Tâm An Không Sợ Hãi 3
TÂM AN KHÔNG SỢ HÃI 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm giải thoát PAGEREF _Toc81144161 \h 1
II. Sự giải thoát của tôn giả Adhimutta PAGEREF _Toc81144162 \h 6
I. Tâm giải thoát
Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn, các bậc Thánh chúng khai thị, trình bày, phân tích, tuyên thuyết về con đường tâm an không sợ hãi.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh là con người chị của Trưởng lão Sankicca. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của cậu ngài, và khi còn là Sa-di, đã chứng quả A-la-hán. Sống hưởng an lạc giải thoát, ngài muốn thọ Ðại giới và đi về nhà để xin phép bà mẹ. Khi ngài đi, ngài bị các kẻ cướp bắt ngài và muốn dâng ngài để tế thần. Các tên cướp tấn công ngài nhưng ngài đứng, không khuất phục. Tên tướng cướp lấy làm ngạc nhiên, tán thán ngài và nói:
705. Vì mục đích tế đàn,
Hoặc vì đích tài sản,
Những người chúng tôi giết,
Từ trước cho đến nay,
Không ai không sợ hãi,
Họ run sợ, rên xiết.
706. Nhưng ngài không khiếp sợ,
Dung sắc càng hòa duyệt,
Vì sao ngài không than,
Trong đại nạn như vậy.
Adhimutta trả lời:
707. Chủ cướp! Tâm không khổ,
Với người không kỳ vọng,
Mọi sợ hãi vượt qua,
Với người kiết sử đoạn.
708. Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
Pháp được thấy như thật,
Ðối chết, không sợ hãi,
Nhờ gánh nặng đặt xuống.
709. Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập,
Ta không có sợ chết,
Khi bệnh hoạn được diệt.
710. Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập
Hữu được thấy không ngọt,
Như bỏ độc dược uống.
711. Bờ kia đến, không thủ,
Việc làm xong, vô lậu,
Bằng lòng, thọ mạng diệt,
Như thoát lò sát sinh.
712. Pháp tánh đạt, tối thượng,
Ở đời, tuyệt sở hữu.
Như thoát ngôi nhà cháy,
Trong chết không sầu muộn.
713. Phàm có vật tụ họp,
Ðược sanh hữu chỗ nào,
Tuyệt đường mọi xuất ly,
Ðại ẩn sĩ nói vậy.
714. Ai hiểu rõ như vậy,
Như đức Phật đã thuyết,
Không còn nắm sanh hữu,
Như hòn sắt cháy đỏ.
715. Quá khứ ta không có,
Tương lai, hiện tại không,
Các hành không thực hữu,
Ở đây, than khóc gì?
716. Thanh tịnh pháp sanh khởi,
Thanh tịnh hành tiếp tục,
Bậc thấy được như thật,
Không sợ hãi, thưa ngài.
717. Với tuệ, thấy thế giới,
Giống như cỏ, thân cây,
Không có tánh ngã sở,
Không sầu muộn, không ngã.
718. Ta nhàm chán thân sắc,
Không ham có sanh hữu,
Khi thân này hoại diệt,
Sẽ không có thân khác.
719. Với thân ta, ngươi làm,
Hãy làm như ý muốn,
Ta không vì duyên ấy,
Sẽ khởi lên sân, ái.
720. Kẻ ấy nghe nói vậy,
Hy hữu, lông dựng ngược,
Quăng bỏ cả đao kiếm,
Thanh niên nói với ta.
721. Tôn giả hành hạnh gì,
Ai Ðạo Sư Tôn giả,
Ngài theo lời ai dạy,
Ðược tánh không sầu não?
Adhimutta:
722. Bậc toàn trí, toàn kiến,
Thắng giả, giáo sư ta,
Ðại từ bi Ðạo Sư,
Y vương toàn thế giới.
723. Pháp này vị ấy giảng,
Ðưa đến đạt vô thượng,
Theo lời dạy vị ấy,
Ðược tánh không sầu não.
