tôi cũng tỳ kheo chứ nói gì? Chị cũng tỳ kheo, tôi cũng tỳ kheo chứ nói gì? Chứ không phải sư phụ của tôi, rồi tới sư phụ nói thì con lớn rồi chứ đâu còn là con nít đâu, sao thầy nói mấy chuyện đó hoài vậy? Có phải con mới vô chùa làm chú tiểu rồi mà thầy nói mấy chuyện đó? Rồi xong thời gian là dạy thầy luôn, dạy sư phụ luôn. Thật sự là con thương người xuất gia lắm, con thương rất là nhiều, con thương con mới làm ra đây này, chuẩn bị thánh chiếu hùng ca, toàn là những bài cho người xuất gia không. Thương vô cùng, vì mình tu mình phải đi xuống hố, đi xuống vực, đi đến chỗ sa đọa, đọa ngã. Người ta đi làm ăn, không lời, thì cũng còn cái vốn, đây là đứt vốn mà không những đứt vốn còn mang họa ở tù ở tội. Đó là người xuất gia tu hành không đúng pháp, cả đời tu mình cuối cùng địa ngục, là quỷ xuất sanh, càng tăng trưởng thêm bản ngã, càng tăng trưởng thêm những dục, những tham, những ái. Ta quỳ, ta lạy, ta cúng bao thư mở ra tiền ít thì chê, đó là phải đội quần, cái tâm này mình nói cái tâm này phải đội quần này, nhục, nhục nhã cho đời tu mày quá đi. Mày có biết những cái đồng bạc này là mồ hôi, nước mắt, là máu của người ta hay không? Mày có biết hay là không? Tác ý sâu sắc vậy để mình diệt cái dục, tham, ái, cái tham tiền, tham ăn, tham ngủ, tham chức, tham quyền, tham thảnh thơi. Tu chút, cực một chút là than là rên, khó chịu. Đi chơi là đi chơi năm bảy ngày coi như là không than, phải bắt nó vào trong khuôn phép, bắt nó vào trong giới luật, bắt nó vào trong oai nghi, bắt nó vào trong sự tin cần tín tấn giữ tâm chánh niệm tỉnh giác. Huấn luyện nó, nhiếp phục nó và làm chủ thân tâm của mình. Đó là đức hạnh của người tu, đó là đạo hạnh của người tu, giới đức của người tu, trí tuệ của người tu.

Hôm nay con chia sẻ với đại chúng nhận diện chấp ngã, duyên khởi là do buổi chiều mấy sư cô sám hối mới có bài này, chứ không sám hối là không có bài này. Phải nhìn thấy được sự chấp ngã là bám chặt vào ngũ uẩn, cho ngũ uẩn là tôi, là của tôi, nhìn thấy được những sự làm tổ, làm ổ, làm sào huyệt ở trong năm uẩn, trong cái đống vô thường, bất tỉnh này. Nó ăn sâu bám chắc ở trong đây, nó phải dùng chánh tri kiến, thánh tri kiến tháo gỡ nó ra từ từ. Thấy được vị ngọt của sự chấp ngã, sự nguy hại của sự chấp ngã, sự xuất ly khỏi chấp ngã và có những phương pháp hành trị mà con giới thiệu. Thứ nhất phải tập xin lỗi, nhận lỗi và sám hối. Đây là bước đầu tiên trong sự nhiếp phục bản ngã. Thứ hai là quỳ lạy, người ngang hàng hay người thấp nhỏ mình cứ quỳ lạy. Con thưa với đại chúng là con nhập thất xong con lạy từng thầy đệ tử, con lạy hết, cư sĩ tập sự con lạy luôn, hạnh quỳ lạy. Tiếp theo là quán tưởng hình ảnh cái lùi giả, lùi giẻ rách (1:25:35) là cái thân này. Cái thứ ba là nhục nhã đội cái quần, lột cái y xuống đội cái quần lên. Tu mà bản ngã mà ta đây thì đội cái quần lên chứ đừng có đắp y nữa. Nhục, quá nhục. Cuối cùng là quán cái tính không, trống rỗng của tứ đại ngũ uẩn, khi mình được lạy đầu cung kính, cúng đường, đặng lễ tôn trọng. Chúc đại chúng có một buổi tối thật là an lành, và ngày mai chúng ta sẽ ra trận chiến và chiến đấu tiếp tục trong khóa tu.

Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả để tự họa chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

.