Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Mục Đích Đạo Phật Là Gì 1

2026-03-03 00:52:22
MỤC ĐÍCH ĐẠO PHẬT LÀ GÌ? 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mục đích của Đạo Phật PAGEREF _Toc73533762 \h 1

II. Quán chiếu cảm thọ PAGEREF _Toc73533763 \h 3

III. Tất cả đang bị bốc cháy PAGEREF _Toc73533764 \h 5

IV. Nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc73533765 \h 11

I. Mục đích của Đạo Phật

Tất cả đại chúng hướng mắt về tôn tượng của Đức Phật, phát khởi lòng chân thành, cung kính, biết ơn Đức Thế Tôn đã đem lại ánh sáng trí huệ, tình thương, từ bi cho tất cả chúng sanh, đó chính là niệm Phật. Niệm Phật có nhiều cách, không phải là chỉ niệm ở ngoài miệng, mà chúng ta phải niệm ân đức của Phật bằng tâm, bằng sự biết ơn, cung kính, tôn kính. Niệm về lưỡng túc tôn của Đức Phật, là hai công đức tôn quý, là phước đức, từ bi, trí tuệ.

Nhiều Phật tử không hiểu, cứ nghĩ niệm: “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát”… mới là niệm Phật, nhưng thật ra đó chỉ là niệm ngoài miệng. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta phải niệm trong tâm, làm cho phát khởi tâm cung kính, tâm biết ơn, tâm tôn trọng. Vì vậy, sau này mỗi khi niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, hãy làm cho tâm mình phát khởi lên lòng chân thành, cung kính, khi đó tâm và miệng tương ưng. Bằng không, dù cho miệng niệm, tay chắp, mắt nhìn Đức Phật thì cũng chỉ là niệm ngoài miệng, còn trong tâm vẫn chưa niệm.

Tất cả quý vị ngồi đây đều mấy chục năm học Phật, vậy “mục đích của đạo Phật là gì” chúng ta đã nắm rõ hay chưa? Có người nói: giải thoát, thoát khỏi khổ đau, khai ngộ tri kiến Phật, thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi sanh lão bệnh tử, ban an vui hạnh phúc cho chúng sanh, thoát khỏi tham, sân, si…Vấn đề này rất quan trọng, không phải vấn đề mình đoán, mình tưởng, hay nghe người ta nói rồi nói lại. Vấn đề này phải do Đức Thế Tôn, Bậc Chánh Đẳng Giác nói cho mình nghe, rồi y cứ vào đó để tu thì mới có kết quả.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh tập V, bài kinh “Ly tham”, Đức Phật nói rằng:

“Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: "Vì mục đích gì, này chư Hiền, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?””

Tức các vị xuất gia, các vị Tỳ-kheo, vì mục đích gì mà bỏ nhà, bỏ cha mẹ, bỏ hết tất cả danh, lợi, tài sắc trong cuộc đời mà đi theo tu với Đức Phật?

“Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Do mục đích đoạn tận tham, này chư Hiền, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama".”

Bài kinh “Channa”, Tăng Chi Bộ Kinh tập I, nói đầy đủ hơn là: “Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si.”

Trong bài kinh “Sa môn hạnh”, Tương Ưng Bộ Kinh tập V, thì Đức Phật nói:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là mục đích Sa-môn hạnh? Này các Tỷ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Ðây gọi là mục đích Sa-môn hạnh (sàmannattho).”

Như vậy, khi làm gì cũng có mục đích. Nếu không xác định được mục đích, mục tiêu của việc làm đó thì ta sẽ làm không đến đâu hết, hoặc làm sai, làm trật, làm lệch hoặc làm nửa vời. Ví dụ, khi bước ra khỏi nhà, mục đích của chúng ta là đến Chùa Bửu Liên để tu thì phải hướng thẳng đến Chùa Bửu Liên. Không thể đi nửa đường gặp một hội chợ, lúc đó quên mục đích đi rồi nghĩ: “Thôi ghé vào chỗ này vui quá, để tôi vô coi chút đã!”. Như vậy là nửa đường bỏ dở, gọi là “bán đồ nhi phế”. Việc đau đớn của chúng ta là tu học nhưng không xác định được mục đích, không biết được điểm nhắm đến là chỗ nào.

Cho nên, nếu tu mà không có mục đích, sự tu sẽ không đi đến đâu. Bằng chứng là rất nhiều người trong chúng ta tu học 20-30 năm rồi nhưng không đạt được sự an lạc như mong muốn, hoặc chỉ có một ít, không được bao nhiêu. Đó cũng bởi vì, chúng ta không thấy được mục đích của sự tu này.

Khi đến với đạo Phật, người ta không biết mục đích cần hướng đến là đoạn tận, chấm dứt được tất cả tham, sân, si thì được giải thoát. Khi được học mục đích đạo Phật là gì, quý vị nói là giải thoát, chấm dứt luân hồi, an lạc, hạnh phúc… những điều này đều là kết quả, mà nếu không thực hiện thì sẽ không có kết quả.

Đại đa số mọi người đến với đạo Phật, không nói người sơ cơ (người mới đến) mà cả người đến lâu, nhiều năm, nhiều chục năm vẫn suốt ngày cứ cầu nguyện, lạy lục, van xin, cúng kiến mà không thấy được mục đích của đạo Phật là quay trở lại phát hiện được tham, sân, si và tìm mọi cách đoạn dứt, giảm bớt chúng. Đầu tiên là nhiếp phục, kế đến là giảm bớt và cuối cùng là chấm dứt tham, sân, si là mình hết khổ đau, hoàn thành mục đích của đạo Phật. Thực tế dễ thấy, chúng ta cúng lạy rất nhiều, tụng niệm rất nhiều nhưng chỉ ở bên ngoài, không nhắm thẳng vào mục tiêu, mục đích của sự tu học. Mặc dù, trước tiên cũng phải nhờ đến bên ngoài, cũng phải nhờ việc cúng kiến, lạy lục, các đám ma… rồi từ từ mới biết đến chùa, một khi đã biết ra rồi thì mình phải kiên tâm vào mục đích đó. Vì vậy, bây giờ chúng ta nên nâng cấp lên, tu tập sâu hơn nữa.