724. Kẻ cướp nghe đại sĩ,
Khéo thuyết giảng như vậy,
Chúng liền quăng vất bỏ,
Ðao gươm và vũ khí,
Một số bỏ nghề chúng,
Một số xin xuất gia.
725. Sau khi chúng xuất gia,
Trong giáo pháp Thiện Thệ,
Họ tu tập Giác Chi,
Năm lực, thành bậc trí.
Tâm hân hoan, ý mãn,
Các căn cảm xúc được,
Niết-bàn đạo, vô vi.
(Bài kinh Adhimutta – Tiểu Bộ Kinh tập 3)
II. Sự giải thoát của tôn giả Adhimutta
Vị tôn giả Adhimutta là Sa-di thôi đã chứng quả A-la-hán, Ngài sống hưởng được an lạc, giải thoát, Ngài muốn đi thọ đại giới Tỳ-kheo nên muốn đi về nhà xin phép mẹ. Trên đường đi về nhà thì Ngài gặp phải bọn cướp bắt Ngài, đây lại là cướp bắt người để tế thần, tế sống, tức là giết người đó ở ngay bàn thờ thần để tế. Lúc xưa có những đạo như vậy ở Ấn Độ.
Những tên cướp tấn công Ngài thì Ngài không khuất phục, không sợ hãi. Những tên cướp rất ngạc nhiên thì hỏi: Những người bị họ bắt và bị đem đi tế như vậy thì không ai là không sợ hãi, không ai là không run rẩy, rên xiết! Vậy tại sao Ngài lại không khiếp sợ? Dung sắc của Ngài vẫn điềm nhiên, bình thản, an tịnh. Từ hòa duyệt là hiền hòa, duyệt là an lạc, vui, như tên gọi người đánh mõ gọi là duyệt chúng, là người làm cho chúng hoan hỷ, hoặc là thiền duyệt là niềm vui trong thiền định, vì vậy dung sắc càng hòa duyệt.
Chuẩn bị chết, đem đi tế thần mà sao khuôn mặt của Ngài hiền hòa, bình thản, an lạc như vậy. Vì sao Ngài lại không than thở trong một tai nạn lớn như vậy?
Khi được hỏi thì Ngài Adhimutta trả lời ý như sau: Với người không còn kỳ vọng, trông mong, đợi chờ, ước ao gì nữa thì mọi sợ hãi đã vượt qua, tâm không còn đau khổ nữa vì các kiết sử đã đoạn tận. Ngài Adhimutta nói “Chủ cướp! Tâm không khổ”, chủ cướp là người cầm đầu băng cướp, ý nói tâm của Ngài không khổ, vì Ngài không còn trông mong, đợi chờ, ước ao hay hy vọng trong tất cả những gì trên cuộc đời này nữa. Vị này đã chứng được Thánh quả A-la-hán nên không trong mong gì đối với ngũ uẩn nữa. Nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với ngũ uẩn nên Ngài không còn trông mong, kỳ vọng điều gì nữa.
“Với người không kỳ vọng,
Mọi sợ hãi vượt qua,
Với người kiết sử đoạn.”
Qua bài này chúng ta thấy được hai điều: Thứ nhất là tại sao Ngài không sợ hãi, Ngài vượt qua được mọi sợ hãi, độ nhất thiết khủng bố - vượt qua tất cả nỗi sợ hãi, không còn khổ đau. Tại sao lại như vậy? Vì tâm không kỳ vọng, không trong mong điều gì nữa. Thứ hai là những sự ràng buộc, sai khiến ở trong tâm đã bị cắt đứt, kiết sử gồm năm hạ phần, năm thượng phần, thân kiến phá vỡ, kiến chấp về thân không còn nữa, tham, sân si không còn nữa.
Chúng ta hiểu được là tại sao mình còn sợ? Là vì mình còn trông mong, kỳ vọng, hy vọng, ước mơ, đợi chờ, ham muốn, ước vọng đối với năm dục, đối với những hình sắc, cảm giác, các tưởng, những suy nghĩ, nhận thức trong tâm, vẫn còn mong muốn được thứ này thứ kia thứ nọ. Vậy nên, còn mong muốn, kỳ vọng thì còn lo lắng, sợ hãi, còn khổ đau.
