Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm - Trí Tuệ Về Tưởng

2026-03-03 00:54:34
Pháp Đàm Nkāya

Trí Tuệ Về Tưởng

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu hỏi PAGEREF _Toc203928989 \h 1

II. Dáng nằm của Đức Phật PAGEREF _Toc203928990 \h 2

III. Bảy trí về tưởng PAGEREF _Toc203928991 \h 3

IV. Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc203928992 \h 8

V. Quán vô thường – khổ – vô ngã PAGEREF _Toc203928993 \h 13

VI. Trình pháp PAGEREF _Toc203928994 \h 22

I. Câu hỏi

Sư Phụ: Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí, tối nay theo chương trình chúng ta có buổi hỏi đáp, con xin mời tất cả các vị có cần hỏi gì chúng ta hỏi, các vị hỏi trực tiếp và sau đó chúng ta sẽ trả lời những câu hỏi được ghi ở trên đây. Chúng ta đừng có ngại hỏi, hôm qua con thấy có rất nhiều vị lại hỏi, hỏi những cái vấn đề mà mình từ ngày lên đây tới bây giờ, được hướng dẫn hoặc là được nghe mà mình chưa có hiểu, chưa có sáng tỏ trong pháp học, pháp hành.

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch sư thầy, kính bạch quý Tăng, quý Ni và các giới tử. Để mở lời cho câu hỏi đầu tiên buổi vấn đáp ngày hôm nay, con xin có một câu hỏi, câu hỏi này xuất phát từ cái tâm con không hiểu biết chứ không phải là câu hỏi này xuất phát từ tâm ngã mạn và tự ti của con. Dạ câu hỏi của con thì sớm con lên đây, con có thấy ảnh Đức Phật lúc nằm nghỉ, Đức Thế Tôn nằm nghỉ mà nằm về hướng tay phải, câu hỏi này con không hiểu biết mong sư thầy giải đáp giúp con tại sao Đức Thế Tôn lại nằm bên mé tay phải mà không nằm và hướng tay trái ạ. Dạ mô Phật.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giảng sư chứng minh, kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni và quý hiền trí có mặt trong buổi pháp đàm hôm nay. Con có một câu hỏi muốn hỏi thầy, đây là lần đầu tiên con tham gia về tu tập thiền định và con muốn hỏi thầy chỉ cho con cách để con học về thiền định tốt hơn vì trong khi con ngồi thiền định thì con có những vọng tưởng, con muốn đoạn diệt những cái vọng tưởng đó thì con tu tập bằng cách nào. Con mong thầy chỉ cho con để con học tập tốt hơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính thưa thầy, kính thưa quý chư tôn đức Tăng Ni cùng đại chúng, con xin có một câu hỏi cho thầy là thưa thầy qua các video trong buổi tu tập thì con thấy những hình ảnh thầy có cho chúng con xem là hình ảnh hỏa tiêu tử thi người, rồi hình ảnh con người bóc tách lớp da thịt bên ngoài lộ bộ xương. Con không sợ những hình ảnh giòi bò ăn xác chết này kia vì con cũng hay xem phim kinh dị, phim ma này kia nhưng mà nó làm dấy lên cái cảm thọ trong con bữa giờ là sợ chết, biết là con người thì không ai thoát khỏi được sinh, lão, bệnh, tử và cũng như ngài Thích Quảng Đức thì ngài đã tẩm xăng tự thiêu để đấu tranh cho quyền tự do của Phật giáo. Vậy thì con xin gộp chung một câu hỏi là làm thế nào để quán trệt tiêu diệt và nhiếp phục vấn đề tham sống sự chết, thưa thầy và đối với các bậc đạo sư khi m đã tu tập đến một cảnh giới nhất định sẽ không còn sợ hãi cái chết như là người phàm chúng con vẫn hay sợ phải không ạ? Con cảm ơn ạ.

II. Dáng nằm của Đức Phật

Sư Phụ: Chúng ta trả lời ba câu hỏi này trước. Đức Phật nằm nghiêng về bên phải là dáng nằm của con sư tử, trong kinh Nikāya chúng ta đọc sẽ thấy có diễn tả rất là kỹ dáng nằm của Đức Phật thường nghiêng và bên phía tay phải. Trong cái cách nằm này có nhiều công năng, tác dụng, mình đọc thêm ở trong kinh tạng Nikāya cách nằm của Đức Phật khi nằm sắp hay là nằm ngửa thì những cái dáng nằm đó thô tháo và dễ sanh ra cái dục nhiễm. Khi nằm nghiêng và một bên sẽ dễ chánh niệm, dễ tỉnh giác, nhiều cái lợi ích lắm.

"- Này các Tỳ-kheo, có bốn cách nằm này. Thế nào là bốn?

Cách nằm của ngạ quỷ, cách nằm của kẻ hưởng thọ dục vọng, cách nằm của con sư tử, cách nằm của Như Lai. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là cách nằm của ngạ quỷ?

Này các Tỳ-kheo, phần lớn các ngạ quỷ nằm ngửa. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là cách nằm của ngạ quỷ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là cách nằm của người hưởng thọ các dục vọng?

Và này các Tỳ-kheo, phần lớn người hưởng thọ các dục vọng nằm phía bên trái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là cách nằm của kẻ hưởng thọ các dục vọng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là cách nằm của con sư tử?

Này các Tỳ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, nằm về phía hông bên mặt, hai chân gác lên nhau và cuộn cái đuôi vào giữa hai bắp vế; khi thức dậy, nó duỗi ra phía thân trước, rồi nó ngó lui ra phía thân sau. Này các Tỳ-kheo, nếu con sư tử, vua các loài thú, thấy thân phần nào đặt sai chỗ hay lộn xộn, thời này các Tỳ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, không được hoan hỉ. Nhưng này các Tỳ-kheo, nếu con sư tử, vua các loài thú, thấy thân phần nào không đặt sai chỗ hay lộn xộn, thời này các Tỳ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, được hoan hỉ. Này các Tỳ-kheo, đây là cách nằm con sư tử.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là cách nằm của Như Lai?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ly dục ... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Tỳ-kheo, đây là cách nằm của Như Lai. Này các Tỳ-kheo, có bốn cách nằm này." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XXV. Phẩm Sợ Hãi Phạm Tội, (IV). Cách Nằm)

III. Bảy trí về tưởng

Câu hỏi thứ hai là câu hỏi này cần thiết, chúng ta là phải biết được bảy trí tuệ về tưởng. Đầu tiên mình phải biết vọng tưởng là cái gì, mình phải biết từ đâu vọng tưởng sanh, làm thế nào vọng tưởng diệt, diệt vị ngọt của tưởng, sự nguy hại của tưởng, sự thoát ra khỏi tưởng và con đường đưa đến các cái tưởng chấm dứt, mình phải biết đây là bảy loại trí tuệ. Tưởng của mình từ đâu có? Từ sự tiếp xúc, xúc tập khởi là tưởng tập khởi, thành ra mấy cái này phải học thuộc lòng hết, đây là ba mươi lăm loại trí tuệ về ngũ uẩn, học cái này rồi chúng ta mới thấy sự giác ngộ của Đức Thế Tôn là khủng khiếp lắm.

Tất cả cái tâm của mình có một cái guồng máy, nó có một sự vận hành, nó có một hệ hoạt động, điều hành của nó và Đức Phật khám phá ra hết. Khi mình chưa học Nikāya là mình không có biết, mình chỉ hiểu tâm là một cái gì chung chung, vọng tưởng là những cái suy nghĩ nhưng suy nghĩ đâu phải là tưởng, suy nghĩ là hành, hình bóng là tưởng, gì rõ biết là thức, cảm giác là thọ. Đó là lý do cần học thuộc rồi mới nhận diện, Đức Phật nói đó do mình tiếp xúc, thí dụ như mình nhìn thấy cây quạt này, chút xíu nữa hết thời pháp rồi mình về mình nằm nhắm mắt mà mình nhớ hình cây quạt này thì có phải do mình tiếp xúc bằng con mắt không đó, Đức Phật còn phân loại mấy loại tưởng. Cái này nếu có thời gian trong khóa tu này chúng ta sẽ học mà các cái bạn trẻ học cái này là các bạn sẽ rất thích.

Chúng ta học cái này rồi chúng ta mới càng kính Phật, càng hiểu Phật hơn và càng biết được Phật là như thế nào. Chúng ta không có học Nikāya này thường thường chúng ta nghĩ tưởng Đức Phật không có đúng, chúng ta học Nikāya rồi chúng ta thấy cái trí tuệ, cái sự chứng ngộ của Đức Phật là không thể tưởng tượng nổi. Tất cả nội tâm mình có cái gì, nó sanh lên làm sao, nó vận hành như thế nào, cái guồng máy, cái hệ điều hành, cái mô típ, cái cấu trúc của thân tâm mình được Đức Phật trình bày một cách đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ ở trong thánh trí ngũ uẩn, không có một đường lối tu nào giải thích cặn kẻ như kinh tạng Nikāya hết.

