Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán NIKAYA- Ai Thấy Pháp Người Ấy Thấy Ta! - Kinh Vakkali - Tương Ưng Bộ

2026-03-03 00:52:09
Thiền Quán Nikāya

AI THẤY PHÁP NGƯỜI ẤY THẤY TA!

KINH VAKKÀLI - TƯƠNG ƯNG BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự thật tối thượng PAGEREF _Toc105233646 \h 1

II.Thấy Pháp là thấy Phật PAGEREF _Toc105233647 \h 4

Sự thật tối thượng

Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, rõ biết phía trước mặt, cảm nhận không gian nơi này, vùng trời đất này, cảm nhận âm thanh. Cảm nhận những giọt sương, cam lộ ban mai, sương ngọt của bình minh, nắng sớm. Cảm nhận tiếng chim hót, gà gáy sáng, không khí trong lành của trời đất nơi núi đồi đại ngàn, non thiêng, thánh địa. Cảm nhận không khí trong lành, mát mẻ, cảm nhận dưỡng khí sung mãn, dào dạt khắp hư không. Thở vào, thở ra làm cho thân an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào và bình yên ngay giây phút này.

Hãy đón nhận những giọt cam lồ, sương ngọt của buổi sáng đang nhiễu xuống cơ thể chúng ta, là tốt lành, ngọt ngào, mát dịu, thanh lương. Thế Tôn ngày xưa không có tấm tôn che trên đầu, vậy mà Ngài bất tử. Chúng ta nuông chiều cái thân này quá nhiều nên sanh tử, luân hồi. Hãy cảm nhận những dòng sương ngọt tức là cam lồ, thấm đẫm tóc, mặt, vai chúng ta cũng như dòng Thánh thuỷ của bậc Từ Tôn. Hãy thưởng thức, nếm trải không gian đầy khả ái, thân thương của núi rừng này; thưởng thức bầu trời bao la vô tận này; thưởng thức sự ngọt ngào của dòng Thánh pháp, vi diệu này. Đây chính là “sự thật ngọt tối thượng trong tất cả vị ngọt”. Chúng ta đang nếm vị ngọt của sự thật, hãy để thâm, tâm chúng ta được thấm đẫm bằng những sự thật tối thượng này và khắc ghi vào tim, tuỷ, không bao giờ quên. Có ai có thể hạnh phúc bằng chúng ta ngay giờ phút này?

“Tinh cần giữa phóng dật

Tỉnh thức giữa quần mê

Người trí như ngựa phi

Bỏ sau con ngựa hèn”

(Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật)

“Lòng tin ở đời này

Là tài sản tối thượng

Chánh pháp khéo tu trì

Đưa đến chơn an lạc

Sự thật ngọt tối thượng

Trong tất cả vị ngọt

Sống cuộc sống trí tuệ

Được gọi sống tối thượng”.

(Tương Ưng Bộ Kinh - tập 1, Thiên Có Kệ, chương I. Tương ưng Chư Thiên, VIII. phẩm Đoạn, bài kinh Tài sản)

“Mạng sống bị dắt dẫn

Tuổi thọ chẳng là bao

Bị dẫn đến già nua

Không có nơi dừng bước

Ai đem tâm quán tưởng

Sợ hãi tử vong này

Hãy làm các công đức

Đưa đến chơn an lạc.

Mạng sống bị dắt dẫn

Tuổi thọ chẳng là bao

Bị dẫn đến già nua

Không có nơi dừng bước

Ai đem tâm quán tưởng

Sợ hãi tử vong này

Hãy bỏ mọi thế lợi

Tâm hướng cầu tịch tịnh”.