Hết muốn là đã đoạn dục, ly tham, chúng ta lại trở về cội gốc. Muốn là dục, là tham ái, giờ không kỳ vọng, không ước ao hay mong chờ đối với bất cứ gì trên đời này, đối với năm uẩn thì mình không sợ hãi. Đã đoạn tận, cắt đứt mười sợi dây kiết sử.
Bài kệ thứ hai Ngài trả lời:
“Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
Pháp được thấy như thật,
Ðối chết, không sợ hãi,
Nhờ gánh nặng đặt xuống.”
Nhờ đoạn nhân sanh hữu, nhờ được thấy như thật về pháp nên đối với cái chết này không sợ hãi vì đã đặt được gánh nặng xuống. Như chúng ta từng học bài kinh Gánh nặng, khi mình đọc nhiều thì sẽ hiểu ra đúng như trong kinh của Đức Phật. Khi mình không học bài kinh Gánh nặng thì khi nói về gánh nặng thì mình không biết đó là gì, đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thân người là gánh nặng.
Nguyên nhân tiếp theo mà Ngài không thấy sợ hãi là đoạn nhân sanh hữu. Nhân sanh hữu thì tất cả là sự quy kết về vô minh và tham ái, không hiểu biết về yêu thích thì từ đó nắm giữ gốc của tất cả khổ. Đoạn nhân sanh hữu là gì? Nhân là nguyên nhân, sanh hữu, sanh là sự tái sanh, hữu là sự hiện hữu, nguyên nhân của nó là sanh y, có chỗ dựa của tái sanh thì mới sanh ra được, sanh y là thân ái, là yêu thích sự sống này, yêu thích đời sống, khao khát, khoan khoái, thèm muốn, say đắm, chìm đắm trong đời sống này, yêu thích, đam mê, ái luyến.
Đó gọi là chỗ dựa của tái sanh, sanh y. Ngài đã thành tựu A-la-hán nên đoạn nhân sanh hữu, cắt đứt sự tham ái đối với đời sống, đối với thân xác. Do vậy được thấy đúng như sự thật của pháp. Sự thật về năm uẩn, về bản chất vô thường, tan hoại, bệnh hoạn, trống rỗng, trống không của nó thì Ngài thấy đúng như nó là sự thật đó, gọi là pháp được thấy như thật. Khi thấy được như vậy thì đối với sự chết không sợ hãi, đã đặt được gánh nặng xuống.
Bài trên nói về lý do thứ nhất Ngài không sợ hãi là tâm không kỳ vọng, mong đợi, trông chờ. Lý do thứ hai là cắt hết sợi dây kiết sử. Tiếp tục Ngài giải thích thêm tại sao Ngài không sợ hãi là đoạn được tham ái là nguyên nhân của sự tái sanh, luân hồi. Thứ tư là thấy được sự thật của thân tâm và đời sống này. Thứ năm là gánh nặng đã được đặt xuống.
Sự tu tập rất nhiều pháp, nhiều trí tuệ, nhiều đức hạnh để thành tựu.
“Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập,
Ta không có sợ chết,
Khi bệnh hoạn được diệt.”
Bao nhiêu bài là Ngài giải thích lý do tại sao Ngài không sợ. Đây là Thánh dược, diệu dược, thần dược, pháp dược, Phật dược cho quý Phật tử trong thời điểm dịch bệnh ngày nay, bao gồm cả chư tăng ni.
Vì sao Ngài không sợ chết? Vì phạm hạnh đã thành tựu, con đường khéo tu tập, không sợ chết khi bệnh hoạn được diệt. Không sợ chết vì đạo lộ của bậc Thánh, đạo Thánh đế thì con đường đó Ngài đã khéo léo tu tập.