II. Quán chiếu cảm thọ

Như đã tìm hiểu, tham muốn, nóng giận và si mê nằm ở trong cảm giác. Nếu không thường nhìn lại cảm giác thì sẽ không thấy tham, sân, si. Có người nói: “Con biết tham, sân, si nhưng sao thầy nói con không biết?”, bởi lẽ, lúc đó biết nhưng đã muộn rồi, khi tham, sân, si đã thiêu đốt, đã phừng phực lên thì làm sao mà dập tắt kịp? Người biết tu phải biết từ lúc tham, sân, si nhen nhúm, manh nha thì mới dập tắt được. Nếu bình thường không nhìn lại cảm giác, không quán chiếu cảm giác, không thực tập, an trú cảm giác toàn thân thì không thể nào phát hiện khi nó manh nha được. Hãy về coi bài thực hành cảm giác toàn thân một trăm lần vì mình đã học và thực tập nó. Phải thực tập cảm giác toàn thân, luôn luôn nhìn lại trong ba cảm giác đó mình thuộc cảm giác nào: cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu? Trong cảm giác khó chịu đó có bực không? Nếu có thì đó là sân. Trong cảm giác dễ chịu, thích thú thì có tham. Trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu, trì trệ, lờ đờ thì si ở trong đó.

Cho nên đầu tiên phải nhìn được cảm giác, kế đó mới phát hiện ra chỗ cư trú của tham, sân, si. Nếu không nhìn lại là mình không thấy. Đến lúc mình thấy thì chuyện đã rồi. Ví dụ mặt đỏ gắt, trợn mắt, phùng mang, la lối um sùm thì lúc đó là phàm phu, đâu cần học đạo, người ta cũng biết điều đó là sân vậy. Nếu tu như vậy thì khỏi cần tu, vì người không tu cũng biết điều đó là sân. Quý vị thấy chỗ khác không? Cho nên Đức Phật nói sự đặc thù, sự khác biệt giữa Đa văn Thánh đệ tử là vô văn phàm phu. Chúng ta được nghe Chánh Pháp nhiều, là đệ tử Đức Phật gọi là Đa văn Thánh đệ tử.

Còn người không từng được nghe Pháp, được học đạo là vô văn phàm phu, sống với những điều thường tình, với thói quen, sống với tập quán, tập khí, không biết Phật Pháp thì đó gọi là vô văn phàm phu. Sự khác biệt của người đệ tử Phật và người không phải đệ tử Phật, hay người không được nghe Pháp là nằm ở chỗ thấy, biết tự thân tự tâm của mình, chứ không phải thuộc nhiều vào chú, vào kinh. Dù trì chú, tụng kinh ro ro nhưng khi buông chuông, buông mõ, buông chuỗi xuống thì không còn tu tập gì nữa. Chính vì vậy, phải đi thẳng vào trọng tâm của mục tiêu, nếu không thấy được tham, sân, si ở chỗ nào thì không thể nhiếp phục.

Nếu thường trực nhìn lại cảm giác, thực hành cảm giác toàn thân thì tham, sân, si rục rịch là mình thấy ngay. Khi đó, sẽ nóng chỗ lồng ngực, lửa bốc lên, đốt gò má, mặt làm nó nóng lên, ửng lên thì lúc đó mình tìm cách nhiếp phục, chuyển hóa ngay, không để cho nó phát tán ra. Nó chỉ mới manh nha, khởi động, vừa đề máy lên thôi thì bấm tắt, đạp thắng lại ngay, lấy bình phòng cháy chữa cháy xịt ngay thì sẽ không chết đến mấy chục người. Đốt mình cũng không biết, đốt người ta cũng không biết rồi nó cháy lan hết và chết luôn. Như vậy mà nói mình là đệ tử của Phật, nói đi chùa mấy chục năm, bữa giảng pháp nào cũng có mặt hết, vậy có uổng công không?

III. Tất cả đang bị bốc cháy

Vì vậy, Minh Thành chia sẻ cho quý vị nghe mục đích của đạo Phật cũng chính là mục đích của tất cả chúng ta tu học theo Phật, phải thấy rõ qua bài kinh “Bị bốc cháy”:

“Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasìsa cùng với một ngàn Tỳ-kheo.
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

--Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy. Và này các Tỳ-kheo, tất cả cái gì đều bị bốc cháy

Mắt, này các Tỳ-kheo, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...

Lưỡi bị bốc cháy. Các vị bị bốc cháy. Thiệt thức bị bốc cháy. Thiệt xúc bị bốc cháy. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc;
cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Thân...

Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị bốc cháy. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy.Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I: Tương Ưng Sáu Xứ, III.Phẩm Tất Cả, bài kinh Bị Bốc Cháy).

Mắt của mình đang bị bốc cháy mình có biết không? Quý vị có biết mắt bốc cháy làm sao không? Lúc mà nó “liếc còn nửa con” là lúc đó nó bốc cháy; lúc không thấy tròng đen mà chỉ còn tròng trắng là bốc cháy; lúc nó đang nhìn đắm đuối không rời là bốc cháy; lúc lưu luyến bịn rịn không rời mà bóng kia đã xa rồi mà vẫn còn đứng hoài là lúc đó bị bốc cháy lúc nước mắt giàn giụa, tuôn trào xuống bởi vì sự lưu luyến tiếc thương tham ái đó là bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi sự tham muốn, bởi sự khao khát, sự lưu luyến, sự ràng buộc, sự trói trăn, sự sân hận, sự bực dọc, sự nhiệt não, sự nóng bức.

