Quán Chiếu Sáu Pháp
QUÁN CHIẾU SÁU PHÁP
- Thích Minh Thành -
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền PAGEREF _Toc73456065 \h 1
II.Trí tuệ về sáu pháp PAGEREF _Toc73456066 \h 5
1.Sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ PAGEREF _Toc73456067 \h 6
2.Sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ PAGEREF _Toc73456068 \h 7
3.Nhận diện các pháp PAGEREF _Toc73456069 \h 10
Nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy, sư cô và quý sư huynh. Con xin nhận diện năm uẩn lúc ngồi thiền. Thọ của con là khổ, đau bụng. Tưởng của con thứ nhất về nhà vệ sinh và thứ hai là về căn bếp. Hành của con bảo rằng đau bụng nên chắc sẽ xin sư phụ để ra ngoài. Thức của con rõ biết là thọ, tưởng, hành đang vận hành.
Sư phụ: Ngày hôm qua con nghe tin bà ngoại mất đúng không? Lúc đó thọ, tưởng, hành, thức ra sao? Có nhận diện ngay lúc đó không?
Dạ lúc đó con chuẩn bị và rồi con nghe tin. Tim của con nóng hổi và đập rất nhanh trong lồng ngực. Thọ là khổ. Hành bảo rằng: “Chắc sẽ xin sư phụ về nhà, không biết sư phụ có cho đi không, nhưng chắc sẽ cho, không sao đâu”. Tưởng làm hiện lên hình ảnh mẹ con lúc báo tin. Thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành. Lúc đó con cũng có tác ý, con bảo rằng: “Đó ngươi thấy chưa, đó là sự nguy hại của sắc đó. Về sau ngươi cũng như vậy và mọi người cũng như vậy”.
Sư phụ: Con có tưởng hình ảnh bà ngoại mất ra sao không?”
Phật tử 1: Dạ vì lâu rồi con không gặp bà ngoại nên con cũng không còn nhớ rõ.
Sư phụ: Bao lâu rồi không gặp?
Phật tử 1: Dạ hơn một năm.
Sư phụ: Vậy là không tưởng về ngoại mà tưởng về mẹ. Lúc nãy ngồi thiền có tưởng không?
Phật tử 1: Dạ lúc nãy không tưởng về điều đó mà con tưởng rằng con với hai anh trai ở thành phố lên xe về nhà.
Sư phụ: Mai mấy giờ con đi?
Phật tử 1: Dạ khoảng 5h45 con xuống núi.
***
Chú Nghĩa:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thưa sư phụ, sư cô cùng toàn thể quý thầy, quý đại chúng. Lúc nãy con ngồi thiền để nhận diện năm uẩn thì con nhìn thấy một con ếch muốn đi ra cửa mà không đi được. Thọ của con là không khổ, không lạc. Tưởng của con là hình ảnh con ếch bò trên mặt gương, không biết bò đến đâu. Hành của con là không biết có con ếch có thể bò ra ngoài hay không. Thức của con là sự rõ biết của thọ, tưởng và hành.
Sư phụ: Ngoài ra còn gì khác hay không hay nguyên buổi chỉ nghĩ về con ếch?
Chú Nghĩa: Dạ con ngồi thiền quen nhắm mắt nên suốt buổi chỉ quán 3 pháp để không nhắm mắt.
Sư phụ: Vậy cuối cùng là nhắm hay mở mắt?
Chú Nghĩa: Dạ mở mắt ạ.
***
Thầy Pháp Từ:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Con, đệ tử Pháp Từ kích bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin phép được nhận diện năm uẩn trong lúc đang ngồi thiền. Đầu tiên, sư phụ có dạy ba pháp là rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tĩnh giác. Nhờ ba pháp này mà con tịnh tâm trên thân được. Khi rõ biết trước mặt, con biết được xác thân này đang ngồi rất vững chãi, theo dõi hơi thở con thấy được sự nhẹ nhàng, an lạc nơi thân, dễ chịu nơi tâm. Lúc đó ý hành của con có tác ý là thân thật nhẹ nhàng, tâm thật dễ chịu, con nói như vậy ba lần thì sanh khởi hỉ thọ. Con cảm giác là mình đã thực tập được sự an tịnh toàn thân. Như phụ dạy lúc ngồi thiền không được nhắm mắt, con luôn mở mắt ra để rõ biết trước mặt. Khoảng hơn ba mươi phút có sự mỏi mắt vì tối hôm trước con không ngủ được. Nhờ cảm giác toàn thân mà con nhận biết ngay lúc nó phát khởi. Lúc đó con cảm giác mạnh ở nơi mắt, mở to mắt ra, con thấy được kết quả nhờ cảm giác toàn thân đã nhận diện được thực pháp đang diễn ra và không đi vào chỗ hôn trầm. Tưởng của con có nhưng rất ít, đó là hình bóng lúc con không ngủ được rồi con ngồi thiền, con đọc thầm ôn lại bài Tứ Niệm Xứ. Những sắc tưởng, thanh tưởng đó ẩn hiện trong tâm con. Thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
***
Thầy Pháp Nhân:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch thầy, quý thầy, sư cô và toàn thể đại chúng. Trong khoảng thời gian ngồi thiền thì sự nhận diện ngũ uẩn của con như sau. Về sắc, ban đầu con vẫn tập tuệ tri rõ biết vào hơi thở vào ra, sau năm phút khi tâm đã yên tĩnh thì con có sự tác ý, cảm giác toàn thân. Lúc này con cảm giác thọ do thân xúc sanh là do thân mình đang tiếp xúc với bồ đoàn, áo hậu. Thân và tâm đều dễ chịu. Sau đó con Như lý tác ý về an tịnh toàn thân. Lúc này con đặt tâm mình an trú trên thân. Con quán chiếu về tứ đại, ba mươi hai thể trược. Khi hướng tâm và dùng Như lý tác ý thì những hình ảnh quán về tóc, lông, móng, gân, thịt, da, xương, thận, tủy, tim, gan, mô, lá lách, phổi, ruột, mỡ, da,mồ hôi, nước mắt,... hiện lên rất rõ. Đó là phần tưởng, pháp tưởng, cụ thể là ngoại trần. Hằng ngày, khi được sự cho phép của thầy, con luôn quán chiếu về sự bất tịnh và các bộ phận cơ thể. Những hình ảnh này vẫn còn lưu giữ trong tâm của mình, khi mình tác ý chúng sẽ hiện khởi lên.