Vì vậy những vị đã thành tựu Thánh trí, từ bậc Dự lưu trở lên, đến A-la-hán thì các Ngài đối với cái chết không mảy may sợ hãi, đã phá thân kiến, đã sạch tham ái, vô minh đối với ngũ uẩn này. Nên chúng ta khéo tu thì khi mình đối diện với vô thường, với bệnh hoạn, chết chóc thì mình không sợ. Khi mình vụng tu thì mình mới sợ, lo lắng, sợ hãi, bất an, hoảng loạn, hốt hoảng, dao động. Còn nếu con đường mình khéo tu tập thì mình không sợ chết, vì có sanh thì phải có tử, có thành phải có hoại, có sống phải có chết, tất cả đều không khác được.
Các người hiền trí thì không thể sợ vì đó là lẽ đương nhiên, phải như vậy, không thể không như vậy, không thể khác được, đó là pháp nhĩ như thị, đó là điều đương nhiên, như vậy, hiển nhiên, tự nhiên thì tại sao mình phải sợ? Chỉ khi vô minh, không hiểu biết thì mình mới sợ, chỉ sợ là sợ con đường không khéo tu tập. Đó là đạo Thánh đế, nếu mình không khéo léo nắm giữ, hành trì, bước đi, không khéo léo để tinh cần, tinh tấn trên con đường Đức Phật đã chỉ dạy thì đó mới là điều đáng sợ.
Tiếp theo Ngài nói: “Ta không sợ chết khi bệnh hoạn được diệt!” Còn mang thân này tức là bệnh hoạn, sanh ra thân bệnh hoạn, nên khi chết là bệnh hoạn được diệt. Như khi chúng ta quán về ngũ uẩn là ung nhọt, bệnh hoạn, là mũi tên, rắn độc thì giờ mình được chấm dứt bệnh hoạn này thì làm sao lại sợ?
Có ai khi hết bệnh lại sợ? “Dung sắc càng hòa duyệt” là ý mừng, được khỏe, đã bỏ đi được gánh nặng, tới đây là chấm dứt, đã hết bệnh. Giống như khi mình hết bệnh thì mặt chúng ta tươi tắn, hoan hỷ nên dù Ngài chuẩn bị bắt đi tế thần, bắt đi giết nhưng lại vui vẻ, an lạc vì Ngài “không sợ chết vì bệnh hoạn được diệt” vì chết là hết bệnh, còn sống là còn bệnh. Thân xác này là nơi chứa nhóm tất cả bệnh hoạn.
Ví như bị bệnh về mắt rồi tai, hay bên trong người có bao nhiêu là bệnh về gan, phổi, thận…nên thân xác này là nơi chất chứa những tật bệnh, bệnh hoạn, mầm bệnh, bệnh căn, căn cứ, gốc rễ của bệnh tật, hang ổ của bệnh tật, là chỗ tích tụ, chất chứa các bệnh tật. Dù là người còn trẻ cũng có rất nhiều loại bệnh, huống chi đối với người già nên Ngài nói “Ta không có sợ chết. Khi bệnh hoạn được diệt”, vì hết là hết bệnh, là gánh nặng được đặt xuống. Vì vậy nên cười, không nên sợ.
“Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập,
Hữu được thấy không ngọt,
Như bỏ độc dược uống.”
“Phạm hạnh ta khéo hành” là đời sống trong sạch, cao thượng, Ngài đã khéo léo thực hành nên dù là Sa-di nhưng Ngài cũng đã chứng quả A-la-hán. “Con đường khéo tu tập” chính là đạo lộ, Đạo Thánh Đế gồm có Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần. Ngài khéo tu tập con đường đó, khéo nhìn nhận ngũ uẩn, khéo nhìn ra rác bẩn, khéo gội rửa thân tâm, khéo tẩy sạch các cấu nhiễm.
“Hữu được thấy không ngọt. Như bỏ độc dược uống” ý là: hữu là sự hiện hữu trong mười hai nhân duyên có ái, thủ, hữu; chữ hữu có nghĩa rất rộng nhưng nghĩa đơn giản nhất, chính xác nhất là sự hiện hữu, hữu cũng là nghiệp, là tam hữu (ba cõi), là sự gần nhất, dễ hiểu nhất là sự có mặt trong hình thái của ngũ uẩn này là đắng cay, chua chát, khổ sầu.