Đức Phật nói đó là cảm thọ, là ba loại cảm thọ: cảm thọ khổ, cảm thọ vui và cảm thọ không khổ không vui. Tất cả trong đó đều bị bốc cháy mà mình không thấy. Cho nên thành tựu Chánh Tri Kiến, phải thấy biết chân chánh của Phật Pháp thì lúc đó mình mới thấy được tham, sân, si rõ ràng. Như vậy là Sơ quả Tu-đà-hoàn, chứ không phải bình thường, phải thành tựu trí huệ Thánh trí mới thấy rõ được tham, sân, si. Còn bây giờ nhiều Phật tử nói: “Giờ con hết tham rồi, con không còn tham muốn gì hết!”. Không phải vậy là tại vì mình không thấy.

Nếu không còn tham thì thử dựng chiếc xe, hay để giỏ xách mới mua, hàng hiệu ở đâu đó, rồi bị người ta xách đi, thì lúc đó biết có tham hay không, có sân hay không sẽ biết liền. Thành ra là do mình không thấy. Phải thành tựu trí huệ mới thấy, mới biết, mới rõ được tham, sân, si. Người thành tựu trí huệ mới thấy rõ tham, sân, si và người đó nhất định chấm dứt được tham, sân, si. Giống như thấy rõ có con rắn trong nhà, nhất định phải đuổi nó ra.

Hay quý vị thấy các con rắn độc bò vào mà quý vị cứ nằm ngủ, kệ nó, không nhằm gì đến mình, nên cứ ngủ thôi. Có ai như vậy không? Mình ngủ là tại vì không biết có con rắn độc bò vào, chứ nếu như biết thì mình phải dùng mọi cách để đuổi nó ra. Cho nên bậc thấy rõ được tham, sân, si đó là bậc Sơ quả Thánh nhân Tu-đà-hoàn, quyết chắc đi đến Chánh Giác. Còn mình không thấy, tưởng như đang êm ái, ngủ nướng, nằm ngái “khò khò”, nằm lăn qua trở lại, vươn vai, nằm thêm chút nữa trong khi rắn hổ mang lớn, dài thước bảy đang bò sát bên đưa đầu lên bên cạnh. Vì mình ngủ nên không thấy, đó là các sắc bị bốc cháy. các sắc là đối tượng của mắt, bị bốc cháy. Quý vị thấy nó có bốc cháy không? Thấy những gì dễ ghét cũng bốc cháy mà dễ thương cũng bốc cháy luôn.

Cho nên quý vị nên nhớ, ái dục trong đạo Phật nói tức là tham, sân, si luôn trong đó, không phải ái dục là chỉ có tham thôi. Chữ ái dục trong đạo Phật là gom cả tham, sân, si. Vì si, vô minh, không thấy tất cả đều là pháp vô thường, giả dối cho nên mới tham, tham không được là sân, cho nên chúng luôn đi chung với nhau. Si giống như là xương, da thịt bên trong, còn tham và sân như úp ngửa bàn tay, luôn đi chung với nhau, hễ có tham là có sân, có si. Thế nên mình đừng nghĩ ba thứ đó riêng mà nó là chung, chính vì vậy tham không được là sân. Quý vị thấy biết bao nhiêu tin tức thời sự ghê gớm.

Do không thực hiện được hành vi tham lam thì bung cái sân hận ra, giết chết dù là người yêu thương với nhau, không chấp nhận, không chịu là giết chết. Hiện tại tham, sân, si phát huy tới mức mà mình không thể tưởng tượng được, là ác nghiệp của chúng sanh, tuổi thọ của con người sẽ giảm xuống từ từ. Vì nghiệp sát tham, sân, si phát triển lừng lẫy thì nó chiêu cảm ra chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn. Thiên tai đã mệt rồi mà thêm cả nhân họa nữa, nhân họa là tự mình gây ra, chồng chất lên nhau.

Cho nên sắc đang bị bốc cháy, nên đừng tham sắc. Thấy cảnh đó, biết là yêu thích, mình có cảm giác dễ chịu nhưng đừng tham, nó sẽ đốt cháy mình. Phải chánh niệm tỉnh giác khi mắt nhìn thấy sắc, dầu cho sắc đó là đáng yêu hay đáng ghét hay bình thường. Sắc không chỉ là người mà tất cả các đồ vật, tất cả những gì mà mình thấy được hình sắc thì phải chánh niệm tỉnh giác. Phải biết đây là con mắt, kia là hình sắc, thứ ba nữa là nhãn thức – sự rõ biết của con mắt. Ba pháp này giao thoa, hội tụ lại tạo thành sự xúc, gọi là nhãn xúc. Hãy nhớ con mắt, đối tượng ở trước là sắc, hai điều này tiếp xúc sanh ra sự rõ biết của con mắt, đó là nhãn thức. Căn, trần, thức – ba cái này giao thoa, hội tụ lại với nhau tạo ra sự xúc. Khi xúc như vậy sẽ sanh thọ, sanh ra cảm giác. Đây là pháp duyên sanh duyên khởi mà Đức Thế Tôn đã giác ngộ.

Khi mình ăn: “Ngon quá, món này ngon quá!” rồi chạy xuống hỏi xem ai nấu, công thức này ra sao nhưng mình không biết lúc đó là thọ do thiệt xúc sanh, tức là cảm giác do lưỡi phát sanh ra. Do có lưỡi, có món ăn nên rõ biết được cái vị, ba cái này tiếp xúc với nhau, hội tụ với nhau sanh ra một cảm giác. Nếu mình không chánh niệm tỉnh giác thì mình sẽ chết với cảm giác đó, và rất nhiều người đã chết với cảm giác đó nên không ăn chay nổi.