(Tương Ưng Bộ Kinh - tập 1, Thiên Có Kệ, chương I. Tương ưng Chư Thiên, I. phẩm Cây Lau, bài kinh Đưa Đến Đoạn Tận)

Giờ chúng ta ngồi đây, mỉm cười vì hạnh phúc, vì thấy được sự thật của khổ đau và chúng ta khóc hoài cho đến ngày lậu tận. Sau khi thấy sự thật này, chúng ta đãi tiệc suốt đời cũng được, tiệc trong tâm linh của mình, vui mừng vô số kiếp. Và cũng vì nhìn ra được sự thật này, nhìn ra sự khổ này. Quý vị Phật tử trình pháp thường xúc động và khóc. Thấy quá khổ mà làm sao không khóc? Thấy quá đúng mà làm sao không xúc động? Thấy quá thật mà làm sao không chạm vào trái tim? Sự thật chạm vào trái tim, đi vào khối óc, sự thật ngay nơi thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, nhận thức. Sự thật không ở đâu xa, ngay trong con người chúng ta. Đến để mà thấy, trong mỗi cảm xúc sanh khởi lên, trong mỗi hình bóng xuất hiện trong tâm, trong mỗi sự nhận thức, rõ biết.

Quý Phật tử trình pháp mà khóc là Minh Thành vui lắm. Để quý Phật tử khóc cho chết luôn, chết đi con người ngu si, vô minh đó, chết đi bản ngã mê muội, dại khờ đó; khóc cho chết cái hơn thua, tranh giành, sự hung dữ, hung bạo, hung hãn, hung hăng để con người hiền thiện sống dậy, tái sanh; để con người hiền đức đó xuất hiện; để con người hiền lành đó được hiện hữu mãi mãi trong tim con. Con khóc vì những cảm giác hung dữ, hung hăng trước kia của con; những cảm giác bạo tàn, bạo động, bạo loạn quá khứ của con; con khóc vì những cảm xúc, bản ngã hơn thua, kiêu căng, ngạo mạn, xem ai không ra gì của con; giờ con thấy được nó thật tồi tệ, tệ hại, thật là xấu xa, thấp hèn; con khóc cho chính con, để những dòng nước mắt, cảm xúc này gội rửa những cảm thọ si ám, dại khờ, vô minh, bản ngã của con. Khóc cho đến lúc nào mà con người tham, sân, si chết đi, để sống lại một con người hiền đức, hiền thiện, hiền trí, hiền lương mãi mãi. Chúng ta hãy cứ khóc, khóc thật nhiều, khóc hoài rồi chúng ta mới hiền, không khóc thì những cảm thọ sân hận sẽ không thể bị đánh bật khỏi tâm mình. Hãy cho nó cúi đầu, khiêm hạ, để rồi một con người khiêm cung, nhún nhường được sanh ra, một con người kiêu căng, ngạo mạn bị chết đi.

Thấy Pháp là thấy Phật

Chúng ta cùng tái hiện cảnh đi thăm bệnh và lời khai thị của Đức Thế Tôn với một vị Tỷ-kheo bệnh nặng, hấp hối.

“Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng

Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:

Đến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: " Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali’.”

Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có thưa như sau: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali’. Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến Tỷ-kheo Vakkali.

Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.

Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy. Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.

Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:

Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?

Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.

Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?

Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!

Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?

Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.

Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?

Đã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn

Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp.

Này Vakkali, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

Là vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi?”

Thưa không, bạch Thế Tôn.

Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là thường hay vô thường?

Là vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi?”

Thưa không, bạch Thế Tôn.

Do vậy, ở đây... thấy vậy... "... không còn trở lui trạng thái này nữa ". Vị ấy biết rõ như vậy.”

Do thấy như vậy, Thánh đệ tử nhàm chán với sắc, đồ đạc, cảnh vật; nhàm chán với mọi cảm giác, dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu; nhàm chán với mọi nhận thức, rõ biết duyên sanh, vô thường này; nhàm chán với thân ngũ uẩn, vô thường, đau khổ, biến hoại, tan nát, huỷ hoại, hoại diệt này; nhàm chán với những thứ duyên sanh, trống rỗng, vô ngã này; do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy thoát ra; thoát ra khỏi thân xác, tài sản, vật chất, hoàn cảnh, đời sống, thế giới này; thoát ra khỏi ngũ uẩn đầy đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, đột ngột, bất trắc; trong sự thoát ra đó, trí tuệ khởi lên biết rằng “Ta đã được giải thoát. Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui đời này nữa”.

