Tứ Thánh Đế - Tương Ưng Sự Thật - Cột Trụ và Bông Gòn
Kinh Nikāya Giảng Giải
TỨ THÁNH ĐẾ - TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
CỘT TRỤ VÀ BÔNG GÒN
-Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự thật giác ngộ Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc82885481 \h 1
II. Bông gòn hay cột trụ PAGEREF _Toc82885482 \h 3
III. Nhiều và ít PAGEREF _Toc82885483 \h 8
IV. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc82885484 \h 14
I. Sự thật giác ngộ Tứ Thánh Đế
Xin mời đại chúng cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian của nơi này, vùng trời đất này, cảm nhận khí hậu trong lành, mát mẻ tại nơi này. Trân kính hơi thở này, vì còn hơi thở này, chúng ta được tu học trong Thánh pháp tối thượng. Cảm nhận mặt hồ tĩnh lặng, cảm nhận sự an bình, an tịnh, an yên trong giờ phút này, cảm nhận sự an lành trong khoảnh khắc này, cảm nhận sự an lạc, an tịnh trong giây phút hiện tại này. Cảm nhận sự an định, an ổn, an tâm, sự an trú trong Chánh pháp này, trân trọng, trân quý, trân kính giây phút này. Giây phút quý báu, hy hữu, hiếm có này trong dòng sanh tử luân hồi vô tận này. Hãy nâng niu, trân trọng giây phút này bằng tất cả tấm lòng của mình, hãy trân quý giây phút này bằng trái tim mình. Hãy tôn thờ, tôn kính giây phút này, giây phút hiếm có, khó gặp, hy hữu trong dòng sanh tử luân hồi vô tận này.
Kính lễ ân đức Thế Tôn, kính lễ ân đức Chánh pháp, kính lễ ân đức chúng tăng, kính lễ ân đức Thánh giới.
Kinh bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn về bốn sự thật. Rất nhiều những hình ảnh gần gũi, thực tế được Thế Tôn minh họa, trình bày cho chúng ta thấy, nhất là trong giai đoạn này để chúng ta thấy, thấm thía nỗi khổ, nghe pháp về khổ, nghiền ngẫm cái khổ để mình phát tâm mạnh mẽ cầu thoát khổ. Bài kinh “Cây keo”:
“Này, các Tỳ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Cây keo)
Ở đây dùng từ “không có như thật giác ngộ bốn Thánh đế” tức không thấu suốt một cách chân xác đúng sự thật về bốn Thánh đế thì không thể có việc đoạn tận khổ đau, ý nghĩa của câu này là như vậy. Nếu không thấu suốt đúng sự thật một cách trọn vẹn, đầy đủ tất cả những góc độ, khía cạnh, phương diện trí tuệ về bốn sự thật của khổ này, mà có một ai đó có thể diệt tận khổ đau, điều đó không thể xảy ra.
Không thể có chuyện người đó không thấu suốt tất cả những khía cạnh, phương diện, góc độ, sự thật của Tứ Thánh Đế mà người đó có thể chấm dứt hết khổ đau, điều đó không thể xảy ra trên cuộc đời này. Đức Phật ví dụ:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nói như sau: "Với những lá cây keo, hay lá cây palàsa (một thứ cây có bông màu đỏ thắm mọc trước lá) hay lá cây kha-lê-lặc (àmalaka), tôi sẽ làm giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này không xảy ra”.
Ở đây mình không biết lá keo, lá palàsa hay kha-lê-lặc (àmalaka). Ở Việt Nam mình có thể lấy lá me làm ví dụ, ai biết lá me không ạ? Nó nhỏ hay lớn? Cũng giống như một người đòi lấy lá me này để đựng nước, điều này không thể xảy ra được, không thể lấy lá cây me mà đựng nước uống. Đức Phật nhắc lại là sự kiện này không thể xảy ra.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... không như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra”.
Không thể xảy ra điều đó, không thể lấy lá tùng (ở sau lưng mình) đi đựng nước, hay đem cọng cỏ, lá me đất trước mặt mình, lấy lá này đựng nước, điều đó không thể xảy ra, lấy lá sen đựng nước thì được. Cũng vậy, một người nói rằng không giác ngộ bốn Thánh đế, tôi không có sự thấy, biết, thấu suốt trọn vẹn tất cả những góc độ, khía cạnh, phương diện, những khổ và nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường diệt tận khổ đau mà có thể đạt được sự an lạc, hạnh phúc tuyệt đối. Điều đó không xảy ra trên cuộc đời này.
“Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói như sau: "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau"; sự kiện này có xảy ra”.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, có người nói như sau: "Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: "Sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau"; sự kiện này có xảy ra”.
Mình nói tiếng Việt cho dễ hiểu là sau khi thật sự giác ngộ bốn Thánh đế, như thật là đúng với sự thật, như thật giác ngộ là giác ngộ đúng với sự thật, thật sự giác ngộ, giác ngộ chân sát, chính xác, trọn vẹn thấu suốt về Thánh đế. Đức Phật ví dụ như người lấy lá sen đựng nước uống, làm giỏ bằng lá để đem nước lại, hay làm quạt, sự kiện này có thể xảy ra.
Lấy lá sen đựng nước, điều đó có thể xảy ra, cũng vậy, một người thật sự thấy, biết, thấu suốt về bốn sự thật của đau khổ này, người đó có thể chân chánh đoạn tận tất cả khổ đau, sự kiện này có thể xảy ra. Thấy vậy chứ điều này rất sâu sắc, mình phải chiêm nghiệm, Đức Phật chỉ nói ngắn gọn vậy thôi nhưng mình phải nghiền ngẫm rất nhiều. Không thể có một người không thấy tận cùng của sự khổ, thấu suốt sự khổ mà có thể chấm dứt khổ được. Mình phải nghiền ngẫm, quán chiếu thêm.
“Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt – Kinh Cột trụ)
II. Bông gòn hay cột trụ
Một người không thật sự rõ biết về Tứ Thánh Đế mà nhìn mặt người khác để nhận định, người này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy. Đức Phật ví dụ:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy". Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỷ-kheo”.
Chỗ này nếu đọc phớt qua như vậy là không phải dễ hiểu. Một người không thật sự thành tựu Chánh kiến, không thật sự thấy khổ trong ngũ uẩn, một người không thật sự thấy được thân xác này, đời sống này, Tứ đại này là khổ. Những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức, chấp thủ, tham đắm trong này là khổ, một người không thấy, không biết, không tường tận sự thật về khổ này. Người này nhìn ngắm một người tu hành khác, mà đánh giá người kia, nói điều này hay, điều này đúng, thì nhận định hay, đúng này giống như bông gòn.
Nó sẽ dễ dàng thay đổi, Đức Phật nói bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất, gió chỉ cần thổi nhẹ, bông gòn bay lên, rồi rớt xuống. “gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỷ-kheo”.
Điều này thật thấm thía làm sao, vì bản thân Minh Thành đã từng như vậy. Niệm Phật cũng thấy hay, ngồi thiền cũng thấy hay, cái này số một, mình đọc thấy cái nào cũng hay, cũng số một. Rồi đọc sách bên Tây Tạng, hay về tông này tông kia cũng đều thấy hay. Nhưng rốt cuộc mình bị gió thổi bay lên, bay xuống, bay qua, bay lại, bay tới, bay lui. Tại sao vậy? Vì tri kiến đó không phải là tri kiến thấu suốt, không phải là thấy biết chân chánh, không phải là cái thấy đến nơi đến chốn, thấu đáo, triệt để.
Cho nên sự thấy biết đó cạn cợn, thiển cận, giống như bông gòn, gió thổi bên đây, bay qua bên kia, gió thổi bên kia bay qua bên đây, thổi qua bên nọ nó bay qua chỗ khác, cứ như vậy nó bay lòng vòng. Chúng ta thấy mình có giống như vậy không? Vài bữa mình nói vị này, vị kia, vị nọ, vài bữa mình theo mấy ông Tàu, vài bữa theo mấy ông Tây Tạng, rồi vài bữa theo ông Thái, rồi ông Đài Loan, cứ chạy lòng vòng như vậy. Rồi có ông nào đó là đại sư từ trên núi xuống, lấy khăn tắm quấn trên người, nói Covid không nhiễm tôi được, mà mình cũng nghe theo. Vài bữa nói ăn con trùn này hay uống cái kia trị Covid, hay kêu làm gì cũng làm theo. Giống như bông gòn vậy, vì cái thấy biết của mình không thấu đáo, khoa học, tri thức về ngành y nên nghe người ta nói gì làm nấy.
Trong pháp cũng vậy, khi mình chưa có một thành tựu, thấy biết chân sát, đúng đắn thật sự về pháp, về Tứ Thánh Đế thì mình bị thổi bay tứ tung mà dãy đãi lên chạy. Vài bữa chạy theo ông này, vài bữa chạy theo ông kia, cụ nọ… không có ngày dừng. Vì sao? Vì sự thấy của mình giống như bông gòn vậy, rất nhẹ, như vậy làm sao tu? Ngày cả việc thấy, ngay cả pháp hành, đạo lộ con đường mà không xác định được thì mình đi khi nào đến?
Ví dụ mình đi ngoài đường, người ta hỏi, mình nói đi tới đâu thì tới chứ tôi cũng không biết đi đâu, tới ngã ba, ngã năm, ngã bảy thấy người ta quẹo mình cũng quẹo theo. Cứ như vậy, thấy người ta đi đâu mình đi đó, theo số đông. Chỗ nào mở pháp hội đông mình lại có mặt, vài bữa nước ngoài qua mở pháp hội khác mình tới nữa, mình chạy vòng vòng như bông gòn, gió thổi bay qua bay lại, bay tới bay lui. Đó là sự thấy biết, tri kiến, thấu hiểu, nhận định, kiến địa, sự hiểu biết của bông gòn.