Chúng ta đã nhìn thấy hay xem qua những điều trông thấy mà đau đớn lòng?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm giải thoát PAGEREF _Toc81144161 \h 1
II. Sự giải thoát của tôn giả Adhimutta PAGEREF _Toc81144162 \h 6
I. Tâm giải thoát
Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn, các bậc Thánh chúng khai thị, trình bày, phân tích, tuyên thuyết về con đường tâm an không sợ hãi.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh là con người chị của Trưởng lão Sankicca. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của cậu ngài, và khi còn là Sa-di, đã chứng quả A-la-hán. Sống hưởng an lạc giải thoát, ngài muốn thọ Ðại giới và đi về nhà để xin phép bà mẹ. Khi ngài đi, ngài bị các kẻ cướp bắt ngài và muốn dâng ngài để tế thần. Các tên cướp tấn công ngài nhưng ngài đứng, không khuất phục. Tên tướng cướp lấy làm ngạc nhiên, tán thán ngài và nói:
705. Vì mục đích tế đàn,
Hoặc vì đích tài sản,
Những người chúng tôi giết,
Từ trước cho đến nay,
Không ai không sợ hãi,
Họ run sợ, rên xiết.
706. Nhưng ngài không khiếp sợ,
Dung sắc càng hòa duyệt,
Vì sao ngài không than,
Trong đại nạn như vậy.
Adhimutta trả lời:
707. Chủ cướp! Tâm không khổ,
Với người không kỳ vọng,
Mọi sợ hãi vượt qua,
Với người kiết sử đoạn.
708. Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
Pháp được thấy như thật,
Ðối chết, không sợ hãi,
Nhờ gánh nặng đặt xuống.
709. Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập,
Ta không có sợ chết,
Khi bệnh hoạn được diệt.
710. Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập
Hữu được thấy không ngọt,
Như bỏ độc dược uống.
711. Bờ kia đến, không thủ,
Việc làm xong, vô lậu,
Bằng lòng, thọ mạng diệt,
Như thoát lò sát sinh.
712. Pháp tánh đạt, tối thượng,
Ở đời, tuyệt sở hữu.
Như thoát ngôi nhà cháy,
Trong chết không sầu muộn.
713. Phàm có vật tụ họp,
Ðược sanh hữu chỗ nào,
Tuyệt đường mọi xuất ly,
Ðại ẩn sĩ nói vậy.
714. Ai hiểu rõ như vậy,
Như đức Phật đã thuyết,
Không còn nắm sanh hữu,
Như hòn sắt cháy đỏ.
715. Quá khứ ta không có,
Tương lai, hiện tại không,
Các hành không thực hữu,
Ở đây, than khóc gì?
716. Thanh tịnh pháp sanh khởi,
Thanh tịnh hành tiếp tục,
Bậc thấy được như thật,
Không sợ hãi, thưa ngài.
717. Với tuệ, thấy thế giới,
Giống như cỏ, thân cây,
Không có tánh ngã sở,
Không sầu muộn, không ngã.
718. Ta nhàm chán thân sắc,
Không ham có sanh hữu,
Khi thân này hoại diệt,
Sẽ không có thân khác.
719. Với thân ta, ngươi làm,
Hãy làm như ý muốn,
Ta không vì duyên ấy,
Sẽ khởi lên sân, ái.
720. Kẻ ấy nghe nói vậy,
Hy hữu, lông dựng ngược,
Quăng bỏ cả đao kiếm,
Thanh niên nói với ta.
721. Tôn giả hành hạnh gì,
Ai Ðạo Sư Tôn giả,
Ngài theo lời ai dạy,
Ðược tánh không sầu não?
Adhimutta:
722. Bậc toàn trí, toàn kiến,
Thắng giả, giáo sư ta,
Ðại từ bi Ðạo Sư,
Y vương toàn thế giới.
723. Pháp này vị ấy giảng,
Ðưa đến đạt vô thượng,
Theo lời dạy vị ấy,
Ðược tánh không sầu não.
724. Kẻ cướp nghe đại sĩ,
Khéo thuyết giảng như vậy,
Chúng liền quăng vất bỏ,
Ðao gươm và vũ khí,
Một số bỏ nghề chúng,
Một số xin xuất gia.