Hình bóng trong tâm sao có là do mình tiếp xúc hoặc là bằng mắt, hoặc là bằng lỗ tai, hoặc là bằng lỗ mũi, mình ngửi, mình nghe cái mùi đó rồi mình hồi tưởng là cái mùi đó, gọi là hương tưởng. Mình thấy cái quạt này rồi tối nay mình trở về nhớ lại gọi là sắc tưởng, mình nghe người đó chửi rồi tối về mình lăn qua trở lại ngủ không được gọi là thanh tưởng. Hồi trưa này ăn cái món gì, chiều này ăn cái món gì xong rồi mình nhớ là món đó gọi là vị tưởng, thành ra Đức Phật phân loại cái tưởng. Pháp tưởng là mình hồi tưởng lại những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ mà mình đã tiếp xúc thì chúng ta mới thấy được trí tuệ tối thượng của Đức Phật ở đây.

BẢY TRÍ VỀ TƯỞNG

• Tưởng: Hình bóng, bóng dáng 6 trần hiện lên trong tâm, đó gọi là Tưởng. Định nghĩa theo kinh Đáng Được Ăn: “Nhận rõ nên gọi là Tưởng”

=> Bóng dáng 6 trần hiện khởi trong nội tâm, sự hiện khởi này gọi là nhận rõ 6 trần. Sự nhận rõ này, hay sự hiện khởi này được gọi là Tưởng.

• Tưởng sanh: Do Xúc tập khởi nên Tưởng tập khởi.

• Tưởng diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Tưởng đoạn diệt.

• Tưởng diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Tưởng đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.

• Vị ngọt của Tưởng: Do duyên Tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Tưởng.

• Sự nguy hại của Tưởng: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Tưởng, đó là sự nguy hại của Tưởng.

• Sự xuất ly của Tưởng: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Tưởng. Đây là sự xuất ly của Tưởng

Hình bóng của sắc gọi là sắc tưởng, hình bóng của âm thanh thì gọi là thanh tưởng, hình bóng mùi thì gọi là hương tưởng, hình bóng vị gọi là vị tưởng, hình bóng của cái sự tiếp xúc gọi là xúc tưởng, những hình bóng của cảm giác, nghĩ tưởng là pháp tưởng. Tưởng sanh, do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, do mình tiếp xúc có ra những cái hình bóng trong tâm, có bao giờ mình không tiếp xúc mà có ra hình bóng không? Ví dụ trước khi mình lên Linh Quy Pháp Ấn, trước khi mình lên Cổng Trời làm sao ở trong tâm mình có hình bóng? Trừ ra khi mình xem ở trên mạng thì cũng là tiếp xúc, gián tiếp hay trực tiếp thì cũng là tiếp xúc cho nên do tiếp xúc mới có ra hình bóng trong tâm.

Bây giờ làm sao để hình bóng trong tâm này chấm dứt? Tiếp xúc chấm dứt thì hình bóng này cũng chấm dứt. Mắt không tiếp xúc, lỗ tai không tiếp xúc, lỗ mũi không tiếp xúc, cái lưỡi không tiếp xúc, cái thân không tiếp xúc nhưng mà ý xúc cho nên cắt luôn cái ý xúc thì cái xúc này chấm dứt thì cái hình trong tâm cũng chấp dứt luôn. Muốn cắt được ý xúc phải có một trí tuệ rất là thâm sâu, không phải muốn là được, muốn thành tỷ phú được không? Muốn thành bác sĩ được không? Mình phải học và phải nỗ lực nữa thì như vậy có cách. Con đường chấm dứt các tưởng là tám đúng, phải thấy đúng về cái tưởng, nghĩ đúng về cái tưởng, nói nhiều quá sợ quý vị không có nắm được, còn mới cho nên nói nhấn mạnh cái thấy đúng thôi. Thấy đúng cái tưởng thì phải biết rằng cái tưởng này là do duyên sanh, nó là do duyên sanh tức là nó lệ thuộc, nó nương dựa, nó vay mượn, nó lắp ráp, cái tưởng đâu có thiệt đâu cho nên mới gọi là vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, ảo tưởng, điên đảo tưởng.

Khi mình biết được bản chất của tưởng thì mình mới diệt nó được, mình biết đúng về cái tính chất, cái bản chất của nó mình mới có khả năng diệt nó được. Thí dụ như bây giờ mình muốn trị người đó cho họ tâm phục khẩu phục mà mình không biết gì người đó hết thì trị được không? Đầu tiên mình biết tên tuổi, đó là tưởng ở trên, kế đó mình phải biết mặt mũi của tưởng, phải biết tánh tình của tưởng, phải biết cái bản chất của tưởng thì mình mới trị được tưởng. Thành ra mình phải biết được vị ngọt của nó, do duyên tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của tưởng, tức là cái hình bóng trong tâm hiện lên rồi mình vui, mình thích, mình khoái, sướng, đó là vị ngọt của tượng. Bây giờ mình đang ngồi tự nhiên cái mặt của mình hiện ra trong tâm, lúc đó mình thích không? Sáng mới ngủ thức dậy nhìn vô gương thấy mặt mình trong đó thì có vị ngọt không? Hằng ngày là mình cho tưởng ăn, mình nuôi cái tưởng đó thì làm sao chấm dứt cái tưởng đó được? Mình muốn chấm dứt cái tưởng nhưng mình không biết gì về tưởng hết thì mình chấm dứt được không? Cũng như mình muốn cho hết bệnh mà cái bệnh rất nặng, ung thư giai đoạn cuối mà mình không biết gì về bệnh đó hết, cái tên của bệnh mình cũng không biết, tình trạng của bệnh, bệnh trạng cũng không biết, bệnh lý cũng không biết, thuốc để trị cũng không biết thì làm sao mình trị hết cái bệnh đó được?

Ở đây mình phải biết được vị ngọt của tưởng, hình bóng hiện ra trong tâm mà mình ưa thích, mình khoan khoái, mình vui sướng, mình thích thú thì cái đó là vị ngọt của tưởng. Hằng ngày chúng ta có sống với điều này nhiều không ạ? Sự nguy hại của tưởng là tất cả những cái hình bóng đó nó sẽ đổi thay, tất cả những hình bóng này nó sẽ khổ, tất cả những hình bóng phải chịu sự biến hoại, đó là sự nguy hại của tượng. Tất cả hình bóng trong tâm rồi sẽ đổi thay, chẳng hạn như lâu lắm mình mới gặp lại một người quen mình nghĩ tới đó thì sẽ vậy, tới chừng mình tới đó thì mặt lạnh như tờ không muốn tiếp, thậm chí điện thoại không bắt luôn thì nó có đúng với cái tưởng của mình không? Lúc đó mình có đau khổ không? Đó là sự vô thường của tưởng, sự thay đổi của cái hình bóng trong tâm.

Mình quen biết người đó, năm năm sau mình gặp lại thì mình nghĩ hình bóng đó cũng giống y như năm năm trước, cuối cùng không phải vậy, nó khác hoàn toàn hết, vậy là mình đau khổ. Bởi vì tất cả là nó biến đổi, khổ, nó phải chịu sự biến hoại, cái chữ "chịu" này cần phải chiêm nghiệm, phải chịu đau, phải chịu khổ, phải chịu đổi thay, phải chịu nóng, chịu lạnh, chịu đói, chịu rét. Chúng ta thấy không, tất cả đều phải chịu sự biến hoại hết, đó là sự nguy hại của tưởng. Làm sao để thoát ra khỏi các tưởng đây? Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với các cái hình bóng trong tâm, đó là cách thoát ra khỏi tưởng. Nhiếp phục cái muốn, cái thích, cái khoái, cái hình bóng trong tâm thì mình sẽ đi ra khỏi nó, những hình bóng trong tâm này rất ghê gớm. Những hình bóng trong tâm chúng ta dùng cái từ trong kinh Nikāya là "ám ảnh", mình đau khổ những hình bóng đó, mình tức giận, mình sân hận, oán thù, khó chịu, bực bội, bức xúc, bực dọc, phẫn nộ với những hình bóng đó, mình say mê, mình đắm đuối, mình ràng buộc, mình dính mắc, mình trói cột ở trong những hình bóng đó đi ra không được.

Cho nên mới có cụm từ "làm sao giết được người trong mộng", người trong mộng là cái hình bóng đó. Nhiều khi đã quen là hai mươi năm rồi, gọi là ý trung nhân, là người ở trong lòng, hình bóng đó ghê lắm. Hồi xưa con nhớ con còn nhỏ chị Mai hay mở bài của Giao Linh "Đôi Mắt Người Xưa", hay là hôm nay tôi trở về thăm trường cũ, tất cả nó đổi thay hết cho nên mình đau khổ. Mình không có muốn nó đổi, mình muốn những cái mà mình đã từng thấy, từng nghe, từng cảm nhận, từng tiếp xúc, từng nhận thức sẽ y như vậy. Nhưng bây giờ nó đổi, nó chịu sự biến hoại, mình đau khổ tại vì mình có yêu, có thích, có khoái nó, mình có dục đối với nó, mình có tham đối với nó, mình muốn nó phải như vậy mà nó không vậy thì mình khổ. Mình muốn, mình ưa, mình thích, mình khoái, mình nắm, mình giữ những cái hình bóng ở trong tâm chứ không phải ở bên ngoài.