Do thịt, cá, tôm hấp dẫn quá nên không ăn chay nổi. Cái xúc, cái thọ do thiệt xúc sanh tức là cảm giác từ lưỡi mà có ra, nó giết mình, là tạo nghiệp. “Thưa thầy con ăn chay một tháng ăn một ngày thôi cũng không nổi, con không biết sao con ăn không được, ăn không nổi!” Tại vì dính vô thọ, dính vào cảm giác của lưỡi. Mà quý vị thấy cảm giác của lưỡi bao lâu? Chỉ nhai rộn rạo rồi nuốt “ọt” là xong, nuốt qua khỏi cổ rồi đi đâu? Nó vô một nghĩa trang, nghĩa trang này hỗn độn, không biết mùi gì rồi ợ lên. Ở ngoài còn phân biệt, còn để riêng như canh chua phải ăn với gì đó, với tàu hủ chiên?

Rồi món này phải ăn với món kia, ăn đúng bài bản đàng hoàng, ăn cũng phải học ăn chứ. Vậy nên mới “học ăn, học nói, học gói, học mở”, là ăn cũng phải học nếu không biết thì người khác sẽ cười. Nhưng tới khi nó “ọt” vô bụng rồi thì có còn phân biệt được mùi nào, món nào nữa không? Ví dụ trên mâm có mười món thì ăn riêng từng món, đến khi vào chung trong bụng thì thành món gì? Vì thế, phải dùng trí tuệ để chánh niệm tỉnh giác trong khi lưỡi tiếp xúc với món ăn.

Dùng trí huệ để chánh niệm tỉnh giác trong khi tai tiếp xúc với âm thanh, những âm thanh sanh ra phiền não thì đừng tiếp xúc, hạn chế, tránh tiếp xúc. Đức Phật dạy nếu như mình tiếp xúc với người nào đó mà thiện pháp, pháp lành lớn lên thêm, pháp ác sẽ giảm xuống thì nên tiếp xúc với người đó. Nếu tiếp xúc với người nào mà pháp bất thiện, pháp ác tăng trưởng lên, pháp thiện giảm xuống thì đừng tiếp xúc với người đó. Đối với món đồ, đồ vật, sự việc cũng vậy. Nếu món đồ, sự việc hay sự vật, con người nào mà làm cho ác pháp tăng trưởng thì đừng tiếp xúc; nếu món đồ, sự việc hay sự vật, con người mà thiện pháp, pháp lành tăng trưởng thì nên tiếp xúc.

Như vậy, khi tiếp xúc, mình có biết phân biệt khi nào thiện và khi nào là bất thiện không? Bây giờ mình đang tiếp xúc, đang ngồi nghe pháp là thiện hay bất thiện? Có biết quý, trân quý cái thiện không? Nhãn xúc hay nhĩ xúc hay sự tiếp xúc của tai sẽ sanh ra cảm giác. Mới vừa đến chùa ngồi thôi thì nghe: “Chị nghe, chị hay tin gì không? Bà kia nói gì mà có chị trong đó nữa” – “Sao sao nói tui làm sao?” Đó là bất thiện pháp! Phải cắt luôn và nói: “Chị ơi, giờ em không muốn nghe mấy thứ này, em để tâm thanh tịnh tu”, hoặc tìm cách tránh đi, không ngồi đó nữa, nếu họ buồn thì mặc kệ, mình làm như vậy chừng hai ba lần thì từ đó về sau người ta sẽ không dám nói nữa. Còn mình ngồi ở đó mà nghe là xong luôn. Đó là tà ngữ trong Bát Chánh Đạo. Nhiều khi chỉ nói: “Tui cũng thấy vậy” là cũng xong luôn, tuy mình không nói nhưng cũng là đồng phạm, đồng lõa, đồng ý, gọi là tòng phạm.

Phải để ý tất cả những xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thân xúc, thiệt xúc. Để ý mắt, mũi, lưỡi, tai, thân, ý khi tiếp xúc. Phải cẩn thận nó bốc cháy, bởi tham muốn, nóng giận, si mê, bởi sanh và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Tại sao có sanh và chết? Tại vì có tham, sân, si, nếu không có tham, sân, si là chấm dứt luân hồi. Mình muốn chấm dứt luân hồi nhưng không chịu đoạn tham, sân, si thì đó là vô lý, không có Chánh Kiến, không thấy được nhân quả, do tham cho nên nhất định mình sẽ đi vào vòng đó.

Nếu không tham thì mình sẽ không đi vào vòng đó. Cái tham nó đẩy mình đi. Mình có tà tư duy, suy nghĩ sai quấy là tại vì mình tham trong suy nghĩ đó, không muốn dứt nó, biết rõ cái nghĩ này là nghĩ không tốt nhưng rồi cũng ngồi nghĩ nữa, suy nghĩ nữa để cho tiếp tục nó, mình không chấm dứt, không mạnh mẽ. Nếu có tuệ lực – sức mạnh của trí huệ thì sẽ khác ngay, khi nghĩ cái này không tốt, bất thiện thì không nghĩ nữa, nghĩ cái này là khổ cho mình, khổ cho người là phiền. Khi suy nghĩ về điều bất thiện, điều bực dọc, suy nghĩ hại, suy nghĩ sân thì quý vị thấy lúc đó khỏe hay mệt?

Nó tiết ra một năng lượng thiêu đốt mình. Nhất là nghĩ về người mình giận, những câu nói, hành động làm cho mình giận thì lúc đó lửa bốc cháy. Cho nên không cho suy nghĩ đó tiếp tục nữa, chặn đứng ngay, suy nghĩ này là lửa, dập tắt ngay. Giống như ở nhà lúc nào cũng phải trang bị bình phòng cháy chữa cháy, lúc nào cũng phải để sẵn.

