Nghiệp & Quả Báo 25
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 25
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thế Tôn đáp du sĩ ngoại đạo PAGEREF _Toc158992566 \h 1
II. Ngài Ananda đáp PAGEREF _Toc158992567 \h 3
III. Năm triền cái PAGEREF _Toc158992568 \h 5
IV. Nước không rửa được ác nghiệp PAGEREF _Toc158992569 \h 10
V. Vì sao không thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp PAGEREF _Toc158992570 \h 14
I. Thế Tôn đáp du sĩ ngoại đạo
Kính bạch chư tôn thiền đức và các vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh Uttiya, nội dung bài kinh này nói rằng có thể độ được hết thế giới này không, Thế Tôn thuyết pháp để làm gì, những người ngoại đạo chất vấn Đức Phật, ngài nói rằng ngài thuyết pháp để chỉ dẫn con đường diệt khổ cho chúng sanh và có được bao nhiêu người được giải thoát, đó là nội dung bài kinh hôm nay.
"Bấy giờ có du sĩ ngoại đạo Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Uttiya nói với Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Tôn giả chủ trương thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
- Này Uttiya. Ta không có nói như sau: 'Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng'". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Vị du sĩ này hỏi Đức Phật có phải ngài chủ trương thế giới này là vô thường không, chỉ có cái này mới đúng thôi, ngoài ra tất cả đều sai hết, tuy nhiên Đức Phật nói rằng ngài không có nói như vậy.
"Này Tôn giả Gotama, có phải thế giới là có biên tế...thế giới là không biên tế... sinh mạng và thân thể là một... sinh mạng và thân thể là khác... Như Lai có tồn tại sau chết... Như Lai không có tồn tại sau khi chết... Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
- Này Uttiya, Ta không có nói như sau: 'Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng'.
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: 'Này Uttiya, Ta không có nói: 'Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.'
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường? ... có phải thế giới là có biên tế? ... có phải thế giới không có biên tế? ... có phải sinh mạng và thân thể là một? ... có phải sinh mạng và thân thể là khác? ... có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết? ... có phải Như Lai không có tồn tại sau khi chết? ... có phải Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau chết? ... có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: 'Này Uttiya, Ta không có nói: 'Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng'" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, Chương Uttiya)
Biên tế là bờ mé, vị du dĩ này đưa ra rất nhiều câu hỏi, có phải thế giới này không có bờ mé không, sinh mạng và thân thể này là một hay sinh và thân thể này là khác, nói dễ hiểu là thể xác và linh hồn là một hay khác, sau khi Như Lai mất thì ngài có tồn tại hay không tồn tại… Vị này đưa ra rất nhiều câu hỏi trừu tượng về thế giới, về sinh mạng, sau khi Đức Phật diệt độ, qua đời thì thế nào, ông nêu ra nhiều vấn đề trong phạm trù triết học cao xa. Tuy nhiên Đức Phật nói rằng ngài không có nói như vậy.
"- Vậy cái gì được Tôn giả Gotama nói lên?
- Với thắng trí, này Uttiya, Ta thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được chấm dứt, để Thánh lý được chứng đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Du dĩ là một người tu rày đây mai đó và người tu trong bài kinh này không phải là đạo Phật mà là đạo Ấn Độ, vị này nêu ra nhiều vấn đề rất xa, Đức Thế Tôn không trả lời những câu hỏi đó mà ngài nói rằng ngài cũng không đề cập đến những vấn đề đó, sau đó ông du sĩ hỏi lại thế thì Thế Tôn nói cái gì. Thế Tôn trả lời với một trí tuệ thù thắng, với một trí tuệ cao thượng, với một trí tuệ của bậc Thánh thì ngài thuyết pháp cho các đệ tử để họ được một cái tâm thanh tịnh, trong sạch. Khi có tâm trong sạch đó thì họ mới vượt qua được cái buồn đau, chấm dứt được khổ sầu, mới đạt được chân lý, mới có thể đi đến chỗ dập tắt hết tất cả tham, sân, si, vô minh, dục ái, bản ngã, gọi là Niết-bàn được chứng ngộ.
Như vậy mục đích thuyết pháp của Đức Phật là để thanh lọc tâm cấu nhiễm của chúng sanh, tẩy rửa tâm nhơ nhớp của chúng sanh, làm cho thân và tâm của tất cả chúng ta được trong sạch, được thanh tịnh. Có cái thân và cái tâm trong sạch, thanh tịnh như vậy thì chúng ta mới vượt qua được buồn đau, mới chấm dứt được khổ sầu, muốn đạt được điều đó thì phải thấu hiểu được sự thật và chứng ngộ được nội tâm dập tắt hoàn toàn tham, sân, si, đó là sự trả lời của Đức Phật.
"- Nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh... để Niết-bàn được chứng ngộ', thời do vậy, cả thế giới này sẽ đi ra khỏi, hay chỉ có một nửa, hay chỉ có một phần ba? Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Ông du sĩ này nói rằng nếu Thế Tôn thuyết pháp cho các đệ tử ngài có nội tâm thanh tịnh, vượt qua buồn đau, chấm dứt khổ sầu, ngộ được chân lý và đạt được Niết-bàn thì cả thế giới này đều được ngài độ hết, hay chỉ một nửa thế giới, hay chỉ một phần ba thế giới được độ. Nghe hỏi như vậy thì Đức Thế Tôn im lặng.
II. Ngài Ananda đáp
"Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ như sau: 'Chớ có để cho du sĩ Uttiya có ác tà kiến rằng: 'Sa-môn Gotama khi được nghe ta hỏi câu hỏi tối ư quan trọng lại tránh né, không có trả lời, không dám trả lời, và như vậy là bất hạnh, là đau khổ lâu dài cho du sĩ Uttiya" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Ngài A-nan thấy Đức Thế Tôn im lặng thì ngài nghĩ giùm cho ông du sĩ này rằng có thể ông sẽ nghĩ sai về Đức Phật rằng Thế Tôn tránh né câu hỏi, không trả lời, không dám trả lời, nếu suy nghĩ như vậy thì du dĩ này sẽ gặp bất hạnh lâu dài cho nên ngài A-nan mới nói với du sĩ:
"Rồi Tôn giả Ananda nói với du sĩ Uttiya:
Vậy này Hiền giả Uttiya, Ta sẽ dùng một ví dụ, chính nhờ ví dụ, ở đây một số người có trí có thể hiểu được ý nghĩa của lời nói" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Ở đây chúng ta thấy được rằng không phải hỏi cái gì Đức Thế Tôn cũng trả lời, Thế Tôn ngồi im lặng không trả lời thì lúc đó ngài A-nan sợ ngài du dĩ có suy nghĩ sai lầm, sợ vị này mắc tội, bị đau khổ lâu dài nên ngài A-nan tiếp lời.
"Ví như, này Hiền giả Uttiya, ngôi thành trì biên địa của vua với những nền móng vững chắc, với các thành lũy tháp canh vững chắc, và chỉ có một cửa vào. Tại đây, người giữ cửa là người sáng suốt, thông minh, có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy, người ấy có thể không thấy một kẽ hở trong thành hay lỗ trống thành lớn cho đến một con mèo có thể chui qua. Người ấy có thể không biết được: 'Từng ấy loài hữu tình đã đi vào hay đi ra thành này, nhưng điều này cho biết: "Những loài hữu tình thô lớn nào đi vào hay đi ra thành này', tất cả chúng phải đi vào hay đi ra ngang qua cửa thành này" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Một bờ thành ở biên cương có nền móng vững chắc, thành lũy kiên cố, không có kẻ hở, có tháp canh cẩn mật, kĩ lưỡng cho nên có người đi ra đi vào đều biết.
