Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sức mạnh thực sự của người tu

2026-03-03 00:54:33
SỨC MẠNH THỰC SỰ CỦA NGƯỜI TU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Người tu là chiến sĩ PAGEREF _Toc114236073 \h 1

II.Sức mạnh của người tu PAGEREF _Toc114236074 \h 4

Người tu là chiến sĩ

Thực sự khi muốn làm việc gì có kết quả thì phải hết sức để tâm. Đời sống xuất gia có hai việc quan trọng: một là pháp học, hai là pháp hành.

Minh Thành không dự với đại chúng nhiều là do đại chúng đã rất tinh tấn, tuy nhiên vẫn chưa đủ, cũng như vừa rồi ngồi thiền thì phân nửa đi vào trạng thái hôn trầm. Có hai yếu tố đưa đến trạng thái hôn trầm, thứ nhất là cơ thể ngủ không đủ hay đang bệnh nên bị hôn trầm; yếu tố thứ hai quan trọng quyết định là nội tâm của mình không tinh cần, tinh tấn, không để tâm vào việc đang làm. Trong khi ngồi thiền đòi hỏi phải tỉnh hơn lúc tỉnh ở ngoài, điều này rất tinh vi, thiện xảo. Do lúc thiền là lúc mình thấy, nhìn để soi rọi, nếu mà lờ mờ thì không thể soi. Giống như người lính, chiến sĩ thì phải ra trận, cũng vậy ngồi thiền là giờ ra trận, giáp lá cà, là giờ thi triển các công phu, công lực lúc bình thường đã luyện tập, thực hành. Ngồi thiền không phải ngồi cho hết giờ, càng tệ hơn là bỏ tâm mình trong năm triền cái, đó là người thấp hèn, hạ liệt, nhu nhược, biếng nhác, không tinh cần, tinh tấn trong pháp.

Phải biết rằng giờ ngồi trên bồ đoàn phải tỉnh hơn những giờ bên ngoài, vì thời gian bên ngoài nói cười thoải mái, có khi thả lỏng các căn, nhưng giờ ngồi thiền thì phải nghiêm túc. Đây là giờ ta đem tất cả sự học, sự hiểu, nhận thức về pháp để thực tập, thực hành, thực nghiệm, thực chứng, thực thấy, thực biết, là giờ “đến để mà thấy”. Một ngày có rất ít giờ được yên tịnh an trú trong pháp như vậy, nếu giờ thiền không xem trọng, không để tâm, không để ý, không nỗ lực chiến đấu, không nhiếp phục các cảm thọ thì rất uổng phí, tu sẽ không tiến bộ. Thà rằng không ngồi thì mình đọc kinh, còn khi đã làm việc gì thì phải ra việc đó, làm mà không ra việc gì hết thì không nên làm. Đó gọi là “nhất bất tác, nhị bất hưu” – một là không làm là không làm, hai là làm thì phải tới cùng, làm phải cho ra làm. Ngồi thiền phải cho ra ngồi thiền, học pháp phải cho ra học pháp, làm việc phải cho ra làm việc thì người đó mới thành công.

Cho nên trong giờ ngồi thiền phải hết sức tỉnh táo, nội tâm tỉnh giác trong khi thực hành ba pháp – đây là một phương pháp tuyệt vời, thiện xảo, vậy tại sao mình lại không làm, không chịu để tâm, không cố gắng làm. Đó là vì chánh niệm trước mặt là bên ngoài, cảm giác toàn thân là nơi thân thể, nội tâm tỉnh giác là ở bên trong, ba mặt mình phải đánh hết là căn, trần, thức. Phải rõ ràng, tỉnh táo trong mười tám giới trên ba phương diện: bên trong, thân thể và trước mặt. Vậy mà mình không chịu làm, chỉ bắt chân lên bồ đoàn, thả hồn theo mây gió, lơ mơ, lờ mờ trong khi pháp rất thiện xảo.