Như vậy, tới khi nào mình đi đến nơi? Thấy người ta quẹo phải mình quẹo phải, thấy người ta quẹo trái mình quẹo trái, thấy người ta đi thẳng mình đi thẳng. Mình không biết con đường mình là đường nào, điểm đến của mình là nơi nào, làm sao đi đến cứu cánh phạm hạnh. Ngay cả những thứ mình đang đọc, đang tụng, có kết quả hay không mình cũng không biết. Chỉ nghe ai kể lại đọc cái này linh lắm thì nghe theo, nhưng tự bản thân không nghe thấy, không biết có kết quả hay không. Như vậy thì làm sao? Cuối cùng sự thấy biết, tu tập của mình giống như bông gòn. Điều này phải nghiền ngẫm, sâu sắc để mình tu.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
Chỗ ngước nhìn mặt này chúng ta hiểu thêm một ý nữa. Ngước mặt là họ nhìn thấy địa vị, vị trí, danh tiếng của người đó để đánh giá chứ không nhìn thấy trí tuệ của người đó. Đó gọi là ngước nhìn mặt, nhìn vẻ bề ngoài. Chúng ta có hay nhìn dáng ngoài không ạ? Vị đó ngồi ghế lớn quá, chắc người này nói là đúng, vị đó ở trên địa vị cao quý, rất có danh tiếng, vị đó có đồ chúng đông, lớn tuổi, chắc nói đúng. Chúng ta sẽ học “Tương Ưng Kosala” của vua Ba Tư Nặc cho quý Phật tử nghe, rất hay, không thể nhìn vào tuổi trẻ, dáng vẻ bên ngoài.
“Ngước mặt” là nhìn thấy vị đó tướng hảo nên chạy theo, có rất nhiều điều đặc biệt. Người ta không nhìn vô trí tuệ, mà ông thầy nào đẹp nói chuyện thì người ta nghe rất đông. Chính vì vậy, chúng ta hay nghe câu:
“Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm thanh thấy ta,
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai”
Ta nhìn vào dáng vẻ, sắc đẹp, địa vị, hình thức, danh tiếng, cơ sở, tín đồ, bổn đạo… Như vậy gọi là ngước nhìn mặt đánh giá, có dễ bị, dễ lầm không ạ. Thành ra nếu chịu khó học, nghiền ngẫm ta thấy rất sâu sắc, không thể đọc kinh mà phớt phớt như đọc báo được. Những vị thật sự thấy biết Tứ Thánh Đế họ không ngước nhìn mặt một vị tu hành nào khác để nhận xét, "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy", mà họ nhìn tri kiến, trí tuệ của người đó. Vì người này đã biết Tứ Thánh Đế, đã thành tựu trí tuệ năm uẩn, đã thấy được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ngay nơi tự thân của họ.
Chúng ta có thấy được dục, ái, tham, sân, si, bản ngã của mình không ạ? Thấy bản ngã ghê gớm không, thấy có nhục không, thấy ô uế, rác bẩn không? Chính mình còn tự thấy mà! Hình ảnh này giống như “cây cột sắt”, hay “cây cột trụ”:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bàla-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy". Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?”
Điều này thật thấm thía, một người đã thấy, biết thật sự về bốn Thánh Đế, về ngũ uẩn, về sự vô minh và tham ái, chấp thủ, đau khổ trong đời sống này, thì sự thấy biết đó là “cột trụ”, “cột sắt”, “được khéo chôn sâu bất động, không lay chuyển, không động chuyển, không rung chuyển”. Dù có chết hay đối diện với cái chết mà ai kêu người đó phải nhìn khác, ngũ uẩn này không khổ, người đó cũng không thay đổi, khéo chôn sâu cột trụ, cột sắt, không động chuyển, không rung chuyển, không lay chuyển, bất động.
Hãy xem lại nội tâm của mình là bông gòn hay cột trụ? Nếu mình vẫn bị những ngọn gió bên ngoài thổi, những hình tướng, lời nói bên ngoài, mất đi tri kiến về khổ đau, không thấy đây là khổ, tức mình đã bị gió thổi bay. Nếu dù bất cứ điều gì xảy ra mình vẫn an trú trong sự thấy biết về khổ này tham, sân, si, bản ngã, dục ái. Sự thấy biết đó kiên định, không rung chuyển, lay chuyển, động chuyển, sự thấy biết đó xác quyết tuyệt đối trong thân tâm mình, đó là “cột trụ”, “cột sắt”, “được khéo chôn sâu bất động, không lay chuyển, không động chuyển, không rung chuyển” trong thân tâm mình.
Đó là Chánh Pháp tối thượng, chúng ta từng ví dụ thấy của Đức Phật tuyệt đối, chính xác, thực tế mà rõ ràng, cụ thể, là tuyên thuyết, là trình bày, chi tiết, thiết lập, hiển thị, là tuyên bố, thuyết giảng, phân tích về Tứ Thánh Đế. Hôm trước chúng ta đã học bài kinh Đức Phật dạy: “Bông gòn” và “Cột trụ”, thật sự thấy biết về khổ đau, về ngũ uẩn, về những dục ái, tham, sân, si, bản ngã.
Người đó không nhìn mặt mà nhận xét một người khác, người này đứng trên sự thấy biết chân chánh, trí tuệ về năm uẩn về bốn sự thật của khổ đau, bốn Thánh Trí về năm uẩn. Tâm người này kiên trú bất động, sự thấy biết không bị rung chuyển, lay động, dao động, bất động. Chúng ta phải nghe pháp, phải tư duy, quán chiếu và thành tựu trí huệ tới mức này. Dù cho chuyện gì xảy ra, thậm chí đối diện với cái chết mà kêu mình nói rằng cuộc đời này không khổ, mình cũng không nói theo điều đó. Chết là chết, không thay đổi sự thấy biết đó, nó không thay đổi, dù có chuyện gì đi nữa.
Chúng ta đã như “cột trụ” chưa hay là cột gỗ? Chưa “cột trụ” mà không chịu nỗ lực học kinh, nghe pháp, quán chiếu cho đến khi nào trở thành “cột trụ”, pháp trụ, rất tuyệt vời! Thay vì nghe cái này, cái nọ, cái kia, ta nghe pháp để mình khéo chôn sâu xuống, cứ nghe pháp ngày đêm, đừng nghe những cái khác. Đừng nhìn cái khác, hãy nhìn pháp, đừng cảm nhận những điều khác, không quan trọng, hãy cảm nhận pháp. Đây là “văn vô thượng, kiến vô thượng, tu tập vô thượng, lợi đắc vô thượng”, để cho mình chôn sâu “cột trụ” này xuống, bất động, không lay chuyển, rung chuyển, động chuyển. Tại sao vậy?
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bàla-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy". Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?”
III. Nhiều và ít
Những hình ảnh này thật thi vị và tuyệt diệu, thâm sâu, sâu sắc, thực tế. Như giờ có người lấy tay hớt trên mặt biển, đưa tay lên còn sót hai ba giọt nước.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy lên hai hay ba giọt nước từ biển lớn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước trong biển lớn?
Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển lớn với hai hay ba giọt nước được lấy lên”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Đầu Biển)
Này, các Tỳ-kheo, cũng vậy với một vị Thánh đệ tử đã thành tựu Chánh Kiến, với một vị đã chứng đạt cái khổ. Vị này đã đoạn toạn nhiều giống như nước trong biển lớn.
Nỗi khổ của vị này chỉ còn lại hai, ba giọt ở trên bàn tay của họ mà thôi. Nỗi khổ mà họ đã chấm dứt, đã đoạn tận, nhiều giống như nước biển, họ đã dứt hết rồi, nỗi khổ còn sót lại với họ chỉ là mấy giọt nước. Chúng ta thấy chịu thành tựu Chánh Kiến không? Cứ nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu, tác ý đi, sẽ chỉ còn lại hai ba giọt thôi, nhiều lắm là bảy giọt, “da da nhất chủng”, “da da” là còn lại hai ba đời, “nhất chủng” là còn trở lại thế gian này, một đời, hai ba giọt nước. Nỗi khổ của họ bị diệt tận nhiều giống như nước trong biển lớn nhưng họ đã vượt qua, không còn chịu nỗi khổ đó nữa, nỗi khổ còn sót lại chỉ có hai ba giọt.
Chúng ta về phải đọc thêm, nghe thêm, vì có những ví dụ giống nhau nên Minh Thành lược bớt, nói điều đó để mình cố gắng hướng tới. Đừng để nỗi khổ giống như nước trong biển lớn, mà hãy hướng tới nỗi khổ còn lại mấy giọt. Bây giờ nghe Đức Phật nói về phần sau này thực tế nhiều để chúng ta tu. Hôm qua chúng ta nghe nói con người chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhiều giống như đất dưới địa cầu. Con người chết mà đầu thai trở lại ít giống như đất trong móng tay.
Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục học những ví dụ tương tự như vậy, nhưng Đức Phật liên hệ tới những hoàn cảnh khác.
“Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy ở đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy ở đầu móng tay. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy lên đầu móng tay.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng đạt, cái này là nhiều hơn”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Đầu móng tay)
Các thầy bạch Thế Tôn là “Đất trên quả đất rất nhiều, không so sánh được”. Đức Phật nói rằng:
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các quốc độ trung ương. Và nhiều hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các biên địa, giữa những man di (mìlakkha Sk. mleccha) vô ý thức”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Biên địa )
Tức sau khi chết rồi, tuy được làm người nhưng lại sanh trong những vùng dân tộc, thôn quê, hẻo lánh, biên địa, biên giới, biên cương, nghèo nàn, không có văn hóa, tri thức, không gặp được Phật Pháp, không có tôn giáo, hoặc là nếu có tôn giáo thì không đưa đến sự giải thoát. Đức Phật ví dụ những người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, bây giờ mình hiểu rộng ra là những thứ say sưa, nghiện ngập, những người đó ít giống như đất trên đầu móng tay. Những người luôn luôn sử dụng những thứ say sưa nghiện ngập, rượu chè, xì ke, ma túy, những thứ làm cho đam mê, những hạng người đó nhiều giống như đất trên mặt đất.
Cho nên, những điều này Đức Phật nói để cho mình tu. Ngài nói rằng: “Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được sanh trên đất liền (thalàjà). Và nhiều hơn là các chúng sanh được sanh ra trong nước. Vì sao?”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Sanh ở nước)
Mình nhìn trên thế giới có bảy, tám tỷ người, còn ở trong thế giới của các loài thủy tộc vô số, không đếm tính được, nhiều hơn loài người rất nhiều. Những nỗi khổ, những sự ăn nuốt bên trong đó mình không tưởng tượng được. Nó phải chịu cảm giác, cảm thọ thế nào mình không tưởng tượng được. Mình chỉ thấy, biết con người của mình, những người ở gần mà mình tiếp xúc.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Hiếu kính mẹ)
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Hiếu kính cha)
Chúng ta nhớ tất cả những điều này đều nằm trong một ví dụ là đất trong móng tay và đất trong quả địa cầu. Tức Đức Phật nói những người con sanh ra trên đời biết hiếu kính cha, mẹ ít giống như đất trong móng tay. Còn những người không biết hiếu kính, chứ mình chưa nói bất hiếu, Đức Phật dùng từ “không biết hiếu kính”, trong này bao trùm rất nhiều những người sanh ra, nuôi lớn lên, mười mấy tuổi là bỏ nhà đi, không muốn ở gần cha mẹ nữa, gặp là bị la rầy, nhắc nhở nên đi lang thang, vất vơ vất vưởng, đi giang hồ để được tự do.
Bây giờ tu cũng vậy, không muốn ở với thầy, sư phụ, không muốn ở chung với đạo tràng, muốn đi ra lập riêng. Đây cũng là một sự lo lắng ở hải ngoại, các thầy thích ra riêng hết. Thành ra mình thấy vậy, nên đọc cái này để nghiền ngẫm, những người biết hiếu kính với cha mẹ rất hiếm, mà người không biết hiếu kính giống như đất dưới đại địa. Chính vì vậy, chết mới đi xuống ba đường, không phải địa vị của bậc chân nhân, biết ơn, nhớ ơn, biết kính trọng những người tu hành rất ít, mà không biết kính trọng người tu hành nhiều vô số kể.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Kính trọng các bậc lớn tuổi
Chúng ta nhớ chữ ít và chữ nhiều ở đây là đất trong móng tay và đất trong quả địa cầu, chứ không phải chữ ít chữ nhiều giống như mình nói, mười người, hai mươi người, một trăm người. Chữ ít và nhiều ở đây là đất trong móng tay và đất trong quả địa cầu. Chính những điều này mới đưa xuống ác thú, đọa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bây giờ tới phẩm “Ít người từ bỏ”:
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ sát sanh. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ sát sanh”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VIII Phẩm Ít người từ bỏ - Kinh Sanh loại
Người ăn chay trường hay ăn chay kỳ, một người thật sự biết từ bỏ sát sanh giống như đất trên móng tay. Mà người không biết từ bỏ sát sanh giống như đất trên địa cầu, chúng ta thấy có khủng khiếp không? Nếu mình không đọc điều này làm sao mình biết? Chúng ta nghĩ xe, trên thế giới này có tám tỷ người, bao nhiêu người ăn chay trường? Khoảng chừng một tỷ không? Chín trăm triệu, tám trăm triệu, bảy trăm triệu, năm trăm triệu, ba trăm triệu hay một trăm triệu người ăn chay trường? Không biết đúng không? Bao nhiêu thưa thầy Thiện Tuệ? Không tính được là ít hay nhiều?
Đừng tính xa trên thế giới, giờ tính xem trên Lâm Đồng này được bao nhiêu người ăn chay trường? Ở đây mình mới nói ăn chay thôi, còn từ bỏ sát sanh còn rộng hơn nữa, vì chưa hẳn ăn chay là từ bỏ sát sanh. Ăn chay chỉ mới là một phần, có nhiều người ăn chay nhưng mở quán mặn. Thành ra từ bỏ sát sanh ở đây, ý nghĩa sâu sắc hơn, mình lấy một ví dụ nhỏ, một khía cạnh của từ bỏ sát sanh. Người thật sự biết từ bỏ sát sanh thật sự ít giống như đất trong móng tay, mà người không từ bỏ sát sanh giống như đất ở đại địa.
Cho nên giờ mình đi tới chỗ nào đó, kiếm quán chay có dễ không ạ? Qua châu Âu, Mỹ, Úc… kiếm quán chay dễ không? Đó là tất cả những chúng sanh, chính vì vậy việc trở lại làm người ít như đất trong móng tay. Mình chiêm nghiệm để cho các Phật tử thấy rằng mình được ăn chay kỳ, hay chay trường, đó là phước báu, biết từ bỏ, tránh được bớt khổ, còn rất nhiều…
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ lấy của không cho. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ lấy của không cho”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VIII Phẩm Ít người từ bỏ - Kinh Lấy của không cho
Tức là trộm cắp, người thật sự không trộm cắp, từ bỏ việc lấy của không cho rất ít, mà người không từ bỏ lấy của không cho, nhiều vô số kể. Bây giờ tới đồ hốt rác cũng ăn cắp, tấm sắt đặt trước nhà để dẫn xe máy vô cũng ăn cắp, người ta đi chợ, có bị thịt treo trước xe cũng lại ăn cắp. Làm những điều đó, sau khi chết sẽ đi về đâu? Rơi vào các ác nghiệp, cho nên nhiều khi quý Phật tử đừng lo lắng rằng học cái này toàn thấy khổ, các Phật tử mới nghe cái khổ này để giảm bớt tham, sân, si, vô minh, bản ngã mới từ bỏ những điều xấu ác.
Đừng sợ, để mình thấm thía cảnh khổ trong các đọa xứ, khổ cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình sợ những quả báo tàn khốc, đối với dòng sanh tử oan nghiệt này mình phải biết sợ, phải thấm thía được nỗi khổ đó mới có thể giảm bớt, nhiếp phục được những ham muốn, sân hận, si mê, bản ngã, bớt tạo nghiệp. Còn nếu bây giờ mình cứ đi cầu đạo, học pháp mà thích nghe những gì vui, hợp ý mình, chìu theo dục, ái, tham của mình, như vậy không học đạo, học pháp được.
Pháp chân chánh thật sự của Đức Phật cho mình thấy được bản chất của thế gian này là đau khổ để mình bớt, giảm và dừng tạo nghiệp. Đó là mục đích mà giáo pháp hướng tới cho mình, bớt tạo nghiệp đen, làm các nghiệp trắng. Từ từ chúng ta sẽ học các Tương Ưng khác mà Đức Phật dạy pháp cho người Phật tử, là tín, giới, văn, thí, tuệ, lòng tin, giữ giới, nghe pháp, bố thí, trí tuệ, tàm quý. Có những pháp căn bản mà Đức Phật thường xuyên giảng dạy cho Phật tử. Nhưng nhân duyên ở đây, chúng ta học được Khổ Thánh Đế này là học một điều tuyệt diệu để tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển sự thấy biết chân chánh, sâu sắc Chánh Kiến về cuộc đời này để mình biết lo lắng, dè chừng, kiểm soát những ác nghiệp, nghiệp xấu.
Còn nếu mình học mà tìm những gì nói cho vui vui, nói cho hợp ý mình, nói theo sự ưa thích, tham muốn, dục ái, như vậy mình không được lợi ích lớn, nghe cho vui vậy thôi, nghe cho đã tai, sướng tai, nghe để tìm những cảm thọ êm ái, dễ chịu chứ không thành tựu được sự thấy biết chân chánh về pháp để cứu giúp cho mình bớt khổ đau, dừng khổ đau, diệt khổ đau. Hãy nhớ kỹ điều này, hỡi các Phật tử.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ tà hạnh trong các dục. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ tà hạnh trong các dục”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ -
Chương VIII Phẩm Ít người từ bỏ - Kinh Trong các dục vọng)
Nói láo, nói lời ly gián, thô ác… rất nhiều. Múa, sử dụng những giường cao tốt đẹp, tiền bạc, thịt sống, hối lộ, sát sanh, trộm cắp, cướp phá.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ -
Chương X Phẩm Chúng sanh nhiều hơn - Kinh Sát hại, trộm cắp, cướp phá)
IV. Khuyến tấn tu tập
Sở dĩ tất cả những nghiệp ác mà người ta không giảm bớt, không ngăn chặn được, không từ bỏ được là tại vì sao? Vì không thấy biết bốn sự thật đây là khổ, không thấy biết được sự thật đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau cho nên mới tạo ra các ác nghiệp, những nghiệp đen, nghiệp xấu mới càng chịu quả báo khổ là triền miên dài dài, tiếp chuyển tiếp nối mãi mãi về sau. Nếu họ biết đây là khổ, họ sẽ từ bỏ, sẽ giảm bớt những ác nghiệp. Đó là lợi ích của học và quán chiếu Tứ Thánh Đế.