"Cũng vậy, này Hiền giả Uttiya, đối với Như Lai, không phải là một vấn đề quan trọng (câu hỏi này của Thầy) là có phải toàn thế giới do vậy được thoát ra khỏi hay nửa phần thế giới, hay là một phần ba? Những điều Như Lai nói là như sau: 'Những ai đã được thoát ra khỏi thế giới, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra, tất cả những vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ; sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới. Này Hiền giả Uttiya, về câu hỏi mà Thầy đã hỏi Thế Tôn đứng trên một lập trường khác. Ðó là lý do tại sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy cho Thầy" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Vị du sĩ này muốn hỏi Thế Tôn có độ được hết thế giới không, ngài có một con đường, có một đạo lộ, có một phương pháp thần diệu Thánh trí tuệ như vậy thì có độ được hết thế giới không, hay độ được phân nửa, hay là độ được một phần ba. Với một cái tâm cật vấn, vấn nạn như vậy thì Đức Thế Tôn không trả lời, chỗ quan trọng là khi ngài A-nan đưa ra ví dụ rằng tất cả mọi người đều phải đi qua một cửa thành duy nhất, cũng vậy, đối với Như Lai thì vấn đề quan trọng không phải chỗ cả thế giới có thoát ra không, hay nửa thế giới, hay một phần ba có thoát ra không, vấn đề quan trọng là những ai thoát ra khỏi thế giới này, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra thì tất cả những vị ấy đầu tiên phải đoạn tận năm triền cái, đây là pháp của chư Phật, là định lý, đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, kế đó phải kéo an trú trên Bốn Niệm Xứ, sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới.
III. Năm triền cái
Đầu tiên là đoạn tận năm triền cái: dục tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo hối tức là thân tâm lăng xăng, dao động, trong tâm ray rứt những lỗi lầm, tâm bất an và cuối cùng là tâm hoài nghi. Muốn tu thì đầu tiên phải đoạn tận được năm triền cái, ở đây chúng ta tập trung vào năm triền cái này nhiều hơn, thước đo trong sự tu hành của mình là nhìn vào năm cái này có giảm bớt hay không thì biết mình tu có tiến hay không.
Cái ham muốn của mình có bớt không hay là tăng thêm, trong tham thì có tham ăn, tham ngủ, tham chơi, tham nói, ham vui… Trong cái ăn của mình có nhiều phiền não không? Nếu mình quá chú trọng, quá đặt nặng cái ăn, để tâm quá nhiều về ăn uống thì không còn thời gian ngồi thiền, không còn thời gian nghe pháp, chưa kể một ngày mình đi làm 8 tiếng, về phải nấu ba bữa cơm thịnh soạn, món này món kia thì hết giờ. Đó là tham ăn, rồi tham ngủ, đến giờ tu tự nhiên thấy mệt mỏi, muốn bệnh, đến giờ học thì bận công việc hoặc là chưa ăn "để ăn đã rồi nghe lại sau", lời nói lầm thầm này là hành uẩn, nó thì thầm dụ dỗ mình, làm cho mình biếng nhác, giải đãi. Đến giờ học, đến giờ tu, đến giờ thọ bát quan trai hoặc là đến giờ tụng kinh hoặc là đến khóa tu, có những công tác làm từ thiện này nọ thì mình phải siêng năng, phải nỗ lực, phải cố gắng, phải đánh gục được sự giải đãi, lười biếng.
Nếu ngày đó có khóa tu mà ham vui, ham chơi thì có thể bỏ tu để đi theo cái vui chơi kia, ham ăn, ham chơi, ham ngủ, ham nói… Biết bao phiền não trong người, nghe thì đơn giản nhưng tu thì không đơn giản, mình nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với những cái này là cả một sự cố gắng, nỗ lực của mình. Bây giờ ham ăn cũng thành cái nghiệp, ham ngủ cũng thành nghiệp, ham đi chơi, ham nói nhiều, vui chơi thì buông lung phóng dật, không hộ trì căn, không an trú cảm giác toàn thân, không tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, bỏ mất thiền định, tịnh tâm, như vậy thì tham sắc, tham tài, tham dục, tham ăn, tham chơi, tham vui… sẽ làm tâm bị ô nhiễm và làm yếu ớt trí tuệ, độ trong sáng của tâm không còn minh mẫn tròn trịa nữa, những cái tham đó giống như đám mây đen che mờ. Thế Tôn nói năm pháp này làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, làm tác thành không mắt, tác thành si ám, tác thành mù lòa.
"-- Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái... Hôn trầm thụy miên triền cái... Trạo hối triền cái... Nghi hoặc triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), IV. Phẩm Triền Cái, X. Triền Cái)
Những cái tham đó cũng làm mình mệt rồi, ngoài ra còn những cái tham vi tế hơn là tham đẹp, tạo cảnh, trồng bông hoa, cây kiểng, bonsai, chiếm hết thời gian học, hết thời gian thiền quán, có khi cứ cầm chổi quét nhà mãi, sáng quét, trưa quét, chiều quét cho sạch nhà nhưng trong tâm lại dơ cho nên làm gì cũng phải xem lại có liên hệ đến mục đích không. Mục đích thật sự của đời sống này là gì? Ăn cho ngon, mặc cho đẹp, ngủ cho sướng, đi chơi cho đã phải không? Mục đích của đời sống này là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, hướng thượng, tăng thượng, thành tựu những pháp cao thượng, Thánh pháp, Thánh hạnh, mình tác ý như vậy để từ bỏ bớt những ham muốn bình thường của thế tục để hướng đến sự cao thượng, thượng nhân pháp, hướng đến những đức hạnh thanh cao, thánh hiền, mình tác ý như vậy để bỏ bớt những ham muốn thông thường, bình thường của thế gian.
Cái giận có làm cho tâm mình bị ô nhiễm không? Mình giận lên thì tâm mình còn sáng suốt không? Giận chồng, giận con, giận vợ, giận huynh đệ cùng tu, giận thầy, giận sư cô thì lúc đó tâm không còn độ trong sáng, tinh anh nữa. Mình cứ nhớ người mình giận, cứ nghĩ về đối tượng làm mình giận, mình có những cảm giác bực dọc, khó chịu thiêu đốt, nhiệt não, bứt rứt, như vậy làm cho mình bị thiêu đốt trong cảm giác, không có bình an, không trong lành, dễ chịu, ngọt ngào, bị mất đi tâm hiền thiện.
Ngồi nghe pháp mà lờ đờ, mắt nhắm lại ngủ gật, đó là hôn trầm. Cái là che đậy, triền là trói cột, năm triền cái là năm thứ che đậy, trói cột tâm. Tâm mình bị vô minh phong tỏa, khát ái trói buộc cho nên Thế Tôn nói "Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc", tức là bị triền cái, tâm mình không có sáng, không có tỏ, không có sự quang minh cho nên trí tuệ của mình bị yếu ớt, nhất là trong lúc nghe pháp, ngồi thiền, tụng kinh, trong khi ngồi để chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán sát trí tuệ thì nhiều vị hỏi làm sao để trị được hôn trầm. Quý vị đừng quan trọng tư thế trong khi tu, nếu quý vị thầy lờ đờ thì phải đứng lên đi kinh hành, nếu tiếp tục còn hôn trầm thì lạy sám hối, miễn sao đánh tan cơn buồn ngủ ra khỏi cảm giác là thành công, không nhất thiết thiền là phải ngồi mới được, không phải chỉ có thiền ngồi mà còn có thiền đi nữa, thiền lạy, thiền sám hối để đánh đuổi con ma ngủ, cảm giác trì tuệ, u mê, si ám, đánh tan, đánh vỡ, đánh nát để thoát ra thì tâm mình sẽ sáng trở lại, tỏ trở lại, chiếu trở lại.