Vì vậy, Đức Phật nói ở trong pháp và luật khéo thuyết của Như Lai, người không tinh tấn là người này đau khổ lâu dài ở trong pháp không thiện xảo, không phải là bậc Chánh Đẳng Giác; nếu tinh tấn thì sẽ đau khổ do tinh tấn theo tà kiến mê tín, cho nên tinh tấn cực khổ nhưng lại đưa đến khổ. Còn trong pháp và luật của Như Lai, trong pháp rốt ráo viên mãn, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, thanh tịnh, phạm hạnh đầy đủ; nhưng nếu lười biếng, giải đãi thì người này sẽ đau khổ lâu dài.

Thế nên, phải quán chiếu một hình ảnh là một chiến sĩ, một dũng sĩ khi xung trận, trong lúc ngồi thiền. Khi lên ngồi thiền phải niệm mình là một dũng sĩ lâm trận, chiến sĩ ra trận, phải ngồi ngay thẳng, trang nghiêm, ánh mắt tuy nhìn xuống nhưng phải rực sáng, phải chói sáng, tỏa sáng trong trí huệ, chớ con mắt không được lơ đơ. Minh Thành ngồi trên đây nói pháp, thấy một số người lơ đơ, đôi khi Minh Thành không muốn nói, nhưng Minh Thành vẫn nói cho người khác nghe, chứ không phải cho những người lơ đơ nghe, tại người đó không tôn kính pháp. Nếu có tâm tôn kính đúng mức thì có điều đó không xảy ra, ngủ cái không xâm nhập được.

Khi thiền định, tọa thiền cũng vậy, như mèo rình chuột. Các vị cao tăng ví dụ đang công phu giống như mèo rình chuột, con mèo đi rất nhẹ, nhìn chăm chú, khéo léo, êm ái cho con mồi không hay biết, rồi nó vồ và con mồi không phản ứng kịp. Cũng vậy, mình cần phải có sự sắc bén, thiện xảo trong thiền định, trong nội soi tâm: “Trong nội tâm ta có tham nhiều không, có hôn trầm, trạo cử không? Hay ta sống từ bỏ được hôn trầm? Nội tâm có sân, có nghi ngờ không?” đó là xem lại nội tâm, đây là cả một công trình.

Nhiều vị cứ muốn được nghe giảng về những công trình vĩ đại, sâu rộng hơn, nhưng sự buồn ngủ lúc ngồi thiền còn chiến thắng không được, không đánh đuổi ra được thì sao học đến những điều sâu rộng. Do đó phải đi những bước thật chắc chắn, chứ không phải phóng ào ào trên cầu thang, rất nguy hiểm. Tuổi trẻ bây giờ thích biết nhiều, học nhiều nhưng những thứ căn bản nhất không nỗ lực làm, đó là xây lâu đài trên bãi cát, bắt bóng trong hư không, dầu cho có hiểu biết nhiều nhưng chỉ là hiểu biết suông, trống rỗng. “Bước bước phải đi trên đất thật, đầu đầu đều đội hư không” – chân phải chạm dưới mặt đất, mỗi bước đi phải vững chắc trong sự thực tập.

Cho nên, cố gắng làm sao trong khi nghe pháp, ngồi thiền phải đánh cho tan ngũ triền cái, chứ không chỉ là lý thuyết mở ra đọc. Tham khởi lên là dập liền, sân khởi lên là diệt liền, hôn trầm khởi lên là đánh tan. Phải tỉnh táo, minh mẫn, mạnh mẽ, sáng suốt, trí huệ, nghi ngờ phải xua sạch, trạo cử trong ngồi thiền là phải nhiếp phục, nghe pháp cũng phải nhiếp. Dầu công việc vội vàng, gấp gáp nhưng không quên chánh niệm tỉnh giác, không phải gấp quá thì làm đại là không phải. Minh Thành chỉ chung tất cả chứ không riêng cá nhân ai, không đổ thừa gấp nhanh, nhưng gấp nhanh thì phải càng cần chánh niệm tỉnh giác kỹ hơn lúc có thời gian. Lúc chết đến có gấp không? Tai nạn đến đâu có gấp không? Hoả hoạn đến có gấp không? Bệnh hoạn bất thình lình, cơ thể bị sưng phù hết có gấp không? Người ta đến mắng chửi, sỉ nhục, đập đánh có gấp không hay họ báo trước? Như vậy, luôn luôn phải chiến đấu với năm triền cái, khai triển thiền quán.