“Rồi Thế Tôn, sau khi giáo giới cho Tôn giả Vakkali với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến núi Gijjhakùta ( Linh Thứu ).

Rồi Tôn giả Vakkali, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền gọi các thị giả:

Hãy đến ta, này chư Hiền, hãy nhắc cái giường ta và đi đến tảng đá đen ( kàlasilà), tại sườn núi Isigili ( hang của Tiên nhân). Làm sao người như ta, lại nghĩ đến mệnh chung trong một căn nhà?

Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc chiếc giường với Tôn giả Vakkali đi đến tảng đá đen, tại sườn núi Isigili.

Thế Tôn, đêm ấy và ngày còn lại, trú tại núi Gijjhakùta.

Rồi hai vị Thiên, trong khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Gijjakùta, đi đến Thế Tôn... liền đứng một bên.

Đứng một bên, một vị Thiên bạch Thế Tôn: Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang có ý nghĩ muốn giải thoát.

Vị Thiên khác bạch Thế Tôn: Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn khéo giải thoát.

Chư Thiên ấy nói như vậy xong; sau khi nói vậy, liền đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.

Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo:
Hãy đến, này các Tỷ-kheo. Hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Vakkali như sau: " Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của hai vị Thiên nói với Thế Tôn. Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Gijjhakùta, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: ‘ Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali đang có ý nghĩ muốn giải thoát ’. Vị Thiên khác bạch Thế Tôn: ‘ Vị ấy muốn giải thoát, chắc chắn được khéo giải thoát’. Và Hiền giả Vakkali, Thế Tôn nói với Hiền giả như sau: " Này Vakkali, chớ có sợ! Này Vakkali, chớ có sợ! Cái chết của Ông sẽ không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải ác hạnh!”

Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Vakkali; sau khi đến, thưa với Tôn giả Vakkali: Này Hiền giả Vakkali, hãy nghe lời nói của Thế Tôn và hai vị Thiên.

Rồi Tôn giả Vakkali gọi các vị thị giả: ‘Hãy đến, này chư Hiền! Hãy nhắc tôi ra khỏi giường. Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi cao để nghe Thế Tôn giảng dạy’.

Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, nhắc Tôn giả Vakkali ra khỏi giường”.

Tôn giả Vakkali dù đã là bậc Thánh chứng Thánh quả nhưng vẫn yêu cầu được ra khỏi giường để nghe lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn. Chúng ta học nhiều sẽ thấy được các bậc chứng lậu tận là cung kính Đức Thế Tôn tuyệt đối. Do vậy, khi tắm Phật, Minh Thành không bao giờ dám xối từ trên đầu xuống, mà xối từ lưng trở xuống. Cung kính tuyệt đối với bậc tối tôn tối thượng, bậc Đạo sư của chư Thiên và loài người. Người nào thấy Phật, thấy Pháp là sẽ cung kính Phật, Pháp, Tăng tuyệt đối. Chúng ta một khi chưa có tịnh tín bất động thì vẫn sẽ bị lung lay, khi có chuyện gì là quay lưng với Tam Bảo liền. Qua đây, chúng ta thấy những bậc Thánh, thành tựu Chánh kiến, thấy Pháp, hiểu Pháp một cách thâm sâu là cung kính Đức Thế Tôn và Pháp tuyệt đối.

