Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nếp Sống Hàng Ngày

2026-03-03 00:54:32
Nếp Sống Hàng Ngày

(Văn bản. Diệu Quang)

Mười điều quan trọng nhất của người xuất gia ở trong Tùng lâm.

Nghĩa đơn giản là: nếp sống hàng ngày.

Mười điều này là giềng mối của pháp lành, mọi người phải thực hành bất kể là ai? làm chức vụ gì? đều phải giữ gìn không phạm, chẳng phân biệt chúng thường trụ hay khách Tăng ai nấy cùng nhau tuân hành

Tôn trọng giới đức là cội gốc giác ngộ là cội gốc Niết bàn

Cam chịu đạm bạc an nghèo vui đạo gìn giữ tâm tu

Lặng lẽ thuần nhất bớt duyên lo gốc tránh khỏi phân tâm

Dẹp riêng, bỏ tà lo chung, giữ chánh

Nhu hòa, nhẫn nhục kỹ việc kính người

Đây là theo tinh thần của Đại sư Bách trược là một tổ sư của thiền tông là người đầu tiên thành lập chế độ Tùng lâm của Tự viện, mở ra một trang sử mới sáng lạng huy hoàng của Thiền tông Phật giáo Trung Hoa. Trước này các chùa tịnh, luật thiền, v. v…sinh hoạt lẫn lộn chung với nhau từ khi Bách trượng soạn ra Bách tượng thanh quy nó có nề nếp gia phong có mô phạm rõ ràng cho các thiền viện ở tại Trung Hoa có sinh hoạt đặc thù riêng biệt về sau này cho đến mấy ngàn năm sau mà Phật giáo Việt nam cũng ảnh hưởng. Trong đây Ngài nói cho chúng ta nếp sống hàng ngày của người xuất gia, hàng ngày người xuất gia phải làm những điều này đó là việc phải làm việc cần làm, đó là bổn phận trách nhiệm của người xuất gia. Mười điều này là giềng mối của pháp lành, giềng mối là chỗ trọng yếu, mình chỉ cần nắm được mười điều này thực hành theo mười điều này tất cả pháp lành, tất cả các thiện pháp, tất cả công đức phước báu v.v…đều đầy đủ gọi là giềng mối giống như cái lưới mình nắm sợi dây nó hay cái áo mình cầm lên cái bâu thì tất cả đi theo, giềng mối là chỗ trọng yếu cốt lõi của tất cả các thiện pháp mọi người đều phải thực hành bất kể là ai, làm chức vụ gì đều giữ gìn không phạm, không có phân biệt, chẳng phân biệt khách thường trụ khách tăng ai nấy cùng nhau tương hành, những điều này không phải người mới tu mới làm cũng không những người có chức sự mới làm mà những điều này tất cả người tu dù cho mới cạo tóc cho đên tám mươi tuổi hạ đều phải giữ gìn đồng nhất như nhau nên nói là không có phân biệt hạng người nào, chức vụ hay không chức vụ hoặc là thường trụ ngay trong chùa mà khách đến cũng tuân thủ theo đó là những điều căn bản trong Tùng lâm tự việc, đạo tràng.

Tôn trọng giới đức là cội gốc giác ngộ là cội gốc Niết bàn

Đức Thế Tôn sau khi bốn mươi chín năm hơn ba trăm pháp hội ở khắc năm vùng Ấn Độ Ngài trút hơi thở cuối cùng ở tại Ta song thọ tước khi dương tịch Ngài có những lời nhắn nhũ rất tha thiết trong bản kinh Di giáo “Này các đệ tử sau khi ta nhập diệt các vị thấy Ba-ma-đề-mộc-xoa làm cái chỗ nương tựa y chỉ làm thầy” Ba-ma-đề-mộc-xoa là giới luật, sau này các Chư tổ các vị Cao tăng cận đại như Ngài Hư Vân, một trăm hai mươi tuổi ở trong tự viện hơn một trăm năm khi Ngài nhắm mắt Ngài viết di chúc lại Ngài nói muốn cho Phật giáo được hưng thịch muốn Phật giáo được bền chắc muốn Phật giáo được vững mạnh lợi lạc chúng sanh chỉ cần một chữ đó là chữ giới. Đầu tiên của mười điều căn bản trong nếp sống tu hành lấy tôn trọng giới đức làm cội gốc làm nền tảng tại vì nếu xem thường giới luật thì không còn Phật giáo, Phật giáo chỉ có hình thức suông mà thôi chính cái giới luật là linh hồn là sức sống của Phật giáo, không có giới luật Phật giáo từ từ sẽ tan hoại hoạc chỉ còn một màu sắc hình thức suông nên chúng ta nửa tháng tụng giới một lần câu