Mình đã thấy lửa ở trong tâm mình không? Một ngày nó phựt lên bao nhiêu lần? Nếu càng có trí huệ nhiều thì mình càng thấy nó nhiều. Quý vị phải để ý chỗ này, tu không phải là “Tâm tôi vốn là thanh tịnh, tôi thành Phật rồi!”, đó là không đúng Chánh Pháp. Càng tu là càng thấy được tham, sân, si của mình, khi phát hiện nó càng nhiều chừng nào thì lúc đó trí huệ càng sáng chừng đó. Tại vì lúc trước mình không phát hiện ra nên nó mới bành trướng, nó mới hoành hành, mới thao túng, mình phát hiện rồi mình nhiếp phục nó, thấy rõ bản chất của bộ mặt tham, sân, si đó. Một ngày quý vị thấy tham, sân, si đó được bao nhiêu lần? Có nhiếp phục nó không?

IV. Nhiếp phục cảm thọ

Đức Phật dạy mình nhiếp phục làm sao? Khi khởi lên ba cảm thọ đó thì hải thấy đó là vô thường. Tất cả cảm giác quý vị thấy có cảm giác nào còn hoài không? Hay một chút rồi lại biến đổi? Đây là chỗ quan trọng. Cho nên hồi xưa nói: “Này là vô thường, là khổ, vô ngã!” là mình nói theo, nói ngoài miệng, rồi nói vô thường là chỉ nói cái sắc bên ngoài. Nhưng bây giờ, nếu quán chiếu cảm giác thì quý vị sẽ thấy cái vô thường, cái khổ nằm ở trong thọ, tưởng, hành, thức nữa, là bốn uẩn bên trong. Lúc trước mình chỉ thấy có một phần năm mà thấy chưa trọn.

Ví dụ thấy đám tang, người bệnh hay cảnh bị thiêu, đốt cháy, nhà sụp, nước trôi, tai nạn xe cộ chẳng hạn, thì đó chỉ là một phần nhỏ của sắc uẩn ở bên ngoài thôi, còn thọ, tưởng, hành, thức, cảm giác, những hình bóng, tưởng, những suy nghĩ và thức bên trong, nếu nhìn lại thì mình sẽ thấy cảm giác này biến đổi liên tục. Khi thấy nó biến đổi vô thường rồi thì mình nhàm chán, không ưa thích cảm giác biến đổi này, đam mê nó sẽ làm cho mình khổ. Có biết bao nhiêu người khổ vì cảm giác, cho nên bây giờ mình phải quán chiếu, thấy cảm giác vô thường, nhàm chán đối với nó, không còn tham muốn cảm giác nữa.

Nhưng nhàm chán nổi không? Thế nêm mình phải thực tập, vì đây là pháp giải thoát. Phải thực tập cái ưa thích là cái phàm tình, giờ mình không muốn đi theo phàm khổ nữa, mình muốn đi vào giải thoát thì phải tập, phải chuyển hướng. Lúc đầu khó lắm nhưng từ từ rồi mình nắm được phần thắng, rồi từ từ hai bên bằng nhau rồi cuối cùng mình vượt lên, mình toàn thắng A-la–hán Thánh quả. Đi trên Thánh đạo thì mình sẽ đạt Thánh quả còn nếu không đi theo Thánh đạo mà đi theo phàm đạo thì không thành tựu được gì cả.

Nguyên nhân làm cho tham, sân, si sanh khởi trong bài kinh “Du sĩ ngoại đạo”, Tăng Chi Bộ Kinh tập 1, trang 359, Đức Phật nói rằng:

"Tham, thưa các Hiền giả, là tội nhỏ, nhưng ly tham là chậm chạp.

Sân là tội lớn, nhưng ly sân là mau chóng.

Si là tội lớn, và ly si là chậm chạp."

Quý vị thấy tham là tội nhỏ nhưng lìa tham khó lắm, chậm lắm. Cái tham mình muốn lìa nó thì chậm mà sân lìa lại mau. Cái nóng giận bỏ nhanh lắm nhưng còn cái tham thì nó âm ỉ, nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, rì rào chút chút vậy thôi nhưng nó kéo dài. Còn cái si mê chậm lắm, vì mình sống theo tình cảm, sống không theo lý trí là nói với danh từ dân gian dễ hiểu. Nói theo từ của đạo pháp là sống theo thói quen, không chịu sống theo Chánh Pháp. Ví dụ như khi gặp và bị ai đó chỉ trích thì lúc đó mình sống với giáo pháp hay sống theo thói quen?

Lúc đó mình hãy quán chiếu do có tai, do có âm thanh nên mới có nhĩ thức, sự rõ biết ba pháp này hội tụ xúc chạm nhau mới sanh ra cảm thọ khó chịu này. Như vậy cảm thọ khó chịu này là cảm thọ vô thường, biến đổi do duyên sanh, không phải tự động có. Nếu mình điếc thì mình không nghe, nếu lúc đó lo nhìn chỗ khác mình không nghe câu nói của người đó, nếu lúc đó mình không gặp thì mình không nghe. Như vậy cảm giác khó chịu của câu nói kia là cảm giác của pháp duyên sanh, duyên hợp, không thật, mình đi theo điều này là mình khổ.

Đức Phật nói “cảm giác vô thường”, vậy tại sao mình lại bị một cảm giác khó chịu giống như đang trói buộc? Đức Phật nói về kẻ vô văn phàm phu, những người không biết tu, không theo Chánh Pháp: “Khi có một cảm giác khó chịu là bị cảm giác khó chịu đó trói buộc, khi có cảm giác dễ chịu, thích thú thì cảm giác giống như người đang bị trói buộc.” Ngay lúc mình bị câu khó chịu đó thì mình có thực tập Chánh Pháp để quán chiếu pháp duyên sanh không? Thọ do nhĩ xúc sanh, tức là cảm giác do tai tiếp xúc nên sanh ra, cảm giác này là vô thường, là biến đổi, cảm giác này sẽ bại hoại, đi đến chấm dứt chứ không có mãi. Nếu quán chiếu được như vậy là mình sống với trí huệ.