Giờ mình biết sát sanh này đem lại đau khổ, vì một chút miếng ăn mà cắt cổ, nhổ lông, mổ heo, hoặc chặt đầu, đuôi cá, bao nhiêu những ác nghiệp đó. Mình thấy điều này là khổ, thì sẽ giảm bớt hoặc từ bỏ, cho nên tất cả những điều mà Đức Phật nói, nãy giờ Minh Thành tóm gọn lại, “Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế” nên họ sát sanh, tà dâm, nói dối, uống rượu, lường gạt, gian manh, thủ đoạn, mưu mô, mưu sĩ, mưu toan, mưu tính, mưu hại, mưu ác, mưu hiểm, mưu độc, tất cả những điều đó vì họ không biết đó là khổ. Nếu họ biết đó là khổ thì họ đâu có làm, họ sẽ từ bỏ.
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
Phải thấy nó là khổ trước, tự động các ác nghiệp mới được nhận thức, được hiểu biết, được lo lắng, được sợ hãi, được tránh né, được nhiếp phục, được từ bỏ. Nếu không thấy khổ thì mình cứ nhào vô, cứ sấn tới, càng lún sâu xuống vũng lầy của ham muốn, của dục vọng. Nếu không thấy khổ, họ cứ nhào vô đống lửa đang bùng cháy. Họ cứ để cho những cảm thọ bên trong phừng phực, hừng hực, thiêu đốt chính tự thân họ và làm khổ đau cho người khác. Vì họ không thấy khổ, nếu họ không thấy khổ, họ đâu có để lửa trong người họ phừng lên, phực lên. Cộng với lửa bên ngoài, trong ngoài kết hợp, làm nên hỏa hoạn khắp toàn cầu.
Nếu họ thấy khổ, họ phải lo lắng, cười gì, vui sướng gì khi đời bị đốt thiêu trong chỗ tối tăm, sao không tìm ngọn đèn. Chúng ta thấy chưa? Mình thấy khổ mình mới lo lắng, tìm ngọn đèn, mình ý thức được mình đang ở trong bóng đêm, quờ quạng giữa trời đêm. Ý thức được điều đó mình mới lo kiếm đèn, kiếm đuốc, kiếm lửa, kiếm ánh sáng, không bị chìm đắm, rơi xuống vực sâu trong bóng tối của hắc ám, si mê.
Nếu ý thức đó là khổ, mình đâu có để phát huy, tăng trưởng bản ngã, cái tôi, cái ta mà vênh váo, hách dịch, kiêu căng, hống hách, ngạo mạn, khinh thị người khác. Mình biết điều đó là khổ, đây là khổ, tự động mình tránh né, từ bỏ, nhiếp phục nên tất cả pháp là do Chánh Kiến dẫn đầu, dẫn đường, dẫn lối, thống soái. Chính vì vậy mà thành tựu thấy biết về đau khổ trong đời sống này là tối quan trọng. Từ đó mới ý thức được những nguyên nhân gây ra khổ trong thân tâm mình, mới có sự nhàm chán, ngao ngán, lo lắng, sợ hãi, mình mới tu tập, phát huy những thiện pháp, phát huy lòng tin.
Không phải mình không có lòng tin, nhưng lòng tin của mình chưa đủ, nó sẽ trở thành lòng tin bông gòn, bay qua đây, bay qua kia. Nên mình phát huy lòng tin giống như cột trụ. Về giới, mình có thọ giới, giữ giới, nhưng chưa đủ, bây giờ mình tăng thượng giới, từ bỏ những ác pháp, những bất thiện, tăng trưởng, phát triển những thiện pháp, lòng tin, giữ giới, nghe pháp, bố thí, tàm quý, biết hổ thẹn, biết lo lắng, nhục nhã. Đối với những ác nghiệp biết sợ hãi, biết tu tập trí tuệ để thành tựu cột trụ trong Chánh Pháp, cột trụ được khéo chôn sâu, bất động, không rung chuyển, không lay chuyển, không lay động.
Chúng ta thấy đó là đường lối thuyết pháp vi diệu của Đức Thế Tôn. Nên mình muốn học đạo tới nơi tới chốn, thành tựu được sự thấy biết chân chánh, đúng pháp thật sự trong giáo pháp, mình phải dẹp cái tôi của bản thân, phải tuyệt đối tin tưởng vào Đức Phật, phải dẹp sự yêu thích cá nhân. Mình thích gì, muốn gì, mà nói không giống, mình phải dẹp cái mình thích, mình muốn, cái tham ái, bản ngã đó. Mình phải dẹp sự thấy biết theo thường tình của mình, vô minh. Chúng ta nhớ, muốn học giáo pháp thật sự chân chánh, nguyên chất của Đức Phật để cho mình chấm dứt khổ đau thật sự.
Thứ nhất, phải dẹp bản ngã; thứ hai phải dẹp ưa thích, tham ái trong khi mình nghe pháp, thực hành pháp; thứ ba là phải dẹp vô minh, mờ mờ, không hiểu biết của mình rồi từ từ trầm tĩnh, bình tĩnh, kiên trì, nghe, suy ngẫm, tu tập, ngấm từ từ. Phải tin tưởng tuyệt đối vào lời nói và sự giác ngộ của Đức Phật. Chữ tín là đầu tiên, tín, tấn, niệm, định, huệ, đây là bảy tài sản của bậc Thánh, mời Phật tử về nghe lại, tín, giới, văn thí, tàm quý, tuệ. Thành tựu những điều đó mình mới đi vào được Tứ Thánh Đế này.
Khi chúng ta đi vào được trong trí tuệ về khổ này thì thật tuyệt diệu, hạnh phúc lắm, tuyệt vời lắm, không có gì bằng. Thêm một ví dụ nữa:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa”
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Ao hồ
Chúng ta thấy hình ảnh một hồ nước dài bảy trăm năm mươi cây số, bề rộng cũng bảy trăm năm mươi cây số, bề sâu bảy trăm năm mươi cây số, có một người lấy ngọn cỏ nhúng vào hồ nước đó, đưa lên, nước còn dính lại trên đầu ngọn cỏ, mấy giọt như vậy.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?”
Chúng ta thấy hình ảnh đẹp không? Bây giờ chúng ta thực hiện ngay đây. Dạ mời thầy, thầy cúi xuống làm thử. Còn sót lại mấy giọt, cái nào nhiều hơn? Chúng ta học phải thực nghiệm, thí nghiệm tại chỗ, và hồ dài, bề ngang, bề rộng, bề sâu bảy trăm năm mươi cây số chứ không phải hồ này.
“Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa”
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, các vị Thánh đệ tử thành tựu Chánh Kiến với người đã chứng đạt bốn Thánh đế này, với người đã thấu suốt đây là khổ, thấu suốt thực sự những tham, sân, si, dục ái đó là nguyên nhân của khổ”
Chấm dứt đau khổ và người đó thực hành, con đường diệt tận khổ đau, đau khổ mà đã trừ diệt, nhiều như hồ nước vĩ đại đó. Cái khổ còn sót lại ít như những giọt nước đọng trên đầu ngọn cỏ. Bây giờ chúng ta muốn cái nào? Muốn cái khổ bằng hồ bảy trăm năm mươi cây số hay muốn nỗi khổ còn vài giọt trên đầu ngọn cỏ?
Phải chịu khó nghe pháp, hành pháp, thực tập thiền, siêng năng tác ý, thực hành đúng Chánh Pháp thì thời gian không bao lâu chúng ta sẽ đến chỗ còn lại mấy giọt. Hãy nhớ còn lại mấy giọt nước thôi, đừng để một hồ bảy trăm năm mươi cây số như vậy, mệt mỏi lắm, đau khổ tới đây vừa đủ rồi. Đừng tiếp tục nối giáo cho giặc, đừng nhấn chìm mình xuống vũng sình, đừng tiếp tục đẩy mình vô biển lửa, đừng tiếp tục quờ quạng giữa trời đêm, thắp lên ánh sáng Thánh trí tuệ của Khổ Thánh Đế.
Hãy cảm nhận sự hạnh phúc quý báu tối thượng mà chúng ta đã nghe được những lời dạy chân chánh, tuyệt diệu của Đức Thế Tôn. Mặt trời lên rồi, ánh sáng tỏa chiếu rồi, điềm báo trước của mặt trời sắp xuất hiện là rạng đông, tướng báo trước của vị thành tựu Tứ Thánh Đế, tức là Chánh Tri Kiến. Hãy cảm nhận lấy hạnh phúc bình an, tuyệt vời và màu nhiệm này. Trong giờ phút này, biết bao nhiêu người đau khổ mà chúng ta được ngồi đây tu học. Nâng niu và trân trọng, cảm nhận sâu sắc sự an lành, quý báu tuyệt vời này. Trải tâm thương này cùng khắp trời đất, vạn loài chúng sanh.
./.