Tại sao Minh Thành không để hướng dẫn thiền quán một cách suông, vì sao phải Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi? Các chú có cơ hội tốt hơn Minh Thành, do Minh Thành lớn tuổi không có thời gian, trí nhớ giảm, do đó các chú phải học những thứ căn bản nhất, theo mẫu, theo mực, theo khuôn, theo phép, theo kinh, theo điển, sau này mấy chú nói ra là nói có sách, mách có chứng, y cứ Thánh điển, đó là sức mạnh hơn. Minh Thành muốn cho mấy chú sau này giỏi hơn Minh Thành, các chú đừng Phi Như Lý Tác Ý: “Sao thầy nói cái kia, nhưng tụi con phải đọc cái này”, nếu không có trí huệ thì tác ý sai hết. Các chú có thời gian nhiều để học kinh, sau này nói ra là Thánh điển, từ Thánh điển mình diễn giải ra rất dễ dàng.

Minh Thành không có thời gian học thuộc nhiều kinh, chỉ lấy ý cốt tủy trong đó, nhưng mấy chú lấy lời của Minh Thành để diễn giải thì mất ý, nếu cứ như vậy thì sau đời Minh Thành chết rồi là pháp sẽ đi xa, không còn nữa, nếu bám trong kinh, thì vẫn còn. Các vị Thánh Tăng kết tập kinh tạng 3.000 năm nhưng vẫn còn là do các vị bám sát không sai một chữ, không phóng đi xa. Vì vậy, lên ngồi thiền là mình phải bám sát vào ba pháp, không được xem thường ba pháp, ngồi mười năm thực hành ba pháp, phải chứng đạt được ba pháp thì mới chứng ngộ. Còn nếu nói vài hôm, vài tháng rồi bỏ qua thì thiện pháp sẽ bị mất.

Trong bốn sự tinh cần, sự tinh cần cuối cùng là những pháp lành đã có phải giữ kỹ, không cho mất. Những hình ảnh bộ xương, những hình ảnh dòi ăn, xanh bầm, nức nẻ, hình ảnh ba mươi hai thể trược phải luôn luôn giữ gìn giống như bảo bối, tài sản. Bất cứ lúc nào cần là nó hiện ra trước mắt, đó là định tướng. Dùng hình ảnh đó để đánh phá tất cả giặc phiền não xâm chiếm mình. Tham, sân, si, bản ngã, tất cả cái gì đến đều dùng hình ảnh đó để đánh đuổi, giống như thượng phương bảo kiếm, là thánh vật, là pháp khí, là súng ống, đạn dược để bắn giặc phiền não.

Trong nội tâm phải có những điều này, phải đầy đủ thật là đầy đủ, sắc bén thật là sắc bén, thiện xảo thật là thiện xảo, khéo léo cực kỳ khéo léo trong sự nhìn lại và kiểm soát nội tâm của mình. Không thể là người mù lòa đối với nội tâm, phải nhìn thật rõ: sắc, cảm giác, các hình bóng trong nội tâm – tưởng, suy nghĩ vận hành – hành, thức như thế nào? Mỗi phút mỗi giây trong suốt giờ ngồi thiền, không để cho lơ tơ mơ, lờ tờ mờ. Nếu giờ ngồi thiền mà nhìn không rõ thì các giờ khác không thể nhìn được, lúc ứng xử, đối duyên, tiếp vật thì làm sao nhìn? Giờ ngồi thiền là giờ nhìn mà mình còn không thấy, thì giờ ở ngoài không thế thấy.

Cho nên ban đầu mình phải nhiếp phục là: trạo cử, hôn trầm – đây là hai thứ thô nhất trong khi ngồi thiền, nếu không diệt được thì tu không bao giờ tiến bộ. Phải tập chinh phục hôn trầm cho bằng được, nếu thấy hôn trầm xuất hiện phải dùng mọi thứ đánh đuổi, nếu đánh đuổi không được thì bước ra ngoài dập đầu xuống đất để lạy Phật. Mình phải có Như Lý Tác Ý mạnh, phải xấu hổ, nhục nhã: “Nếu buồn ngủ mà trị không được thì làm được gì. Đi về nhà! Tại sao huynh đệ làm được mà mình không làm được? Đã mấy năm rồi mà mình làm chưa được”.