Trong trạo cử thì có tâm trạo cử và thân trạo cử, thân lăng xăng, lóc chóc, động loạn, ngồi không yên, đứng không yên, đi cũng vội vội vàng vàng, gấp rút, có chuyện gì một chút là hớt ha hớt hải, không có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, trầm mặc. Một người thân dao động như vậy thì tâm không yên, thân tâm đều dao động thì trí tuệ không tỏa sáng, giống như một hồ nước bị khuấy động thì cặn, sình bùn làm đục nước, phải để cho mặt hồ lắng đọng thì nước mới trong được. Trước giảng đường Linh Quy Pháp Ấn có một hồ nước sâu chỉ 5 tấc thôi nhưng những lúc nước trong phản chiếu thì nhìn vào giống như sâu ngàn trượng, do vì nước trong, vắng lặng nên mới phản chiếu được cả trời mây, trăng sao. Tâm thức mình cũng vậy, lúc đầu mình tập từ những cái thô, sau đó đi đến những cái tế, đầu tiên mình tập những cái có hình tướng, sau đó tập những cái nhỏ nhiệm, tiếp theo là tập đến những cái không hình không tướng của thọ; tưởng; hành; thức trong tâm vì vậy thu nhiếp sáu căn an tịnh, lắng dịu là rất quan trọng. Người có trí tuệ thường là người rất trầm tĩnh, rất điềm tĩnh.
"Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết-Bàn"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 372)
Nói đơn giản là không có sự trầm tĩnh thì không có sâu sắc, không có sâu sắc thì không có trầm tĩnh nhưng nếu vừa trầm tĩnh vừa sâu sắc thì người đó sẽ có trí tuệ sáng tỏ để bứng gốc được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã vì thế sự trầm tĩnh trong tu học rất quan trọng. Thế Tôn là bậc an tịnh, thuyết pháp để dẫn dắt tất cả chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh, vậy mà bây giờ mình là con Phật mà lại không an tịnh, có chuyện gì một chút là mình lăng xăng, tất bật, rối rắm, lúc nào cũng hấp tấp, vội vàng, đó chính là trạo cử, thân trạo cử, tâm trạo cử.
Cuối cùng là hoài nghi, khi mình không đầy đủ đa văn, không nắm vững được cốt lõi của pháp thì tâm mình sẽ có nghi ngờ, hoài nghi. Khi nghi ngờ không thấy rõ được ngũ uẩn, không thấy rõ được tham, sân, si, dục ái, lậu hoặc thì đương nhiên mình nghi, khi đã nghi thì tâm không chuyên nhất được, không nỗ lực, không tinh tấn, nó thành trở ngại trong sự tu tập của mình. Như vậy Đức Phật có độ được cả thế giới không thì không quan trọng, ngài không trả lời câu hỏi đó cho nên chỗ này cần chiêm nghiệm, chúng ta nhiều khi chưa tu học được bao nhiêu, từ cư sĩ cho đến xuất gia thế mà mình cứ nói là độ đời, độ chúng sanh.
Chỗ này cần đính chính lại, các vị cao Tăng tổ xưa ngày xưa có ví dụ Phật vàng không độ được lửa vì nung nóng thì vàng chảy ra, Phật đất không độ được nước thì đất thấm nước sẽ rã ra cho nên bây giờ tu theo tinh thần Nikāya thì Đức Phật không dạy mình độ chúng sanh mà dạy mình tu cho cái thân tâm mình được trong sạch, thanh tịnh, diệt tham, sân, si. Khi mình đã có được bình an, có được hạnh phúc thì những người tiếp xúc với mình, những người mong muốn được như mình thì mình sẽ chia sẻ, hướng dẫn cách cho họ giống mình, đó là tự giác giác tha, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha.
Nhiều khi mình ăn to nói lớn lắm, "chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" nghe khủng khiếp lắm nhưng thật sự xét cho sâu sắc thì không phải vậy, không phải tu là độ hết chúng sanh vì ngay cả Đức Phật còn chưa độ hết chúng sanh, nếu độ hết thì mình đâu còn ngồi đây, đây là điều chúng ta cần hiểu rõ. Nghĩa là điều quan trọng là Đức Phật chỉ cho mình thanh lọc tâm cấu nhiễm để đạt được tâm thanh tịnh, muốn như vậy thì phải nhận diện được ngũ uẩn, nhiếp phục được tham, sân, si, đoạn tận được năm triền cái, an trú vào bốn niệm xứ và tu tập bảy giác chi thì sự tu học của mình rất quan trọng chứ không phải vừa vào đã muốn độ chúng sanh.
Cho nên vấn đề ở đây là phải tự tu cho chính mình vì đây là điều rất quan trọng, ngay cả cư sĩ học chưa được bao nhiêu, mới biết chút đỉnh thì bắt đầu muốn làm sư phụ, nói qua nói lại thì bản ngã dâng lên xảy ra sân si, phiền não vì thế trong tinh thần kinh Nikāya dạy thì quay trở về chính mình để tu tập, cái quan trọng nhất là nhìn nhận được tham, sân, si của mình rồi nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó, đó là lộ trình của Thánh đạo, là cốt lõi nhất trong sự hành trì. Khi mình đã làm được thì tùy theo mức độ làm được của mình với những người có duyên với mình thì mình sẽ chia sẻ, giúp đỡ cho họ, cần nhớ kĩ chỗ này để tu.
IV. Nước không rửa được ác nghiệp
"Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?
-- Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?
-- Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.
Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja:
Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.
Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.
Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,
Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?" (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Chúng ta thấy sông Hằng trong những buổi lễ hoặc ngay cả trong mùa Covid thì người ta cũng chen chúc nhau xuống để tắm dù cho chết rất nhiều người, đây là cái chung của nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng, nào là mặt trời, nào là dòng sông, những cái khổ hạnh hướng ra bên ngoài, ở đây nói về việc tắm sông có thể rửa sạch ác nghiệp, Đức Phật nói rằng "Kẻ ngu dầu thường tắm, Ác nghiệp không rửa sạch" và "Không thể rửa nghiệp đen, Của kẻ ác gây tội". Ý nghĩ, lời nói và hành động của mình tạo ra thiện và bất thiện, tạo ra nghiệp đen và nghiệp trắng, tạo ra tội và phước, tạo ra quả ngọt và trái đắng. Mình muốn thay đổi cái đen thành cái trắng, muốn cái đắng thành cái ngọt, muốn cái bất thiện thành cái thiện thì phải thay đổi từ trong nhận thức, suy nghĩ, lời nói, hành động chứ không thể đi vào một dòng nước nào tắm để hết những cái đó được.
Nếu mình hay giận, mình hay sân thì cầu ai giúp cho mình hết giận? Mình lấy nước nào tưới để mình hết giận? Nhiều người chỉ cách vui là khi giận lên thì đi uống ly nước lạnh vào để hết giận nhưng thật sự có hết giận không? Chạy vô tắm có hết giận không? Nếu hết giận thì Đức Thế Tôn và các bậc hiền Thánh đâu cần phải quán từ bi, đâu cần trải tâm từ làm gì cho nên cái nghiệp ác, nghiệp bất thiện, nghiệp cấu nhiễm là từ lời nói, ý nghĩ, hành động của mình. Bây giờ mình muốn thay đổi nó thì cũng phải bắt đầu từ trong ý nghĩ, lời nói, hành động chứ không thể nào nhờ một dòng sông bên ngoài hay nhờ một người nào đó dùng phép thuật để làm cho mình hết sân si, tức giận. Người sống thanh tịnh thì ngày nào cũng là ngày tốt, người sống trong sạch thì ngày nào cũng là ngày lành.
"Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,"
Tắm ở chỗ đời sống trong sạch, tắm ở chỗ đời sống thanh tịnh, tắm ở chỗ ý nghĩ thiện lành, lời nói thiện lành, hành động thiện lành. Người sống thanh tịnh thì ngày nào cũng là ngày tốt, ngày nào cũng là ngày lành, như vậy mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành thì có cần đi xem ngày không? Con thưa tất cả chư tôn đức và các vị hiền trí, con ở Linh Quy Pháp Ấn không có xem ngày nào cả, từ lúc dựng lập đến nay là 18 năm không xem ngày gì cả, bất cứ chỗ nào đi đến là chỗ đó trùng tiên pháp bảo, Thánh pháp, ngày nào cũng tụng kinh, ngày nào cũng ngồi thiền, ngày nào cũng thuyết giảng pháp thì ngày nào cũng là ngày thiện lành. Dù cho xem ngày tốt nhất trong tất cả các ngày trong năm nhưng hôm đó đi gây lộn thì hôm đó cũng là ngày bất tường, bất thiện, ngày chẳng lành, không phải là ngày cát tường.
"Các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi sáng tốt đẹp. Các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi trưa tốt đẹp. Các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.
Vầng sao lành, điều lành
Rạng đông lành, dậy lành
Sát-na lành, thời lành
Cúng dường bậc Phạm hạnh
Thân nghiệp chánh, lời chánh
Ý nghiệp chánh, nguyện chánh
Làm các điều chơn chánh
Thì được lợi an lạc
Lớn mạnh trong Phật giáo
Hãy không bệnh an lạc
Cùng tất cả bà con" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XV. Phẩm Cát Tường, Buổi Sáng Tốt Ðẹp)
Nguyện ngày an lành, đêm an lành.
Đêm ngày sáu thời thường an lành.
Tất cả các thời đều an lành.
Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ.
Bốn câu này được diễn từ bài kinh buổi sáng tốt đẹp, an lành. Mình phải nắm vững được tinh thần nhân quả, mình phải tin nhân quả, khi mình học, mình nói như vậy nhưng sống lại không tin, vẫn chạy đi xem cái này xem cái nọ. Vào ngày khai trương mình hãy làm từ thiện, để một ít quà cho người nghèo khổ hoặc mình đem cho những người nghèo khổ dưới gầm cầu, ngoài công viên hoặc cho người già bán vé số, đó là công đức phước báo. Nếu mình không nói dối, không hại chúng sanh, không trộm cắp, không tham lam, mình có lòng tin thì cần gì phải chạy đi đâu để tìm sông nào để tắm cho hết tội?
V. Vì sao không thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp
"- Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, dầu có nghe diệu pháp, không có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế nào là sáu?
Thành tựu nghiệp chướng, thành tựu phiền não chướng, thành tựu dị thục chướng, không có lòng tin, không có ước muốn, và ác tuệ.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, dầu có nghe pháp, không có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp.
Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, nếu có nghe diệu pháp, có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế nào là sáu?
Không thành tựu nghiệp chướng, không thành tựu phiền não chướng, không thành tựu dị thục chướng, có lòng tin, có ước muốn, và có trí tuệ.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, nếu có nghe diệu pháp, có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IX. Phẩm Mát Lạnh, (II). Chướng Ngại)
Quyết định tánh trong các thiện tánh nói đơn giản là thuần túy điều lành, nói sâu sắc là Nhập Lưu, Thánh quả thứ nhất, đó là thành tựu nghiệp chướng, thành tựu phiền não chướng, thành tựu dị thục chướng, không có lòng tin, không có ước muốn và ác tuệ. Nghiệp chướng là có những thói quen xấu ác không bỏ được, ví dụ như nghiện xì ke ma túy, nghiện cờ bạc, rượu chè, không bỏ được, đó là những cái thô, dễ thấy bên ngoài, nặng về tham dục, tà dâm, hoặc nặng về sát sanh, nghiệp chướng trong sát sanh hoặc có những tội lớn như ngũ nghịch đại tội như giết cha giết mẹ, phá hòa hợp Tăng… Những cái đó là nghiệp chướng.
"- Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, dầu có nghe diệu pháp, cũng không có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế nào là sáu?
Ðoạn mạng sống của mẹ; đoạn mạng sống của cha; đoạn mạng sống của A-la-hán; với ác tâm làm Như Lai chảy máu; phá hòa hiệp Tăng; ác tuệ, si mê, câm ngọng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IX. Phẩm Mát Lạnh, (III). Nghiệp Chướng)
Phiền não chướng nghĩa là người này rất dễ giận, dễ buồn, dễ hơn thua, ai nói chút xíu là đùng đùng nổi giận lên, rất dễ bực dọc, phiền não, sân hận, một chuyện nhỏ thôi cũng làm cho to lớn lên, làm dữ dội lên, thấy gì cũng bực, thấy gì cũng tức. Dị thục chướng là nghiệp trong quá khứ đến thời điểm biến đổi và chín muồi, dị là biến dị, thục là chín muồi, ví dụ người này đúng ra gặp được chánh pháp nhưng mới gặp chánh pháp lại bị bệnh hoặc bị tai nạn không còn nghe pháp, không đi chùa được nữa, quả dị thục của nghiệp chín muồi. Không có lòng tin là không tin Phật, không tin pháp, không tin Tăng, không tin giới thì làm sao thành tựu được thiện pháp quyết định tánh?
Nghe thì nghe chứ không có tin, không tin giữ giới sẽ được bình an, sẽ được hạnh phúc, sẽ được an lành, những người như vậy sẽ không thành tựu quyết định tánh trong các thiện pháp. Thứ năm là không có ước muốn tu, không có ước muốn chấm dứt tham, sân, si và cuối cùng là ác tuệ, nghĩa là trí tuệ theo chiều hướng xấu ác hay còn gọi là sở tri chướng, là cái thông minh của thế gian, "thế trí biện thông" là sự thấy biết sắc bén, khéo léo nhưng theo kiểu thế gian tham, sân, si, bản ngã, không phải là Thánh tuệ, hiền tuệ, đại tuệ, hiền trí mà là ác tuệ.
Biết rất nhiều thứ nhưng biết rồi lại lên mặt dạy đời, ta đây, vỗ ngực xưng tên, khoe khoang, hống hách, kiêu ngạo, tự phụ, lúc nào cũng hơn thua, lúc nào cũng tranh giành, thị phi, nhân ngã bỉ thử thì đó là ác tuệ. Trong cuộc sống bình thường con thấy những người có những cái này rất rõ, nhiều khi quen biết mấy chục năm mà con thấy là không tu được, chỉ làm phước được thôi vì tâm họ nghiêng về sự thấy biết, học rất giỏi, rất cao, thành đạt rất nhiều nhưng khi nói ra chỉ toàn nói xấu người khác, lúc nào họ cũng cho mình là số 1, lúc nào cũng ta đây, bản ngã nên không tu được. Nếu có đủ 6 cái này thì dù có được nghe diệu pháp cũng không thể bước vào quyết định tánh trong thiện pháp, quyết định tánh là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất cho đến Thánh quả thứ hai, thứ ba, thứ tư.
Như vậy hôm nay chúng ta học về vấn đề Đức Phật có độ được hết chúng sanh trong thế giới không, có dùng nước rửa được hết ác nghiệp được không, tại sao mình không thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp, không thể tu hành để đạt đến sự thành tựu thâm sâu trọn vẹn.
./.