Phải chịu khó, tu là phải chịu khó, phải văn tư, tu, nghe và chiêm nghiệm điều đó rồi tu tập, đem ra ứng dụng thì mới có kết quả. Không nên nghe rồi gật gật, khen hay, rồi vỗ tay, sau đó trở về nhà là xong, không chịu tư duy, chiêm nghiệm. Cho nên khi nghe rồi, lúc về mình phải chiêm nghiệm, xem lại, đó gọi là trạch pháp. Trạch Pháp Giác Chi là phân tích, đối chiếu trong cuộc sống đời thường, trong thân tâm của mình ngay trong giây phút đó như thế nào.

Ví dụ nghe câu nói, hoặc thấy hình ảnh nào đó, tham hay sân khởi lên thì mình đem ra ngồi lại, nhìn lại, trong kinh nói thế nào, xem như vậy là đúng không? Thấy từng pháp rõ ràng thì gọi là Trạch Pháp Giác Chi, nằm trong bảy phần đưa đến giác ngộ (Thất Bồ Đề Phần). Nếu lúc nghe câu nào đó mà mình bực lên thì khi đó mình đã quên pháp hết, không thấy pháp gì nữa. Cứ như vậy, mình mãi là phàm phu, mình khổ hoài và không ra khỏi tham, sân, si và nếu không ra khỏi thì làm sao mình đạt được mục đích của đạo Phật?

Đức Phật dạy:

“"Do nhân gì, này chư Hiền, do duyên gì tham chưa sanh được sanh khởi, và tham sanh rồi đưa đến tăng trưởng, quảng đại?"

Cần phải trả lời là "Tịnh tướng".”(Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo)

Lý do gì tham chưa sanh mà bây giờ sanh lên và khi sanh lên rồi lại phát triển thêm, làm cho rộng lớn thêm? Đó là Tịnh Tướng, mình cho đó là đẹp thì sẽ làm cho tham sanh khởi. Điều này rất quan trọng nên quý vị nên nhớ thật kĩ điều này. Mỗi khi tâm của quý vị tham thì quý vị xem thử tại sao nó tham? Tại vì nó cho cái mà nó thích là đẹp, tốt, bền. Giờ ngược lại, làm sao cho nó không sanh? Đó chính là Bất Tịnh Tướng, nhìn những khía cạnh không sạch sẽ, không tốt đẹp, nhìn thấy khía cạnh vô thường, biến đổi, bại hoại của nó thì lúc đó cái tham không sanh khởi, còn nếu cái tham đã sanh khởi thì sẽ giảm xuống.

Đây là nguyên nhân sanh khởi của tham và cách làm cho tham đoạn diệt, điều này rất quan trọng, đây là con đường giải thoát, giác ngộ. Khi khởi lên tham muốn cái gì có phải trong tâm quý vị thích thú và coi cái đó là đẹp lắm, tốt lắm, hay ho lắm thì lúc đó mình mới tham. Nếu nó xấu, dở, không ra gì hết thì làm sao tham? Cho nên điều đó gọi là tịnh tướng, hay có chỗ gọi là tịnh tưởng cũng là vậy. Bây giờ mình đi ngược lại là bất tịnh tưởng, lúc đó mình quán tưởng, quán xét sự không sạch sẽ, biến hoại, vô thường, mình quán chiếu đó là “hàng dễ vỡ” – đồ dễ vỡ, đồ gốm.

Đức Phật nói: “Thân này là đồ gốm, tất cả tánh bể đã nằm trong món đồ gố”. Vừa rồi mình đã học trí tuệ bất tử, tánh già ở trong trẻ, tánh khỏe, tánh bệnh ở trong cái khỏe, tánh chết ở trong sự sanh như vậy tính chất bể ở trong món đồ gốm. Khi nó còn là đất sét, đã nung ra hoặc chưa nung thì tính chất bể đã nằm trong món đồ gốm đó rồi, không thể khác hơn được nữa. Thấy như vậy, quán như vậy, xét như vậy thì nó sẽ đi đến chỗ Ly Tham. Quý vị có thấy việc tu này sâu sắc không? Tu theo Đức Phật là tu như vậy, đây là tu theo chánh thống về gốc của Đức Phật, đây mới là “đệ tử cưng” của Đức Phật. Quý vị đã thấy rõ sự khởi của tham và sự đoạn diệt của tham chưa?

Đức Phật dạy:

“"Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì sân chưa sanh được sanh khởi, và sân đã sanh được tăng trưởng, quảng đại?"

Cần phải trả lời là "Chướng ngại tướng".”

(Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo)

Tức là mình thấy đối tượng đó là chướng ngại, chướng mắt, có gai thì sân sanh khởi. Chỗ này là bậc giác ngộ mới thấy được chứ người bình thường làm sao thấy được? Tại sao sân chưa sanh mà giờ mới sanh? Quý vị thấy đó là chướng ngại đối với mình, người đó, món đồ đó, sự việc đó, lời nói đó là chướng ngại, chướng ngại tướng, tướng đó là chướng ngại, đó là sự chướng ngại đối với tôi, con người đó chướng ngại. Ngoài đời gọi là chướng ngại vật, “đâm xuồng bể”, “thọt gậy bánh xe”, trong kinh thì được gọi là Chướng Ngại Tướng (hay còn gọi là chướng ngại tưởng). “Đừng có mời tôi, nếu có bà đó là tôi không đi! Có bả là tôi không đi, không có bả thì tôi mới đi!” hoặc là “không đội trời chung”. Đó chính là chướng ngại tướng, tức là mình cho rằng người đó, món đồ đó, việc đó là chướng ngại. Khi mình cho như vậy rồi thì sân sanh khởi, nóng giận đó sanh khởi, không thể không sanh khởi, mà còn tăng trưởng quảng đại, lớn thêm lên.