Sức mạnh của người tu

Có bài kinh về năm Như Lai lực – Như Lai giác ngộ, chứng ngộ năm sức mạnh thành tựu Chánh đẳng Chánh giác. Đó là: tín lực, tàm lực, tấn lực, quý lực, tuệ lực. Minh Thành lúc đọc rất là rúng động do trước giờ chưa ai khai triển điều này: Như Lai là do sự xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi đối với bất thiện pháp, ác pháp nên mới thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Còn mình thì trơ trơ, không xấu hổ, nhục nhã dù có làm lỗi mà vẫn trơ trơ thì không thể thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên đó là những sức mạnh của Như Lai, là sức mạnh của xấu hổ, hổ thẹn, tàm quý, một sức mạnh thật là mạnh mẽ của sự nhục nhã đối với ác bất thiện pháp. Đó là một điều ô nhục, là một vết nhơ đối với tham dục, si mê, sân hận, bản ngã … khi nó khởi lên nội tâm. Đây là vết nhơ, nhục nhã, làm trò cười cho những người trí, những người bậc đồng phạm hạnh. Mình phải thật sự nhục nhã, xấu hổ, làm cho sự xấu hổ phát sanh tột bậc, sắc bén, mãnh liệt trong nội tâm. Đó chính là tàm lực, là sức mạnh của Như Lai, không phải chuyện bình thường.

Một người phát huy sự xấu hổ, nhục nhã tới cùng cực thì người đó sẽ không dám làm những điều xấu, đó là Thánh trí, sự chứng ngộ của Chánh Biến Tri. Tuy nhiên hiện tại điều này ít được ai nhắc. Sự nhục nhã, xấu hổ đi đến cùng cực, khi nhìn lại nội tâm, thấy đó là đống hôi thúi, tanh hôi, bẩn thỉu, đầy rẫy dục và tham, xấu hổ, nhục nhã, ô nhục, vết nhơ, khi đi thì cúi mặt không dám nhìn ai. Bản thân của Minh Thành khi đi cũng cúi mặt không dám nhìn ai, do nhục nhã đối với nội tâm của mình. Nhục nhã cho nội tâm ô trượt, uế nhiễm; nhục nhã cho những khi sân hận nên mình nói chuyện sân hận. “Nhục nhã, nhục nhã. Vết nhơ. Chừng nào mới hết nhục?”.

Phải sợ hãi đối với những điều này, sợ hãi trong khi nghe pháp mà mình hôn mê, sợ hãi trong nghe pháp mà mình hoài nghi, sợ hãi trong khi nghe pháp mà mình đem tư kiến, kiến chấp. Hay trong khi thiền định để cho dục tham sanh khởi lên, bản ngã sanh khởi lên cũng phải sợ hãi, nhục nhã, sợ, nhục. Phải phát khởi tác ý mạnh mẽ như vậy, đánh đuổi hoài thì lần lần sẽ giảm. Nếu không làm thì nó sẽ trơ trơ theo năm tháng, suốt đời, suốt kiếp, rồi bao nhiêu đời kiếp tiếp tục như thế không bao giờ phát giác để đoạn giảm, diệt tận.

Khi đọc bài kinh về tín lực, tàm lực, tấn lực, quý lực, tuệ lực, Minh Thành rúng động và bất ngờ. Người ta cứ nghĩ Như Lai là một bậc phải làm những việc cao siêu, nhưng Như Lai là bậc có sức mạnh về niềm tin mãnh liệt đối với pháp, Như Lai có lòng tin bất động đối với Pháp, đối với Thánh Trí Năm Uẩn, đối với Khổ Thánh Đế, Tứ Thánh Đế. Như Lai luôn luôn xấu hổ, xấu hổ với ác bất thiện pháp tồn tại trong thân tâm. Xấu hổ, nhục nhã, ô nhục – đó là Thánh trí của bậc Chánh Biến Tri, Thế Tôn, bậc tôn quý nhất trên đời. Như Lai là luôn luôn sợ hãi đối với tội lỗi, sợ hãi đối với tội lỗi nhỏ nhặt. Một lỗi nhỏ mình cũng phải sợ, chứ không được xem thường. Biết đó là lỗi lầm thì phải sợ hãi đối với lỗi lầm này, tuyệt đối hết sức không được tái phạm.