Có những người ở trong rừng ba bốn chục năm nhưng mà trở ra người ta kêu người rừng chứ người ta đâu có kêu bậc giác ngộ. Có nhiều người cũng ở trong tù năm mươi năm, bị xử oan đến khi thả ra thì người ta đền cho bao nhiêu tiền, nhưng mà người này cũng đâu có chứng đắc đạo quả, đâu phải vô đóng cửa lại rồi là ai cũng chứng đạo đâu. Tại vì sao vậy? Do những cái tưởng này hoạt động trong vô minh, hoạt động trong tham ái, hoạt động trong chấp thủ, hoạt động trong bản ngã, hoạt động trong dục và tham đối với các tưởng, các thọ, các hành, các thức, đối với các sắc. Họ đâu có thấy được diệt đạo, con đường để chấm chết sắc; thọ; tưởng; hành; thức không thấy. Thành ra chúng ta thấy không, một câu hỏi làm sao để chấm dứt tưởng không có đơn giản, đó là lời giải thích của Đức Phật chứ không phải mình ngồi lên không nghĩ rồi xong hết tưởng, không phải như vậy. Mình phải biết tên tuổi nó, mình phải biết mặt mũi nó, mình phải biết tánh tình nó và mình phải biết bản chất của nó.

Con hay dùng những cái từ đơn giản nhất tiếng Việt để chúng ta dễ nhớ, đầu tiên mình phải biết tên tuổi nó, mặt mũi nó, kế đó mình phải biết tánh tình và sau đó mình phải biết bản chất của nó trong ngũ uẩn, mình phải biết hết, mình phải kêu đúng, xin hãy gọi đúng tên tôi. Bây giờ mình tên là Hải.

Hải đâu?

Dạ.

Mình kêu Vân trong khi mình tên Hải thì mình đâu có sao, cho nên phải kêu trúng cái tên cái đó là nó sợ, tim nó đập liền, mặt nó nhảy liền, mặt nó xanh liền. Cũng vậy, mình kêu "tưởng, mày hả mày, giờ tao biết mặt rồi nha" là nó sợ, ông chủ tới rồi, còn bây giờ hình bóng nào hiện ra ở bên trong cũng đều chìm đắm trong đó hết, mình đều bị đồng hóa trong đó hết, mình đều bị quay cuồng ở trong đó gọi là điên đảo tưởng. Hình móng nào hiện ra trong đó mình cũng nói là mình nghĩ, mình tưởng, tưởng của tôi, bây giờ mình kêu nó cái này là tưởng uẩn thôi, là một sự nhóm hợp của các hình bóng ở trong tâm. Mình kêu:

Tưởng.

Dạ.

Mặt mũi nó là sao? Nó chỉ là cái bóng mờ thôi, cái bóng mờ ảo thôi, ảo ảnh thôi, nó không có thật cho nên khi ngồi thiền mà mình cứ ngồi lại bắt đầu nhắm mắt một hồi là mình đi xa luôn, mình phải thấy được cái mặt mũi nó chỉ là những bóng mờ, những ảo ảnh, những sự ám ảnh, những cái hư ảnh, huyễn ảnh, hư tưởng, huyễn tưởng, vọng tưởng, mộng tưởng, không tưởng tức là trống rỗng, trống rỗng, không có gì hết. Như vậy mình thấy được mặt mũi của nó rồi mình biết cái tánh tình của nó là ham, là thích, là muốn, là khoái, là ưa, là đắm, là đuối, là mê, là say, là ngu, là giận, là mờ tối, là tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, là tôi. Chạy xe quá tốc độ bị thổi lại thì hỏi "biết tôi là ai không?", hỏi xong còn bị phạt nặng hơn nữa, ở đây không có tôi nào hết, đây là pháp luật, thượng tôn pháp luật, chỗ này là pháp, không có tôi nào ở đây hết. Chỗ này giống y như mình học chánh pháp vậy đó, mình bị chỉ lỗi thì đổ thừa tại cô kia, tại ông kia, vậy là phạt thêm vì ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, ở đây không có ai cả, thượng tôn pháp luật, âm dương đồng nhất lý, đạo đời như một, không có khác. Ngay chỗ đó người ta nói pháp luật, người ta không nói ai hết, anh chức gì cũng kệ, không biết, anh chạy phạm luật giao thông là anh phải chịu phạt chứ không nói tôi con ai hết, ba tôi là ai là ai, phạt thêm nữa.

Cho nên khi mình nghe pháp, khi mình thiền quán, khi mình trình pháp, khi mình được chỉ lỗi, tất cả cái chỗ đó không có cái mình thì mình mới thể nhập được pháp, cái đó gọi là mình kính pháp, mình tôn trọng pháp, mình quý pháp, mình mến pháp, mình ưa pháp, mình tôn pháp, mình thờ pháp, mình quy pháp là cái chỗ đó. Vì vậy khi mình kính pháp hết mức là ngồi thiền không bao giờ ngủ gục hết, trừ những cái trường hợp không thể chịu nổi, khi mình kính pháp tột cùng thì tự động những cái suy nghĩ, lời nói, hành động của mình sẽ hợp pháp, cái đó là tự động dòng pháp đưa người về phía trước. Mình kính tột bậc pháp được là vì mình hiểu được pháp là cái gì, cái giá trị của pháp.

IV. Bản chất của ngũ uẩn

Trở lại vấn đề khi thiền quán là không có tôi, không có ai hết trơn, Đức Phật nói là nói thẳng vô cái dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nói thẳng vô cái đống ngũ uẩn là lúc đó mình nghe những lời kinh, nghe những lời thiền quán. Thậm chí mình nghe những lời mắng chửi, Đức Phật ngày xưa quở trách các thầy Tỳ-kheo nặng lắm, mình đừng có tưởng Đức Phật lúc nào cũng cười, cũng hiền hết, Đức Phật quở nặng lắm, những cái lời mạnh đó đánh vô cái tâm mê để cho người kia tỉnh thức chứ không phải là ngài sân si, cũng như tối này mà con không có nói lớn lên là ma nhập hết, cho nên bây giờ mấy thầy muốn cho ngồi thiền tiếng làm sao ngồi nổi, ban ngày ngồi cũng không nổi nữa. Cái tâm chúng sanh bây giờ khác với thời xưa cho nên bây giờ tu thiền định rất khó, rất là khó, tự nhiên mình có được một cái pháp hành thiền quán rất là hợp trong thời đại ngày nay nhưng mà thiền định vẫn phải hỗ trợ, vẫn phải cần thiết, làm cái phương tiện.

Cái tánh tình chung của ngũ ẩn này là ham, là thích, là muốn, là khoái, là ưa, là giận, là tức, là sân, là mờ tối, mù lòa, là tôi, ta, bản ngã, là sầu bi, khổ, ưu não, là hại mình, hại người, là ngu si, là mê muội, là thiêu đốt, là đốt cháy, là phá nhà phá cửa. Nó phá dữ lắm, cái tánh tình của nó là siêu quậy, quậy banh nóc, quậy cho mình khổ vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp mà mình không biết cho nên mình vô minh. Cái tưởng có quậy mình không? Quậy nhiều cỡ bao nhiêu? Vậy mà mình cưng nó lắm, nó hiện lên là chị em mình sống chung nha, nằm ôm nó ngủ, ôm cục lửa than ngủ, ôm rắn độc ngủ, ôm rắn hổ mang chúa ngủ, ôm cá sấu ngủ rồi nó bập đứt đầu, đứt tay, đứt chân vậy mà cũng không biết thì Đức Phật mới gọi là vô minh. Vô minh là vậy đó, là không biết tên tuổi của ngũ uẩn, không biết mặt mũi của ngũ uẩn, không biết tánh tình, bản chất ngũ uẩn.

Bản chất của ngũ uẩn là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại… Đức Phật nói những cái định luật, định lý căn bản, mình nói rộng ra là từ đây tới chết cũng không hết. Cái bản chất của nó là ngụy biện, quanh co, gian trá, xảo quyệt, ác độc, ích kỷ, hư ngụy, ranh ma là cái bản chất của nó, cái bản chất của nó là vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại. Mình thấy được hết của nó rồi mình chán nó, ly dị liền ngay lập tức trong ngày, chịu hết nổi rồi, đó là các bậc chứng thánh Tu-đà-hoàn, khi các ngài nhìn thấy được sự thật "Trời đất ơi, tôi tưởng đâu ngon lành lắm tôi rước về ở chung, giờ tôi biết tôi sợ chạy mất dép, thôi bà đi đâu bà đi đi". Ly dị ngũ uẩn, đó là viễn ly, là xả ly, là xuất ly, là đoạn ly, là thoát ly.