“Tỳ ni tạng trụ Phật pháp thế thế trường tồn

Giới luật nghiêm trì tòng lâm thời thời hưng thịnh”

Tỳ ni tạng trụ cái tạng tỳ ni , giới luật tỳ ni tạng tỳ ni rất còn tồn tại còn Phật pháp thế thế trường tồn còn mãi giới luật nghiêm trì tòng lâm thời thời hưng thịnh, huynh đệ nhìn trong thực tế thấy rõ chứ mình không chỉ nói trên lịch sử chỉ nói trên những câu chữ cho hay dáng biểu ngữ cho vần nhưng thật chất bên trong mới thấy ví dụ chùa mà hưng thịnh mọi người phát tâm mọi người quy ngưỡng ngững nơi đó là tôn trọng giới luật như các Thiền viện những chỗ giới luật nghiêm minh tự nhiên tứ chúng hay bảy chúng đều cung kính tụ quay về, giới luật này rất lạ nó không có hình tướng, không màu sắc không hương vị mà chỉ có người tu tự nhiên thể hiện không thể nào mà che dấu được, người có giới đức từ trong tâm lực đạo lực nó biểu lộ đó gọi là vô tác giới thể hay giới vô tướng không có hình tướng do mình gìn giữ trong nội tâm của mình, từ giới thể đó phát sanh ra cái giới hạnh, giới thể, giới đức, giới hạnh như mình lại gần Hòa thượng viện chủ chùa Vạn đức từ trong phong thái uy nghiêm của Ngài giới hạnh bên trong tỏa ra hay Hòa thượng viện chủ chùa Trúc Lâm chẳng hặn mình đến mình cảm nhận được những vị có đạo hạnh giới đức, cái này không chỉ trên hình thức mà được dù cho mình làm ở dáng vẻ bên ngoài cỡ nào cũng không thật, có thật từ ở trong mình mới có nguồn quả báo của nó bất khả từ nghì vô lượng vô biên công đức, công đức vô tướng như hư không, muốn giữ phải tôn trọng, không tôn trọng giới pháp không thể giữ được giới pháp.

Tại sao mình tôn trọng? Mình phải biết giá trị của giới luật mình mới tôn trọng giới luật. Muốn biết giá trị mình phải tìm hiểu học hỏi, học để hiểu, hiểu để mình biết được giá trị khi biết được giá trị mình mới tôn trọng quý kính, mình tôn trọng quý kính mình mới lãnh thọ giữ gìn nếu mình không biết giá trị thật của nó thì khi kêu mình giữ mình kiềm những rất khổ sở bứt rứt khó chịu, thấy giống như dây buộc hay nhốt mình không nhúc nhích được nhưng thật ra không phải, ví dụ huynh đệ đi lên Đà Lạt đi qua đèo Bảo Lộc tại sao trên đèo người ta phải làm những rào chắn phía ngoài nếu không có lọt xuống vực thẳm, tại sao những nhà mé sông người ta phải làm hàng rào vì có những đứa trẻ nó không hiểu biết sẽ dễ lọt xuống sông nguy hiểm tới tính mạng như vậy hàng rào làm ra bờ rào làm ra đều muốn bảo vệ sự an toàn, rào chắn bình an là vì tình thương đối với trẻ thơ non dại không hiểu biết, Phật tổ các vị Bồ-tát, Cao tăng v.v…lập ra giới luật thanh quy, lập ra những hạng mục quy định vì lòng thương con trẻ khờ dại không biết con trẻ đó là chính mình. Mình hiểu được nguyên nhân tại sao chế ra giới luật, hiểu được giá trị giới luật và mình hiểu được mục đích của giới luật, mình lo sợ nơm nớp mình ngăn chặn đề phòng tha thiết trong sự tu hành có khi còn lén lén chung rào, làm sao giữ gìn cho được nên nửa tháng nhắc nhở Bố tác tụng giới nhằm mục đích để cho mình nhớ. Tôn trọng, chúng ta phải có tâm tôn trọng quý kính khi mình hiểu được nó bắt nguồn từ lòng thương xuất phát từ tâm từ bi phát xuất từ sự bảo hộ rào chắn bình an cho mình thì mình mới thông cảm quý kính đức Phật, thương quý Chư tổ và các vị Cao tăng, chính mình hiểu được như vậy mình mới thấy giá trị sâu xa nó cao quý của giới pháp.