Còn nhiều khi phạm lỗi mà mình cứ trơ trơ, mặt dày, không thấy nhục nhã, xấu hổ nên cứ tái tục, tái diễn hoài. Đôi khi ở trong chùa tới già mà điếu thuốc không bỏ được, những tật xấu ác bất thiện pháp đầy rẫy, sung mãn trong thân tâm, là do không có tàm lực, quý lực, không có sức mạnh của hổ thẹn và sợ hãi cho nên điều đó còn hoài và trơ trơ. Cái mặt thì hất lên, không chịu gục đầu, là do mình không nhìn lại nội tâm, không quán chiếu, không thấy xấu hổ, ô nhục. Không thấy sợ hãi những thứ khổ nạn, ách nạn, khốn nạn trong nội tâm, chúng hoành hành, làm loạn trong nội tâm, xâm chiếm hết con người. Từ đầu đến chân đầy rẫy những tập nghiệp, tập khí xấu ác, nhưng mình không thấy, không biết, ngẩng mặt lên dương dương tự đắc ta đây, đó là sự tu tập sai lầm, chính bản thân Minh Thành trước kia đã như vậy, nhưng không biết. Lúc nào cũng cho rằng mình tu hay, tu giỏi, tu tài ba là mình chết mà không có đất chôn. Phải làm cho sự tàm lực và quý lực phát triển thật là mạnh trong nội tâm, không để cho ác bất thiện pháp tồn trữ, lớn mạnh trong nội tâm, không chấp nhận điều đó, như vậy tu mới tiến, mới chắc chắn tiến.

Hai điều hết sức quan trọng của người tu là nghe pháp và thiền định, sau đó là công quả – tu học và làm việc. Phải để tâm của mình, nếu không sẽ lẩn quẩn không thoát ra được. Phải để tâm cảm thấy thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, thật là tội lỗi, “Tại sao huynh đệ làm được mà mình làm không được? Phải một mất một còn, nếu mi còn trong nội tâm là ta chết, ta sống thì mi phải chết”. Phải có thệ nguyện mạnh mẽ thì mới diệt tận được. “Nếu mi còn ngủ là chết, nếu ta sống là mi chết, hễ ta sống thì bản ngã phải chết”, tuyên bố như vậy trong nội tâm của mình. Như vậy mới hùng lực, mới có khả năng nhiếp phục, nếu không nó sẽ đầy rẫy trong mắt, mũi, tay, chân, mặt, mình, tâm, ý của mình, không nhận diện năm uẩn bằng Thánh trí thì mình không thể phát hiện ra được. Ví dụ Đường Tăng không biết yêu quái mà chỉ Ngộ Không mới nhìn thấy, mắt lửa của Ngộ Không tròng vàng 7x7=49 ngày trong lò luyện linh đơn. Thánh trí mới nhìn ra được lậu hoặc, phải nương vào Thánh trí của năm uẩn. Cho nên phải tha thiết, chân chân thành thành, cung cung kính kính, quyết quyết liệt liệt, bằng sự hùng tâm tráng trí mãnh liệt, tinh thần dũng sĩ, chiến sĩ, một tinh thần của liệt sĩ thà mình chết nhưng chứng ngộ được Thánh Pháp, sẵn sàng chết, xem cái chết nhẹ tợ như lông hồng.