Dù Tôn giả Vakkali bệnh nặng như vậy, gần mạng chung, tuy vậy khi lời Đức Phật truyền tới thì Ngài xin các vị Tỷ-kheo nhắc Ngài ra khỏi giường: “Làm sao một người như tôi, có thể nghĩ ngồi trên chỗ ngồi cao để nghe Thế Tôn giảng dạy”. Đây là chủ đề để cho chúng ta thiền quán: Bậc Thánh tôn kính Đức Phật; và cũng để chúng ta nhìn lại tự thân xem mình tôn kính Phật, tôn kính Pháp như thế nào. Hay chỉ một chút khó khăn là chúng ta bỏ đi, than vãn: “Tu gì khó quá, khổ quá”. Đây là chi tiết để chúng ta học tập từ đó chú ý, cẩn trọng trong sự tu học pháp này. Chỉ cần một ý hành chống đối sanh khởi lên là mình có thể bị đào thải khỏi dòng Thánh pháp tối thượng này.

Này Hiền giả, đêm nay, hai vị Thiên, sau khi đêm đã gần tàn... đứng một bên. Đứng một bên, này Hiền giả, một vị Thiên bạch Thế Tôn: " Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, đang nghĩ đến tự giải thoát ". Vị Thiên kia bạch Thế Tôn: "Vị ấy, bạch Thế Tôn, muốn giải thoát sẽ được khéo giải thoát ". Và Thế Tôn, này Hiền giả Vakkali, nói với Hiền giả như sau: " Chớ có sợ, này Vakkali! Chớ có sợ, này Vakkali! Cái chết của Ông không phải là ác hạnh, sự mệnh chung không phải là ác hạnh!"

Vậy này chư Hiền, hãy nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: " Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bệnh trầm trọng! Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: ‘ Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn. Con không có ngờ gì vấn đề này, bạch Thế Tôn! Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Thọ là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Tưởng là vô thường... Các hành là vô thường... Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.”.

Thưa vâng, này Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali rồi ra đi.

Tôn giả Vakkali, khi các Tỷ-kheo ấy đi không bao lâu liền đem lại con dao.

Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và nói như sau: "Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là vô thường, bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường là khổ, con không có nghi ngờ gì về vấn đề này. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, ở đây con không có lòng dục, lòng tham, lòng ái. Con không có nghi ngờ gì về vấn đề này.”.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen. Ở đấy, Thiện gia nam tử đem lại con dao.

Thưa vâng, bạch Thế Tôn

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn

Thế Tôn cùng với số đông Tỷ-kheo đi đến Isigili, chỗ tảng đá đen.

Và ở đàng xa, Thế Tôn thấy Tôn giả Vakkali nằm trên giường, với vai co quắp lại.

Lúc bấy giờ, một đám khói đen, một luồng ám khí đi về phía Đông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía trên, đi về phía dưới, đi về phía bốn góc.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy đám khói đen ấy, luồng ám khí ấy đi về phía Đông... đi về phía bốn góc không?

Thưa có, bạch Thế Tôn.

Đó là Ác ma, này các Tỷ-kheo, đang đi tìm thức của Thiện nam tử Vakkali và nói: " thức của Thiện nam tử Vakkali an trú tại chỗ nào?

Nhưng này các Tỷ-kheo, với thức không an trú tại một chỗ nào, Thiện nam tử Vakkali đã nhập Niết-bàn một cách hoàn toàn!”

(Tương Ưng Bộ Kinh - tập 3, III. Thiên uẩn, IV. phẩm Trưởng lão, bài kinh Vakkali)

Người tu chúng ta hãy ghi nhớ câu Pháp Ấn này:

“Có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Ai đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp”.

Có gì đáng thấy, đáng nhìn, đáng gặp với cái thân hôi hám này, đối với thân chín lỗ rỉ chảy ra những thứ nhàm chán, tanh hôi, bẩn thỉu này. Ai thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, vô ngã; ai thấy được sự thật này, người ấy thấy Như Lai. Ai thấy thân này của Ta, phải thấy được sự thật ngũ uẩn này là vô thường, khổ đau, biến hoại, trống rỗng và vô ngã. Đang thấy sự thật về năm uẩn này là thấy Như Lai.

“- Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải qua nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Ung nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này”.

(Tăng Chi Bộ Kinh - tập 4, chương Chín Pháp, II. phẩm tiếng rống con sư tử, bài kinh Một ung nhọt)

./.