Về quán chiếu tứ đại thì như hai bài trước thầy đã giảng ở trường trung cấp thì các huynh đệ con cũng đã được nghe và học. Trong ba mươi hai thể trược đó cũng có liên quan đến tứ đại, chỉ cần mình hướng tâm thì đã thành pháp quán khác nhau. Chẳng hạn, tóc, lông, móng, da, thịt, gân xương,... thuộc về địa đại, giống như thầy giảng, là những gì có tính chất thô phù, chấp thủ. Còn về thủy đại là có tính ướt, chấp thủ như là nước mắt, nước bọt,... Còn về hỏa đại là khi mình ngồi trên bồ đoàn có sự tiếp xúc lâu, thân mình ma sát với bồ đoàn tạo ra nhiệt, mình cảm nhận được hơi nóng, và cả hỏa đại trong ruột do mình đang đói. Trong đó có cả cả hỏa đại và phong đại. Hỏa đại sẽ giúp tiêu hóa thức ăn, phong đại giúp mình nuốt trôi thức ăn và tống ra ngoài. Còn về hành mang tính vọng tưởng thì con không thấy rõ, vì trong suốt lúc ngồi thiền con dùng Như lý tác ý niệm thân trong Tứ Niệm Xứ thầy đã dạy. Về thức thì con rõ biết về sắc, thọ, tưởng, hành. Con nhận thấy nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức.
Dạ mô Phật con xin hết.
***
Sư cô:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch thầy, quý thầy và các chú. Khi bắt đầu ngồi thiền, cảm thọ đầu tiên là con hơi lo lắng, không vui. Lo vì hôm nay có thầy nên không biết ngồi thiền có được hay không. Tưởng của con nhớ đến lời thầy dạy hôm qua là khi ngồi phải biết mình đang ngồi trong chánh điện có thầy, quý thầy, các chú thì tâm mình phải hướng đến sự kính trọng. Con ngồi xuống, lấy lại bình tĩnh và quán ba pháp. Suốt buổi ngồi thiền chỉ có khoảng hai lần là con thấy buồn ngủ thì con quán liền ba pháp. Ba pháp này đã giúp bản thân con rất nhiều. Ngày trước con hay bị buồn ngủ nhưng sau này không thấy buồn ngủ nhiều. Con thấy ngũ uẩn trong một tiếng thay đổi khoảng năm lần. Thọ cảm thấy dễ chịu. Tưởng nhớ đến chánh điện bên kia ồn ào, có muỗi, bên đây mình hạnh phúc hơn, ấm yên hơn. Hành nói rằng đây là giây phút mình được hạnh phúc thì mình phải cố ngồi vì ngồi một tiếng chân con đau lắm, nhưng con nhớ thầy Pháp Từ nói rằng thân đau nhưng tâm không đau nên con tiếp tục.
Sau đó con vật gì đó dưới bồ đoàn làm thọ con thấy sợ, khó chịu. Hình ảnh một con rắn hiện ra, con sợ rắn. Những lời nói nói rằng: “Đừng sợ, mình phải thương nó, nếu thật là con rắn thì mình kệ nó, cứ ngồi yên” và rồi con ngồi yên luôn. Lát sau có nhiều tiếng động, con nghĩ tới năm uẩn, cảm thọ mình thấy khó chịu vì mình thích yên lặng, con tác ý như vậy, mình phải tập trung vào hơi thở nên con quán vào hơi thở. Sau đó con ôn lại trang đầu tiên của kinh Niệm Xứ. Thời gian đó con thấy mình đã học được rất nhiều về quán ngũ uẩn mà thầy dạy vừa qua.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Trí tuệ về sáu pháp
Ở trong đại chúng cũng đã có những vị tiến bộ rất tốt. Cố gắng thực tập theo những gì mình đã học. Đức Phật dạy năm pháp làm phát sanh Chánh tri kiến. Mình phải nghe, tư duy, thảo luận, chỉ và quán. Chúng ta đang tu tập phải tu tập đủ năm điều. Khi nãy chúng ta ngồi thiền là chỉ, quán và tư duy. Bây giờ chúng ta đang nghe, thảo luận và suy xét. Đó là đủ những yếu tố làm cho mình thành tựu Chánh kiến. Chứ không phải mình thích ngồi thiền rồi mình ngồi thiền hoài cho tâm yên. Đó chỉ là một phần chỉ, không thành tựu được Chánh kiến. Những người thành tựu Chánh kiến, thấy, biết rõ thì họ khác. Còn mình đang trong giai đoạn đi từ từ để có cái thấy chính xác về những lời Phật dạy, về tự thân, tự tâm của mình.
Cho nên hôm nay cũng có một vài huynh đệ tiến bộ khá. Học thì mình phải biết vận dụng, không được học máy móc, đừng học xong rồi quên, phải vận dụng khi mình ngồi. Khi nãy ngồi thiền bốn mươi phút thôi nhưng có thấy ngũ uẩn làm việc không? Người có nhiệt tâm, có tinh tấn, tinh cần thì đó là lúc làm việc rất năng động, nỗ lực, cố gắng, chuyên cần. Chứ không phải lên ngồi thiền là chỉ ngồi đó. Ngồi thiền thân yên nhưng trong đó là cả một sự tu tập, vận dụng, soi rọi, quán xét, giảng trạch trong nội tâm. Thấy xong chưa đủ, mình phải có sự Như lý tác ý, có sự nhiếp phục, chuyển hóa, đánh đuổi những bất thiện pháp trong nội tâm.
Ví dụ mình đang ngồi nhưng tiếng điện thoại rung hoài, nếu mình không chánh niệm tỉnh thức là mình sẽ bị động. Yêu cầu trong đại chúng là chừng nào mình xả thiền mới mở điện thoại lên, trước đó thì tắt nguồn. Cái đó phải nhìn hai phương diện. Cái duyên làm cho tâm mình động và mình không khéo hộ trì tâm nên tâm mình động. Động đó cũng là pháp duyên sanh, người không khéo làm cho người khác động thì mình cũng tổn phước. Để cho không có duyên tác động đến tâm người khác thì mình phải có những nội quy. Chứ không phải miễn là tâm mình không động, đó là một chiều. Duyên sanh pháp không một chiều.
Cho nên nói về sự hộ trì tâm, khi mình nghe âm thanh điện thoại, ví dụ một lần không sao, nhưng nó cứ rung hoài, tuy không thành tiếng, mình không hộ trì căn, không có sự chánh niệm tỉnh giác thì lúc đó tâm mình bị động. Mình phải biết rằng đây là cảm giác tiếp xúc của lỗ tai với âm thanh – nhĩ thức. Thọ do nhĩ xúc sanh – cảm giác sinh ra do lỗ tai tiếp xúc với âm thanh mà có. Đây là pháp duyên sanh. Khi thấy rõ pháp nào ra pháp đó, mình sẽ không bị cuốn vào. Còn nếu không chánh niệm tỉnh thức mình sẽ nói thầm “tại sao giờ này còn mở điện thoại?”, “tại sao lại kéo cửa lớn vậy?”, “tại sao lại làm phát ra âm thanh?”. Chúng ta sẽ dễ bị duyên sanh nếu mình không có sự hộ trì căn tu tập, không có trí tuệ để nhìn thấy rõ pháp ngay lúc đó. Chính vì vậy, chúng ta phải nắm vững sáu pháp thì khi pháp vận hành mình mới thấy được. Chứ không phải mình chỉ mờ mờ, mịt mịt, ngồi đó chỉ biết hơi thở, tâm yên thôi là không được.
Sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ
Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu trần là hình sắc, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc, các pháp. Sáu thức là sự rõ biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó là nói đơn giản. Sáu xúc là nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Mình phải biết sự tiếp xúc của con mắt. Biết điều này thì khi pháp vận hành mình mới rõ pháp. Ví dụ khi mình nhìn thấy một đối tượng, có sự tham ái sanh khởi lên, mình thấy rõ liền cảm giác do con mắt tiếp xúc, sắc sanh ra. Lúc đó, mỗi pháp mà mình rõ giống như một lớp rào, giống như đèn chiếu rọi để mình thấy rõ. Cho nên nếu mình không thuộc, không hiểu rõ là mình ở trong bóng tối của vô minh.
Hoặc là khi mông tiếp xúc lâu với bồ đoàn thì mình phải biết đó là sự cảm giác từ sự tiếp xúc của thân với đồ vật bên ngoài mà có. Có thân, có bồ đoàn, tọa cụ, có chân khi tiếp xúc vào đó có sự rõ biết của thân thức, sanh ra thọ. Đó chỉ là cảm giác từ sự tiếp xúc của thân mà thôi, là một pháp. Vậy nên khi có sự mỏi, đau, nhức, tê thì mình có sự làm chủ vững chãi trong đó. Mình không rõ pháp thì chỉ thấy cảm giác đau, mình không biết từ đâu có cảm giác này. Mà đó là thọ sanh, là trí. Trí thấy rõ đó là cảm giác, thấy rõ tại sao có cảm giác và tại sao chấm dứt cảm giác này. Do tiếp xúc nên có cảm giác này, nếu xúc diệt thì thọ cũng diệt. Mình vận dụng bảy trí về thọ vào. Sự nguy hại của cảm giác, sự xuất ly, vượt thoát ra khỏi cảm giác thì mình không bị dính mắc vào cảm giác. Lúc đó tuy thân đau nhưng tâm không đau, chân tê nhưng chân không tê. Từ từ mình mới bớt bị cảm giác chi phối, nhiếp phục được cảm giác.
Thậm chí tâm của các vị tu sâu dày, công phu thì người ta làm chủ được cảm giác, không bị cảm giác tác động, tâm bất động giải thoát, nhập thọ, tưởng, định; diệt thọ, tưởng, định. Không còn tưởng nữa. Gọi là định của các bậc A-la-hán. Lúc Đức Thế Tôn đang ngồi thiền có năm trăm cỗ xe bò đi ngang qua, trời sấm sét đánh chết một số con. Người đó đến gặp Đức Phật, Ngài bảo rằng Ngài không nghe thấy vì lúc đó Đức Phật đang ở trong diệt thọ, tưởng, định. Nhập vô định đó rồi là bất động. Mình đây chỉ mới một chút đã động bởi vì hoàn toàn mình bị cảm giác nhấn chìm, tác động, lôi kéo, sai khiến. Xúc chính là thọ. Cảm giác do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc. Mỗi khi tiếp xúc là mình phải có chánh niệm tỉnh giác.
Sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ
Chúng ta đã nói về sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ, tiếp tục là nói về sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ. Mình tìm hiểu hết phần sáu pháp rồi tính xem mặt trận của mình phải đánh bao nhiêu kẻ địch? Cho nên A-la-hán được gọi là sát tặc, giết được giặc phiền não. Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác gọi là đấng chiến thắng, bậc đại anh hùng. Giặc này du kích, mai phục, ẩn nấp đâu đó rồi tới chừng xuất hiện mình trở tay không kịp vì không có gươm giáo, vũ khí, pháp khí gì hết. Giặc vô minh, phiền não sẽ bất thình lình ập tới. Lâu lâu mình thấy người thầy nào đó ra đời, có vợ có con hoặc gặp lại huynh đệ thấy khác trước, không nói đạo nữa mà nói về tài, sắc, danh, thực, thùy. Tuy rằng không ra đời nhưng cũng xem như là đã hoàn tục, trở về với thế gian, thế tục. Chiến đấu hoài cho đến lúc toàn thắng mới ca khúc khải hoàn.
Sáu tưởng, sáu tư thì bậc đại trí huệ, bậc đại giác ngộ mới nhìn thấy được. Bình thường mình ngồi lại nhìn thấy hình bóng mình nói rằng đó là suy tưởng của mình. Khi mình học thuộc, mình ngồi lại nhận diện sáu tưởng, cái nào ra cái nấy là đã thành tựu trí huệ, chứ không hề đơn giản. Trước khi mình học mình không có biết đó là sắc tưởng, thanh tưởng. Cho nên sáu tưởng này hiện khởi trong tâm mình phải biết. Giống như bước vào căn nhà, mình biết bàn là bàn, ghế là ghế, giường là giường, sách là sách, tủ là tủ. Khi mình biết mình sẽ sử dụng nó đúng mục đích. Còn không biết thì chẳng hạn ngồi trong bàn ăn, vá múc canh mình dùng làm muỗng ăn cơm thì có phải là làm trò cười hay không? Pháp ở ngoài như vậy còn không biết thì đến khi nó vi tế trong nội tâm thì làm sao mình biết, nếu vậy thì khi nào mới giác ngộ?
Sự giác ngộ là giác ngộ tự thân, tự tâm, ngay nội tâm mình. Mình không biết rõ các pháp thì sao giác ngộ, mà muốn biết thì phải học. Không những học mà còn phải nhận diện từng pháp. Mà không phải chỉ khi thiền mới nhận diện, trong lúc sinh hoạt cũng phải vậy. Cái nào là hình bóng thuộc sắc, thanh, mùi, vị, xúc chạm, pháp trần bên trong. Hình bóng của suy nghĩ đã từng suy nghĩ của trước đó gọi là pháp tưởng. Những điều này rất vi tế. Mình nhớ lại để suy tư về những điều mình suy nghĩ, cảm giác, đó là pháp tư. Suy tư về sắc, thanh, mùi, vị, tiếp xúc, pháp thọ, tưởng, hành trong nội tâm. Đó là sáu tư. Mình có suy tư về những điều này không? Thường ngày mình có biết, đọc tên và sử dụng những điều này khi nghĩ về những âm thanh, lời nói không?