Nghiệp & Quả Báo 25
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thế Tôn đáp du sĩ ngoại đạo PAGEREF _Toc158992566 \h 1
II. Ngài Ananda đáp PAGEREF _Toc158992567 \h 3
III. Năm triền cái PAGEREF _Toc158992568 \h 5
IV. Nước không rửa được ác nghiệp PAGEREF _Toc158992569 \h 10
V. Vì sao không thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp PAGEREF _Toc158992570 \h 14
I. Thế Tôn đáp du sĩ ngoại đạo
Kính bạch chư tôn thiền đức và các vị hiền trí nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh Uttiya, nội dung bài kinh này nói rằng có thể độ được hết thế giới này không, Thế Tôn thuyết pháp để làm gì, những người ngoại đạo chất vấn Đức Phật, ngài nói rằng ngài thuyết pháp để chỉ dẫn con đường diệt khổ cho chúng sanh và có được bao nhiêu người được giải thoát, đó là nội dung bài kinh hôm nay.
"Bấy giờ có du sĩ ngoại đạo Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Uttiya nói với Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Tôn giả chủ trương thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
- Này Uttiya. Ta không có nói như sau: 'Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng'". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Vị du sĩ này hỏi Đức Phật có phải ngài chủ trương thế giới này là vô thường không, chỉ có cái này mới đúng thôi, ngoài ra tất cả đều sai hết, tuy nhiên Đức Phật nói rằng ngài không có nói như vậy.
"Này Tôn giả Gotama, có phải thế giới là có biên tế...thế giới là không biên tế... sinh mạng và thân thể là một... sinh mạng và thân thể là khác... Như Lai có tồn tại sau chết... Như Lai không có tồn tại sau khi chết... Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
- Này Uttiya, Ta không có nói như sau: 'Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng'.
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: 'Này Uttiya, Ta không có nói: 'Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.'
- Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường? ... có phải thế giới là có biên tế? ... có phải thế giới không có biên tế? ... có phải sinh mạng và thân thể là một? ... có phải sinh mạng và thân thể là khác? ... có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết? ... có phải Như Lai không có tồn tại sau khi chết? ... có phải Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau chết? ... có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: 'Này Uttiya, Ta không có nói: 'Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng'" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, Chương Uttiya)
Biên tế là bờ mé, vị du dĩ này đưa ra rất nhiều câu hỏi, có phải thế giới này không có bờ mé không, sinh mạng và thân thể này là một hay sinh và thân thể này là khác, nói dễ hiểu là thể xác và linh hồn là một hay khác, sau khi Như Lai mất thì ngài có tồn tại hay không tồn tại… Vị này đưa ra rất nhiều câu hỏi trừu tượng về thế giới, về sinh mạng, sau khi Đức Phật diệt độ, qua đời thì thế nào, ông nêu ra nhiều vấn đề trong phạm trù triết học cao xa. Tuy nhiên Đức Phật nói rằng ngài không có nói như vậy.
"- Vậy cái gì được Tôn giả Gotama nói lên?
- Với thắng trí, này Uttiya, Ta thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được chấm dứt, để Thánh lý được chứng đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Du dĩ là một người tu rày đây mai đó và người tu trong bài kinh này không phải là đạo Phật mà là đạo Ấn Độ, vị này nêu ra nhiều vấn đề rất xa, Đức Thế Tôn không trả lời những câu hỏi đó mà ngài nói rằng ngài cũng không đề cập đến những vấn đề đó, sau đó ông du sĩ hỏi lại thế thì Thế Tôn nói cái gì. Thế Tôn trả lời với một trí tuệ thù thắng, với một trí tuệ cao thượng, với một trí tuệ của bậc Thánh thì ngài thuyết pháp cho các đệ tử để họ được một cái tâm thanh tịnh, trong sạch. Khi có tâm trong sạch đó thì họ mới vượt qua được cái buồn đau, chấm dứt được khổ sầu, mới đạt được chân lý, mới có thể đi đến chỗ dập tắt hết tất cả tham, sân, si, vô minh, dục ái, bản ngã, gọi là Niết-bàn được chứng ngộ.
Như vậy mục đích thuyết pháp của Đức Phật là để thanh lọc tâm cấu nhiễm của chúng sanh, tẩy rửa tâm nhơ nhớp của chúng sanh, làm cho thân và tâm của tất cả chúng ta được trong sạch, được thanh tịnh. Có cái thân và cái tâm trong sạch, thanh tịnh như vậy thì chúng ta mới vượt qua được buồn đau, mới chấm dứt được khổ sầu, muốn đạt được điều đó thì phải thấu hiểu được sự thật và chứng ngộ được nội tâm dập tắt hoàn toàn tham, sân, si, đó là sự trả lời của Đức Phật.
"- Nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh... để Niết-bàn được chứng ngộ', thời do vậy, cả thế giới này sẽ đi ra khỏi, hay chỉ có một nửa, hay chỉ có một phần ba? Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Ông du sĩ này nói rằng nếu Thế Tôn thuyết pháp cho các đệ tử ngài có nội tâm thanh tịnh, vượt qua buồn đau, chấm dứt khổ sầu, ngộ được chân lý và đạt được Niết-bàn thì cả thế giới này đều được ngài độ hết, hay chỉ một nửa thế giới, hay chỉ một phần ba thế giới được độ. Nghe hỏi như vậy thì Đức Thế Tôn im lặng.
II. Ngài Ananda đáp
"Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ như sau: 'Chớ có để cho du sĩ Uttiya có ác tà kiến rằng: 'Sa-môn Gotama khi được nghe ta hỏi câu hỏi tối ư quan trọng lại tránh né, không có trả lời, không dám trả lời, và như vậy là bất hạnh, là đau khổ lâu dài cho du sĩ Uttiya" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Ngài A-nan thấy Đức Thế Tôn im lặng thì ngài nghĩ giùm cho ông du sĩ này rằng có thể ông sẽ nghĩ sai về Đức Phật rằng Thế Tôn tránh né câu hỏi, không trả lời, không dám trả lời, nếu suy nghĩ như vậy thì du dĩ này sẽ gặp bất hạnh lâu dài cho nên ngài A-nan mới nói với du sĩ:
"Rồi Tôn giả Ananda nói với du sĩ Uttiya:
Vậy này Hiền giả Uttiya, Ta sẽ dùng một ví dụ, chính nhờ ví dụ, ở đây một số người có trí có thể hiểu được ý nghĩa của lời nói" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Ở đây chúng ta thấy được rằng không phải hỏi cái gì Đức Thế Tôn cũng trả lời, Thế Tôn ngồi im lặng không trả lời thì lúc đó ngài A-nan sợ ngài du dĩ có suy nghĩ sai lầm, sợ vị này mắc tội, bị đau khổ lâu dài nên ngài A-nan tiếp lời.
"Ví như, này Hiền giả Uttiya, ngôi thành trì biên địa của vua với những nền móng vững chắc, với các thành lũy tháp canh vững chắc, và chỉ có một cửa vào. Tại đây, người giữ cửa là người sáng suốt, thông minh, có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy, người ấy có thể không thấy một kẽ hở trong thành hay lỗ trống thành lớn cho đến một con mèo có thể chui qua. Người ấy có thể không biết được: 'Từng ấy loài hữu tình đã đi vào hay đi ra thành này, nhưng điều này cho biết: "Những loài hữu tình thô lớn nào đi vào hay đi ra thành này', tất cả chúng phải đi vào hay đi ra ngang qua cửa thành này" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Một bờ thành ở biên cương có nền móng vững chắc, thành lũy kiên cố, không có kẻ hở, có tháp canh cẩn mật, kĩ lưỡng cho nên có người đi ra đi vào đều biết.