TỨ THÁNH ĐẾ - TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
CỘT TRỤ VÀ BÔNG GÒN
-Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự thật giác ngộ Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc82885481 \h 1
II. Bông gòn hay cột trụ PAGEREF _Toc82885482 \h 3
III. Nhiều và ít PAGEREF _Toc82885483 \h 8
IV. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc82885484 \h 14
I. Sự thật giác ngộ Tứ Thánh Đế
Xin mời đại chúng cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian của nơi này, vùng trời đất này, cảm nhận khí hậu trong lành, mát mẻ tại nơi này. Trân kính hơi thở này, vì còn hơi thở này, chúng ta được tu học trong Thánh pháp tối thượng. Cảm nhận mặt hồ tĩnh lặng, cảm nhận sự an bình, an tịnh, an yên trong giờ phút này, cảm nhận sự an lành trong khoảnh khắc này, cảm nhận sự an lạc, an tịnh trong giây phút hiện tại này. Cảm nhận sự an định, an ổn, an tâm, sự an trú trong Chánh pháp này, trân trọng, trân quý, trân kính giây phút này. Giây phút quý báu, hy hữu, hiếm có này trong dòng sanh tử luân hồi vô tận này. Hãy nâng niu, trân trọng giây phút này bằng tất cả tấm lòng của mình, hãy trân quý giây phút này bằng trái tim mình. Hãy tôn thờ, tôn kính giây phút này, giây phút hiếm có, khó gặp, hy hữu trong dòng sanh tử luân hồi vô tận này.
Kính lễ ân đức Thế Tôn, kính lễ ân đức Chánh pháp, kính lễ ân đức chúng tăng, kính lễ ân đức Thánh giới.
Kinh bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn về bốn sự thật. Rất nhiều những hình ảnh gần gũi, thực tế được Thế Tôn minh họa, trình bày cho chúng ta thấy, nhất là trong giai đoạn này để chúng ta thấy, thấm thía nỗi khổ, nghe pháp về khổ, nghiền ngẫm cái khổ để mình phát tâm mạnh mẽ cầu thoát khổ. Bài kinh “Cây keo”:
“Này, các Tỳ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Cây keo)
Ở đây dùng từ “không có như thật giác ngộ bốn Thánh đế” tức không thấu suốt một cách chân xác đúng sự thật về bốn Thánh đế thì không thể có việc đoạn tận khổ đau, ý nghĩa của câu này là như vậy. Nếu không thấu suốt đúng sự thật một cách trọn vẹn, đầy đủ tất cả những góc độ, khía cạnh, phương diện trí tuệ về bốn sự thật của khổ này, mà có một ai đó có thể diệt tận khổ đau, điều đó không thể xảy ra.
Không thể có chuyện người đó không thấu suốt tất cả những khía cạnh, phương diện, góc độ, sự thật của Tứ Thánh Đế mà người đó có thể chấm dứt hết khổ đau, điều đó không thể xảy ra trên cuộc đời này. Đức Phật ví dụ:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nói như sau: "Với những lá cây keo, hay lá cây palàsa (một thứ cây có bông màu đỏ thắm mọc trước lá) hay lá cây kha-lê-lặc (àmalaka), tôi sẽ làm giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này không xảy ra”.
Ở đây mình không biết lá keo, lá palàsa hay kha-lê-lặc (àmalaka). Ở Việt Nam mình có thể lấy lá me làm ví dụ, ai biết lá me không ạ? Nó nhỏ hay lớn? Cũng giống như một người đòi lấy lá me này để đựng nước, điều này không thể xảy ra được, không thể lấy lá cây me mà đựng nước uống. Đức Phật nhắc lại là sự kiện này không thể xảy ra.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... không như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra”.
Không thể xảy ra điều đó, không thể lấy lá tùng (ở sau lưng mình) đi đựng nước, hay đem cọng cỏ, lá me đất trước mặt mình, lấy lá này đựng nước, điều đó không thể xảy ra, lấy lá sen đựng nước thì được. Cũng vậy, một người nói rằng không giác ngộ bốn Thánh đế, tôi không có sự thấy, biết, thấu suốt trọn vẹn tất cả những góc độ, khía cạnh, phương diện, những khổ và nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường diệt tận khổ đau mà có thể đạt được sự an lạc, hạnh phúc tuyệt đối. Điều đó không xảy ra trên cuộc đời này.
“Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói như sau: "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau"; sự kiện này có xảy ra”.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, có người nói như sau: "Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: "Sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau"; sự kiện này có xảy ra”.
Mình nói tiếng Việt cho dễ hiểu là sau khi thật sự giác ngộ bốn Thánh đế, như thật là đúng với sự thật, như thật giác ngộ là giác ngộ đúng với sự thật, thật sự giác ngộ, giác ngộ chân sát, chính xác, trọn vẹn thấu suốt về Thánh đế. Đức Phật ví dụ như người lấy lá sen đựng nước uống, làm giỏ bằng lá để đem nước lại, hay làm quạt, sự kiện này có thể xảy ra.
Lấy lá sen đựng nước, điều đó có thể xảy ra, cũng vậy, một người thật sự thấy, biết, thấu suốt về bốn sự thật của đau khổ này, người đó có thể chân chánh đoạn tận tất cả khổ đau, sự kiện này có thể xảy ra. Thấy vậy chứ điều này rất sâu sắc, mình phải chiêm nghiệm, Đức Phật chỉ nói ngắn gọn vậy thôi nhưng mình phải nghiền ngẫm rất nhiều. Không thể có một người không thấy tận cùng của sự khổ, thấu suốt sự khổ mà có thể chấm dứt khổ được. Mình phải nghiền ngẫm, quán chiếu thêm.
“Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt – Kinh Cột trụ)
II. Bông gòn hay cột trụ
Một người không thật sự rõ biết về Tứ Thánh Đế mà nhìn mặt người khác để nhận định, người này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy. Đức Phật ví dụ:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy". Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỷ-kheo”.
Chỗ này nếu đọc phớt qua như vậy là không phải dễ hiểu. Một người không thật sự thành tựu Chánh kiến, không thật sự thấy khổ trong ngũ uẩn, một người không thật sự thấy được thân xác này, đời sống này, Tứ đại này là khổ. Những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức, chấp thủ, tham đắm trong này là khổ, một người không thấy, không biết, không tường tận sự thật về khổ này. Người này nhìn ngắm một người tu hành khác, mà đánh giá người kia, nói điều này hay, điều này đúng, thì nhận định hay, đúng này giống như bông gòn.
Nó sẽ dễ dàng thay đổi, Đức Phật nói bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất, gió chỉ cần thổi nhẹ, bông gòn bay lên, rồi rớt xuống. “gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỷ-kheo”.
Điều này thật thấm thía làm sao, vì bản thân Minh Thành đã từng như vậy. Niệm Phật cũng thấy hay, ngồi thiền cũng thấy hay, cái này số một, mình đọc thấy cái nào cũng hay, cũng số một. Rồi đọc sách bên Tây Tạng, hay về tông này tông kia cũng đều thấy hay. Nhưng rốt cuộc mình bị gió thổi bay lên, bay xuống, bay qua, bay lại, bay tới, bay lui. Tại sao vậy? Vì tri kiến đó không phải là tri kiến thấu suốt, không phải là thấy biết chân chánh, không phải là cái thấy đến nơi đến chốn, thấu đáo, triệt để.
Cho nên sự thấy biết đó cạn cợn, thiển cận, giống như bông gòn, gió thổi bên đây, bay qua bên kia, gió thổi bên kia bay qua bên đây, thổi qua bên nọ nó bay qua chỗ khác, cứ như vậy nó bay lòng vòng. Chúng ta thấy mình có giống như vậy không? Vài bữa mình nói vị này, vị kia, vị nọ, vài bữa mình theo mấy ông Tàu, vài bữa theo mấy ông Tây Tạng, rồi vài bữa theo ông Thái, rồi ông Đài Loan, cứ chạy lòng vòng như vậy. Rồi có ông nào đó là đại sư từ trên núi xuống, lấy khăn tắm quấn trên người, nói Covid không nhiễm tôi được, mà mình cũng nghe theo. Vài bữa nói ăn con trùn này hay uống cái kia trị Covid, hay kêu làm gì cũng làm theo. Giống như bông gòn vậy, vì cái thấy biết của mình không thấu đáo, khoa học, tri thức về ngành y nên nghe người ta nói gì làm nấy.
Trong pháp cũng vậy, khi mình chưa có một thành tựu, thấy biết chân sát, đúng đắn thật sự về pháp, về Tứ Thánh Đế thì mình bị thổi bay tứ tung mà dãy đãi lên chạy. Vài bữa chạy theo ông này, vài bữa chạy theo ông kia, cụ nọ… không có ngày dừng. Vì sao? Vì sự thấy của mình giống như bông gòn vậy, rất nhẹ, như vậy làm sao tu? Ngày cả việc thấy, ngay cả pháp hành, đạo lộ con đường mà không xác định được thì mình đi khi nào đến?
Ví dụ mình đi ngoài đường, người ta hỏi, mình nói đi tới đâu thì tới chứ tôi cũng không biết đi đâu, tới ngã ba, ngã năm, ngã bảy thấy người ta quẹo mình cũng quẹo theo. Cứ như vậy, thấy người ta đi đâu mình đi đó, theo số đông. Chỗ nào mở pháp hội đông mình lại có mặt, vài bữa nước ngoài qua mở pháp hội khác mình tới nữa, mình chạy vòng vòng như bông gòn, gió thổi bay qua bay lại, bay tới bay lui. Đó là sự thấy biết, tri kiến, thấu hiểu, nhận định, kiến địa, sự hiểu biết của bông gòn.