Chúng ta thấy mấy chỗ trung tâm thương mại có lối thoát hiểm, cái đó rất quan trọng, khi cháy nhà hay có chuyện gì là nhờ mấy cái đó cứu người. Trong tâm mình có lối thoát hết chưa? Đó gọi là xuất ly đạo lộ, phải có cái này mới là bậc Đa văn thánh đệ tử, nhiều khi mình tu, mình học suốt đời suốt kiếp luôn cũng không có được lối thoát. Phải có lối thoát ra khỏi năm uẩn, ngày hôm qua chúng ta thấy bộ xương, chúng ta thấy những cái hình giải phẫu cơ thể đó là dùng sắc diệt sắc, gậy ông đập lưng ông. Tại vì một cái sắc của mình, sắc tưởng hay là sắc tướng mình đều là khả lạc, khả hỷ, Khả ý, khả ái liên hệ đến dục, kích thích lòng dục hấp dẫn. Mình dám ôm bộ xương ngủ không? Nếu mình thấy được bộ xương của mình thì mình cũng sợ luôn, cho nên quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của tử thi là dùng sắc diệt sắc, tức là đem một sự biến hoại, tàn tạ, huỷ hoại, hoại diệt để phá đi sự mơn mởn, đẹp đẽ, đáng yêu.

Bây giờ nó không còn đáng yêu nữa, bây giờ là nó đáng chán đáng, nhàm chán, gớm ghiếc, ghê tởm, kinh dị, khiếp đảm và sợ hãi. Cũng cái người đó mới ôm ấp, yêu thương, một bước không xa rời nhưng bây giờ chỉ cần tắt thở nằm xuống là trở thành ma, là sợ, là tối "Thầy ơi con không dám ngủ, ổng mới chết rồi con không dám ngủ, con sợ ổng về". Trời đất ơi! Thấy nó vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, nó có cái gì đâu, không có cái gì hết nhưng vì cái tâm mê này, cái tâm dại, tâm khờ, tâm ngu cho nên dùng sắc diệt sắc, dùng thọ diệt thọ.

Bây giờ dùng thọ diệt thọ là làm sao? Mình dễ chịu cũng bị dính tham, khó chịu cũng bị dính sân, không dễ chịu không khó chịu cũng dính si rồi bây giờ cuối cùng phải làm sao? Phật tử ở bên Úc Châu hỏi cái nào cũng dính tham, sân, si thì tu sao thầy? Chỗ này quan trọng, mình có ba thọ, dễ chịu tức là lạc thọ, trong lạc thọ có tham, khó chịu tức là khổ thọ, trong khổ thọ có sân, không dễ chịu không khó chịu tức là bất khổ bất lạc thọ, trong bất khổ bất lạc thọ có si. Bây giờ cái tham này trị bằng bất tịnh, cái sân trị bằng tâm từ, cái si trị bằng trí tuệ, tuệ quán, tinh cần, tinh tấn. Nhưng mà còn một cái cách nữa Đức Phật dạy mình quán cái cảm thọ vui này là khổ, quán cảm thọ khổ là mũi tên, quán cái cảm thọ không khổ không vui này là vô thường.

Tại sao cảm thọ vui lại quán khổ? Vui mà sao Đức Phật kêu quán khổ? Vậy là không có thực tế hay sao? Mình nhậu có vui không? Rượu vào lời ra, sau đó đập bàn đập ghế thì vui không? Mình thấy được cái khổ ở trong cái vui đó, cũng như bây giờ mình bảy chục, cháu mình đám cưới thì "Trời ơi khổ tới nơi rồi tụi bay ơi, trời đất ơi, tao đi qua hết trơn rồi", nó nói "ông này bị bệnh rồi, ổng già nên lú lẫn rồi". Nó làm sao hiểu được, rõ ràng người ta là song hỷ lâm môn, hai họ đều vui nên người ta để song hỷ, còn lâm môn là đến cửa vậy mà mình nhìn vào thấy khổ đến nơi rồi, "ông khổ suốt cuộc đời mà giờ tụi bây đâu có biết, chừng nào tụi bây bằng ông rồi lúc đó tụi bây mới thấy", đó là quán lạc là khổ, sướng đó là cái khổ thì như vậy mới phá được cảm thọ sướng kia, cảm thọ vui kia, cảm thọ chấp cho là vui.

Bây giờ cảm thọ khổ thì Đức Phật dạy quán như mũi tên, tại sao vậy? Bình thường mình không có trí tuệ thì mình gặp cái khổ này là mình chán theo kiểu tiêu cực, mình muốn buông bỏ hết nhưng mà cái khổ Đức Phật nói là do thấy được bản chất của khổ và mình còn quán thêm nữa, mình khắc ghi, mình tô đậm, mình làm cho nó trở thành một cái ấn tượng trong tâm của mình để mình đưa đến sự nhàm chán, ly tham. Cái mũi tên này đâm vô tim của mình làm đau nhức bởi vì cái khổ qua rồi thôi nhưng mà Đức Phật dạy mình quán nó giống như cái mũi tên ghim vô trái tim của mình, một lần thất tình là đi tu luôn chứ không đi kiếm người khác nữa. Đi kiếm đê bị mũi tên đâm nữa hay sao? Tức là Đức Phật dạy mình phải cảm thọ cái khổ một cách sâu sắc và phải quán chiếu giống như mũi tên ghim vô lồng ngực của mình để nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, thoát ra thì mới đi qua cái xuất ly, từ cái chỗ nhàm chán, ly tham này mới thành tựu được thánh tri kiến của bậc thánh cho nên gặp khổ phải quán thêm nó là mũi tên.

Vừa rồi khi con qua Úc Châu Ni sư trụ trì nói với con "Thầy ơi con vừa chứng kiến một cái cảnh mà con nghĩ rằng ba bốn năm sao con mới có thể lấy lại cái cảm thọ bình thường được, những cái người bệnh già mà chết cái cảnh nó khủng khiếp", khi cái tứ đại tan rã là chảy ra những cái thứ kinh hãi, kinh hoàng mà mình phải chứng kiến như vậy. Có những người chết chảy máu mũi, chảy các cái chỗ trong cơ thể, phải lau chui hoài. Khi chúng con chia sẻ các pháp hành ở ngoài biển, Ni sư nói là bây giờ cảm thọ Ni sư nhẹ nhàng trở lại rất là nhiều nhưng mà nó vẫn còn ám ảnh, con nói dùng cái này làm định tướng, quán nó là mũi tên, lấy nó làm định tướng và khắc sâu cái hình ảnh đó, không được quên để nhàm chán cái thân xác này, để ly tham, để từ bỏ, để thoát ra. Ngài nói cái này tuyệt dịu quá "Con thưa thầy tuyệt dịu quá, chẳng nhẫn hết trầm cảm mà còn có thể tăng Thượng trong thánh trí tuệ".

Thành ra cái quán mũi tên này rất quan trọng, khi mình gặp cái khổ mình đừng có sân si, bực bội, oán hận, trách hờn mà mình phải khắc sâu cái khổ nó vào trong tin bằng cái trí, bằng cái ánh nhìn của trí tuệ, bằng khổ thánh trí. Từ đó mình thấy được cái bản chất của ngũ uẩn này thì mình mới có sự nhàm chán, không tham nữa. Chữ tham này làm khổ cả thế giới, chữ tham này trong bài kinh Đại Khổ Uẩn Đức Phật nói vua giành với vua, quan giành với quan, dân dành với dân, tranh đấu, tranh giành, anh em giành với nhau, chị em giành với nhau, cha con tranh giành với nhau, mẹ con tranh giành với nhau, thầy trò tranh dành với nhau, tu sĩ tranh giành với nhau chứ không phải cạo cái đầu là xong đâu mà tất cả những cái đó đều từ gốc tham hết, tham ở trong ngũ uẩn này.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong." (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)

Bây giờ mình không thấy được cái khổ ở trong ngũ uẩn này thì làm sao mình bớt cái tham? Làm sao nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham? Toàn bộ thánh trí ngũ uẩn là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình muốn nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thì mình phải thấy nó khổ, nó biến đổi, nó biến hoại, nó tan nát, nó huỷ hoại, nó hoại diệt, nó nguy hiểm, nó khốn nạn, nó hoạn nạn, nó ách nạn, nó khổ nạn, nó hiểm nạn, nó nguy nan thì mình mới nhàm chán nó được. Từ cái chỗ nhàm chán mình không tham nữa, từ chỗ không tham nữa mình mới bỏ nó, mình mới đi ra được, xuất ly, giải thoát. Nếu mình không có quán cái mũi tên này thì làm sao thoát được nó? Cho nên cái này rất quan trọng, khi khổ thì quán mũi tên.