Đức Phật có dạy phương pháp để trị sân:

“"Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận?"

Cần phải trả lời là "từ tâm giải thoát" ." Với ai như lý tác ý từ tâm giải thoát, thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận. Đây là nhân, này các Hiền giả, đây là duyên khiến sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận."” (Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo)

Như Lý Tác Ý là lúc đó mình suy xét: “Mình có bị cái nóng giận làm cho khổ không? Nếu nóng giận lên là khổ hay vui? Người kia muốn khổ hay muốn vui? Mình muốn khổ hay muốn vui? Vậy tại sao mình lại đem cái khổ đến cho nhau làm chi?” Từ tâm giải thoát là làm cho sân không sanh khởi, thương và tội nghiệp người ta: “Mình biết đạo, biết Phật Pháp, đi chùa ba mươi năm mà còn nóng giận như này. Huống chi người ta không biết Phật Pháp, người ta bị toàn là tai nạn của phiền não. Chúng ta đều là nạn nhân của phiền não”. Nếu bây giờ mình sân là đang tiếp tay cho phiền não. Người ta đang khổ, mình cũng khổ. Nhưng khổ không phải vì câu chuyện khổ mà khổ vì tâm sân này làm cho mình khổ. Vậy nên giờ đừng nuôi dưỡng, chấp nhận nữa, đừng tiếp tục, không dung túng nữa, khai trừ tâm sân, quyết định khai trừ tâm sân. Cho nên mới nói đó là tam độc, ba con rắn độc, không chấp nhận nó ở trong nhà mình. Mỗi khi tâm sân lên thì mình phải dùng từ tâm giải thoát.

Hôm qua Minh Thành giảng pháp với các huynh đệ, sau thời pháp Minh Thành nói các huynh đệ nếu còn giận ai thì hãy hướng tâm về người mình giận, trải tâm từ về mình người giận, trải tình thương của mình đến người mình giận. Tại sao mình phải giận người ta? Hãy trải tình thương đến cho họ, tội nghiệp họ mà cũng tội nghiệp mình. Bây giờ giận ai thì ngồi một mình và trải tình thương tới cho người đó. Trải tình thương như vậy thì mình sẽ hóa giải được nỗi khổ, niềm đau của chính mình.

Khoan hãy nói tới người ta, riêng mình khi giận mình để trong lòng thì khỏe hay mệt, khổ hay vui, nặng hay nhẹ, mập hay ốm? Vì vậy trước tiên nên trải tâm từ của mình đến những người mà mình giận, đó không phải cho ai mà trị bệnh cho mình trước, tâm của mình đang bị bệnh. Mỗi lần hướng tâm về người đó là mình khổ, nên hãy tha thứ đi, buông xả đi. Khi muốn tha thứ, thì miệng nói dễ lắm: “Thôi tôi bỏ, tôi bỏ hết trơn hà! Tôi không còn nhớ tới ổng gì nữa hết, tôi bỏ hết. Chuyện đó đã xưa như trái đất rồi!”.

Miệng nói như vậy nhưng mỗi khi nghĩ lại thì thọ, tưởng, hành, thức khởi lên. Sắc tưởng hiện lên hình bóng của người mình ghét nói chung, cảm giác khó chịu sanh khởi, hành nói những lời khó chịu, khó nghe. Hoặc những cảnh lúc xưa tái hiện lại thì lúc đó cái thức của mình khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não. Những sầu bi khổ u não đó sẽ cộng với những nghiệp, cộng với những thọ, tưởng, hành, thức này đẩy mình đi và đời sau tiếp tục gặp những người đó nữa. Muốn gặp những người đó nữa không? Nếu không thì bây giờ phải biết tha thứ, tu tập Từ Tâm Giải Thoát, đó là trị cái sân.Còn trị cái tham là bất tịnh tưởng, phải quán chiếu, Đức Phật đã dạy mình Quán Bất Tịnh. Nào là dòi bò, đầu lâu, xương trắng hiện ra, nằm sình lên, thúi rồi rỉ nước, mủ hay máu chảy ra, quán chiếu như vậy thì cái tham mới giảm. Quán cái đó trị được tham, đó là pháp của Bậc Chánh Đẳng Giác, đó không phải của Minh Thành mà là của Đức Phật.

“"Do nhân gì, này các chư Hiền, do duyên gì si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng, quảng đại?"

Cần phải trả lời là "Không như lý tác ý". "Với ai không như lý tác ý, thời si chưa sanh được sanh khởi, và si đã sanh được tăng trưởng quảng đại.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, bài kinh Du Sĩ Ngoại Đạo).

Muốn trị si là phải Như Lý Tác Ý về Duyên Sanh Pháp, cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không. Tất cả mọi cái trong đạo Phật đều không phải tự nhiên, “các pháp từ duyên sanh, cũng từ duyên mà diệt – Đức Thế Tôn thường diễn thuyết như thế. Khi duyên sanh thì mình quán là sẽ trị được ngay, còn như đang ngồi đây nghe pháo mà cứ lờ đờ, nhướn lên rồi lại sụp xuống, phải nó: “Ngủ sáu mươi năm rồi chưa đủ sao? Giờ này không phải giờ ngủ, giờ này là giờ nghe pháp chứ không phải giờ ngủ. Mi muốn đưa ta vào giấc ngủ vô minh ngàn năm hay sao? Tỉnh đi!”