Giới luật này chúng ta mở ra đọc mới thấy rất đơn giản nhưng mình đâu có biết mỗi một câu mỗi một chữ điều có đức Phật phải đổ bao nhiêu bộ xương bao nhiêu giọt máu bao, bao nhiêu huyết tủy để đánh đổi giới pháp khi đầu tiên không ai truyền giới cho đức Phật mà chính đức Phật đã sống như vậy đã thực hành như vậy và đã đạt tới kết quả thấu suốt tột cùng chân lý nhân sanh vũ trụ vạn vật, đức Phật thấy cách sống này sẽ đưa con người đến chỗ an vui tuyệt đối, cách sống này sẽ đưa con người tới chỗ mà tâm tĩnh lặng trí sáng soi và lợi lạc cho mọi người, nên đức Phật mới đem kinh nghiệm tu hành ở trong ba đại a tăng kỳ kiếp kết tinh lại mười giới, hai trăm năm chục giới v.v…từ ngũ giới bát giới cho tới thập giới cho đến tỳ kheo hay tỳ kheo ni hay Bồ-tát tất cả giới đó là kết tinh giới hệ xương cốt tủy não của số kiếp nhiều như cát bụi mà kết thành cho nên mình đọc trong bảng giới nói “các sông biển là lớn, các dòng bể là lớn các sao trăng là sáng các thánh Phật là tột trong tất cả giới luật giới kinh là hơn hết Như Lai lập giới cấm nửa tháng tụng một lần” ví dụ trong các vì sao mặt trăng là sáng nhất.Trong các dòng sông kênh gạch biển là rộng nhất. Trong các bậc thánh đức Phật là tối thượng, trong tất cả kinh sách giới kinh là cao nhất.

Tại vì kinh các vị khác nói được, luận mình giải thích cũng được nhưng giới mình không chế ra được chỉ có Phật chế chúng ta hiểu được giá trị đó mình tìm hiểu thêm nhiều sách nói về giới luật để mình đọc để mình hiểu, mình hiểu được giá trị đó mình mới quý trọng mình coi từng câu từng chữ trong giới pháp đó còn hơn châu ngọc, tuy mình làm chưa được trọn vẹn nhưng chính tâm tôn trọng quý kính dần dần mình sẽ làm được tới nơi tới chốn, chẳng hặn mười điều mình giữ được năm điều nhưng mình học mình hiểu mình biết chưa có được chưa đủ mình phải cố gắng hơn nữa thì từ từ tăng lên sáu bảy tới một ngày nào đó trọn vẹn mười điều thì mình bước vào dòng thánh nhập lưu. Giới luật chỉ cần giữ một giới đầu tiên giữ được là vào dòng thánh nên mình thấy được khả năng của mình chưa tới đâu, mình phải cố gắng lên có ngày nó đến nếu mình có tâm xem thường thì mãi mãi muôn đời vạn kiếp vứt bỏ không thăng tiến lên được nếu không có giới luật dù có thiền định trí huệ cỡ nào đi nữa cũng rơi vào tà mà ngoại đạo, cũng làm trong tâm mê muội của vô minh nên thiết tha kính trọng giới pháp nó là cội gốc của sự giác ngộ

Tại sao là cội gốc?