"Cũng vậy, này Hiền giả Uttiya, đối với Như Lai, không phải là một vấn đề quan trọng (câu hỏi này của Thầy) là có phải toàn thế giới do vậy được thoát ra khỏi hay nửa phần thế giới, hay là một phần ba? Những điều Như Lai nói là như sau: 'Những ai đã được thoát ra khỏi thế giới, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra, tất cả những vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ; sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới. Này Hiền giả Uttiya, về câu hỏi mà Thầy đã hỏi Thế Tôn đứng trên một lập trường khác. Ðó là lý do tại sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy cho Thầy" (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, X. Phẩm Nam Cư Sĩ, V. Uttiya)
Vị du sĩ này muốn hỏi Thế Tôn có độ được hết thế giới không, ngài có một con đường, có một đạo lộ, có một phương pháp thần diệu Thánh trí tuệ như vậy thì có độ được hết thế giới không, hay độ được phân nửa, hay là độ được một phần ba. Với một cái tâm cật vấn, vấn nạn như vậy thì Đức Thế Tôn không trả lời, chỗ quan trọng là khi ngài A-nan đưa ra ví dụ rằng tất cả mọi người đều phải đi qua một cửa thành duy nhất, cũng vậy, đối với Như Lai thì vấn đề quan trọng không phải chỗ cả thế giới có thoát ra không, hay nửa thế giới, hay một phần ba có thoát ra không, vấn đề quan trọng là những ai thoát ra khỏi thế giới này, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra thì tất cả những vị ấy đầu tiên phải đoạn tận năm triền cái, đây là pháp của chư Phật, là định lý, đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, kế đó phải kéo an trú trên Bốn Niệm Xứ, sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới.
III. Năm triền cái
Đầu tiên là đoạn tận năm triền cái: dục tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo hối tức là thân tâm lăng xăng, dao động, trong tâm ray rứt những lỗi lầm, tâm bất an và cuối cùng là tâm hoài nghi. Muốn tu thì đầu tiên phải đoạn tận được năm triền cái, ở đây chúng ta tập trung vào năm triền cái này nhiều hơn, thước đo trong sự tu hành của mình là nhìn vào năm cái này có giảm bớt hay không thì biết mình tu có tiến hay không.
Cái ham muốn của mình có bớt không hay là tăng thêm, trong tham thì có tham ăn, tham ngủ, tham chơi, tham nói, ham vui… Trong cái ăn của mình có nhiều phiền não không? Nếu mình quá chú trọng, quá đặt nặng cái ăn, để tâm quá nhiều về ăn uống thì không còn thời gian ngồi thiền, không còn thời gian nghe pháp, chưa kể một ngày mình đi làm 8 tiếng, về phải nấu ba bữa cơm thịnh soạn, món này món kia thì hết giờ. Đó là tham ăn, rồi tham ngủ, đến giờ tu tự nhiên thấy mệt mỏi, muốn bệnh, đến giờ học thì bận công việc hoặc là chưa ăn "để ăn đã rồi nghe lại sau", lời nói lầm thầm này là hành uẩn, nó thì thầm dụ dỗ mình, làm cho mình biếng nhác, giải đãi. Đến giờ học, đến giờ tu, đến giờ thọ bát quan trai hoặc là đến giờ tụng kinh hoặc là đến khóa tu, có những công tác làm từ thiện này nọ thì mình phải siêng năng, phải nỗ lực, phải cố gắng, phải đánh gục được sự giải đãi, lười biếng.
Nếu ngày đó có khóa tu mà ham vui, ham chơi thì có thể bỏ tu để đi theo cái vui chơi kia, ham ăn, ham chơi, ham ngủ, ham nói… Biết bao phiền não trong người, nghe thì đơn giản nhưng tu thì không đơn giản, mình nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với những cái này là cả một sự cố gắng, nỗ lực của mình. Bây giờ ham ăn cũng thành cái nghiệp, ham ngủ cũng thành nghiệp, ham đi chơi, ham nói nhiều, vui chơi thì buông lung phóng dật, không hộ trì căn, không an trú cảm giác toàn thân, không tu tập cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, bỏ mất thiền định, tịnh tâm, như vậy thì tham sắc, tham tài, tham dục, tham ăn, tham chơi, tham vui… sẽ làm tâm bị ô nhiễm và làm yếu ớt trí tuệ, độ trong sáng của tâm không còn minh mẫn tròn trịa nữa, những cái tham đó giống như đám mây đen che mờ. Thế Tôn nói năm pháp này làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, làm tác thành không mắt, tác thành si ám, tác thành mù lòa.
"-- Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Thế nào là năm? Dục tham triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Sân triền cái... Hôn trầm thụy miên triền cái... Trạo hối triền cái... Nghi hoặc triền cái, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn. Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), IV. Phẩm Triền Cái, X. Triền Cái)
Những cái tham đó cũng làm mình mệt rồi, ngoài ra còn những cái tham vi tế hơn là tham đẹp, tạo cảnh, trồng bông hoa, cây kiểng, bonsai, chiếm hết thời gian học, hết thời gian thiền quán, có khi cứ cầm chổi quét nhà mãi, sáng quét, trưa quét, chiều quét cho sạch nhà nhưng trong tâm lại dơ cho nên làm gì cũng phải xem lại có liên hệ đến mục đích không. Mục đích thật sự của đời sống này là gì? Ăn cho ngon, mặc cho đẹp, ngủ cho sướng, đi chơi cho đã phải không? Mục đích của đời sống này là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, hướng thượng, tăng thượng, thành tựu những pháp cao thượng, Thánh pháp, Thánh hạnh, mình tác ý như vậy để từ bỏ bớt những ham muốn bình thường của thế tục để hướng đến sự cao thượng, thượng nhân pháp, hướng đến những đức hạnh thanh cao, thánh hiền, mình tác ý như vậy để bỏ bớt những ham muốn thông thường, bình thường của thế gian.
Cái giận có làm cho tâm mình bị ô nhiễm không? Mình giận lên thì tâm mình còn sáng suốt không? Giận chồng, giận con, giận vợ, giận huynh đệ cùng tu, giận thầy, giận sư cô thì lúc đó tâm không còn độ trong sáng, tinh anh nữa. Mình cứ nhớ người mình giận, cứ nghĩ về đối tượng làm mình giận, mình có những cảm giác bực dọc, khó chịu thiêu đốt, nhiệt não, bứt rứt, như vậy làm cho mình bị thiêu đốt trong cảm giác, không có bình an, không trong lành, dễ chịu, ngọt ngào, bị mất đi tâm hiền thiện.
Ngồi nghe pháp mà lờ đờ, mắt nhắm lại ngủ gật, đó là hôn trầm. Cái là che đậy, triền là trói cột, năm triền cái là năm thứ che đậy, trói cột tâm. Tâm mình bị vô minh phong tỏa, khát ái trói buộc cho nên Thế Tôn nói "Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc", tức là bị triền cái, tâm mình không có sáng, không có tỏ, không có sự quang minh cho nên trí tuệ của mình bị yếu ớt, nhất là trong lúc nghe pháp, ngồi thiền, tụng kinh, trong khi ngồi để chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán sát trí tuệ thì nhiều vị hỏi làm sao để trị được hôn trầm. Quý vị đừng quan trọng tư thế trong khi tu, nếu quý vị thầy lờ đờ thì phải đứng lên đi kinh hành, nếu tiếp tục còn hôn trầm thì lạy sám hối, miễn sao đánh tan cơn buồn ngủ ra khỏi cảm giác là thành công, không nhất thiết thiền là phải ngồi mới được, không phải chỉ có thiền ngồi mà còn có thiền đi nữa, thiền lạy, thiền sám hối để đánh đuổi con ma ngủ, cảm giác trì tuệ, u mê, si ám, đánh tan, đánh vỡ, đánh nát để thoát ra thì tâm mình sẽ sáng trở lại, tỏ trở lại, chiếu trở lại.