Khổ với sướng một ngày mình đâu có nhiều đâu, giỏi lắm mình hai mươi, ba mươi phút hoặc mười phút thôi nhưng cái bình thường, đều điều, không khổ không vui, thường thường là nhiều lắm. Cái này mình tu nhiều nè, cái này mình phải quán nó là vô thường, vô thường mới nói mãi thành thường rồi, không còn cảm thọ gì nữa hết. Bây giờ phải quán vô thường là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Tức là mình đang đi bình thường nhưng nhắc cái tâm mình "không có bình thường đâu tâm ơi, đột biến, đột qụy đó, đột tử đó", nhắc như vậy thì mình có nỗ lực lên không? Mình có tinh tấn lên không? Mình có thấy giống như con ngựa được quất phía sau không? Cảnh Sách là cây roi quất phía sau con ngựa, nó nhảy lên, nó chạy lên về phía trước, đó gọi là tinh cần, tinh tấn, cảnh sách, sách tấn, sách tâm, trì tâm. Cho nên người không có tu tiến được là tại vì ở trong cái cảm giác bất khổ bất lạc thọ này, ù lì, đơ đơ trong này, trơ ngơ, ngơ ngơ, ngáo ngáo, ngày nào cũng thấy vậy, sáng tôi như vậy thì trưa tôi cũng vậy, chiều cũng vậy, tối cũng vậy, ngày mai cũng vậy, tuần sau cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy rồi mười năm sau cũng vậy, bữa nào nó không dậy mà nó nằm luôn thì hoảng loạn, hoảng loạn, sợ hãi, kinh hoàng, bấn loạn, thậm chí điên loạn luôn, có mấy người phá sản không thôi là người thân thương họ qua đời, bị tai nạn gì đó là họ khùng luôn, họ điên loạn luôn, thậm chí là họ nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy sông, họ không có chịu nổi. Tại vì họ sống ở trong cái cảm thọ bất khổ bất lạc, đều đều, thường thường và họ nghĩ như vậy là cứ như vậy mà không biết rằng không phải vậy, như vậy mà không phải vậy.

V. Quán vô thường – khổ – vô ngã

Cho nên lúc nào mình cũng thấy cái nguy hiểm, cái tác hại, cái khổ đau, cái bất an, cái tai họa ở trong cái cảm thọ thường thường, đều đều, này thì người này có một cái sức mạnh, tuệ lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, tượng vương lực, sư vương lực, đại hùng đại lực. Còn leo lên ngồi nhắm mắt lại, quẹo cổ, ngủ gục để cho nước miếng chảy xuống là tiêu rồi, cho nên một người có một sự tác ý như vậy, quán cái cảm thọ này được thì tuyệt vời lắm, lúc nào cũng nhớ "biến đổi nha, đột quỵ, đột ngột, đột tử nha con, Ráng tu nha, già rồi nghe không, chết tới nơi rồi nè ở đó hưởng thụ cái gì". Khi Đức Phật sắp nhập Niết-bàn có một ông già 120 tuổi đi tới hỏi ông này, nói về ông kia, thì Đức Phật nói ông hỏi ông đi, trời ơi chết tới nơi rồi, ta cũng sắp chết rồi, ông nói ai nữa. Như vậy Đức Phật khai thị thì ông đó chứng quả A-la-hán.

"Một thời Thế Tôn du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng năm trăm vị.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Brahmayu trú tại Mithila (Di-tát-la) già yếu, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã gần mãn cuộc đời, tuổi đã đến một trăm hai mươi, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng.

Rồi Thế Tôn thứ lớp thuyết pháp cho Bà-la-môn Brahmayu, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Brahmayu đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Brahmayu: 'Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt'. Bà-la-môn Brahmayu thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tin, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư.

Một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bà-la-môn Brahmayu đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, tương lai tái sanh thế nào?

-- Này các Tỳ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu là bậc hiền triết. Vị ấy theo Pháp đúng với Chánh pháp, không có phiền nhiễu Ta với những kiện cáo về Chánh pháp (Dhammadhikaranam). Này các Tỳ-kheo, Bà-la-môn Brahmayu sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không có trở lui đời này nữa." (Trung Bộ Kinh, 91. Kinh Brahmàyu)

Thành ra quán vô thường này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng để phá cái cảm thọ mà trơ trơ, đơ đơ, thường thường, đều đều này. Phải phá nó, phải phá nó, phải giết nó, phải diệt nó tại vì nó là cái tâm mê, cái tâm ngu, cái tâm đơ, cái tâm si, cái tâm khờ khạo, cái tâm thiểu năng. Mình y chang cái bệnh đó, mình đừng tưởng đâu người đó mới bệnh, mình cũng có bệnh đó, nặng hơn cái bệnh đó nữa là ở trong cái tâm không khổ không vui, cái cảm thọ này nó cứng chắc trong này luôn cho nên mình không có chịu tinh tấn. Bây giờ nếu mình biết mười hai giờ đêm nay Diêm Vương tới, nếu mình biết tối nay là mình chết thì mình làm sao? Mình có lo lắng? Mình có sợ hãi? Mình có nỗ lực? Mình có tìm đủ hết mọi cách không?

Chính cái đó cho nên Đức Phật dạy tuyệt diệu lắm "niệm tử nha con, chết nè con, trời đất ơi", phải nhớ mình sẽ chết, hoặc là nghĩ rằng "mấy ông bảy chục mới tu, chứ tôi mới có hai mươi lăm à". Có chắc không? Chắc sống tới bảy mươi không? Cho nên nhớ mình sẽ chết, cái này phá cái cảm thọ không khổ không vui.

"Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: 'Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ'. Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'?

-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ, câu này rúng động đất trời hết, tức cả ba thọ khổ hết, vui thì nó là khổ mà cái khổ là mũi tên, cái không vui không khổ là vô thường thì có cái gì mà không khổ. Vì thế tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ hết, như vậy là dùng thọ diệt thọ, bây giờ làm sao để mà tu, mình vô diệt liền không được thì bây giờ cái thọ này ác dữ lắm bất thiện cho nên Đức Phật dạy mình cái thọ Thiện. Vì vậy mấy ngày nay chúng ta tu tập cái tâm hiền thiện, an tịnh, lắng dịu, đó là mình đang chuyển từ cái ác qua cái thiện, hiền thiện rồi mới tới hiền trí, cuối cùng đi đến thánh thiện. Tạm chia ba cấp độ, hiền thiện, hiền trí, hiền thánh, hiện tại chúng ta tập trong cái hiền thiện, chúng ta đang chuyển cái cảm thọ chứ không phải muốn diệt là diệt nó liền được, phải chuyển nó từ cái đen tu tập cái trắng, cho đến khi cái đen hết, chỉ thuần cái trắng thì lúc đó vượt lên cái trắng đen trắng luôn.

Như vậy Đức Phật mới nói cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ hết, nói dễ hiểu là dễ ăn no quá khổ không, đói quá khổ không, mưa quá khổ không, nắng quá khổ không, cho ngồi dưới gốc cây hoài khổ không, bây giờ tối nay cho ngồi đây tới mười hai giờ đêm khổ không? Có thể là tâm mình không khổ nhưng thân khổ cho nên cái gì cũng nằm trong cái khổ hết, tại vì Đức Thế Tôn nói sắc là khổ pháp, thọ là khổ pháp, tưởng là khổ pháp, hành là khổ pháp, thức là khổ pháp, đây là năm cái đống đau khổ, bây giờ mình ở trong cái khổ này mà mình muốn được hạnh phúc thì không có thể nào được, vô hữu thị xứ, chuyện đó không thể xảy ra được. Đức Thế Tôn Đó là ngài sạch hết tham, sân, si rồi, lậu tận rồi đó, các bậc A-la-hán cũng vậy nhưng mà cái thân các ngài cũng khổ vậy, mình đọc kinh có đoạn Đức Phật đau, ngài phải trú ở trong vô tướng tâm định nhiếp phục một số cảm thọ thì lúc đó ngài mới cảm thấy thoải mái, còn nếu không là nó đau đớn, quằn quại lắm tại vì sắc thân vật lý ai cũng giống nhau hết, cũng tứ đại đất, nước, gió, lửa mà.

"Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Cho nên mình lấy khổ mà muốn bỏ khổ là không được, chính vì vậy mà cái cứu cánh cùng cực của nó là phải xuất ly ngũ uẩn, thoát ra khỏi ngũ uẩn mới chấm dứt khổ hoàn toàn, đây gọi là Diệt Đế, chữ đế là cái chân lý chấm dứt vô minh, khát ái ở trong ngũ uẩn cũng đồng thời chấm dứt cái sự hiện hữu của năm uẩn. Chính vì vậy thêm một câu chấn động trời đất nữa là mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, câu này là đề tài thiền quán tối thượng, gọi là thượng phương bảo kiếm mà nếu có tham, sân, si, bản ngã mà dập cái câu này vô là mình chém hết, chém sắc như chém bùn. Thằng ăn mày ăn xin nhìn ông vua tưởng đâu là vua hạnh phúc tuyệt vời, tột cùng còn ai bằng nữa, hay là người nông dân nhìn ông nguyên thủ, trời ơi sướng biết bao nhưng mà người ăn mày hay người nông dân đâu có hiểu ngủ không có yên, phải dùng thái y và tìm bao nhiêu loại thuốc an thần, nhiều khi vua khao khát được làm thường dân vài ngày thôi cũng không được, cải trang đi tuần cũng bị phát hiện và bị ám sát chiếm ngôi.