Tại vì giới giống như những bộ rể gốc, định giống như là thân của cây, từ gốc đó mới nuôi cái thân, từ thân đó mới ra những cành nhánh, lá, bông, trái sau cùng chính là kết quả của trí tuệ, gốc rễ là giới, thân là định còn hoa quả cho tới kết trái đó là tuệ, không có gốc làm gì có thân, không có thân làm gì có cành lá, không có cành lá làm gì có hoa trái được nên cội gốc không có thì không thể nào nói tới hoa trái nên dù có tu hành bao lâu đi nữa cũng không thể nào phát sanh được tuệ giác để diệt khổ cho nên giữ giới đức Phật nói trong kinh A-hàm hay kinh Tăng chi bộ rất khổ chứ không dễ, nói dễ nhưng không dễ đức Phật có khi nói trong đau khổ dàn rụa nước mắt khổ đau quần quạy có vị Tỳ-kheo Ni thời đức Phật hqai mươi lăm năm đau khổ ray rứt về tâm niệm ai dục tới năm thứ hai mươi sáu chứng quả A-la-hán. Không phải mình vô mình giữ được liền mà phải chiến đấu chiến thắng với nó phải tha thiết với giới pháp mình mới có phần còn không chỉ là cây chết không ở trong biển cả của Phật pháp được, cây mà chết là biển đánh tạt lên bờ giống như biển Phật pháp không có chứa tử thi, chúng ta học hiểu, biết được giá trị tôn trọng quý kính nhất định mình sẽ từ gốc tốt và có thân được vững, thân vững cành lá hoa trái sum suê, nền tảng Niết bàn cũng như vậy, Minh Thành đi sang HongKong người ta xây những ngôi nhà cao tầng cả trăm tầng hoặc chín chục tầng cái móng làm xuống sáu chục thước mới xây lên cái nhà chín chục tầng nền móng vững chắc vì gần ở biển nếu như sóng mạnh đánh rất dễ sụp đổ nên phải làm móng vững chắc mới xây cao lên được. Mình ở rất gần biển nước nhưng mà biển ái

“Biển ái sóng bao la

Nhận chìm cả ta bà

Muốn thoát luôn hồi khổ

Sớm gấp niệm Di Đà”

Mình gần biển ái, biển ái khó vượt, biển ái không phải bên ngoài vượt vô mà ở bên trong tràn ra cũng có nên đức Phật nói trong mắt mình có cả một biển cả, có thể nhận chìm, trong lỗ tai cũng có một biển cả, trong lỗ mũi mình cũng có một biển cả, miệng, ý, thân đều có biển cả, sáu căn là sáu biển, sáu trần sáu biển, sáu thức sáu biển nên cộng lại có mười tám biển có mười tám tầng địa ngục, sáu căn sáu trần sáu thức tương ưng với mười tám tầng địa ngục nhân quả rất rõ, mỗi cái mỗi ngục nó nhốt mình, con mắt nó nhốt mình, lỗ tai nó nhốt mình, nhốt mình là mình nhìn thấy đẹp tự nhiên đi không được về nhà ngồi nhớ vượt lên hình ảnh đó ra không được đó là một địa ngục ngay nơi mắt, lỗ tai nghe xa xa đàng kia ai nói câu chạm tới tự ái của mình nói đủ thứ lúc đó nghe tức giận về nhà nhớ lại đó là ngục của lỗ tai ngục âm thanh của nhĩ thức như vậy luôn luôn bị mười tám địa ngục giữ chặt nên mới dùng sâu chuỗi mười tám hột hay một trăm lẻ tám, 108 cũng là 108 thứ phiền não nên trong đạo Phật mỗi một pháp khí, mỗi một cái vật đều biểu trưng đạo lý sâu sắc chứ không phải tự nhiên mình học thấy hay, cầm đến cái gì cũng nhớ tu hành.