Sáu ái sự yêu thích về sắc, tiếng, mùi, vị, tiếp xúc, pháp trong nội tâm. Sáu ái này rất khó phát hiện. Vì bình thường mình nghĩ chung chung là tham ái là những điều bên ngoài mà không biết rằng ngay cả những hình bóng, suy nghĩ của mình cũng có ái trong đó. Có yêu thích cảm giác của mình không? Mình nghĩ rằng là yêu thích chiếc xe hay căn nhà nào đó thì chỉ là sắc, nhưng không, nó còn bao gồm cảm giác yêu thích khi ngồi lên xe hay ở trong căn nhà đó. Đây là điều rất sâu sắc. Thích một người còn bao gồm cảm giác khi tiếp xúc, gặp, nói chuyện với họ, khi đó nó sinh ra sự dễ chịu, thích thú. Nếu nhìn sâu vào thì các pháp toàn ở trong tâm mình.
Phương pháp quán thọ tuyệt vời lắm. Mình thích một chiếc áo nếu không nhìn sâu vào thì mình không nhìn thấy được sự ưa thích khi mặc chiếc áo đó. Thấy điều này khác lạ không? Mình thấy áo là mới chỉ thấy sắc ái chứ chưa thấy được xúc ái, sự tiếp xúc với áo mềm, nhẹ. Trong kinh Đức Phật có ví dụ trong các loại mền thì mền tệ nhất là mền bằng tóc, vì nó hôi dơ, trời lạnh thì lạnh, trời nóng thì nóng. Đó là xúc, sâu vào nữa là pháp ái, là mình yêu thích cái tưởng, ý hành, suy nghĩ đó cho nên mình không chấp nhận suy nghĩ khác.
Nếu không thấy được pháp ái là mình tu không tiến bộ. Như khi mình yêu thích một pháp môn, đường lối, tư tưởng nào đó thì mình sẽ không thể thoát khỏi hệ tư tưởng đó được. Có những người họ đau khổ suốt đời vì hệ tư tưởng đó, vẫn còn nuôi những tư tưởng từ 40-50 năm trước rồi khổ đau, bất mãn. Đó là pháp ái mà họ không thấy. Khi mình học xong rồi, ngồi thiền, mình phải tư duy, nhận diện các pháp trong nội tâm của mình.
Đi sâu vào thiền định thì mình còn vướng mắc ở một điểm nữa. Chẳng hạn, mình ngồi yên tĩnh, khinh an, tự dưng có ai kêu tên mình ra ngoài làm công chuyện thì mình mất cảm giác đó. Đó chỉ là thọ thôi, chỉ là cảm giác dễ chịu thôi. Mình không thấy được thì mình dính mắc trong pháp ái, dẫu là thiền định. Đức Phật nói trong kinh phải đi qua bao nhiêu cửu thiền bát định mà mình vướng vào ái thì không thể đạt tới chỗ giải thoát. Người mới vào Sơ thiền mà thấy yêu thích Sơ thiền, thấy rằng êm ái, tuyệt vời nhất, đây là Niết-bàn thì người đó sẽ mãi ở đó thôi chứ không lên Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền được. Lên tứ thiền mà không thành tựu Chánh tri kiến thì cũng là thiền của phàm phu, tà định. Lên tận cùng bát định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà yêu thích chỗ đó gọi là pháp ái, yêu thích cảm giác trong đó. Pháp ái rất sâu, cho nên người vướng vào không thể tiến bộ được. Tâm mình đóng lại, không mở ra đón nhận điều mới mà chấp thủ, bám chặt vào pháp đó, không muốn nghe thêm, học thêm, thấy nhiêu đó là đủ tu rồi. Họ đang ở trong ái mà họ không biết.
Sáu tầm, sáu tứ là hai điều cuối cùng. “Tầm” là tâm mình hướng về, “tứ” là mình bám vào đối tượng đó. Tâm mình hướng về sắc mình phải biết đây là sắc tầm, sự suy tầm, sự tầm cầu về sắc. Tâm mình đang hướng về mùi, vị, thì mình phải biết lúc đó đang có hương tầm, vị tầm. Tâm mình đang hướng về sự muốn tiếp xúc, thí dụ đang ngồi ở thất yên tĩnh đọc sách, nhưng nghe tiếng nói ngoài trước, thì muốn nói ra nói với khách cho vui. Chẳng hạn mình là sinh viên ngành y, mình nghe bên ngoài có một nhóm bác sĩ đang nói về ngành học của mình thì trong đó cơ sự hấp dẫn. Lúc đó là thanh tầm. Tâm mình hướng về âm thanh đó (tầm), cái thọ, tưởng, hành trong đó bắt đầu bám vào đối tượng (tứ). Mình tìm cầu sắc, lúc đó là sắc tầm. Mình muốn tiếp xúc, làm quen, có số điện thoại lúc đó là tứ. Mình phải nhận ra các pháp này.
Nhận diện các pháp
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu đến: sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ – sáu mươi pháp – mười con số sáu. Mỗi ngày, mỗi phút giây sáu mươi pháp này vận hành. Trước đây không học thì giỏi lắm mình thấy được sáu căn, thấy phớt phớt thôi. Có sáu mươi pháp vận hành, mỗi pháp mình thấy được là mình thành tựu được sáu mươi trí về sáu mươi pháp. Đó gọi là vô lượng pháp môn tu. Chứ không phải là học tùm lum pháp môn tu mới gọi như vậy.
Khi tiếp xúc với sắc tưởng mình phải dụng pháp gì, khi tiếp xúc với ý xúc này mình phải làm sao? Lúc này mình cần chỉ hay cần quán, cần Như lý tác ý hay hộ trì căn. Đức Phật có dạy bảy phương pháp đoạn trừ lậu hoặc. Khi mình biết được pháp, biết được tên gọi, hình dáng, tính chất rồi thì mình nhiếp phục, trị tận gốc nó. Nếu không mình chỉ là “lấy đá đè cỏ”, mượn cái này thế cái kia hoặc là tránh né, còn bây giờ là đối diện trực tiếp luôn. Chẳng hạn, lhi mình bước vào đại chúng 50-70 người, mình nói “lát đi làm cỏ nha”, thì người muốn đi người không, nhưng mình chỉ đích danh chú A thì người đó phải có trách nhiệm. Các pháp trong nội tâm mình cũng vậy. Mình kêu đúng tên, thấy rõ đặc tính, bản chất thì mình trị nó mới được. Mình nghe âm thanh mà tâm mình động thì nói “đây là thọ do nhĩ xúc sanh, là cảm giác do lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, chứ không có gì hết”. Lúc đó tâm mình lắng dịu lại, thậm chí nếu tâm mình mạnh thì nó làm tan ra những cảm thọ khó chịu.
Cho nên Minh Thành mới nói phần này chúng ta học cho thật kĩ. Sáu tháng cũng chưa chắc học được hết những yếu nghĩa Đức Phật dạy cho mình./.