Như vậy, tới khi nào mình đi đến nơi? Thấy người ta quẹo phải mình quẹo phải, thấy người ta quẹo trái mình quẹo trái, thấy người ta đi thẳng mình đi thẳng. Mình không biết con đường mình là đường nào, điểm đến của mình là nơi nào, làm sao đi đến cứu cánh phạm hạnh. Ngay cả những thứ mình đang đọc, đang tụng, có kết quả hay không mình cũng không biết. Chỉ nghe ai kể lại đọc cái này linh lắm thì nghe theo, nhưng tự bản thân không nghe thấy, không biết có kết quả hay không. Như vậy thì làm sao? Cuối cùng sự thấy biết, tu tập của mình giống như bông gòn. Điều này phải nghiền ngẫm, sâu sắc để mình tu.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt". Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy".
Chỗ ngước nhìn mặt này chúng ta hiểu thêm một ý nữa. Ngước mặt là họ nhìn thấy địa vị, vị trí, danh tiếng của người đó để đánh giá chứ không nhìn thấy trí tuệ của người đó. Đó gọi là ngước nhìn mặt, nhìn vẻ bề ngoài. Chúng ta có hay nhìn dáng ngoài không ạ? Vị đó ngồi ghế lớn quá, chắc người này nói là đúng, vị đó ở trên địa vị cao quý, rất có danh tiếng, vị đó có đồ chúng đông, lớn tuổi, chắc nói đúng. Chúng ta sẽ học “Tương Ưng Kosala” của vua Ba Tư Nặc cho quý Phật tử nghe, rất hay, không thể nhìn vào tuổi trẻ, dáng vẻ bên ngoài.
“Ngước mặt” là nhìn thấy vị đó tướng hảo nên chạy theo, có rất nhiều điều đặc biệt. Người ta không nhìn vô trí tuệ, mà ông thầy nào đẹp nói chuyện thì người ta nghe rất đông. Chính vì vậy, chúng ta hay nghe câu:
“Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm thanh thấy ta,
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai”
Ta nhìn vào dáng vẻ, sắc đẹp, địa vị, hình thức, danh tiếng, cơ sở, tín đồ, bổn đạo… Như vậy gọi là ngước nhìn mặt đánh giá, có dễ bị, dễ lầm không ạ. Thành ra nếu chịu khó học, nghiền ngẫm ta thấy rất sâu sắc, không thể đọc kinh mà phớt phớt như đọc báo được. Những vị thật sự thấy biết Tứ Thánh Đế họ không ngước nhìn mặt một vị tu hành nào khác để nhận xét, "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy", mà họ nhìn tri kiến, trí tuệ của người đó. Vì người này đã biết Tứ Thánh Đế, đã thành tựu trí tuệ năm uẩn, đã thấy được dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ngay nơi tự thân của họ.
Chúng ta có thấy được dục, ái, tham, sân, si, bản ngã của mình không ạ? Thấy bản ngã ghê gớm không, thấy có nhục không, thấy ô uế, rác bẩn không? Chính mình còn tự thấy mà! Hình ảnh này giống như “cây cột sắt”, hay “cây cột trụ”:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bàla-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy". Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?”
Điều này thật thấm thía, một người đã thấy, biết thật sự về bốn Thánh Đế, về ngũ uẩn, về sự vô minh và tham ái, chấp thủ, đau khổ trong đời sống này, thì sự thấy biết đó là “cột trụ”, “cột sắt”, “được khéo chôn sâu bất động, không lay chuyển, không động chuyển, không rung chuyển”. Dù có chết hay đối diện với cái chết mà ai kêu người đó phải nhìn khác, ngũ uẩn này không khổ, người đó cũng không thay đổi, khéo chôn sâu cột trụ, cột sắt, không động chuyển, không rung chuyển, không lay chuyển, bất động.
Hãy xem lại nội tâm của mình là bông gòn hay cột trụ? Nếu mình vẫn bị những ngọn gió bên ngoài thổi, những hình tướng, lời nói bên ngoài, mất đi tri kiến về khổ đau, không thấy đây là khổ, tức mình đã bị gió thổi bay. Nếu dù bất cứ điều gì xảy ra mình vẫn an trú trong sự thấy biết về khổ này tham, sân, si, bản ngã, dục ái. Sự thấy biết đó kiên định, không rung chuyển, lay chuyển, động chuyển, sự thấy biết đó xác quyết tuyệt đối trong thân tâm mình, đó là “cột trụ”, “cột sắt”, “được khéo chôn sâu bất động, không lay chuyển, không động chuyển, không rung chuyển” trong thân tâm mình.
Đó là Chánh Pháp tối thượng, chúng ta từng ví dụ thấy của Đức Phật tuyệt đối, chính xác, thực tế mà rõ ràng, cụ thể, là tuyên thuyết, là trình bày, chi tiết, thiết lập, hiển thị, là tuyên bố, thuyết giảng, phân tích về Tứ Thánh Đế. Hôm trước chúng ta đã học bài kinh Đức Phật dạy: “Bông gòn” và “Cột trụ”, thật sự thấy biết về khổ đau, về ngũ uẩn, về những dục ái, tham, sân, si, bản ngã.
Người đó không nhìn mặt mà nhận xét một người khác, người này đứng trên sự thấy biết chân chánh, trí tuệ về năm uẩn về bốn sự thật của khổ đau, bốn Thánh Trí về năm uẩn. Tâm người này kiên trú bất động, sự thấy biết không bị rung chuyển, lay động, dao động, bất động. Chúng ta phải nghe pháp, phải tư duy, quán chiếu và thành tựu trí huệ tới mức này. Dù cho chuyện gì xảy ra, thậm chí đối diện với cái chết mà kêu mình nói rằng cuộc đời này không khổ, mình cũng không nói theo điều đó. Chết là chết, không thay đổi sự thấy biết đó, nó không thay đổi, dù có chuyện gì đi nữa.
Chúng ta đã như “cột trụ” chưa hay là cột gỗ? Chưa “cột trụ” mà không chịu nỗ lực học kinh, nghe pháp, quán chiếu cho đến khi nào trở thành “cột trụ”, pháp trụ, rất tuyệt vời! Thay vì nghe cái này, cái nọ, cái kia, ta nghe pháp để mình khéo chôn sâu xuống, cứ nghe pháp ngày đêm, đừng nghe những cái khác. Đừng nhìn cái khác, hãy nhìn pháp, đừng cảm nhận những điều khác, không quan trọng, hãy cảm nhận pháp. Đây là “văn vô thượng, kiến vô thượng, tu tập vô thượng, lợi đắc vô thượng”, để cho mình chôn sâu “cột trụ” này xuống, bất động, không lay chuyển, rung chuyển, động chuyển. Tại sao vậy?
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bàla-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy". Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?”
III. Nhiều và ít
Những hình ảnh này thật thi vị và tuyệt diệu, thâm sâu, sâu sắc, thực tế. Như giờ có người lấy tay hớt trên mặt biển, đưa tay lên còn sót hai ba giọt nước.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy lên hai hay ba giọt nước từ biển lớn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, hai hay ba giọt nước được lấy lên, hay là nước trong biển lớn?
Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước được lấy lên. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước trong biển lớn với hai hay ba giọt nước được lấy lên”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Đầu Biển)
Này, các Tỳ-kheo, cũng vậy với một vị Thánh đệ tử đã thành tựu Chánh Kiến, với một vị đã chứng đạt cái khổ. Vị này đã đoạn toạn nhiều giống như nước trong biển lớn.
Nỗi khổ của vị này chỉ còn lại hai, ba giọt ở trên bàn tay của họ mà thôi. Nỗi khổ mà họ đã chấm dứt, đã đoạn tận, nhiều giống như nước biển, họ đã dứt hết rồi, nỗi khổ còn sót lại với họ chỉ là mấy giọt nước. Chúng ta thấy chịu thành tựu Chánh Kiến không? Cứ nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu, tác ý đi, sẽ chỉ còn lại hai ba giọt thôi, nhiều lắm là bảy giọt, “da da nhất chủng”, “da da” là còn lại hai ba đời, “nhất chủng” là còn trở lại thế gian này, một đời, hai ba giọt nước. Nỗi khổ của họ bị diệt tận nhiều giống như nước trong biển lớn nhưng họ đã vượt qua, không còn chịu nỗi khổ đó nữa, nỗi khổ còn sót lại chỉ có hai ba giọt.
Chúng ta về phải đọc thêm, nghe thêm, vì có những ví dụ giống nhau nên Minh Thành lược bớt, nói điều đó để mình cố gắng hướng tới. Đừng để nỗi khổ giống như nước trong biển lớn, mà hãy hướng tới nỗi khổ còn lại mấy giọt. Bây giờ nghe Đức Phật nói về phần sau này thực tế nhiều để chúng ta tu. Hôm qua chúng ta nghe nói con người chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhiều giống như đất dưới địa cầu. Con người chết mà đầu thai trở lại ít giống như đất trong móng tay.
Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục học những ví dụ tương tự như vậy, nhưng Đức Phật liên hệ tới những hoàn cảnh khác.
“Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy ở đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất mà Thế Tôn lấy ở đầu móng tay. Chúng không thể ước tính được, không thể so sánh được, không thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất mà Thế Tôn lấy lên đầu móng tay.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng đạt, cái này là nhiều hơn”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Đầu móng tay)
Các thầy bạch Thế Tôn là “Đất trên quả đất rất nhiều, không so sánh được”. Đức Phật nói rằng:
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các quốc độ trung ương. Và nhiều hơn là các chúng sanh được tái sanh vào các biên địa, giữa những man di (mìlakkha Sk. mleccha) vô ý thức”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Biên địa )
Tức sau khi chết rồi, tuy được làm người nhưng lại sanh trong những vùng dân tộc, thôn quê, hẻo lánh, biên địa, biên giới, biên cương, nghèo nàn, không có văn hóa, tri thức, không gặp được Phật Pháp, không có tôn giáo, hoặc là nếu có tôn giáo thì không đưa đến sự giải thoát. Đức Phật ví dụ những người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, bây giờ mình hiểu rộng ra là những thứ say sưa, nghiện ngập, những người đó ít giống như đất trên đầu móng tay. Những người luôn luôn sử dụng những thứ say sưa nghiện ngập, rượu chè, xì ke, ma túy, những thứ làm cho đam mê, những hạng người đó nhiều giống như đất trên mặt đất.