2. Cam chịu đạm bạc an nghèo vui đạo gìn giữ tâm tu.

Cái này là bản sắc của người tu, người tu thật sự cam chịu đạm bạc, đạm bạc là nó nhạt nhẻo, lạt, không mặn nồng, chúng ta thấy nước ngọt nước cam ngọt mùi hấp dẫn còn nước lọc lạt lẻo nhạt nhẻo nhưng uống nhiều tốt thiếu là chết còn nước ngọt uống nhiều bệnh, nhưng nước lọc lại xem thường quý trọng hương vị đậm đà mà cái đó đưa mình tới bệnh hoạn, nếp sống của người tu cũng như vậy, bản sắc cam chịu là cam tâm tình nguyện không phải nhà nghèo khổ không có tiền đi tu, cũng có trường hợp đó nhưng bản chất thật sự là mình chấp nhận điều này, mình vui với nó, mình an nghèo vui đạo, an với phận nghèo vui với đạo giữ gìn tâm tu chứ không phải phang duyên, phang duyên rất khổ và đi lạc vào trong hữu bi hữu lậu của danh văn lợi dưỡng và làm cho ngọn đèn của Tam bảo mờ lưu, tại vì hôm nào tụ họp đông đông kêu gọi cái đó dần dần người ta mất tín tâm với Tam bảo rất quan trọng, mình nhớ lại ngày xưa đức Thế tôn đứng ở trên địa vị tột cùng của nhân loại từ vật chất cho tới địa vị cho tới sức khỏe sắc đẹp quyền uy mọi thứ bỏ hết làm một kẽ ăn xin nên mỗi khi chúng ta lạy Phật, thấy đức Phật ngồi dưới gốc cây thấy nếp sống đạm bạc còn bây giờ xuất gia xài điện thoại di dộng còn đi học là không được, xem ti vi đọc báo là không được, đi chơi liên tục cũng không được từ từ nó phai nhòa tại vì mình ngồi yên trong chua tù giờ niệm Phật tụng kinh nó lăng xăng mọi chuyện mình kiềm còn không nổi mình kiếm không thấy mà mình còn đem những phương tiện cho tâm mình phóng chạy như vậy gián tiếp tạo điều kiện để đi vào dòng luẩn quẩn của khổ đau hệ lụy, mọi phương tiện vật chất chúng ta đều phải giảm, Minh Thành thấy nhiều huynh đệ nhiều Phật tử thấy rất đau lòng khi còn cư sĩ thấy rất hiền hậu dễ mến thật thà khi xuất gia lúc đầu còn tốt mà thời gian thấy rất sót thương biến chất nên chúng ta nhớ cam chịu đạm bạc giảm bớt những tiện nghi vật chất, càng xài đồ tốt càng xài đồ sang càng xài đồ đẹp chừng nào thì càng thiếu nợ nhiều chừng đó, càng ràng buộc nhiều từng đó, càng dính chặt nhiều từng đó vì tất cả những cái người ta cung phụng lên đều dao lớn mài cục đá của mình, cuối cùng cục đá mình không còn gì hết mà chẳng những không còn mà còn thiếu nợ nó rất khó nên chúng ta nhìn đức Phật Chư tổ, Ngài Ca-diếp đức Phật truyền y là người đầu đà đệ nhất khổ hạnh, đức Phật giao chánh pháp nhãn tạng không phải cho Ngài Xá-lợi-Phất trí huệ, không phải giao cho người tự tại biến hóa như Mục-kiền-Liên,cũng không giao cho những vị luận bậc nhất mà đức Phật giao cho người đầu đà khổ hạnh gương mẫu mô phạm của tứ chúng là Ma-ha-ca-Diếp mới nắm giữ được kho tàng chánh pháp của đức Phật. Mình thấy những vị Cao tăng cận đại của Phật giáo Trung Quốc chẳng hạn Ngài Quảng Khanh tu khổ hạnh đạm bạc, Ngài Hư Vân cũng như thế, Ngài Tuyên Hóa cũng vậy, các vị cận đại đều như vậy tại vì đạm bạc đó an nghèo vui đạo đó thấy đơn giản nhưng rất sâu xa phá được cái ngã và đơn giản đầu tiên trong sơ thiền là ly sanh hỷ lạc địa, lìa ngũ dục, lìa vật chất tiện nghi thì mới có hỷ lạc của tâm thư thới, tâm nhẹ nhỏm tự tại ở ngoài sự vật gọi là tiêu giao bậc ngoại, ung dung tự tại ở ngoài mọi sự mọi vật thậm chí ở trong chòi tranh vách lá ở dưới gốc cây vẫn sống được an vui đó là bản sắc của người xuất gia là phong thái của thượng sĩ nên chúng ta dù cho xuất gia mười năm hai chục năm ba mươi năm đi nữa cũng không quên điều này, tâm tâm niệm niệm lấy cái đó làm cái kim chỉ nam cho cuộc sống thì đời này đời sau dần dần mình đi tiến tới chỗ cao xa nên Ngài Quy Sơn dạy chúng ta như dây leo xoán dây bìn, bò lên cây tùng cây bá mà được cao ngàn trượng, mình chưa có đủ sức như các bậc Cao tăng cổ đức mình phải nương vào các Ngài lấy cái đạo hạnh cuộc đời của các Ngài làm sống động lấy đó neo theo như vậy mình vượt cao ngàn trượng như vậy đời đời kiếp kiếp cùng làm bạn pháp

“Khởi các kiến ỉ tùng chi cát

Thượng….