Hôm trước thầy đi xe máy trên đèo dốc, vực thẳm, ngay vực, khi xuống thì vạt áo bị quấn vào bánh xe. Chỗ vắng vẻ như vậy bỗng nhiên có hai cô xuất hiện la lên, nói vạt áo bị cuốn vào bánh xe. Nếu lúc đó không có hai cô la lên, thì thầy chắc là không còn ngồi đây, mà đã ngồi trên bàn thờ, thì đâu còn nói pháp nữa. Thật sự cái chết không là gì cả, sống chết như đường tơ kẻ tóc, sợi chỉ, sơ xảy một chút là chết, vậy mà tại sao mình lại yêu mến cảm giác, không chịu nỗ lực nhiếp phục, để mình tiến lên. Cho nên nhiều khi Minh Thành không có lên ngồi thiền với đại chúng, thấy đại chúng hôn trầm thì không chịu nổi, thà là không nhìn. Nếu thầy nhìn thấy người không chịu nỗ lực tu thì rất là đau lòng, cũng có nhiều người cũng nỗ lực tu, nhưng chưa tới, hoặc có những người chưa nỗ lực. Do đó mình phải suy nghĩ cho sâu sắc về một đời này của mình. Giống như Minh Thành lỡ như bị bánh xe cuốn vạt áo rớt xuống vực thẳm, thì bây giờ đi đâu, kể như xong rồi. Cho nên mình phải tu học bằng cách quyết liệt, quyết tử, không sợ ngồi thiền nghe pháp.

Để xem một trận đá banh mà có người bỏ ra hàng chục triệu đồng để xem, sẵn sàng mất thời gian, bỏ ăn, bỏ ngủ, tốn tiền, tốn bạc do một thú vui nhỏ xíu. Đôi khi phải xếp hàng, chầu chực cả ngày để mua một cái vé, rồi coi vui chút xíu rồi thôi. Còn mình vì Chánh Pháp tối thượng, đoạn tận được sanh tử, chứng nhập Niết-bàn, vậy tại sao mình lại sợ? Tại sao giờ tu học lại phát sanh ra những cảm giác chán nản, sợ hãi? Phải xấu hổ, nhục nhã để diệt tận cảm giác này, không cho nó sanh khởi và tồn tại trong nội tâm. Đây là một sự xấu hổ, nhục nhã, ô nhục, mình sợ hãi cảm giác đó. Khi có một chút chán nản, mệt mỏi là diệt tận ngay lập tức. Mình phải tu với tinh thần quyết tử, chết cũng được, chết không là gì, chết một trăm cái mạng này để chứng ngộ được pháp bất tử.

Nửa đêm Đức Thế Tôn ngồi với thầy Tỷ-kheo, Đức Thế Tôn nói “Ta mệt mỏi, Ta muốn nghỉ ngơi”. Ngài nói với Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, thay thế Như Lai, các Tỷ-kheo đã vượt qua hôn trầm, hãy tiếp tục nói pháp cho đại chúng, nói pháp suốt đêm và thường trực. Mình phải có tinh thần học tu như vậy. Mình ngủ ngày mà bây giờ lên học tu mà còn buồn ngủ, ngủ gục, nghe pháp còn lờ đờ, mệt mỏi, vậy thức sáng đêm thì sao làm nổi. Chỉ ngồi nghe pháp tu mà mình không làm được, thì nói chi đến Thánh quả, Nhập Lưu. Cho nên mình đã tốt rồi, nhưng cần phải đột phá hơn. Đâu có nơi nào pháp đàm 5-6 tiếng như mình, nhưng bây giờ mình đột phá xuyên thủng qua, “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, xả bản ngã để chứng nhập vô ngã”. Đại chúng phải hiểu ý Minh Thành, không phải mình quá tệ, hay tốt nhưng Minh Thành không muốn dừng lại ở cái tốt này, mà cần phải tuyệt vời hơn để đi vào bậc Hiền Thánh. Muốn đi vào bậc Hiền Thánh thì không thể dừng lại tại đây.

Bản thân Minh Thành tu học với tinh thần đó, nhưng bây giờ cũng còn như thế này, nếu thấp hơn nữa chắc không ngồi đây mà còn ngoài đường. Khi chưa tìm được pháp này vẫn tu học với tinh thần như vậy, cho nên bây giờ mình càng phải mạnh mẽ lên, tinh tấn lên, hân hoan lên, phấn khởi, vui sướng lên. Minh Thành muốn đại chúng hợp tác, giúp đỡ để truyền tải lại những lời của Đức Phật đến tất cả mọi người, nhất là trong ba tháng an cư, phải cố gắng nghe pháp và thiền định, thiền quán liên tục, không cần đợi phải có thầy.