Người làm nhìn lên bà chủ, ông chủ thấy họ sướng dữ ha, nhưng mà bà chủ ông chủ đó có sướng không? Có sướng hết trọn vẹn không? Đủ thứ chuyện khổ mà càng chủ lớn chừng nào là càng mệt chừng đó, ông ăn mày có khổ của ăn mày, bác sĩ có khổ bác sĩ, kỹ sư có khổ kỹ sư, đi làm có khổ đi làm, rồi mất việc có khổ mất việc, tu có khổ của tu. Người tu có khổ không? Chỉ có người tu đạt đến tu đúng chánh pháp đạt đến cứu cánh thì mới hết khổ, cho nên mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ hết. Khi mình thấy được cái này thì tâm của mình nhả ra từ từ, nó mở ra từ từ, nó xả ra từ từ, nó tháo ra từ từ, nó thoát ra từ từ, nó thoát tất cả mọi đau khổ, mình nhìn chỉ là những cái đống khổ, mình mang vác cái thân này ở ngoài thì nó sanh, già, bệnh, chết, bên trong tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, khao khát, thèm muốn, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, tật đố, tranh giành, khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh sắp sửa nổ ra nữa, tan nát thành cho tro bụi hết, biết bao nhiêu nước mắt, biết bao nhiêu máu, biết bao nhiêu thây người chết. Tất cả những thành phố thành những cái đống đổ nát hết, cho nên mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ. Người khôn, người có chí là chạy lẹ.

Đây là khổ, khổ là đây!

Hỡi này nhân thế có nhìn thấy chăng?

Thấy rồi hãy cố thoát ra,

Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này,

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Tất cả đều sống trong ảo tưởng, ở thành phố thì ở nhà lá, ở dưới quê thì muốn lên nhà lầu, lúc mình trẻ ai kêu mình bằng chú hay làm lớn thì mình khoái, nhỏ thì muốn thành lớn nhưng mà lớn tuổi, già rồi mà nghe người ta khen "Trời ơi cô còn đẹp lão" là mừng hết lớn luôn, nó lộn ngược, nó điên đảo cho nên:

Người ta thường sợ nói mình già

Dầu cho mở mắt đã thấy hoa,

Chân rung gối mỏi, hàm răng rụng

Chỉ thích kêu cô, chẳng thích bà

Khổ vậy đó, mình tu mà lại nói "thầy giàu quá ha", con chắp tay nói "dạ, con là ăn xin", nếu không là mình mê, mình là người tu thì làm gì ra tiền mà giàu với nghèo "Thầy ơi, chùa con nghèo quá", "Dạ đúng rồi đó".

Học đạo trước cần phải học nghèo

Nghèo rồi đạo thể mới được thân

Từ xưa cổ đức xưng: “Bần đạo”

Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo.

(Thiền sư Long Nha)

Người tu trước là phải học nghèo, phải học làm một người ăn xin cho nên sáng nay học ăn xin hạnh phúc không? Ở đây miễn phí, bên Mỹ đóng 250 đô nha, ăn xin một ngày một đêm đóng 250 đô, cái này nói sự thật, cho trải nghiệm một ngày đi ăn xin. Cho nên cái mình học là làm một người hạ thấp là đẹp lắm, cho nên mình mới thấy được tất cả đều là điên đảo mộng tưởng, cơ thể mình hôi mà người ta lại nói mình hôi là nổi giận lên "vô duyên, mất lịch sự". Nếu nói gạt "hôm nay cô có tướng hảo" thì lại thích, nghe khen là khoái liền. Vì thế khi nhìn thấy mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ thì mình sẽ có trí tuệ siêu thế, con đi ở thành phố Sydney rồi trở về con nói chuyện với mấy Phật tử hiểu pháp là con nhìn thấy khổ không à, người ta ăn mặc rất là đẹp, tòa nhà rất là cao, các Phật tử mời con đi ăn mì Nhật vậy đó nhưng mà trong mắt con nhìn những người ăn mặc đẹp, sang trọng, đi hối hả trong tòa nhà cao tầng, con thấy trong đó là sự lo lắng, bất an, sự sợ hãi, sự hối thúc, hối hả, vội vã.

Tất cả là những cái bộ máy, ở đâu cũng vậy, bên trong tổng chỉ huy điều khiển tức là dục, là tham, là khao khát, thèm muốn, là thiếu thốn, là khát ái, là bất toại nguyện, không thỏa mãn, là một cái nội tâm nghèo thiếu, đói khát, đầy bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu và con nói trong dòng nước mắt trước khi đi về từ giã quý Phật tử, con không thấy có hạnh phúc ở trong đó, càng to, càng lớn, càng cao, càng bự chừng nào thì càng lo lắng, sợ hãi, bất an nhiều chừng đó, càng đầy rẫy những sự tranh giành, tranh đấu, những cái mầm móng ngắm ngầm, giành giật, đấu đá với nhau thôi. Đừng nói chi người ngoài, ngay ở trong nhà anh em ruột, chị em ruột, vợ chồng, cha mẹ, mẹ con, cha con mà đụng tới tài sản, đụng tới quyền lợi, đụng tới bản ngã thì tất cả đều đổ vỗ hết, tan nát hết, thậm chí thân trở thành thù, cha con, mẹ con đưa ra tòa, giết hại lẫn nhau.

Đó là kinh Đại Khổ Uẩn, là một đống khổ vĩ đại to lớn trong cái thế giới ngũ uẩn này, chỉ có thánh trí mới có thể soi thủng, soi thấu, xuyên thấu bản chất của đời sống đầy bất an, vô thường và tai họa này. Phải nhìn cho thấu, phải nhìn cho nó suốt, phải nhìn cho nó xuyên, nhìn cho nó thủng, nếu không là mình sẽ bị gạt, mình bị sắc lừa gạt, những cảm giác này nó lừa gạt, những hình bóng trong tâm nó lừa gạt, những suy nghĩ nó lừa gạt, những cái nhận thức của vô minh, của nghiệp, của tham, của dục, của ái nó lừa gạt mình và những người đến bên con với những dòng nước mắt nghẹn ngào, tức tưởi, chỉ vì một cái bản ngã mà mẹ con giận nhau năm năm, anh chị em không gặp mặt và khi mà học khóa tu Nikāya con chia sẻ bốn năm ngày thì vị này đã trào dâng cảm xúc và phát nguyện sẽ trở về lạy sám hối với mẹ và với chị em.

Chúng ta nhớ bài hôm qua con mở "thương mình hay chăng ngũ uẩn khổ", mình có thương mình không? Mình thương mình thì mình cố gắng học thánh pháp, mình nhớ thánh pháp, mình chiêm nghiệm thánh pháp để mình thể nhập thánh trí, nếu không mình sẽ bị tai họa, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan rình rập tất cả mọi phương hướng mà không phải nó ở bên ngoài, nó ở trong này thì làm sao mà mình chạy. Thí dụ cái thân xác này bỏ đi nhưng thọ; tưởng; hành; thức bỏ ở đâu? Nếu thọ; tưởng; hành; thức nó còn mê, nó còn chấp thủ, nó còn vô minh, nó còn khát ái thì làm sao mà mình bỏ? Cho nên có những người khổ quá chịu không nổi, người ta tự tử, người ta tưởng đâu chết rồi là hết nhưng không phải vậy, thọ; tưởng; hành; thức nó còn y nguyên cho nên mình giải quyết được cái thâm sâu trong những cái sự thấy biết tận cùng tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, sự tập khởi và đoạn diệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này duy nhất chỉ có bậc tối tôn, tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà thôi, không thể có người thứ hai chỉ cho mình cái phương pháp xuất ly, thánh Trí năm uẩn chính là đạo lộ, là lối thoát duy nhất, độc nhất cho nên mình phải cố gắng thật là nhiều.

Không có cái gì quan trọng bằng cái lối thoát này hết, nhà cháy hết tất cả mọi mặt mà có cái lối thoát duy nhất mà mình không biết thì mình sẽ chết cháy, chết không toàn thây, chết không ai nhận diện được, chết không ai biết là ai hết. Cho cái câu thứ ba vị đó hỏi làm sao để không sợ chết, nãy giờ đó còn sợ gì nữa, do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, thân tâm này có bốn loại thức ăn. Thức ăn thứ nhất là thức ăn mình bóc, mình nắm, mình múc, mình gắp gọi thức ăn đoàn thực, hằng ngày mình ăn thức ăn đó. Thứ hai là thức ăn do tiếp xúc là xúc thực, nó có một cái nhu cầu để đi tiếp xúc, để nhìn, để nghe ngóng, chúng ta nhớ ông bà mình có câu "điếc hay ngóng, ngọng hay nói", cái đó là thức ăn, mình có một cái thúc giục ở bên trong là muốn nhìn, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn tiếp xúc.