Cho nên, những điều này Đức Phật nói để cho mình tu. Ngài nói rằng: “Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh được sanh trên đất liền (thalàjà). Và nhiều hơn là các chúng sanh được sanh ra trong nước. Vì sao?”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ -
Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Sanh ở nước)
Mình nhìn trên thế giới có bảy, tám tỷ người, còn ở trong thế giới của các loài thủy tộc vô số, không đếm tính được, nhiều hơn loài người rất nhiều. Những nỗi khổ, những sự ăn nuốt bên trong đó mình không tưởng tượng được. Nó phải chịu cảm giác, cảm thọ thế nào mình không tưởng tượng được. Mình chỉ thấy, biết con người của mình, những người ở gần mà mình tiếp xúc.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Hiếu kính mẹ)
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Hiếu kính cha)
Chúng ta nhớ tất cả những điều này đều nằm trong một ví dụ là đất trong móng tay và đất trong quả địa cầu. Tức Đức Phật nói những người con sanh ra trên đời biết hiếu kính cha, mẹ ít giống như đất trong móng tay. Còn những người không biết hiếu kính, chứ mình chưa nói bất hiếu, Đức Phật dùng từ “không biết hiếu kính”, trong này bao trùm rất nhiều những người sanh ra, nuôi lớn lên, mười mấy tuổi là bỏ nhà đi, không muốn ở gần cha mẹ nữa, gặp là bị la rầy, nhắc nhở nên đi lang thang, vất vơ vất vưởng, đi giang hồ để được tự do.
Bây giờ tu cũng vậy, không muốn ở với thầy, sư phụ, không muốn ở chung với đạo tràng, muốn đi ra lập riêng. Đây cũng là một sự lo lắng ở hải ngoại, các thầy thích ra riêng hết. Thành ra mình thấy vậy, nên đọc cái này để nghiền ngẫm, những người biết hiếu kính với cha mẹ rất hiếm, mà người không biết hiếu kính giống như đất dưới đại địa. Chính vì vậy, chết mới đi xuống ba đường, không phải địa vị của bậc chân nhân, biết ơn, nhớ ơn, biết kính trọng những người tu hành rất ít, mà không biết kính trọng người tu hành nhiều vô số kể.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc. Và nhiều hơn là các chúng sanh không kính trọng các bậc lớn tuổi trong gia tộc”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Bánh xe lược tuyết - Kinh Kính trọng các bậc lớn tuổi
Chúng ta nhớ chữ ít và chữ nhiều ở đây là đất trong móng tay và đất trong quả địa cầu, chứ không phải chữ ít chữ nhiều giống như mình nói, mười người, hai mươi người, một trăm người. Chữ ít và nhiều ở đây là đất trong móng tay và đất trong quả địa cầu. Chính những điều này mới đưa xuống ác thú, đọa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bây giờ tới phẩm “Ít người từ bỏ”:
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ sát sanh. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ sát sanh”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VIII Phẩm Ít người từ bỏ - Kinh Sanh loại
Người ăn chay trường hay ăn chay kỳ, một người thật sự biết từ bỏ sát sanh giống như đất trên móng tay. Mà người không biết từ bỏ sát sanh giống như đất trên địa cầu, chúng ta thấy có khủng khiếp không? Nếu mình không đọc điều này làm sao mình biết? Chúng ta nghĩ xe, trên thế giới này có tám tỷ người, bao nhiêu người ăn chay trường? Khoảng chừng một tỷ không? Chín trăm triệu, tám trăm triệu, bảy trăm triệu, năm trăm triệu, ba trăm triệu hay một trăm triệu người ăn chay trường? Không biết đúng không? Bao nhiêu thưa thầy Thiện Tuệ? Không tính được là ít hay nhiều?
Đừng tính xa trên thế giới, giờ tính xem trên Lâm Đồng này được bao nhiêu người ăn chay trường? Ở đây mình mới nói ăn chay thôi, còn từ bỏ sát sanh còn rộng hơn nữa, vì chưa hẳn ăn chay là từ bỏ sát sanh. Ăn chay chỉ mới là một phần, có nhiều người ăn chay nhưng mở quán mặn. Thành ra từ bỏ sát sanh ở đây, ý nghĩa sâu sắc hơn, mình lấy một ví dụ nhỏ, một khía cạnh của từ bỏ sát sanh. Người thật sự biết từ bỏ sát sanh thật sự ít giống như đất trong móng tay, mà người không từ bỏ sát sanh giống như đất ở đại địa.
Cho nên giờ mình đi tới chỗ nào đó, kiếm quán chay có dễ không ạ? Qua châu Âu, Mỹ, Úc… kiếm quán chay dễ không? Đó là tất cả những chúng sanh, chính vì vậy việc trở lại làm người ít như đất trong móng tay. Mình chiêm nghiệm để cho các Phật tử thấy rằng mình được ăn chay kỳ, hay chay trường, đó là phước báu, biết từ bỏ, tránh được bớt khổ, còn rất nhiều…
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ lấy của không cho. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ lấy của không cho”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ - Chương VIII Phẩm Ít người từ bỏ - Kinh Lấy của không cho
Tức là trộm cắp, người thật sự không trộm cắp, từ bỏ việc lấy của không cho rất ít, mà người không từ bỏ lấy của không cho, nhiều vô số kể. Bây giờ tới đồ hốt rác cũng ăn cắp, tấm sắt đặt trước nhà để dẫn xe máy vô cũng ăn cắp, người ta đi chợ, có bị thịt treo trước xe cũng lại ăn cắp. Làm những điều đó, sau khi chết sẽ đi về đâu? Rơi vào các ác nghiệp, cho nên nhiều khi quý Phật tử đừng lo lắng rằng học cái này toàn thấy khổ, các Phật tử mới nghe cái khổ này để giảm bớt tham, sân, si, vô minh, bản ngã mới từ bỏ những điều xấu ác.
Đừng sợ, để mình thấm thía cảnh khổ trong các đọa xứ, khổ cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình sợ những quả báo tàn khốc, đối với dòng sanh tử oan nghiệt này mình phải biết sợ, phải thấm thía được nỗi khổ đó mới có thể giảm bớt, nhiếp phục được những ham muốn, sân hận, si mê, bản ngã, bớt tạo nghiệp. Còn nếu bây giờ mình cứ đi cầu đạo, học pháp mà thích nghe những gì vui, hợp ý mình, chìu theo dục, ái, tham của mình, như vậy không học đạo, học pháp được.
Pháp chân chánh thật sự của Đức Phật cho mình thấy được bản chất của thế gian này là đau khổ để mình bớt, giảm và dừng tạo nghiệp. Đó là mục đích mà giáo pháp hướng tới cho mình, bớt tạo nghiệp đen, làm các nghiệp trắng. Từ từ chúng ta sẽ học các Tương Ưng khác mà Đức Phật dạy pháp cho người Phật tử, là tín, giới, văn, thí, tuệ, lòng tin, giữ giới, nghe pháp, bố thí, trí tuệ, tàm quý. Có những pháp căn bản mà Đức Phật thường xuyên giảng dạy cho Phật tử. Nhưng nhân duyên ở đây, chúng ta học được Khổ Thánh Đế này là học một điều tuyệt diệu để tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển sự thấy biết chân chánh, sâu sắc Chánh Kiến về cuộc đời này để mình biết lo lắng, dè chừng, kiểm soát những ác nghiệp, nghiệp xấu.
Còn nếu mình học mà tìm những gì nói cho vui vui, nói cho hợp ý mình, nói theo sự ưa thích, tham muốn, dục ái, như vậy mình không được lợi ích lớn, nghe cho vui vậy thôi, nghe cho đã tai, sướng tai, nghe để tìm những cảm thọ êm ái, dễ chịu chứ không thành tựu được sự thấy biết chân chánh về pháp để cứu giúp cho mình bớt khổ đau, dừng khổ đau, diệt khổ đau. Hãy nhớ kỹ điều này, hỡi các Phật tử.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ tà hạnh trong các dục. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ tà hạnh trong các dục”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ -
Chương VIII Phẩm Ít người từ bỏ - Kinh Trong các dục vọng)
Nói láo, nói lời ly gián, thô ác… rất nhiều. Múa, sử dụng những giường cao tốt đẹp, tiền bạc, thịt sống, hối lộ, sát sanh, trộm cắp, cướp phá.
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Và nhiều hơn là các chúng sanh không từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?”
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập VII Thiên sáu xứ -
Chương X Phẩm Chúng sanh nhiều hơn - Kinh Sát hại, trộm cắp, cướp phá)
IV. Khuyến tấn tu tập
Sở dĩ tất cả những nghiệp ác mà người ta không giảm bớt, không ngăn chặn được, không từ bỏ được là tại vì sao? Vì không thấy biết bốn sự thật đây là khổ, không thấy biết được sự thật đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau cho nên mới tạo ra các ác nghiệp, những nghiệp đen, nghiệp xấu mới càng chịu quả báo khổ là triền miên dài dài, tiếp chuyển tiếp nối mãi mãi về sau. Nếu họ biết đây là khổ, họ sẽ từ bỏ, sẽ giảm bớt những ác nghiệp. Đó là lợi ích của học và quán chiếu Tứ Thánh Đế.