Nhiều khi Minh Thành tiếc từng buổi nói pháp, khi nào có thời gian là Minh Thành nói pháp liền. Huynh đệ thấy Minh Thành nhẹ nhàng đơn giản thoải mái nhưng không phải. Bên trong của thầy là những cuộc nội chiến nỗ lực và phấn đấu, thậm chí có những công việc cần thiết, phải tắt điện thoại, chứ không dễ dàng như mình nghĩ, phải có sự quyết liệt, nhiếp phục, cố gắng. Đừng nghĩ Minh Thành rãnh, sáng nói trưa nói chiều nói, đó là Phi Như Lý Tác Ý. Có thể là không thể có nhiều thời gian để nói nữa. lý nhân duyên rất sâu sắc, không phải đơn giản như mình nghĩ được lên ngồi thiền, nghe pháp là chuyện bình thường. Đó là tỷ nan, một ngàn tỷ công đức mình tích tập trong quá khứ, giờ mới biểu hiện ra hoa trái hôm nay, những thành quả hiện tại mình đang có. Nếu sơ suất một chút trong ý nghĩ sai lầm, tác ý Phi Như Lý Tác Ý có thể sụp đổ hết.

Ví như bờ tường đá ở phía trước xây cao 7-8m nhưng mưa gió, nước chảy nhẹ là xói mòn sạt lỡ hết, chỉ giọt nước thôi mà bờ tường đá tảng đã sụp đổ. Giống như một khi chưa có chân đứng trong pháp và luật thì bất cứ lúc nào mình cũng có thể thoái đọa, lùi lại và rơi xuống vực sâu, trở về trong luân hồi, trở về trong phàm phù tri kiến, trở về trong dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh và chấp thủ. Mình chưa đi vào lĩnh vực của an toàn thật sự, phải bước vào chuyển tánh Hướng Dự Lưu và Nhập Lưu mới an toàn. Chuyển tánh là chỉ mới bắt đầu chuyển hướn đi vào dòng pháp ly tham chưa là an toàn, Hướng Dự Lưu cũng chưa an toàn, mà thật sự Nhập Lưu mới an toàn, mình tự xét đã Nhập Lưu chưa? Giống như đi tới lên tới dốc, còn một chút nữa thôi nhưng vẫn có thể bỏ hết.

Đầy là những điều thực tế diễn ra ngay tại mắt, tai mình nghe, thấy chứ không phải xa xôi. Một chút nhỏ thôi nhưng cũng có thể bỏ hết tất cả công trình, công sức. Cho nên tinh thần phải là quyết tiến, phải hết sức dũng sĩ. “Thiện Thệ” là một trong các đức tính của Như Lai, là phải khéo để vượt qua. Sắp tới mình sẽ học bốn bộc lưu, hôm trước chỉ mới học dục bộc lưu, bốn ách là dục ách, kiến ách, hữu ách và vô minh ách. Cho nên để đi vào chứng nhập các địa vị của Hiền Thánh, đó thật sự là công trình vĩ đại bên trong, Còn đối với người xem thường hoặc làm cho qua loa, cho có chuyện, không để tâm, không để ý dốc hết trái tim và tấm lòng thì vĩnh viễn không thể nào chạm bước chân đến lãnh địa của bất tử.

Thật sự là như vậy, phải là như vậy, phải tu với tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ, liệt sĩ, vô thượng sĩ. Đừng đặt để, suy nghĩ vị trí mình là người bình thường, mà nhắm mục tiêu mình là Hiền Thánh, Vô Thượng Sĩ, bậc tối thượng trong pháp và luật của Như Lai. Phải đạt đến chỗ cao nhất, tột bật nhất ở trong pháp và luật. Không đặt mục tiêu mình là thường thường thấp thấp. Đặt tới mục tiêu A-la-hán là mình đạt tới Dự lưu, mà mình đặt Dự Lưu là lọt xuống vô văn phàm phu, do đó đặt mục tiêu phải cao. Cho nên mình ngồi yên như vậy nhưng bên trong là nội chiến, là chiến trường tâm linh, một trận tuyến vĩ đại. Chứ đâu phải ngồi đó để ngủ, để vọng tưởng, hay nghe cái boong rồi xả thiền. Lúc ngồi là trong tâm đang diễn ra một chiến trận vĩ đại, một chiến tuyến tâm linh, sáp lá cà xung trận, lâm trận, quyết chiến đến giây phút cuối cùng.