Nếu không có được năm cái xúc ở bên ngoài, không có tiếp xúc được mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì mình tiếp xúc trong ý, cái tiếp xúc đó là thức ăn để nuôi cho cái tâm mê này. Cho nên nhu cầu đi du lịch là vậy đó, làm cực khổ cả tháng, hai ba tháng mới để dành, nhiều khi vay nợ, mượn nợ đi chơi là cái xúc thực, nó đòi hỏi một sự tiếp xúc, đó là thức ăn của tâm. Mình ở trong đóng cửa chịu đâu có nổi, phải đi ra ngoài, phải gặp, tìm kiếm người này người kia thì đó là xúc thực cho nên các vị nhập thất tu một tháng, hai tháng, ba tháng, sáu tháng, một năm, hai năm, ba năm thì người ta cắt bớt được cái xúc thực. Các vị cư sĩ cũng phải tập ở trong nhà không tiếp xúc mấy ngày để tu, mình chỉ quay trở lại đọc tụng Nikāya rồi thiền quán kiểm tra thọ; tưởng; hành của mình, không cần phải chạy ra ngoài tiếp xúc, đó là xúc thực, thức ăn cho tiếp xúc.

Tiếp theo là sự nhớ nghĩ, gọi là tư niệm thực, chuyện buồn cũng nhớ, chuyện khổ cũng nhớ, những chuyện nhớ lại bực bội, khó chịu, phiền não, khổ sầu mà cứ ngồi nhớ, rồi nhắc cho mấy người kia nghe mà cứ nhắc hoài, có một chuyện mà cứ nhắc hoài. Khổ vậy, đó là tư niệm thực, càng nhắc về người mình giận thì càng tức, mà càng tức thì càng nhắc, càng nhắc thì càng tức, mà như vậy cứ nhắc là cho cái tư niệm thực đó ăn. Kế đó là thức thực, là nó đòi hỏi một sự nhận thức, biết, tri thức, kiến thức, cứ kiếm kiến thức hoài, hết sách này đọc hoài mà sao cũng thấy thiếu, đọc hoài mà cũng chưa có hiểu, đọc tới chết luôn mà cũng không hiểu tại vì cái kiến thức của phàm phu làm sao đi tới tận cùng được pháp tánh, bản tánh của các pháp. Tất cả những kiến thức phàm phu là nó ở trên pháp tướng, tức là những cái sự thật đó ở cái mặt ngoài của các pháp, còn Đức Phật là đi vào trong cái pháp tánh, pháp tướng đầy đủ hết.

Nhiều khi phàm phu là cái kiến thức pháp tướng không đủ nữa, cho nên vài bữa thì nói vầy, vài bữa đổi lại khác, con vượn lên làm người rồi con gà có trước hay trứng gà có trước, cãi lộn với nhau. Thành ra cái kiến thức của phàm phu là kiến bò miệng chén, không có giải quyết được vấn đề thành ra có nhiều cái mà học Nikāya rồi nó giải mã hết tất cả mọi vấn đề ở trên thế giới này, trong đời sống này, do đó là thức thực thôi, là thức ăn của nhận thức, thức ăn của kiến thức, thức ăn của tri thức mà chính những cái đó là để nuôi lớn cái tâm mê, tâm chấp cho nên biết nhiều chấp còn dữ dằn hơn mấy người không biết.

Nhiều khi mấy người học ít cười hề hề nói sao cũng được mà học cao quá nói tới là có chuyện, mệt rồi, tới nữa rồi, bắt lỗi tùm lum hết vì giỏi quá xá giỏi mà, bản ngã quá xá lớn, không ai chịu nổi hết trơn. Thành ra thức thực để nó tạo thành cái bản ngã nếu mình học không có đúng, còn cái thánh trí là diệt ngã, nó làm cho lắng dịu tham, sân, si, tất cả nguyên nhân của khổ cho nên hai cái học khác nhau. Chính vì vậy mà Đức Phật gọi là ngoại học phàm phu, còn đối với trong pháp thì Đức Phật gọi là Đa văn thánh đệ tử, ngoài cái tạng kinh Nikāya ra gọi là ngoại học phàm phú. Học vô đây rồi nó giải mã hết cái thế giới, mọi người về nghe thêm loạt bài mật mã thế giới phui ra, mở banh ra vũ trụ này.

"Tại chỗ nào, bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?

- Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: 'Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới'. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (V). Rohitassa (1))

Trong cái thân một thước tám này ta tuyên bố sự thật về khổ đau và Con đường chấm dứt đau khổ, trong cái thân một thước tám này ta tuyên bố sự thật của thế giới và sự chấm dứt thế giới. Rúng động toàn thân hết, chấn động thân tâm hết, khủng khiếp như vậy. Này thôn trưởng ta không có nói cái khổ xa xôi ở chuyện quá khứ ngày xưa, ta cũng không nói cái khổ xa vời, viễn vông ở tương lai mà ngay tại chỗ ông ngồi này ta chỉ cho ông thấy cái khổ và sự đoạn diệt khổ ngay tại chỗ ngồi này.

"-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: 'Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ'; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: 'Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai'; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha)

Thật sự là chấn động với lời nói của Đức Phật với trưởng thôn, tâm ông sanh khởi lên tham ông có biết không, ông làm chấm dứt cái tham đó ông có biết không. Cái tham này làm cho ông khổ phải không? Dạ phải, bây giờ ông chấm dứt cái tham đó ông hết khổ không? Dạ đúng, bây giờ sân sanh khởi lên ông biết không? Dạ con biết, sân này làm cho ông khổ phải không? Dạ phải, bây giờ ông chấm dứt cái sân này ông hết khổ? Dạ đúng quá rồi, si sanh khởi lên ông biết không? Dạ con có biết, mà cái si này làm cho ông đau khổ, tác thành mù lòa, tác thành vô trí, tác thành không mắt? Dạ đúng, bây giờ ông chấm dứt cái sân này ông hết khổ? Dạ tuyệt vời, đúng vậy. Thế là ông thông trường ngay tại chỗ ngồi chứng đắng pháp nhãn, thành tựu Dự Lưu thánh quả. Vậy mà không học, đi học cái gì? Học cách diệt tham, sân, si đi. Đi học lung tung, tùm lum, thành cái đống xà bần vô rồi không biết đường đâu tu cho nên phải nhất hướng, chuyên nhất.

Cần phải học thuộc lòng những trí tuệ mình đã nói ở trên vì không thuộc là mình sẽ suy diễn, suy tưởng, ảo tưởng tu ở trong tưởng tượng cho nên phải thuộc lòng. Cái vô thường, vô ngã, cái khổ, chịu sự biến hoại phải học thuộc lòng, cái định lý vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly phải thấy được rồi mình mới nhận diện. Mình y cứ vào trong thánh điển kinh tạng Nikāya, mình căn cứ vào sự thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác, sau đó thực tập nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra được tham, sân, si, dục ái, bản ngã của mình, nhiếp phục, chế ngự nó và song song đó mình tu tập bốn tâm vô lượng, phát triển tâm từ, bi, hỷ, xả, làm cho tâm mình lắng dịu, ngọt ngào. Đó là cái căn bản trong sự tu tập hiện tại của chúng ta, đừng đòi hỏi cái gì quá cao xa, tất cả đều nằm chỗ nhận diện ngũ uẩn và nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, tu nhiêu đó là đủ thành thánh quả A-la-hán, tu bao nhiêu đó đủ để cho mình Dự Lưu.

VI. Trình pháp

Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính thưa sư phụ, con kính thưa trên quý thầy, quý Ni sư cùng quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, con có một câu hỏi, hỏi là xin thầy chỉ dạy cho con ở nhà con tụng thánh pháp, con đang tụng thánh pháp mà con biết con đang sân tại vì con thuộc. Lúc con thuộc thì tối con tụng lại có chỗ con thuộc, có chỗ con quên, con có sân mà con biết có sân thì thưa thầy con xin dừng lại để nhiếp phục và tác ý hay là con chỉ biết cái sân rồi con cứ tụng tiếp. Xin thầy chỉ dạy thêm cho con

Sư Phụ: Nếu như mình tụng chung với đại chúng thì mình phải tụng tiếp, mình cứ tác ý trong tâm và tụng tiếp nếu tụng chung với đại chúng. Còn nếu mình tụng một mình thì mình dừng lại tác ý xong rồi tụng tiếp, khi nào có rác rồi lúc đó mình quét. Sự khó chịu đó cũng nhắc nhở mình phải học cho thuộc, đừng có học không có kỹ, sự khó chịu đó cũng là một cái để giúp cho mình phải học cẩn trọng. Nếu mình biết khéo sử dụng thì cái khó chịu đó là thiện pháp chứ không phải là bất thiện pháp, tại sao mà lại học không kỹ để khi mình tụng lại quên như vậy, mình rầy cái tâm à không có kỹ lưỡng, không có thận trọng, không có cẩn trọng. Mình rầy nó và lần sau mình học phải thật là kỹ, thành ra có những cái khó chịu nó tốt, nó cần phải có chứ không phải lúc nào cũng dễ chịu hết. Có những cái khó chịu là cần phải có, có những cái khổ là cần phải có, có những cái lo lắng là cần phải có chứ không phải tu là không lo, không sợ, không khổ, không gì hết là không phải.