Đó là Như Lý Tác Ý – tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ làm cho con ma ngủ sẽ chạy liền, không chấp nhận nó, từ bỏ nó, dùng mọi cách để khử, diệt tận thì lúc đó trị được tâm si. Chứ nếu không ngồi một lúc lại quẹo cổ qua một bên, quẹo muốn có tật, có nhiều người ngồi thiền cứ ngủ gục rồi cứ bị quẹo cổ hoài, mỗi lần vô ngồi là cứ quẹo như vậy, do không có chỉnh. Cho nên làm sao phát hiện ra liền là điều rất quan trọng. Thực tập cảm giác toàn thân thì mới phát hiện, còn nếu không lúc đó mình sẽ bị chìm vào si liền mà không biết, cảm giác đó xuất hiện mà mình không biết rồi mình đi theo nó luôn.

Có nhiều người ngồi nghe pháp mà giống như lên dốc, lên đèo Bảo Lộc, ngồi một hồi rồi dựa vô, rồi tăng ga, vì si nặng quá nặng. Cho nên mình phải chấn chỉnh, sáng tỏ lên. Đức Phật dạy cách trị si, trị hôn trầm, thùy miên là quán ánh sáng mặt trời. Lúc đó mình tưởng như mặt trời ở ngay trước mặt, mở mắt sáng tỏ ra, tinh minh ra, trí huệ lên, không để chấp nhận vô minh, si mê này giết mình, nó làm cho mình chìm đắm trong sanh tử. Mình quán nhân duyên pháp, lửa đang cháy trên đầu, cháy ở chân, trên vai, phải dập tắt vì lửa đốt mình sắp chết rồi mà ngủ gì nữa? Quán chiếu như vậy thì cái si sẽ tan.

Như vậy chúng ta thấy được tham, sân, si là ở trong cảm giác. Có ba loại, thứ nhất là dễ chịu, gọi là lạc thọ; thứ hai là khổ thọ, khó chịu; thứ ba là bất khổ bất lạc thọ – tham, sân, si ở trong ba cảm giác này. Muốn nhiếp phục tham, sân, si thì phải luôn luôn nhìn lại cảm giác, mới phát hiện ra được, không phát hiện thì làm sao nhiếp phục hay trị nó được? Chỗ nào lửa bốc cháy và cháy ở đâu? Lửa bốc cháy ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Để dập được lửa đó thì phải Như Lý Tác Ý, tức là xét cho đúng sự thật. Làm sao để trị tham?

Do tịnh tướng nên mới sanh khởi ra tham, cho nó là đẹp, là thật, là bền, là chắc, là tốt là hay. Muốn trị tham thì phải Như Lý Tác Ý và quán chiếu Bất Tịnh Tướng, quán ngược lại, không sạch, không đẹp, không bền chắc, tưởng như bộ xương, tưởng như dòi ăn, tưởng như sình thối, tưởng như một hũ cốt, quán chiếu cái chết, cái vô thường, bất tịnh tướng, tưởng vô thường, tưởng về chết. Ai cũng phải chết vậy mà không bao giờ lo về cái chết, cứ như mình không chết, đó chính là si mê, vô minh.

Đức Phật dạy thâm thúy, nhưng mình lãng quên, không nhớ, trốn tránh, che đậy, khỏa lấp đến lúc biểu hiện ra thì mình hoảng loạn, khủng bố, kinh hoàng, đau khổ và cứ đi trong bóng đêm. Cho nên từ bây giờ phải thấy được điều đó để mình lo chuẩn bị. Khi đi xa quý vị có chuẩn bị không? Tại sao chuyến này xa nhất mà quý vị không chuẩn bị? Đó là sự thiếu sót của mình, Đức Phật gọi đó là sự si mê, vô minh, không trí huệ. Phải chuẩn bị cho một chuyến đi dài, môt chuyến đi xa. Phải nhớ mới có thể chuẩn bị, quên thì làm sao chuẩn bị? Cứ ham chơi, ham nói, ham ăn, ham ngủ, đừng có nghĩ già rồi là không ham.

Người Việt Nam ta thường có câu “gần xuống lỗ rồi còn ham gì nữa?”, câu này là Niệm Tử, là trí huệ. Nguyên nhân sân phát sanh là do chướng ngại tướng, mình nghĩ đó là chướng ngại đối với mình nên sân phát sanh. Để trị sân phải dùng từ tâm giải thoát. Nguyên nhân sanh khởi ra si là do không Như Lý Tác Ý, không suy xét đúng theo Chánh Pháp. Giờ mình phải Như Lý Tác Ý, xét đúng với Chánh Pháp, với Pháp Duyên Sanh.

Chúng ta đã thấy rõ con đường, thấy rõ đường đi, thấy rõ mục đích tu tập theo Đạo Phật. Mục đích tu tập trong đạo Phật là đoạn tham, đoạn sân, đoạn si. Ngày nào cũng phải nhớ niệm câu này, ngay cả khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nói. Mọi lúc, mọi nơi luôn nhìn lại xem có tham không? Hãy nhớ không phải thấy được tham là xong mà phải đoạn trừ nó theo cách Phật đã dạy.

Cũng vậy, luôn luôn nhìn lại xem có sân, có si không, nếu có thì phải đoạn trừ. Chúng ta thấy rõ được tham, sân, si một cách trọn vẹn thì đó là Sơ quả Tu-đà-hoàn, Nhập Lưu vào dòng Thánh, gọi là thấy được rác bẩn trong nhà. Kế đó mình dọn rác, hốt rác là Thánh quả thứ hai. Sau khi hốt rác xong nhưng vẫn còn dính dơ bên dưới, mình tiếp tục chùi lau cái dính đó thì là Thánh quả thứ ba. Cuối cùng chúng ta chùi lau cho đến khi sạch trơn là chứng A-la-hán, Thánh quả thứ tư – quả tối cao của Phật giáo. Toàn bộ sự tu hành có bao nhiêu đó, chứ không nhiều.

./.