Khổng Tử có nói “đắp núi chín nhận”, ví như đắp ngọn núi 1.000 m chỉ còn sọt đất là xong, nhưng mà bỏ. Thường thường thất bại ở hai giai đoạn, một là bắt đầu và hai là sắp sửa kết thúc. “Vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản”, tức là khi khởi đầu khó mình không muốn làm, nhưng mình vượt qua cái khó thì bị thứ hai, mở rộng ra là cứ đều đều, như vậy là thất bại. Quan ải cuối cùng sắp thành công là sắp sửa đi tới đích, lúc đó bị thất bại. Giống như khởi lên thiện pháp thì rất khó, vượt qua được là thành công giai đoạn đầu, đến giai đoạn giữa là đều đều. Cho nên khi quyết tâm xuất gia là giai đoạn mạnh mẽ, bỏ trốn vượt qua thì tốt nhưng vào tu thì 3-5-7-10 thì quên chí nguyện, cứ đều đều, lúc đó là thất bại ở chặn giữa. Nếu không người này nỗ lực cả đời 29 năm, tới năm 30 sắp sửa Nhập Lưu chánh quả thì tự nhiên chán, mệt mỏi quá, tu nhiều mệt mỏi nên nghỉ là thất bại ở bước cuối cùng. Ai vừa đến chân núi, sẽ đọc được câu Linh Quy Pháp Ngữ: “Cẩn thận bước đầu, cẩn thận bước giữa, cẩn thận bước cuối, là đi đến thành công”.

Chúng ta cũng phải học thêm đức tính cẩn thận, đây là một trong những đức tính của Đế Thích – Vua Trời, nhờ đức tính cẩn thận mà thống lãnh chư Thiên trên cõi Trời. Cho nên tâm bị triền cái nhiều nên không sáng, đôi khi Minh Thành nói ba lần nhưng không nghe rõ. Minh Thành nói cái này thì làm cái khác do trong tâm mình đầy rẫy ngũ cái, không trong sáng, không tinh anh. Trong một bài kinh, có ông Bà-la-môn hỏi tại sao học chú thuật lại hay bị quên. Đức Phật ví dụ năm triền cái, giống như bát nước sôi mà bỏ màu vào, bát bị đóng rong, rêu là do tâm không trong sáng, không nhận rõ. Nói cái này nghe cái kia, kêu cái này lại làm cái khác, do tâm bị mờ đục, vẩn đục, tâm không trong sáng.

Cho nên phải triệt tiêu ngũ cái, diệt tận ngũ cái, an trú tâm trong Tứ Niệm Xứ, sau đó tu tập Thất Giác Chi, đó là truyền thống của bậc Chánh Đẳng Giác. Phải diệt tận được ngũ cái mới vào Sơ thiền, lúc đó tâm mới tinh minh, hoan hỷ, hỷ lạc trong pháp. Muốn diệt ngũ cái thì thực hành những pháp đã nói, phải hết sức cẩn thận, để tâm, nhìn lại công trình bên trong, cảm thấy xấu hãi, sợ hãi đối với thiện pháp, phải tinh tấn, tàm, quý và trí huệ. Thành tựu tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ - đây là gia tài của bậc Thánh, gọi là Thất Thánh Tài. Những điều này mình phải làm cho dồi dào, giàu có, sung mãn, đầy đủ, thành triệu phú, tỷ phú trong Thánh Pháp, không được là người nghèo nàn, chỉ một chút đã thỏa mãn, hài lòng là không được.

Như vậy Minh Thành nhắc lại, hãy tu với tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ, liệt sĩ, và vô thượng sĩ thì sẽ thành công.

./.