Sư cô Huệ Lý: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con xin có câu hỏi. Thường cái thọ của con nó rất mạnh, mỗi khi con nghe ai nhắc đến bậc đạo sư, hoặc sư phụ, hoặc là thánh pháp thì cái thọ của con rất mạnh, giống như nó muốn sôi sục bên trong. Vậy thì con có một cái suy nghĩ, tại vì con ở môi trường này không có cái gì làm cho con phật ý, nếu như con ở môi trường khác có những cái gì đó làm cho con phật ý thì cái thọ này có nó có phản lại là nó nổi sân lên không? Xin sư phụ chỉ dạy cho con ạ.

Sư Phụ: Mình phải coi ở trong cái cảm thọ đó là cảm thọ biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn thì cái đó nó tốt, tuy là tốt cũng không cho nó thái quá, nó phải phát ra đúng lúc, đúng mức, đúng người, đúng chỗ. Mình phải có một cái sự làm cho nó an tịnh, lắng dịu xuống vừa phải nếu mà nó thái quá, nếu như nó là một cái cảm thọ ân nghĩa, ân đức, biết ơn thì đó là thiện pháp. Tu tập lần lần cái thọ của mình nó sẽ an tịnh, lắng dịu từ từ, sẽ có sự trầm tỉnh, trầm tư, trầm mặc, trầm lặng.

Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ và các vị Tăng Ni và các bậc hiền trí, con có câu hỏi mong được sư phụ giải đáp về uẩn thứ năm là thức. Thức là rõ biết thọ; tưởng; hành nhưng mà thức thực thầy vừa nói thì thức ở đây là kiến thức, nhận thức và ý thức, nó liên quan đến bản ngã của mỗi người, hiểu biết của mỗi người thì con muốn hỏi rõ hơn là thức trong ngũ uẩn là rõ biết thì như con chưa hiểu đấy có phải là uẩn không. Vì nếu mà rõ biết thì mình rõ biết được thọ; tưởng; hành thì mình đã bớt được vô minh và đấy cũng là bước đầu trong việc tu tập ạ. Con cảm ơn sư phụ.

Sư Phụ: Ở đây mình có ba khía cạnh, cái thức uẩn là cái kiến thức và cái thánh trí về ngũ uẩn nó khác nhau. Tại sao nói thức là uẩn vì mình có tới sáu cái biết chứ không phải là một, rõ biết các sắc thì gọi là nhãn thức, sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức, sự rõ biết mùi là tỷ thức, sự rõ biết vị là thiệt thức, sự rõ biết sự đụng chạm là thân thức, sự rõ biết được thọ; tưởng; hành là ý thức. Như vậy mình có sáu cái biết, cho nên đây là một sự tụ tập, tụ hợp, nhóm hợp, tích tụ của các cái biết cho nên gọi là thức uẩn. Cái thức uẩn này đó là một sự rõ biết nhưng mà mình muốn lấy những cái tri thức ở ngoài để đem vào thì có dục tham ở trong đó, có khi mình biết nhiều thì trở thành sở tri chướng, nó trở thành ngã kiến, nó làm phát huy cho cái bản ngã vì cái kiến thức, cái tri thức nhiều, sâu rộng của mình.

Đó là chúng ta phân biệt cái thức uẩn và cái kiến thức, còn cái mà mình nhận diện được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cái đó là thánh trí ngũ uẩn. Chúng ta phân biệt được cái này không? Tức là nếu mình chưa có học về nhận diện ngũ uẩn thì mình đâu có biết cái đó là thức đâu, mình đâu biết cái đó là thọ, là tưởng, hành, mình nói cái đó là mình không à. Khi mình chưa học về thánh trí ngũ uẩn mình nói cái thân này là mình, tôi đang sướng, tôi đang buồn, tôi đang khổ thì đó là cho cái thọ là mình, rồi tôi đang nghĩ, tôi đang tưởng, tôi biết, tôi thấy vậy đó, tôi nghe vậy đó, thì tất cả cái đó đều cho là mình hết á nhưng khi mình học về nhận về ngũ uẩn thì mình có một cái trí để nhìn lại năm cái đó.

Mình học về thánh trên ngũ uẩn thì mình có một cái trí nhìn xuống để kiểm soát từng uẩn, có một cái trí tuệ ở phía trên này nhìn xuống, mình quán sát. Còn khi mình chưa học thì cái này nó dính chùm lại, có một cái tôi, nhìn thấy thân này là mình, cảm giác đó là mình, suy nghĩ đó là mình, hình bóng trong tâm đó là mình, nhận thức là mình. Nhưng khi mình học được nhận diện ngũ uẩn thì cái này mở từ từ ra, mở lần lần do cái sự nhận diện ngũ uẩn siêng năng liên tục và thực tập quán sát, quán chiếu của mình, thiền quán của mình thì từ từ nó mở ra.

Như vậy mỗi một cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức mình có bảy cái trí, mình có thánh trí ngũ uẩn để chiếu vô cái phàm tình ngũ uẩn. Mình có một cái loại trí tuệ gọi là tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, thượng nhân pháp bất cộng với phàm phu, chỉ có đức Như Lai và đệ tử của Như Lai, hoặc là cái người nghe hai vị này nói mới có được cái thánh trí này thôi, mà cái thánh trí này là không chung cùng với phàm phu. Nếu một người không được học Nikāya thì người này không thể nào có cái trí này hết, khi có được cái trí này thì nó sẽ lần lần tách ra, nó rời ra khỏi ngũ uẩn và nó quán chiếu ngược lại ngũ uẩn. Cần phân biệt rõ chỗ này, cho nên khi chúng ta nhận diện ngũ uẩn là lúc đó chúng ta đang sống với trí tuệ, còn lúc ta quên nhận diện ngũ uẩn là chúng ta sống với vô minh.

Khi mình nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc đó mình đâu có thấy một cái tôi, mà lúc mình không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì lúc đó mình có một cái tôi, một cái tôi tức là vô minh mà thấy năm uẩn tức là trí tuệ. Giờ sống với cái nào? Cho nên nhiều khi mình nói trong vô minh mà mình không có biết, nói trong thúc giục là nói trong dục, nói trong không hiểu biết tức là vô minh, hoặc là mình nói trong cái bản ngã mà mình không có biết. Chừng nào mình học sau sắc rồi mình sẽ biết, mình tưởng đâu mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm, mình cảm giác, mình nhận thức rồi mình đi đứng, mình nói thì mình tưởng mình ngon dữ lắm nhưng thật sự mình là con rối, phía sao bức màn có một sợi dây và một người giấu mặt ở ngoài sau không tên nó giật dây, sợ dây đó là vô minh và khát ái.

Thật sự thâm sâu lắm, rất là thâm sâu. Hằng ngày mình tưởng đâu tôi thấy, tôi nghe, tôi biết hết trơn, tôi thông minh dữ lắm nhưng mà thật sự là tôi đang vô minh chứ không phải là thông minh. Biết mà biết trong mù lòa, biết trong điên loạn, biết trong bóng đêm, biết ở trong cái quờ quạng như vậy, chỉ có nương theo thánh trí của Phật thì lúc đó mình mới biết đúng sự thật, đó gọi là thấy đúng của bậc thánh, thánh tri kiến, tri kiến của bậc thánh. Còn tất cả cái thấy biết của mình đều là sai hết, không có dùng được, không có một cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết nào, sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào của mình mà xài được hết, nếu xài được thì xài ở trong vô minh, ở trong luân hồi sanh tử, tham, sân, si, còn đối với bậc thánh là không xài được, là đồ bỏ, là đồ khổ, là cái đồ bệnh hoạn, ung nhọt, phiền não, khổ đau, tai họa, bất an. Chúng ta để ý kỹ rồi mình học, mình hiểu ra được ó thì mình thấy nó là một cái bộ máy, nó vận hành năm thứ trong này, bên trong của nó là những cái tâm cấu nhiễm, cấu uế, mà phải chịu khó rất nhiều để thấy, còn không có siêng năng là không thấy, thấy rồi mà còn phải chịu khó tẩy rửa.

Thật sự rất cam, tẩy rửa rồi tùy theo từng phần thì mình sẽ có được những cái kết quả tối thượng, vi diệu. Người có tâm, có nỗ lực thì sẽ thành công chắc chắn, chỉ sợ không chịu làm thôi.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.