Giờ mình biết sát sanh này đem lại đau khổ, vì một chút miếng ăn mà cắt cổ, nhổ lông, mổ heo, hoặc chặt đầu, đuôi cá, bao nhiêu những ác nghiệp đó. Mình thấy điều này là khổ, thì sẽ giảm bớt hoặc từ bỏ, cho nên tất cả những điều mà Đức Phật nói, nãy giờ Minh Thành tóm gọn lại, “Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế” nên họ sát sanh, tà dâm, nói dối, uống rượu, lường gạt, gian manh, thủ đoạn, mưu mô, mưu sĩ, mưu toan, mưu tính, mưu hại, mưu ác, mưu hiểm, mưu độc, tất cả những điều đó vì họ không biết đó là khổ. Nếu họ biết đó là khổ thì họ đâu có làm, họ sẽ từ bỏ.
“Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
Phải thấy nó là khổ trước, tự động các ác nghiệp mới được nhận thức, được hiểu biết, được lo lắng, được sợ hãi, được tránh né, được nhiếp phục, được từ bỏ. Nếu không thấy khổ thì mình cứ nhào vô, cứ sấn tới, càng lún sâu xuống vũng lầy của ham muốn, của dục vọng. Nếu không thấy khổ, họ cứ nhào vô đống lửa đang bùng cháy. Họ cứ để cho những cảm thọ bên trong phừng phực, hừng hực, thiêu đốt chính tự thân họ và làm khổ đau cho người khác. Vì họ không thấy khổ, nếu họ không thấy khổ, họ đâu có để lửa trong người họ phừng lên, phực lên. Cộng với lửa bên ngoài, trong ngoài kết hợp, làm nên hỏa hoạn khắp toàn cầu.
Nếu họ thấy khổ, họ phải lo lắng, cười gì, vui sướng gì khi đời bị đốt thiêu trong chỗ tối tăm, sao không tìm ngọn đèn. Chúng ta thấy chưa? Mình thấy khổ mình mới lo lắng, tìm ngọn đèn, mình ý thức được mình đang ở trong bóng đêm, quờ quạng giữa trời đêm. Ý thức được điều đó mình mới lo kiếm đèn, kiếm đuốc, kiếm lửa, kiếm ánh sáng, không bị chìm đắm, rơi xuống vực sâu trong bóng tối của hắc ám, si mê.
Nếu ý thức đó là khổ, mình đâu có để phát huy, tăng trưởng bản ngã, cái tôi, cái ta mà vênh váo, hách dịch, kiêu căng, hống hách, ngạo mạn, khinh thị người khác. Mình biết điều đó là khổ, đây là khổ, tự động mình tránh né, từ bỏ, nhiếp phục nên tất cả pháp là do Chánh Kiến dẫn đầu, dẫn đường, dẫn lối, thống soái. Chính vì vậy mà thành tựu thấy biết về đau khổ trong đời sống này là tối quan trọng. Từ đó mới ý thức được những nguyên nhân gây ra khổ trong thân tâm mình, mới có sự nhàm chán, ngao ngán, lo lắng, sợ hãi, mình mới tu tập, phát huy những thiện pháp, phát huy lòng tin.
Không phải mình không có lòng tin, nhưng lòng tin của mình chưa đủ, nó sẽ trở thành lòng tin bông gòn, bay qua đây, bay qua kia. Nên mình phát huy lòng tin giống như cột trụ. Về giới, mình có thọ giới, giữ giới, nhưng chưa đủ, bây giờ mình tăng thượng giới, từ bỏ những ác pháp, những bất thiện, tăng trưởng, phát triển những thiện pháp, lòng tin, giữ giới, nghe pháp, bố thí, tàm quý, biết hổ thẹn, biết lo lắng, nhục nhã. Đối với những ác nghiệp biết sợ hãi, biết tu tập trí tuệ để thành tựu cột trụ trong Chánh Pháp, cột trụ được khéo chôn sâu, bất động, không rung chuyển, không lay chuyển, không lay động.
Chúng ta thấy đó là đường lối thuyết pháp vi diệu của Đức Thế Tôn. Nên mình muốn học đạo tới nơi tới chốn, thành tựu được sự thấy biết chân chánh, đúng pháp thật sự trong giáo pháp, mình phải dẹp cái tôi của bản thân, phải tuyệt đối tin tưởng vào Đức Phật, phải dẹp sự yêu thích cá nhân. Mình thích gì, muốn gì, mà nói không giống, mình phải dẹp cái mình thích, mình muốn, cái tham ái, bản ngã đó. Mình phải dẹp sự thấy biết theo thường tình của mình, vô minh. Chúng ta nhớ, muốn học giáo pháp thật sự chân chánh, nguyên chất của Đức Phật để cho mình chấm dứt khổ đau thật sự.
Thứ nhất, phải dẹp bản ngã; thứ hai phải dẹp ưa thích, tham ái trong khi mình nghe pháp, thực hành pháp; thứ ba là phải dẹp vô minh, mờ mờ, không hiểu biết của mình rồi từ từ trầm tĩnh, bình tĩnh, kiên trì, nghe, suy ngẫm, tu tập, ngấm từ từ. Phải tin tưởng tuyệt đối vào lời nói và sự giác ngộ của Đức Phật. Chữ tín là đầu tiên, tín, tấn, niệm, định, huệ, đây là bảy tài sản của bậc Thánh, mời Phật tử về nghe lại, tín, giới, văn thí, tàm quý, tuệ. Thành tựu những điều đó mình mới đi vào được Tứ Thánh Đế này.
Khi chúng ta đi vào được trong trí tuệ về khổ này thì thật tuyệt diệu, hạnh phúc lắm, tuyệt vời lắm, không có gì bằng. Thêm một ví dụ nữa:
“Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hồ nước bề dài năm mươi do tuần, bề rộng năm mươi do tuần, bề sâu năm mươi do tuần, đầy nước tràn trên bờ để con quạ có thể uống được. Từ nơi hồ nước ấy, có người lấy lên một ít nước trên đầu ngọn cỏ kusa”
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ - Chương VI. Phẩm Chứng Đạt Kinh Ao hồ
Chúng ta thấy hình ảnh một hồ nước dài bảy trăm năm mươi cây số, bề rộng cũng bảy trăm năm mươi cây số, bề sâu bảy trăm năm mươi cây số, có một người lấy ngọn cỏ nhúng vào hồ nước đó, đưa lên, nước còn dính lại trên đầu ngọn cỏ, mấy giọt như vậy.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một ít nước lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa, hay là nước trong hồ nước?”
Chúng ta thấy hình ảnh đẹp không? Bây giờ chúng ta thực hiện ngay đây. Dạ mời thầy, thầy cúi xuống làm thử. Còn sót lại mấy giọt, cái nào nhiều hơn? Chúng ta học phải thực nghiệm, thí nghiệm tại chỗ, và hồ dài, bề ngang, bề rộng, bề sâu bảy trăm năm mươi cây số chứ không phải hồ này.
“Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong hồ nước. Còn ít hơn là nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa. Chúng không có thể ước tính, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước ở hồ nước với nước được lấy lên trên đầu ngọn cỏ kusa”
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, các vị Thánh đệ tử thành tựu Chánh Kiến với người đã chứng đạt bốn Thánh đế này, với người đã thấu suốt đây là khổ, thấu suốt thực sự những tham, sân, si, dục ái đó là nguyên nhân của khổ”
Chấm dứt đau khổ và người đó thực hành, con đường diệt tận khổ đau, đau khổ mà đã trừ diệt, nhiều như hồ nước vĩ đại đó. Cái khổ còn sót lại ít như những giọt nước đọng trên đầu ngọn cỏ. Bây giờ chúng ta muốn cái nào? Muốn cái khổ bằng hồ bảy trăm năm mươi cây số hay muốn nỗi khổ còn vài giọt trên đầu ngọn cỏ?
Phải chịu khó nghe pháp, hành pháp, thực tập thiền, siêng năng tác ý, thực hành đúng Chánh Pháp thì thời gian không bao lâu chúng ta sẽ đến chỗ còn lại mấy giọt. Hãy nhớ còn lại mấy giọt nước thôi, đừng để một hồ bảy trăm năm mươi cây số như vậy, mệt mỏi lắm, đau khổ tới đây vừa đủ rồi. Đừng tiếp tục nối giáo cho giặc, đừng nhấn chìm mình xuống vũng sình, đừng tiếp tục đẩy mình vô biển lửa, đừng tiếp tục quờ quạng giữa trời đêm, thắp lên ánh sáng Thánh trí tuệ của Khổ Thánh Đế.
Hãy cảm nhận sự hạnh phúc quý báu tối thượng mà chúng ta đã nghe được những lời dạy chân chánh, tuyệt diệu của Đức Thế Tôn. Mặt trời lên rồi, ánh sáng tỏa chiếu rồi, điềm báo trước của mặt trời sắp xuất hiện là rạng đông, tướng báo trước của vị thành tựu Tứ Thánh Đế, tức là Chánh Tri Kiến. Hãy cảm nhận lấy hạnh phúc bình an, tuyệt vời và màu nhiệm này. Trong giờ phút này, biết bao nhiêu người đau khổ mà chúng ta được ngồi đây tu học. Nâng niu và trân trọng, cảm nhận sâu sắc sự an lành, quý báu tuyệt vời này. Trải tâm thương này cùng khắp trời đất, vạn loài chúng sanh.
./.