Trong trạo cử thì có tâm trạo cử và thân trạo cử, thân lăng xăng, lóc chóc, động loạn, ngồi không yên, đứng không yên, đi cũng vội vội vàng vàng, gấp rút, có chuyện gì một chút là hớt ha hớt hải, không có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, trầm mặc. Một người thân dao động như vậy thì tâm không yên, thân tâm đều dao động thì trí tuệ không tỏa sáng, giống như một hồ nước bị khuấy động thì cặn, sình bùn làm đục nước, phải để cho mặt hồ lắng đọng thì nước mới trong được. Trước giảng đường Linh Quy Pháp Ấn có một hồ nước sâu chỉ 5 tấc thôi nhưng những lúc nước trong phản chiếu thì nhìn vào giống như sâu ngàn trượng, do vì nước trong, vắng lặng nên mới phản chiếu được cả trời mây, trăng sao. Tâm thức mình cũng vậy, lúc đầu mình tập từ những cái thô, sau đó đi đến những cái tế, đầu tiên mình tập những cái có hình tướng, sau đó tập những cái nhỏ nhiệm, tiếp theo là tập đến những cái không hình không tướng của thọ; tưởng; hành; thức trong tâm vì vậy thu nhiếp sáu căn an tịnh, lắng dịu là rất quan trọng. Người có trí tuệ thường là người rất trầm tĩnh, rất điềm tĩnh.
"Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết-Bàn"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 372)
Nói đơn giản là không có sự trầm tĩnh thì không có sâu sắc, không có sâu sắc thì không có trầm tĩnh nhưng nếu vừa trầm tĩnh vừa sâu sắc thì người đó sẽ có trí tuệ sáng tỏ để bứng gốc được tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã vì thế sự trầm tĩnh trong tu học rất quan trọng. Thế Tôn là bậc an tịnh, thuyết pháp để dẫn dắt tất cả chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh, vậy mà bây giờ mình là con Phật mà lại không an tịnh, có chuyện gì một chút là mình lăng xăng, tất bật, rối rắm, lúc nào cũng hấp tấp, vội vàng, đó chính là trạo cử, thân trạo cử, tâm trạo cử.
Cuối cùng là hoài nghi, khi mình không đầy đủ đa văn, không nắm vững được cốt lõi của pháp thì tâm mình sẽ có nghi ngờ, hoài nghi. Khi nghi ngờ không thấy rõ được ngũ uẩn, không thấy rõ được tham, sân, si, dục ái, lậu hoặc thì đương nhiên mình nghi, khi đã nghi thì tâm không chuyên nhất được, không nỗ lực, không tinh tấn, nó thành trở ngại trong sự tu tập của mình. Như vậy Đức Phật có độ được cả thế giới không thì không quan trọng, ngài không trả lời câu hỏi đó cho nên chỗ này cần chiêm nghiệm, chúng ta nhiều khi chưa tu học được bao nhiêu, từ cư sĩ cho đến xuất gia thế mà mình cứ nói là độ đời, độ chúng sanh.
Chỗ này cần đính chính lại, các vị cao Tăng tổ xưa ngày xưa có ví dụ Phật vàng không độ được lửa vì nung nóng thì vàng chảy ra, Phật đất không độ được nước thì đất thấm nước sẽ rã ra cho nên bây giờ tu theo tinh thần Nikāya thì Đức Phật không dạy mình độ chúng sanh mà dạy mình tu cho cái thân tâm mình được trong sạch, thanh tịnh, diệt tham, sân, si. Khi mình đã có được bình an, có được hạnh phúc thì những người tiếp xúc với mình, những người mong muốn được như mình thì mình sẽ chia sẻ, hướng dẫn cách cho họ giống mình, đó là tự giác giác tha, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha.
Nhiều khi mình ăn to nói lớn lắm, "chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" nghe khủng khiếp lắm nhưng thật sự xét cho sâu sắc thì không phải vậy, không phải tu là độ hết chúng sanh vì ngay cả Đức Phật còn chưa độ hết chúng sanh, nếu độ hết thì mình đâu còn ngồi đây, đây là điều chúng ta cần hiểu rõ. Nghĩa là điều quan trọng là Đức Phật chỉ cho mình thanh lọc tâm cấu nhiễm để đạt được tâm thanh tịnh, muốn như vậy thì phải nhận diện được ngũ uẩn, nhiếp phục được tham, sân, si, đoạn tận được năm triền cái, an trú vào bốn niệm xứ và tu tập bảy giác chi thì sự tu học của mình rất quan trọng chứ không phải vừa vào đã muốn độ chúng sanh.
Cho nên vấn đề ở đây là phải tự tu cho chính mình vì đây là điều rất quan trọng, ngay cả cư sĩ học chưa được bao nhiêu, mới biết chút đỉnh thì bắt đầu muốn làm sư phụ, nói qua nói lại thì bản ngã dâng lên xảy ra sân si, phiền não vì thế trong tinh thần kinh Nikāya dạy thì quay trở về chính mình để tu tập, cái quan trọng nhất là nhìn nhận được tham, sân, si của mình rồi nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó, đó là lộ trình của Thánh đạo, là cốt lõi nhất trong sự hành trì. Khi mình đã làm được thì tùy theo mức độ làm được của mình với những người có duyên với mình thì mình sẽ chia sẻ, giúp đỡ cho họ, cần nhớ kĩ chỗ này để tu.
IV. Nước không rửa được ác nghiệp
"Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?
-- Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?
-- Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.
Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja:
Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.
Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.
Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,
Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?" (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Chúng ta thấy sông Hằng trong những buổi lễ hoặc ngay cả trong mùa Covid thì người ta cũng chen chúc nhau xuống để tắm dù cho chết rất nhiều người, đây là cái chung của nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng, nào là mặt trời, nào là dòng sông, những cái khổ hạnh hướng ra bên ngoài, ở đây nói về việc tắm sông có thể rửa sạch ác nghiệp, Đức Phật nói rằng "Kẻ ngu dầu thường tắm, Ác nghiệp không rửa sạch" và "Không thể rửa nghiệp đen, Của kẻ ác gây tội". Ý nghĩ, lời nói và hành động của mình tạo ra thiện và bất thiện, tạo ra nghiệp đen và nghiệp trắng, tạo ra tội và phước, tạo ra quả ngọt và trái đắng. Mình muốn thay đổi cái đen thành cái trắng, muốn cái đắng thành cái ngọt, muốn cái bất thiện thành cái thiện thì phải thay đổi từ trong nhận thức, suy nghĩ, lời nói, hành động chứ không thể đi vào một dòng nước nào tắm để hết những cái đó được.
Nếu mình hay giận, mình hay sân thì cầu ai giúp cho mình hết giận? Mình lấy nước nào tưới để mình hết giận? Nhiều người chỉ cách vui là khi giận lên thì đi uống ly nước lạnh vào để hết giận nhưng thật sự có hết giận không? Chạy vô tắm có hết giận không? Nếu hết giận thì Đức Thế Tôn và các bậc hiền Thánh đâu cần phải quán từ bi, đâu cần trải tâm từ làm gì cho nên cái nghiệp ác, nghiệp bất thiện, nghiệp cấu nhiễm là từ lời nói, ý nghĩ, hành động của mình. Bây giờ mình muốn thay đổi nó thì cũng phải bắt đầu từ trong ý nghĩ, lời nói, hành động chứ không thể nào nhờ một dòng sông bên ngoài hay nhờ một người nào đó dùng phép thuật để làm cho mình hết sân si, tức giận. Người sống thanh tịnh thì ngày nào cũng là ngày tốt, người sống trong sạch thì ngày nào cũng là ngày lành.
"Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,"
Tắm ở chỗ đời sống trong sạch, tắm ở chỗ đời sống thanh tịnh, tắm ở chỗ ý nghĩ thiện lành, lời nói thiện lành, hành động thiện lành. Người sống thanh tịnh thì ngày nào cũng là ngày tốt, ngày nào cũng là ngày lành, như vậy mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành thì có cần đi xem ngày không? Con thưa tất cả chư tôn đức và các vị hiền trí, con ở Linh Quy Pháp Ấn không có xem ngày nào cả, từ lúc dựng lập đến nay là 18 năm không xem ngày gì cả, bất cứ chỗ nào đi đến là chỗ đó trùng tiên pháp bảo, Thánh pháp, ngày nào cũng tụng kinh, ngày nào cũng ngồi thiền, ngày nào cũng thuyết giảng pháp thì ngày nào cũng là ngày thiện lành. Dù cho xem ngày tốt nhất trong tất cả các ngày trong năm nhưng hôm đó đi gây lộn thì hôm đó cũng là ngày bất tường, bất thiện, ngày chẳng lành, không phải là ngày cát tường.
"Các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi sáng tốt đẹp. Các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi trưa tốt đẹp. Các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ-kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.
Vầng sao lành, điều lành
Rạng đông lành, dậy lành
Sát-na lành, thời lành
Cúng dường bậc Phạm hạnh
Thân nghiệp chánh, lời chánh
Ý nghiệp chánh, nguyện chánh
Làm các điều chơn chánh
Thì được lợi an lạc
Lớn mạnh trong Phật giáo
Hãy không bệnh an lạc
Cùng tất cả bà con" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XV. Phẩm Cát Tường, Buổi Sáng Tốt Ðẹp)
Nguyện ngày an lành, đêm an lành.
Đêm ngày sáu thời thường an lành.
Tất cả các thời đều an lành.
Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ.
Bốn câu này được diễn từ bài kinh buổi sáng tốt đẹp, an lành. Mình phải nắm vững được tinh thần nhân quả, mình phải tin nhân quả, khi mình học, mình nói như vậy nhưng sống lại không tin, vẫn chạy đi xem cái này xem cái nọ. Vào ngày khai trương mình hãy làm từ thiện, để một ít quà cho người nghèo khổ hoặc mình đem cho những người nghèo khổ dưới gầm cầu, ngoài công viên hoặc cho người già bán vé số, đó là công đức phước báo. Nếu mình không nói dối, không hại chúng sanh, không trộm cắp, không tham lam, mình có lòng tin thì cần gì phải chạy đi đâu để tìm sông nào để tắm cho hết tội?
V. Vì sao không thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp
"- Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, dầu có nghe diệu pháp, không có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế nào là sáu?
Thành tựu nghiệp chướng, thành tựu phiền não chướng, thành tựu dị thục chướng, không có lòng tin, không có ước muốn, và ác tuệ.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, dầu có nghe pháp, không có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp.
Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, nếu có nghe diệu pháp, có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế nào là sáu?
Không thành tựu nghiệp chướng, không thành tựu phiền não chướng, không thành tựu dị thục chướng, có lòng tin, có ước muốn, và có trí tuệ.
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, nếu có nghe diệu pháp, có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IX. Phẩm Mát Lạnh, (II). Chướng Ngại)
Quyết định tánh trong các thiện tánh nói đơn giản là thuần túy điều lành, nói sâu sắc là Nhập Lưu, Thánh quả thứ nhất, đó là thành tựu nghiệp chướng, thành tựu phiền não chướng, thành tựu dị thục chướng, không có lòng tin, không có ước muốn và ác tuệ. Nghiệp chướng là có những thói quen xấu ác không bỏ được, ví dụ như nghiện xì ke ma túy, nghiện cờ bạc, rượu chè, không bỏ được, đó là những cái thô, dễ thấy bên ngoài, nặng về tham dục, tà dâm, hoặc nặng về sát sanh, nghiệp chướng trong sát sanh hoặc có những tội lớn như ngũ nghịch đại tội như giết cha giết mẹ, phá hòa hợp Tăng… Những cái đó là nghiệp chướng.
"- Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, dầu có nghe diệu pháp, cũng không có thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp. Thế nào là sáu?
Ðoạn mạng sống của mẹ; đoạn mạng sống của cha; đoạn mạng sống của A-la-hán; với ác tâm làm Như Lai chảy máu; phá hòa hiệp Tăng; ác tuệ, si mê, câm ngọng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IX. Phẩm Mát Lạnh, (III). Nghiệp Chướng)
Phiền não chướng nghĩa là người này rất dễ giận, dễ buồn, dễ hơn thua, ai nói chút xíu là đùng đùng nổi giận lên, rất dễ bực dọc, phiền não, sân hận, một chuyện nhỏ thôi cũng làm cho to lớn lên, làm dữ dội lên, thấy gì cũng bực, thấy gì cũng tức. Dị thục chướng là nghiệp trong quá khứ đến thời điểm biến đổi và chín muồi, dị là biến dị, thục là chín muồi, ví dụ người này đúng ra gặp được chánh pháp nhưng mới gặp chánh pháp lại bị bệnh hoặc bị tai nạn không còn nghe pháp, không đi chùa được nữa, quả dị thục của nghiệp chín muồi. Không có lòng tin là không tin Phật, không tin pháp, không tin Tăng, không tin giới thì làm sao thành tựu được thiện pháp quyết định tánh?
Nghe thì nghe chứ không có tin, không tin giữ giới sẽ được bình an, sẽ được hạnh phúc, sẽ được an lành, những người như vậy sẽ không thành tựu quyết định tánh trong các thiện pháp. Thứ năm là không có ước muốn tu, không có ước muốn chấm dứt tham, sân, si và cuối cùng là ác tuệ, nghĩa là trí tuệ theo chiều hướng xấu ác hay còn gọi là sở tri chướng, là cái thông minh của thế gian, "thế trí biện thông" là sự thấy biết sắc bén, khéo léo nhưng theo kiểu thế gian tham, sân, si, bản ngã, không phải là Thánh tuệ, hiền tuệ, đại tuệ, hiền trí mà là ác tuệ.
Biết rất nhiều thứ nhưng biết rồi lại lên mặt dạy đời, ta đây, vỗ ngực xưng tên, khoe khoang, hống hách, kiêu ngạo, tự phụ, lúc nào cũng hơn thua, lúc nào cũng tranh giành, thị phi, nhân ngã bỉ thử thì đó là ác tuệ. Trong cuộc sống bình thường con thấy những người có những cái này rất rõ, nhiều khi quen biết mấy chục năm mà con thấy là không tu được, chỉ làm phước được thôi vì tâm họ nghiêng về sự thấy biết, học rất giỏi, rất cao, thành đạt rất nhiều nhưng khi nói ra chỉ toàn nói xấu người khác, lúc nào họ cũng cho mình là số 1, lúc nào cũng ta đây, bản ngã nên không tu được. Nếu có đủ 6 cái này thì dù có được nghe diệu pháp cũng không thể bước vào quyết định tánh trong thiện pháp, quyết định tánh là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất cho đến Thánh quả thứ hai, thứ ba, thứ tư.
Như vậy hôm nay chúng ta học về vấn đề Đức Phật có độ được hết chúng sanh trong thế giới không, có dùng nước rửa được hết ác nghiệp được không, tại sao mình không thể bước vào quyết định tánh trong các thiện pháp, không thể tu hành để đạt đến sự thành tựu thâm sâu trọn vẹn.
./.