Phụ thát thắng nhơn phương năng quảng ích

Khẩn tu trai giới mạn mạng phi du

Thế thế sanh sanh thù diệu nhân quả

Bất khả đảng nhàn ngột ngột độ thời

Khả tích quang lâm bất cầu thân tánh

Đồ tiêu thập phương tín thí …tứ ân

Tích lụy chuyển thân tâm trần dị ủng”(Phút 41)

Tức là phải nương nơi cây tùng cây bá cây cổ thủ mình như cây dây leo bò lên nếu không có cây đó thì dây leo nằm dưới mặt đất nhờ cây đó mà cao lên muôn tầm vạn trượng, dựa vào nhân thù thắng mới có lợi ích rộng lớn, giữ gìn trai giới ăn chay rất quan trọng, người xuất gia mà không giữ gìn điều này là điều đáng trách, trai giới phải cố gắng hết sức mình dù chưa trọn vẹn cũng cố gắng hết sức khả năng của mình để giữ gìn nếu mình được như vậy giữ trai giới thôi thế thế sanh sanh thù diệu nhân quả, đời đời kiếp kiếp lúc nào sanh ra vì nhân mình lành thì quả mình thiện sanh ra lúc nào cũng tốt đẹp, không thể nhởn nhơ qua ngày lửng lờ hết tháng được, phải cầu tiến lến vượt lên, vượt cho đến chỗ không còn chỗ để lên lúc đó mới xong trí của trượng phu, trí của người xuất gia chứ không thể được chút ít cúng dường lợi dưỡng hoặc được một cái chùa nho nhỏ mà hài lòng, tất cả cái đó đều không phải việc chính của người tu, giữ gìn tâm tu dù cho có bị hạ thấp xuống hoặc đưa lên hoặc ở địa vị như thế nào đi nữa mình vẫn giữ tâm tu ở trong tâm thái cam chịu đạm bạc, an nghèo vui đạo, câu đó làm chỉ nam của cuộc sống, nghèo mình chịu nghèo, mình là người ăn xin, cái áo này cũng không phải của mình luôn luôn lúc nào cũng nhớ mình là người ăn xin, rất tiếc cho thời đại, xưa đức Phật ôm bát đi khất thực giờ mình không thể làm được, làm được điều đó là phá được ngã mạng rất nhiều và sự tu của mình nhất định sẽ rất tiến bộ, tuy mình không làm được nhưng nhớ mình là người ăn xin, mình nghèo, nghèo của mình không phải mình không có khả năng để làm giàu mình có thừa khả năng để làm giàu xây dựng sự nghiệp mà mình cam chịu đạm bạc để mình tìm ra được cái gì cao siêu vượt thoát khỏi khổ đau tầm thường của nhân thế chỗ đó mới chỗ đặc biệt chứ không phải mình ăn xin giống như mấy người không đi làm được.

3. Lặng lẽ thuần nhất bớt duyên lo gốc tránh khỏi phân tâm

Lặng lẽ thuần nhất bớt duyên lo gốc cái này giống như cà phê phiên, giống như nấu thuốc bắc nước cốt đầu tiên là những câu những chữ này nó cô đọng, lặng lẽ thuần nhất bớt duyên lo gốc tránh khỏi phân tâm. Lặng lẽ thuần nhất thời đại bây giờ rất khó lặng lẽ, luôn luôn trong cái ồn náo, luôn luôn ở trong cái lăng xăng

“Vội vội vàng vàng khổ nhọc cầu

Mưa mưa nắng nắng trãi xuân thu

Hôm hôm sớm sớm lo lắng sanh kế

Lẵng lãng quên quên bỗng bạc đầu

Thị thị phi phi không kết liễu

Phiền phiền não não những bi ưu

Rành rành rõ rõ một đường đạo

Vạn vạn ngàn ngàn chẳng chịu tu”.