725. Sau khi chúng xuất gia,
Trong giáo pháp Thiện Thệ,
Họ tu tập Giác Chi,
Năm lực, thành bậc trí.
Tâm hân hoan, ý mãn,
Các căn cảm xúc được,
Niết-bàn đạo, vô vi.
(Bài kinh Adhimutta – Tiểu Bộ Kinh tập 3)
II. Sự giải thoát của tôn giả Adhimutta
Vị tôn giả Adhimutta là Sa-di thôi đã chứng quả A-la-hán, Ngài sống hưởng được an lạc, giải thoát, Ngài muốn đi thọ đại giới Tỳ-kheo nên muốn đi về nhà xin phép mẹ. Trên đường đi về nhà thì Ngài gặp phải bọn cướp bắt Ngài, đây lại là cướp bắt người để tế thần, tế sống, tức là giết người đó ở ngay bàn thờ thần để tế. Lúc xưa có những đạo như vậy ở Ấn Độ.
Những tên cướp tấn công Ngài thì Ngài không khuất phục, không sợ hãi. Những tên cướp rất ngạc nhiên thì hỏi: Những người bị họ bắt và bị đem đi tế như vậy thì không ai là không sợ hãi, không ai là không run rẩy, rên xiết! Vậy tại sao Ngài lại không khiếp sợ? Dung sắc của Ngài vẫn điềm nhiên, bình thản, an tịnh. Từ hòa duyệt là hiền hòa, duyệt là an lạc, vui, như tên gọi người đánh mõ gọi là duyệt chúng, là người làm cho chúng hoan hỷ, hoặc là thiền duyệt là niềm vui trong thiền định, vì vậy dung sắc càng hòa duyệt.
Chuẩn bị chết, đem đi tế thần mà sao khuôn mặt của Ngài hiền hòa, bình thản, an lạc như vậy. Vì sao Ngài lại không than thở trong một tai nạn lớn như vậy?
Khi được hỏi thì Ngài Adhimutta trả lời ý như sau: Với người không còn kỳ vọng, trông mong, đợi chờ, ước ao gì nữa thì mọi sợ hãi đã vượt qua, tâm không còn đau khổ nữa vì các kiết sử đã đoạn tận. Ngài Adhimutta nói “Chủ cướp! Tâm không khổ”, chủ cướp là người cầm đầu băng cướp, ý nói tâm của Ngài không khổ, vì Ngài không còn trông mong, đợi chờ, ước ao hay hy vọng trong tất cả những gì trên cuộc đời này nữa. Vị này đã chứng được Thánh quả A-la-hán nên không trong mong gì đối với ngũ uẩn nữa. Nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với ngũ uẩn nên Ngài không còn trông mong, kỳ vọng điều gì nữa.
“Với người không kỳ vọng,
Mọi sợ hãi vượt qua,
Với người kiết sử đoạn.”
Qua bài này chúng ta thấy được hai điều: Thứ nhất là tại sao Ngài không sợ hãi, Ngài vượt qua được mọi sợ hãi, độ nhất thiết khủng bố - vượt qua tất cả nỗi sợ hãi, không còn khổ đau. Tại sao lại như vậy? Vì tâm không kỳ vọng, không trong mong điều gì nữa. Thứ hai là những sự ràng buộc, sai khiến ở trong tâm đã bị cắt đứt, kiết sử gồm năm hạ phần, năm thượng phần, thân kiến phá vỡ, kiến chấp về thân không còn nữa, tham, sân si không còn nữa.
Chúng ta hiểu được là tại sao mình còn sợ? Là vì mình còn trông mong, kỳ vọng, hy vọng, ước mơ, đợi chờ, ham muốn, ước vọng đối với năm dục, đối với những hình sắc, cảm giác, các tưởng, những suy nghĩ, nhận thức trong tâm, vẫn còn mong muốn được thứ này thứ kia thứ nọ. Vậy nên, còn mong muốn, kỳ vọng thì còn lo lắng, sợ hãi, còn khổ đau.