- Thích Minh Thành -
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền PAGEREF _Toc73456065 \h 1
II.Trí tuệ về sáu pháp PAGEREF _Toc73456066 \h 5
1.Sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ PAGEREF _Toc73456067 \h 6
2.Sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ PAGEREF _Toc73456068 \h 7
3.Nhận diện các pháp PAGEREF _Toc73456069 \h 10
Nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy, sư cô và quý sư huynh. Con xin nhận diện năm uẩn lúc ngồi thiền. Thọ của con là khổ, đau bụng. Tưởng của con thứ nhất về nhà vệ sinh và thứ hai là về căn bếp. Hành của con bảo rằng đau bụng nên chắc sẽ xin sư phụ để ra ngoài. Thức của con rõ biết là thọ, tưởng, hành đang vận hành.
Sư phụ: Ngày hôm qua con nghe tin bà ngoại mất đúng không? Lúc đó thọ, tưởng, hành, thức ra sao? Có nhận diện ngay lúc đó không?
Dạ lúc đó con chuẩn bị và rồi con nghe tin. Tim của con nóng hổi và đập rất nhanh trong lồng ngực. Thọ là khổ. Hành bảo rằng: “Chắc sẽ xin sư phụ về nhà, không biết sư phụ có cho đi không, nhưng chắc sẽ cho, không sao đâu”. Tưởng làm hiện lên hình ảnh mẹ con lúc báo tin. Thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành. Lúc đó con cũng có tác ý, con bảo rằng: “Đó ngươi thấy chưa, đó là sự nguy hại của sắc đó. Về sau ngươi cũng như vậy và mọi người cũng như vậy”.
Sư phụ: Con có tưởng hình ảnh bà ngoại mất ra sao không?”
Phật tử 1: Dạ vì lâu rồi con không gặp bà ngoại nên con cũng không còn nhớ rõ.
Sư phụ: Bao lâu rồi không gặp?
Phật tử 1: Dạ hơn một năm.
Sư phụ: Vậy là không tưởng về ngoại mà tưởng về mẹ. Lúc nãy ngồi thiền có tưởng không?
Phật tử 1: Dạ lúc nãy không tưởng về điều đó mà con tưởng rằng con với hai anh trai ở thành phố lên xe về nhà.
Sư phụ: Mai mấy giờ con đi?
Phật tử 1: Dạ khoảng 5h45 con xuống núi.
***
Chú Nghĩa:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thưa sư phụ, sư cô cùng toàn thể quý thầy, quý đại chúng. Lúc nãy con ngồi thiền để nhận diện năm uẩn thì con nhìn thấy một con ếch muốn đi ra cửa mà không đi được. Thọ của con là không khổ, không lạc. Tưởng của con là hình ảnh con ếch bò trên mặt gương, không biết bò đến đâu. Hành của con là không biết có con ếch có thể bò ra ngoài hay không. Thức của con là sự rõ biết của thọ, tưởng và hành.
Sư phụ: Ngoài ra còn gì khác hay không hay nguyên buổi chỉ nghĩ về con ếch?
Chú Nghĩa: Dạ con ngồi thiền quen nhắm mắt nên suốt buổi chỉ quán 3 pháp để không nhắm mắt.
Sư phụ: Vậy cuối cùng là nhắm hay mở mắt?
Chú Nghĩa: Dạ mở mắt ạ.
***
Thầy Pháp Từ:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Con, đệ tử Pháp Từ kích bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin phép được nhận diện năm uẩn trong lúc đang ngồi thiền. Đầu tiên, sư phụ có dạy ba pháp là rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tĩnh giác. Nhờ ba pháp này mà con tịnh tâm trên thân được. Khi rõ biết trước mặt, con biết được xác thân này đang ngồi rất vững chãi, theo dõi hơi thở con thấy được sự nhẹ nhàng, an lạc nơi thân, dễ chịu nơi tâm. Lúc đó ý hành của con có tác ý là thân thật nhẹ nhàng, tâm thật dễ chịu, con nói như vậy ba lần thì sanh khởi hỉ thọ. Con cảm giác là mình đã thực tập được sự an tịnh toàn thân. Như phụ dạy lúc ngồi thiền không được nhắm mắt, con luôn mở mắt ra để rõ biết trước mặt. Khoảng hơn ba mươi phút có sự mỏi mắt vì tối hôm trước con không ngủ được. Nhờ cảm giác toàn thân mà con nhận biết ngay lúc nó phát khởi. Lúc đó con cảm giác mạnh ở nơi mắt, mở to mắt ra, con thấy được kết quả nhờ cảm giác toàn thân đã nhận diện được thực pháp đang diễn ra và không đi vào chỗ hôn trầm. Tưởng của con có nhưng rất ít, đó là hình bóng lúc con không ngủ được rồi con ngồi thiền, con đọc thầm ôn lại bài Tứ Niệm Xứ. Những sắc tưởng, thanh tưởng đó ẩn hiện trong tâm con. Thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
***
Thầy Pháp Nhân:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch thầy, quý thầy, sư cô và toàn thể đại chúng. Trong khoảng thời gian ngồi thiền thì sự nhận diện ngũ uẩn của con như sau. Về sắc, ban đầu con vẫn tập tuệ tri rõ biết vào hơi thở vào ra, sau năm phút khi tâm đã yên tĩnh thì con có sự tác ý, cảm giác toàn thân. Lúc này con cảm giác thọ do thân xúc sanh là do thân mình đang tiếp xúc với bồ đoàn, áo hậu. Thân và tâm đều dễ chịu. Sau đó con Như lý tác ý về an tịnh toàn thân. Lúc này con đặt tâm mình an trú trên thân. Con quán chiếu về tứ đại, ba mươi hai thể trược. Khi hướng tâm và dùng Như lý tác ý thì những hình ảnh quán về tóc, lông, móng, gân, thịt, da, xương, thận, tủy, tim, gan, mô, lá lách, phổi, ruột, mỡ, da,mồ hôi, nước mắt,... hiện lên rất rõ. Đó là phần tưởng, pháp tưởng, cụ thể là ngoại trần. Hằng ngày, khi được sự cho phép của thầy, con luôn quán chiếu về sự bất tịnh và các bộ phận cơ thể. Những hình ảnh này vẫn còn lưu giữ trong tâm của mình, khi mình tác ý chúng sẽ hiện khởi lên.