Một vi cư sĩ cảm xúc nói lên như vậy, cứ vội vàng lăng xăng lộn xộn đó là nói người đời, bây giờ người tu không lẽ cũng giống như vậy thì rất đau thương, không lẽ giờ mình cũng lăng xăng hết đám này rồi đến đám kia, hết chậu hoa này đến cây kiểng nọ, hết nhà này dựng nhà kia tạo cảnh tạo tạo vườn lo ăn lo mặc đi chơi xem ti vi tối ngày lăng xăng lộn xộn làm sao lặng lẽ thuần nhất được, bớt duyên lo gốc được cho nên người mạnh anh hùng tạo thời thế, người ta thường thường thời thế tạo anh hùng là người đó do thời vận do thế cuộc do hoàn cảnh mà đẩy lên làm anh hùng có khả năng nên đẩy lên liền còn không có khả năng đẩy cũng không lên được đó là thông thường, còn người mạnh anh hùng tạo thời thế, ở trong lăng xăng lộn xộn đó tự mình giữ vững được tâm lặng lẽ thuần nhất đó là cái người ý chí, tự mình tạo cho mình sự yên tịnh, tự mình giúp mình lặng lẽ, tự mình làm cho mình bớt duyên lo gốc, ở yên tu không có ông Thầy nào mà chết cứ sợ không có tiền không có gạo ăn, đức Phật viết di chúc lại một sợi chỉ trong chiếc y của Phật mà cơm thừa canh cặn dù cho tới con của Phật tam thiên đại thiên xuất gia cũng không có chết, công đức của Phật, đừng lo không có gạo, đừng lo không đủ ăn cứ tu đi bất khả tư nghì, gấp trăm gấp ngàn lần sự lo lắng. Minh Thành đầu tiên lên núi có cái am tranh bây giờ nguyên hòn núi không có kêu gọi chỉ tu rị nên càng tin thêm lời Phật tổ, thành lập khu tĩnh tu trên đó.

Bớt duyên lo gốc, bớt mọi duyên mà lo cái gốc, gốc là cái lặng lẽ của người tu, đọc kinh sách nghiền ngẫm nhất là cuộc đời của các vị Cao tăng cổ xưa, nghiền ngẫm cái đó đem ứng dụng tu lo cho cái gốc còn mấy cái ngọn đừng nói chi chùa chiền nói huynh đệ hay đệ tử, thân của mình còn không biết nhiều khi đi ra rầm cái là chết chứ đừng nói chi cái gì khác, cứ lo cho được cái tâm tĩnh lặng chiếu sáng của mình cái đó bất sanh bất diệt, chân thật muôn đời, lo được cái đó không có cái gì mà không lo được chỉ cần lo một cái đầy đủ tất cả cái, còn lo tất cả cái không thể nào được cái một.

4. Dẹp riêng, bỏ tà lo chung, giữ chánh.

Tạo cái phước cho mình, người tu phải dẹp cái duyên tư để lo cho cái chung, phải bỏ cái tà để giữ gìn cái chánh, riêng tư là lợi ích cá nhân của mình, lợi ích cho địa vị của mình, lợi ích hưởng thụ của mình nói rộng chút là cho huynh đệ cho thầy mình hoặc lợi ích cho chùa của mình dẹp mấy cái đó, lo cho cái chung Phật pháp lo cho cái rộng cho Tam bảo nhưng cái này phải để ý, con mắt tròng vàng lửa của Tôn Ngọ Không thấy được đâu là yêu ma đâu là Bồ-tát hay Phật thật còn mắt bình thường không thấy được, nhiều khi mình nghĩ mình lo Tam bảo lo cho chùa nhưng thật sự tâm mình nó ghê gớm nó là xảo ngụy nó gian trá nó ma mảnh lừa bịp mình và mình lo cho cái tự ngã cái lợi ích riêng của mình mà mình không thấy, mình cứ nghĩ là lo chung nhưng thật sự đang gạt gẫm mình, chỉ có tâm tĩnh trí sáng mới soi thấy được cho nên chúng ta nghĩ tới cái chung cái lớn cho Phật pháp mà mình đặt tâm mình vào chỗ lớn đó thì cái tâm lớn thân nó lớn tự nhiên địa vị cao mà không cần mong cầu, thân lớn rồi cảnh nó lớn mình ở chỗ rộng lớn, từ thân tâm cảnh nó liên quan đến nhau. Chúng ta luôn nghĩ nhớ tới cái lợi ích của Tam bảo và Phật pháp.