Hết muốn là đã đoạn dục, ly tham, chúng ta lại trở về cội gốc. Muốn là dục, là tham ái, giờ không kỳ vọng, không ước ao hay mong chờ đối với bất cứ gì trên đời này, đối với năm uẩn thì mình không sợ hãi. Đã đoạn tận, cắt đứt mười sợi dây kiết sử.
Bài kệ thứ hai Ngài trả lời:
“Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
Pháp được thấy như thật,
Ðối chết, không sợ hãi,
Nhờ gánh nặng đặt xuống.”
Nhờ đoạn nhân sanh hữu, nhờ được thấy như thật về pháp nên đối với cái chết này không sợ hãi vì đã đặt được gánh nặng xuống. Như chúng ta từng học bài kinh Gánh nặng, khi mình đọc nhiều thì sẽ hiểu ra đúng như trong kinh của Đức Phật. Khi mình không học bài kinh Gánh nặng thì khi nói về gánh nặng thì mình không biết đó là gì, đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thân người là gánh nặng.
Nguyên nhân tiếp theo mà Ngài không thấy sợ hãi là đoạn nhân sanh hữu. Nhân sanh hữu thì tất cả là sự quy kết về vô minh và tham ái, không hiểu biết về yêu thích thì từ đó nắm giữ gốc của tất cả khổ. Đoạn nhân sanh hữu là gì? Nhân là nguyên nhân, sanh hữu, sanh là sự tái sanh, hữu là sự hiện hữu, nguyên nhân của nó là sanh y, có chỗ dựa của tái sanh thì mới sanh ra được, sanh y là thân ái, là yêu thích sự sống này, yêu thích đời sống, khao khát, khoan khoái, thèm muốn, say đắm, chìm đắm trong đời sống này, yêu thích, đam mê, ái luyến.
Đó gọi là chỗ dựa của tái sanh, sanh y. Ngài đã thành tựu A-la-hán nên đoạn nhân sanh hữu, cắt đứt sự tham ái đối với đời sống, đối với thân xác. Do vậy được thấy đúng như sự thật của pháp. Sự thật về năm uẩn, về bản chất vô thường, tan hoại, bệnh hoạn, trống rỗng, trống không của nó thì Ngài thấy đúng như nó là sự thật đó, gọi là pháp được thấy như thật. Khi thấy được như vậy thì đối với sự chết không sợ hãi, đã đặt được gánh nặng xuống.
Bài trên nói về lý do thứ nhất Ngài không sợ hãi là tâm không kỳ vọng, mong đợi, trông chờ. Lý do thứ hai là cắt hết sợi dây kiết sử. Tiếp tục Ngài giải thích thêm tại sao Ngài không sợ hãi là đoạn được tham ái là nguyên nhân của sự tái sanh, luân hồi. Thứ tư là thấy được sự thật của thân tâm và đời sống này. Thứ năm là gánh nặng đã được đặt xuống.
Sự tu tập rất nhiều pháp, nhiều trí tuệ, nhiều đức hạnh để thành tựu.
“Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập,
Ta không có sợ chết,
Khi bệnh hoạn được diệt.”
Bao nhiêu bài là Ngài giải thích lý do tại sao Ngài không sợ. Đây là Thánh dược, diệu dược, thần dược, pháp dược, Phật dược cho quý Phật tử trong thời điểm dịch bệnh ngày nay, bao gồm cả chư tăng ni.
Vì sao Ngài không sợ chết? Vì phạm hạnh đã thành tựu, con đường khéo tu tập, không sợ chết khi bệnh hoạn được diệt. Không sợ chết vì đạo lộ của bậc Thánh, đạo Thánh đế thì con đường đó Ngài đã khéo léo tu tập.
Vì vậy những vị đã thành tựu Thánh trí, từ bậc Dự lưu trở lên, đến A-la-hán thì các Ngài đối với cái chết không mảy may sợ hãi, đã phá thân kiến, đã sạch tham ái, vô minh đối với ngũ uẩn này. Nên chúng ta khéo tu thì khi mình đối diện với vô thường, với bệnh hoạn, chết chóc thì mình không sợ. Khi mình vụng tu thì mình mới sợ, lo lắng, sợ hãi, bất an, hoảng loạn, hốt hoảng, dao động. Còn nếu con đường mình khéo tu tập thì mình không sợ chết, vì có sanh thì phải có tử, có thành phải có hoại, có sống phải có chết, tất cả đều không khác được.