Về quán chiếu tứ đại thì như hai bài trước thầy đã giảng ở trường trung cấp thì các huynh đệ con cũng đã được nghe và học. Trong ba mươi hai thể trược đó cũng có liên quan đến tứ đại, chỉ cần mình hướng tâm thì đã thành pháp quán khác nhau. Chẳng hạn, tóc, lông, móng, da, thịt, gân xương,... thuộc về địa đại, giống như thầy giảng, là những gì có tính chất thô phù, chấp thủ. Còn về thủy đại là có tính ướt, chấp thủ như là nước mắt, nước bọt,... Còn về hỏa đại là khi mình ngồi trên bồ đoàn có sự tiếp xúc lâu, thân mình ma sát với bồ đoàn tạo ra nhiệt, mình cảm nhận được hơi nóng, và cả hỏa đại trong ruột do mình đang đói. Trong đó có cả cả hỏa đại và phong đại. Hỏa đại sẽ giúp tiêu hóa thức ăn, phong đại giúp mình nuốt trôi thức ăn và tống ra ngoài. Còn về hành mang tính vọng tưởng thì con không thấy rõ, vì trong suốt lúc ngồi thiền con dùng Như lý tác ý niệm thân trong Tứ Niệm Xứ thầy đã dạy. Về thức thì con rõ biết về sắc, thọ, tưởng, hành. Con nhận thấy nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức.
Dạ mô Phật con xin hết.
***
Sư cô:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch thầy, quý thầy và các chú. Khi bắt đầu ngồi thiền, cảm thọ đầu tiên là con hơi lo lắng, không vui. Lo vì hôm nay có thầy nên không biết ngồi thiền có được hay không. Tưởng của con nhớ đến lời thầy dạy hôm qua là khi ngồi phải biết mình đang ngồi trong chánh điện có thầy, quý thầy, các chú thì tâm mình phải hướng đến sự kính trọng. Con ngồi xuống, lấy lại bình tĩnh và quán ba pháp. Suốt buổi ngồi thiền chỉ có khoảng hai lần là con thấy buồn ngủ thì con quán liền ba pháp. Ba pháp này đã giúp bản thân con rất nhiều. Ngày trước con hay bị buồn ngủ nhưng sau này không thấy buồn ngủ nhiều. Con thấy ngũ uẩn trong một tiếng thay đổi khoảng năm lần. Thọ cảm thấy dễ chịu. Tưởng nhớ đến chánh điện bên kia ồn ào, có muỗi, bên đây mình hạnh phúc hơn, ấm yên hơn. Hành nói rằng đây là giây phút mình được hạnh phúc thì mình phải cố ngồi vì ngồi một tiếng chân con đau lắm, nhưng con nhớ thầy Pháp Từ nói rằng thân đau nhưng tâm không đau nên con tiếp tục.
Sau đó con vật gì đó dưới bồ đoàn làm thọ con thấy sợ, khó chịu. Hình ảnh một con rắn hiện ra, con sợ rắn. Những lời nói nói rằng: “Đừng sợ, mình phải thương nó, nếu thật là con rắn thì mình kệ nó, cứ ngồi yên” và rồi con ngồi yên luôn. Lát sau có nhiều tiếng động, con nghĩ tới năm uẩn, cảm thọ mình thấy khó chịu vì mình thích yên lặng, con tác ý như vậy, mình phải tập trung vào hơi thở nên con quán vào hơi thở. Sau đó con ôn lại trang đầu tiên của kinh Niệm Xứ. Thời gian đó con thấy mình đã học được rất nhiều về quán ngũ uẩn mà thầy dạy vừa qua.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Trí tuệ về sáu pháp
Ở trong đại chúng cũng đã có những vị tiến bộ rất tốt. Cố gắng thực tập theo những gì mình đã học. Đức Phật dạy năm pháp làm phát sanh Chánh tri kiến. Mình phải nghe, tư duy, thảo luận, chỉ và quán. Chúng ta đang tu tập phải tu tập đủ năm điều. Khi nãy chúng ta ngồi thiền là chỉ, quán và tư duy. Bây giờ chúng ta đang nghe, thảo luận và suy xét. Đó là đủ những yếu tố làm cho mình thành tựu Chánh kiến. Chứ không phải mình thích ngồi thiền rồi mình ngồi thiền hoài cho tâm yên. Đó chỉ là một phần chỉ, không thành tựu được Chánh kiến. Những người thành tựu Chánh kiến, thấy, biết rõ thì họ khác. Còn mình đang trong giai đoạn đi từ từ để có cái thấy chính xác về những lời Phật dạy, về tự thân, tự tâm của mình.
Cho nên hôm nay cũng có một vài huynh đệ tiến bộ khá. Học thì mình phải biết vận dụng, không được học máy móc, đừng học xong rồi quên, phải vận dụng khi mình ngồi. Khi nãy ngồi thiền bốn mươi phút thôi nhưng có thấy ngũ uẩn làm việc không? Người có nhiệt tâm, có tinh tấn, tinh cần thì đó là lúc làm việc rất năng động, nỗ lực, cố gắng, chuyên cần. Chứ không phải lên ngồi thiền là chỉ ngồi đó. Ngồi thiền thân yên nhưng trong đó là cả một sự tu tập, vận dụng, soi rọi, quán xét, giảng trạch trong nội tâm. Thấy xong chưa đủ, mình phải có sự Như lý tác ý, có sự nhiếp phục, chuyển hóa, đánh đuổi những bất thiện pháp trong nội tâm.
Ví dụ mình đang ngồi nhưng tiếng điện thoại rung hoài, nếu mình không chánh niệm tỉnh thức là mình sẽ bị động. Yêu cầu trong đại chúng là chừng nào mình xả thiền mới mở điện thoại lên, trước đó thì tắt nguồn. Cái đó phải nhìn hai phương diện. Cái duyên làm cho tâm mình động và mình không khéo hộ trì tâm nên tâm mình động. Động đó cũng là pháp duyên sanh, người không khéo làm cho người khác động thì mình cũng tổn phước. Để cho không có duyên tác động đến tâm người khác thì mình phải có những nội quy. Chứ không phải miễn là tâm mình không động, đó là một chiều. Duyên sanh pháp không một chiều.
Cho nên nói về sự hộ trì tâm, khi mình nghe âm thanh điện thoại, ví dụ một lần không sao, nhưng nó cứ rung hoài, tuy không thành tiếng, mình không hộ trì căn, không có sự chánh niệm tỉnh giác thì lúc đó tâm mình bị động. Mình phải biết rằng đây là cảm giác tiếp xúc của lỗ tai với âm thanh – nhĩ thức. Thọ do nhĩ xúc sanh – cảm giác sinh ra do lỗ tai tiếp xúc với âm thanh mà có. Đây là pháp duyên sanh. Khi thấy rõ pháp nào ra pháp đó, mình sẽ không bị cuốn vào. Còn nếu không chánh niệm tỉnh thức mình sẽ nói thầm “tại sao giờ này còn mở điện thoại?”, “tại sao lại kéo cửa lớn vậy?”, “tại sao lại làm phát ra âm thanh?”. Chúng ta sẽ dễ bị duyên sanh nếu mình không có sự hộ trì căn tu tập, không có trí tuệ để nhìn thấy rõ pháp ngay lúc đó. Chính vì vậy, chúng ta phải nắm vững sáu pháp thì khi pháp vận hành mình mới thấy được. Chứ không phải mình chỉ mờ mờ, mịt mịt, ngồi đó chỉ biết hơi thở, tâm yên thôi là không được.
Sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ
Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu trần là hình sắc, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc, các pháp. Sáu thức là sự rõ biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó là nói đơn giản. Sáu xúc là nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Mình phải biết sự tiếp xúc của con mắt. Biết điều này thì khi pháp vận hành mình mới rõ pháp. Ví dụ khi mình nhìn thấy một đối tượng, có sự tham ái sanh khởi lên, mình thấy rõ liền cảm giác do con mắt tiếp xúc, sắc sanh ra. Lúc đó, mỗi pháp mà mình rõ giống như một lớp rào, giống như đèn chiếu rọi để mình thấy rõ. Cho nên nếu mình không thuộc, không hiểu rõ là mình ở trong bóng tối của vô minh.
Hoặc là khi mông tiếp xúc lâu với bồ đoàn thì mình phải biết đó là sự cảm giác từ sự tiếp xúc của thân với đồ vật bên ngoài mà có. Có thân, có bồ đoàn, tọa cụ, có chân khi tiếp xúc vào đó có sự rõ biết của thân thức, sanh ra thọ. Đó chỉ là cảm giác từ sự tiếp xúc của thân mà thôi, là một pháp. Vậy nên khi có sự mỏi, đau, nhức, tê thì mình có sự làm chủ vững chãi trong đó. Mình không rõ pháp thì chỉ thấy cảm giác đau, mình không biết từ đâu có cảm giác này. Mà đó là thọ sanh, là trí. Trí thấy rõ đó là cảm giác, thấy rõ tại sao có cảm giác và tại sao chấm dứt cảm giác này. Do tiếp xúc nên có cảm giác này, nếu xúc diệt thì thọ cũng diệt. Mình vận dụng bảy trí về thọ vào. Sự nguy hại của cảm giác, sự xuất ly, vượt thoát ra khỏi cảm giác thì mình không bị dính mắc vào cảm giác. Lúc đó tuy thân đau nhưng tâm không đau, chân tê nhưng chân không tê. Từ từ mình mới bớt bị cảm giác chi phối, nhiếp phục được cảm giác.
Thậm chí tâm của các vị tu sâu dày, công phu thì người ta làm chủ được cảm giác, không bị cảm giác tác động, tâm bất động giải thoát, nhập thọ, tưởng, định; diệt thọ, tưởng, định. Không còn tưởng nữa. Gọi là định của các bậc A-la-hán. Lúc Đức Thế Tôn đang ngồi thiền có năm trăm cỗ xe bò đi ngang qua, trời sấm sét đánh chết một số con. Người đó đến gặp Đức Phật, Ngài bảo rằng Ngài không nghe thấy vì lúc đó Đức Phật đang ở trong diệt thọ, tưởng, định. Nhập vô định đó rồi là bất động. Mình đây chỉ mới một chút đã động bởi vì hoàn toàn mình bị cảm giác nhấn chìm, tác động, lôi kéo, sai khiến. Xúc chính là thọ. Cảm giác do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc. Mỗi khi tiếp xúc là mình phải có chánh niệm tỉnh giác.
Sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ
Chúng ta đã nói về sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ, tiếp tục là nói về sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ. Mình tìm hiểu hết phần sáu pháp rồi tính xem mặt trận của mình phải đánh bao nhiêu kẻ địch? Cho nên A-la-hán được gọi là sát tặc, giết được giặc phiền não. Bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác gọi là đấng chiến thắng, bậc đại anh hùng. Giặc này du kích, mai phục, ẩn nấp đâu đó rồi tới chừng xuất hiện mình trở tay không kịp vì không có gươm giáo, vũ khí, pháp khí gì hết. Giặc vô minh, phiền não sẽ bất thình lình ập tới. Lâu lâu mình thấy người thầy nào đó ra đời, có vợ có con hoặc gặp lại huynh đệ thấy khác trước, không nói đạo nữa mà nói về tài, sắc, danh, thực, thùy. Tuy rằng không ra đời nhưng cũng xem như là đã hoàn tục, trở về với thế gian, thế tục. Chiến đấu hoài cho đến lúc toàn thắng mới ca khúc khải hoàn.
Sáu tưởng, sáu tư thì bậc đại trí huệ, bậc đại giác ngộ mới nhìn thấy được. Bình thường mình ngồi lại nhìn thấy hình bóng mình nói rằng đó là suy tưởng của mình. Khi mình học thuộc, mình ngồi lại nhận diện sáu tưởng, cái nào ra cái nấy là đã thành tựu trí huệ, chứ không hề đơn giản. Trước khi mình học mình không có biết đó là sắc tưởng, thanh tưởng. Cho nên sáu tưởng này hiện khởi trong tâm mình phải biết. Giống như bước vào căn nhà, mình biết bàn là bàn, ghế là ghế, giường là giường, sách là sách, tủ là tủ. Khi mình biết mình sẽ sử dụng nó đúng mục đích. Còn không biết thì chẳng hạn ngồi trong bàn ăn, vá múc canh mình dùng làm muỗng ăn cơm thì có phải là làm trò cười hay không? Pháp ở ngoài như vậy còn không biết thì đến khi nó vi tế trong nội tâm thì làm sao mình biết, nếu vậy thì khi nào mới giác ngộ?
Sự giác ngộ là giác ngộ tự thân, tự tâm, ngay nội tâm mình. Mình không biết rõ các pháp thì sao giác ngộ, mà muốn biết thì phải học. Không những học mà còn phải nhận diện từng pháp. Mà không phải chỉ khi thiền mới nhận diện, trong lúc sinh hoạt cũng phải vậy. Cái nào là hình bóng thuộc sắc, thanh, mùi, vị, xúc chạm, pháp trần bên trong. Hình bóng của suy nghĩ đã từng suy nghĩ của trước đó gọi là pháp tưởng. Những điều này rất vi tế. Mình nhớ lại để suy tư về những điều mình suy nghĩ, cảm giác, đó là pháp tư. Suy tư về sắc, thanh, mùi, vị, tiếp xúc, pháp thọ, tưởng, hành trong nội tâm. Đó là sáu tư. Mình có suy tư về những điều này không? Thường ngày mình có biết, đọc tên và sử dụng những điều này khi nghĩ về những âm thanh, lời nói không?