Các người hiền trí thì không thể sợ vì đó là lẽ đương nhiên, phải như vậy, không thể không như vậy, không thể khác được, đó là pháp nhĩ như thị, đó là điều đương nhiên, như vậy, hiển nhiên, tự nhiên thì tại sao mình phải sợ? Chỉ khi vô minh, không hiểu biết thì mình mới sợ, chỉ sợ là sợ con đường không khéo tu tập. Đó là đạo Thánh đế, nếu mình không khéo léo nắm giữ, hành trì, bước đi, không khéo léo để tinh cần, tinh tấn trên con đường Đức Phật đã chỉ dạy thì đó mới là điều đáng sợ.
Tiếp theo Ngài nói: “Ta không sợ chết khi bệnh hoạn được diệt!” Còn mang thân này tức là bệnh hoạn, sanh ra thân bệnh hoạn, nên khi chết là bệnh hoạn được diệt. Như khi chúng ta quán về ngũ uẩn là ung nhọt, bệnh hoạn, là mũi tên, rắn độc thì giờ mình được chấm dứt bệnh hoạn này thì làm sao lại sợ?
Có ai khi hết bệnh lại sợ? “Dung sắc càng hòa duyệt” là ý mừng, được khỏe, đã bỏ đi được gánh nặng, tới đây là chấm dứt, đã hết bệnh. Giống như khi mình hết bệnh thì mặt chúng ta tươi tắn, hoan hỷ nên dù Ngài chuẩn bị bắt đi tế thần, bắt đi giết nhưng lại vui vẻ, an lạc vì Ngài “không sợ chết vì bệnh hoạn được diệt” vì chết là hết bệnh, còn sống là còn bệnh. Thân xác này là nơi chứa nhóm tất cả bệnh hoạn.
Ví như bị bệnh về mắt rồi tai, hay bên trong người có bao nhiêu là bệnh về gan, phổi, thận…nên thân xác này là nơi chất chứa những tật bệnh, bệnh hoạn, mầm bệnh, bệnh căn, căn cứ, gốc rễ của bệnh tật, hang ổ của bệnh tật, là chỗ tích tụ, chất chứa các bệnh tật. Dù là người còn trẻ cũng có rất nhiều loại bệnh, huống chi đối với người già nên Ngài nói “Ta không có sợ chết. Khi bệnh hoạn được diệt”, vì hết là hết bệnh, là gánh nặng được đặt xuống. Vì vậy nên cười, không nên sợ.
“Phạm hạnh ta khéo hành,
Con đường khéo tu tập,
Hữu được thấy không ngọt,
Như bỏ độc dược uống.”
“Phạm hạnh ta khéo hành” là đời sống trong sạch, cao thượng, Ngài đã khéo léo thực hành nên dù là Sa-di nhưng Ngài cũng đã chứng quả A-la-hán. “Con đường khéo tu tập” chính là đạo lộ, Đạo Thánh Đế gồm có Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần. Ngài khéo tu tập con đường đó, khéo nhìn nhận ngũ uẩn, khéo nhìn ra rác bẩn, khéo gội rửa thân tâm, khéo tẩy sạch các cấu nhiễm.
“Hữu được thấy không ngọt. Như bỏ độc dược uống” ý là: hữu là sự hiện hữu trong mười hai nhân duyên có ái, thủ, hữu; chữ hữu có nghĩa rất rộng nhưng nghĩa đơn giản nhất, chính xác nhất là sự hiện hữu, hữu cũng là nghiệp, là tam hữu (ba cõi), là sự gần nhất, dễ hiểu nhất là sự có mặt trong hình thái của ngũ uẩn này là đắng cay, chua chát, khổ sầu.
Chúng ta đã nhìn thấy hay xem qua những điều trông thấy mà đau đớn lòng?