Sáu ái sự yêu thích về sắc, tiếng, mùi, vị, tiếp xúc, pháp trong nội tâm. Sáu ái này rất khó phát hiện. Vì bình thường mình nghĩ chung chung là tham ái là những điều bên ngoài mà không biết rằng ngay cả những hình bóng, suy nghĩ của mình cũng có ái trong đó. Có yêu thích cảm giác của mình không? Mình nghĩ rằng là yêu thích chiếc xe hay căn nhà nào đó thì chỉ là sắc, nhưng không, nó còn bao gồm cảm giác yêu thích khi ngồi lên xe hay ở trong căn nhà đó. Đây là điều rất sâu sắc. Thích một người còn bao gồm cảm giác khi tiếp xúc, gặp, nói chuyện với họ, khi đó nó sinh ra sự dễ chịu, thích thú. Nếu nhìn sâu vào thì các pháp toàn ở trong tâm mình.
Phương pháp quán thọ tuyệt vời lắm. Mình thích một chiếc áo nếu không nhìn sâu vào thì mình không nhìn thấy được sự ưa thích khi mặc chiếc áo đó. Thấy điều này khác lạ không? Mình thấy áo là mới chỉ thấy sắc ái chứ chưa thấy được xúc ái, sự tiếp xúc với áo mềm, nhẹ. Trong kinh Đức Phật có ví dụ trong các loại mền thì mền tệ nhất là mền bằng tóc, vì nó hôi dơ, trời lạnh thì lạnh, trời nóng thì nóng. Đó là xúc, sâu vào nữa là pháp ái, là mình yêu thích cái tưởng, ý hành, suy nghĩ đó cho nên mình không chấp nhận suy nghĩ khác.
Nếu không thấy được pháp ái là mình tu không tiến bộ. Như khi mình yêu thích một pháp môn, đường lối, tư tưởng nào đó thì mình sẽ không thể thoát khỏi hệ tư tưởng đó được. Có những người họ đau khổ suốt đời vì hệ tư tưởng đó, vẫn còn nuôi những tư tưởng từ 40-50 năm trước rồi khổ đau, bất mãn. Đó là pháp ái mà họ không thấy. Khi mình học xong rồi, ngồi thiền, mình phải tư duy, nhận diện các pháp trong nội tâm của mình.
Đi sâu vào thiền định thì mình còn vướng mắc ở một điểm nữa. Chẳng hạn, mình ngồi yên tĩnh, khinh an, tự dưng có ai kêu tên mình ra ngoài làm công chuyện thì mình mất cảm giác đó. Đó chỉ là thọ thôi, chỉ là cảm giác dễ chịu thôi. Mình không thấy được thì mình dính mắc trong pháp ái, dẫu là thiền định. Đức Phật nói trong kinh phải đi qua bao nhiêu cửu thiền bát định mà mình vướng vào ái thì không thể đạt tới chỗ giải thoát. Người mới vào Sơ thiền mà thấy yêu thích Sơ thiền, thấy rằng êm ái, tuyệt vời nhất, đây là Niết-bàn thì người đó sẽ mãi ở đó thôi chứ không lên Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền được. Lên tứ thiền mà không thành tựu Chánh tri kiến thì cũng là thiền của phàm phu, tà định. Lên tận cùng bát định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ mà yêu thích chỗ đó gọi là pháp ái, yêu thích cảm giác trong đó. Pháp ái rất sâu, cho nên người vướng vào không thể tiến bộ được. Tâm mình đóng lại, không mở ra đón nhận điều mới mà chấp thủ, bám chặt vào pháp đó, không muốn nghe thêm, học thêm, thấy nhiêu đó là đủ tu rồi. Họ đang ở trong ái mà họ không biết.
Sáu tầm, sáu tứ là hai điều cuối cùng. “Tầm” là tâm mình hướng về, “tứ” là mình bám vào đối tượng đó. Tâm mình hướng về sắc mình phải biết đây là sắc tầm, sự suy tầm, sự tầm cầu về sắc. Tâm mình đang hướng về mùi, vị, thì mình phải biết lúc đó đang có hương tầm, vị tầm. Tâm mình đang hướng về sự muốn tiếp xúc, thí dụ đang ngồi ở thất yên tĩnh đọc sách, nhưng nghe tiếng nói ngoài trước, thì muốn nói ra nói với khách cho vui. Chẳng hạn mình là sinh viên ngành y, mình nghe bên ngoài có một nhóm bác sĩ đang nói về ngành học của mình thì trong đó cơ sự hấp dẫn. Lúc đó là thanh tầm. Tâm mình hướng về âm thanh đó (tầm), cái thọ, tưởng, hành trong đó bắt đầu bám vào đối tượng (tứ). Mình tìm cầu sắc, lúc đó là sắc tầm. Mình muốn tiếp xúc, làm quen, có số điện thoại lúc đó là tứ. Mình phải nhận ra các pháp này.
Nhận diện các pháp
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu đến: sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thức, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ – sáu mươi pháp – mười con số sáu. Mỗi ngày, mỗi phút giây sáu mươi pháp này vận hành. Trước đây không học thì giỏi lắm mình thấy được sáu căn, thấy phớt phớt thôi. Có sáu mươi pháp vận hành, mỗi pháp mình thấy được là mình thành tựu được sáu mươi trí về sáu mươi pháp. Đó gọi là vô lượng pháp môn tu. Chứ không phải là học tùm lum pháp môn tu mới gọi như vậy.
Khi tiếp xúc với sắc tưởng mình phải dụng pháp gì, khi tiếp xúc với ý xúc này mình phải làm sao? Lúc này mình cần chỉ hay cần quán, cần Như lý tác ý hay hộ trì căn. Đức Phật có dạy bảy phương pháp đoạn trừ lậu hoặc. Khi mình biết được pháp, biết được tên gọi, hình dáng, tính chất rồi thì mình nhiếp phục, trị tận gốc nó. Nếu không mình chỉ là “lấy đá đè cỏ”, mượn cái này thế cái kia hoặc là tránh né, còn bây giờ là đối diện trực tiếp luôn. Chẳng hạn, lhi mình bước vào đại chúng 50-70 người, mình nói “lát đi làm cỏ nha”, thì người muốn đi người không, nhưng mình chỉ đích danh chú A thì người đó phải có trách nhiệm. Các pháp trong nội tâm mình cũng vậy. Mình kêu đúng tên, thấy rõ đặc tính, bản chất thì mình trị nó mới được. Mình nghe âm thanh mà tâm mình động thì nói “đây là thọ do nhĩ xúc sanh, là cảm giác do lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, chứ không có gì hết”. Lúc đó tâm mình lắng dịu lại, thậm chí nếu tâm mình mạnh thì nó làm tan ra những cảm thọ khó chịu.
Cho nên Minh Thành mới nói phần này chúng ta học cho thật kĩ. Sáu tháng cũng chưa chắc học được hết những yếu nghĩa Đức Phật dạy cho mình./.